NGHĨ VỀ VĂN HỌC VIỆT NAM CHO THẾ HỆ TƯƠNG LAI HẢI NGOẠI-Huỳnh Kim

   NGHĨ VỀ VĂN HỌC VIỆT NAM 
                                       CHO THẾ HỆ TƯƠNG LAI HẢI NGOẠI
                                                                    
  
—oOo–

Ở hải ngoại người Việt Nam không có quyền lực, của một quốc gia tự trị, nên không có Bộ Giáo Dục cung cấp đầy đủ sách vở và chương trình dạy chữ Việt Ngữ; chỉ nhờ một số thầy, cô thời Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa, có tinh thần bảo vệ tiếng Việt, họp nhau thuê trường công lập của quốc gia sở tại hoặc nhờ chùa, nhà thờ của các tôn giáo người Việt Nam, để dạy Việt Ngữ cho trẻ em trong mấy tháng hè hằng năm. Nhưng không đủ chỗ cũng như phương tiện không đươc gần nhà, nên còn nhiều gia đình ở xa con cháu không học được chữ Việt Ngữ, chỉ nhờ cha mẹ dạy nói được tiếng Việt, chứ không biết đọc và không biết viết  chữ Việt Ngữ.
Cho nên sự phát triển tiếng Việt Nam và chữ Việt Ngữ, cho các thế hệ tương lai ở hải ngoại khó có hy vọng xán lạn, như thời Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu !..
Bởi đó, rất cần sự đóng góp một số công thức, nguyên tắc văn học Việt Nam của thế hệ Cha, Ông, còn nhớ thời ngồi ghế nhà trường, để mỗi ngừời ghi lại, mỗi phần, thay vì sách vở của Bộ Giáo Dục Việt Nam, nhằm lưu truyền cho các thế hệ mai sau giữ được phần nào chữ Việt Ngữ. 
Chữ Việt Ngữ  tuy do Bá Đá Lộc, là người ngoại quốc dùng mẫu tự La Tinh ghép thành chữ Việt Ngữ, để truyền Đạo Thiên Chúa, nhưng rất phù hợp với tiếng nói Tổ Tiên Việt Nam từ khi khởi thủy, nên người Việt Nam có chữ Việt Ngữ bắt đầu từ đó đến ngày nay ( 2021 ).
 Tiếng và chữ Việt Ngữ rất dễ học và dễ nói, nhưng  hiểu rõ nghĩa cũng rất khó khăn. Vì có nhiều chữ đặt chỗ nầy thì đúng cái nghĩa gốc, cũng chữ nầy mà đặt vào chỗ khác, thì nó biến thành ý của một vế  hoặc một mệnh đề, chứ không còn y  nghĩa chánh gốc. 
Thí dụ: 1/- Ông A viết hay nói:” Nhà vua đem hòa bình
 ” CHO ”  
chiến tranh “, thì vế nầy vô tình hoặc cố ý , nói nhà vua đương thời tàn ác. Vì nhân loại đang hòa bình, mà nhà vua làm cho chiến tranh phải giết người.  Nếu thời quân chủ, người nói như vậy, có thể bị nhà vua chém đầu, về cái tội phỉ báng nhà vua không đạo đức.
2/- Nếu một người khác nói: ”  Nhà vua đem hòa bình ” TRONG “ chiến tranh “, là họ đã  hoan hô nhà vua anh minh, lương thiên, thương chúng dân, chúng dân đang chiến tranh giết người, mà nhà vua hết lòng nhân từ lập lại hòa bình, để không còn chết chốc.  Nhà vua biết được, có thể ban thưởng chức quyền cho người nói, chứ không vị vua nào giết người đang hoan hô nhà vua hiện tại bao giờ ?
Như vậy chúng ta thấy chỉ có chữ ” CHO ” và chữ ” TRONG
 ” đặt không đúng chỗ, nó sẽ làm đảo lộn nghĩa của một vế hoặc cả một mệnh đề, dầu phát âm hoặc viết cũng hiểu như vậy.
Còn chánh tả, dấu ” HỎI “
  hoặc dấu ” NGÃ “
, viết trật chữ “ C
 ”   hoặc  chữ “ T “, đa số người bình dân ai cũng phát âm đều như nhau, người nghe cũng giống nhau, nên từ khi Việt Nam lập quốc đến ngày nay ( 2021 ) không thấy triều đại  Việt Nam nào bắt tội chém đầu ai viết sai chánh tả bao giờ ? 
Vì Việt Nam chưa nhất thiết có hàn Lâm Viện, từ khi Việt Nam có chữ Quốc Ngữ, người Việt Nam có học thức thì viết chữ ” Quý vị ” chữ ” Quý ” ai cũng viết chữ   ” Y “.  Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975,  chẳng những Cộng sản Việt Nam, kể cả người Việt hải ngoại cũng có nhiều người viết chữ ” Quý ”   ” I ngắn “, còn nhiều chữ khác ngày nay 9 2021 ) nhiều người viết sai với khi có chữ Việt Ngữ, nhưng không thể kể hết được, mà không ai có quyền chém đầu ai hoặc người viết bị một hình phạt như thế nào ?
Chữ ” Phải ” Hồ Chí Minh viết  ” Fải “,  chữ ” P ” bằng chữ ” F và chữ A,I với dấu hỏi ” cũng không thấy ai bắt tội Hồ Chí Minh được bao giờ ?
Đường xe lửa, Hồ Chí Minh và Cộng sản cháu chắc ngày nay ( 2021 )  cũng viết hoặc nói đường ” SẮT
 “, 
mà không có cục SẮt nào nguyên thủy chạy được trên đường rầy bằng sắt thép, nếu chưa làm thành động cơ, hoặc không cần đốt lửa hay không cần xăng, dầu…mà chạy được bao giờ ?
Nếu nói đường ” SẮT  “, tức là quốc lộ đó phải trải toàn ” SẮT“, mới gọi đường ” SẮT ” được, như  đường tráng nhựa hoặc đường tráng xi măng hiện tại ai cũng thấy trên thế giới, người ta ai nấy đều gọi là đường “ NHỰA ” hay gọi đường ” Xi Măng “.
Từ khi Việt Nam có xe LỬA, đốt lửa bằng củi hoặc bằng than, khi lửa cháy nóng máy xe mới chạy được, nên Tổ Tiên người Việt Nam dùng chữ đường ” XE LỬA ” là rất đúng với ý nghĩa văn hóa dân gian theo mọi thế hệ ngàn sau. Vì xe đó chạy bằng lửa trên hai lề đường rầy bằng sắt thép.
Khi Hồ Chí Minh, theo chủ nghĩa Cộng sản vô thần, đến thế hệ Cộng sản ngày nay  ( 2021 ) vẫn nói đường ” SẮT
 ” , cũng không thấy ai bắt tội được Hồ Chí MInh và một tên Cộng sản con cháu đang làm Cộng sản nào để chém đầu thử coi ?
Văn hóa hoặc luật pháp của một quốc gia nào, cũng phải vịn vào phong tục, tập quán dân gian mới chính xác và phù hợp với nguyện vọng của toàn dân, chứ không quốc gia nào lấy phong tục tập quán quốc gia khác làm luật lệ cho quốc gia mình bao giờ ? 
Nên những ai có học về luật, đều hiểu câu:  ” Luật pháp nằm trong luân lý, Luân lý là mẹ đẻ của luật pháp “
Dầu ai học thức khoa bảng cỡ nào cũng không thể hiểu ngoài ý nghĩa nầy, là xe chạy bằng LỬA trên đường, mà làm sao lại gọi đường SẮT  được, lại là đường không hoàn toàn trải SẮT ?
    Khi Hồ Chi Minh là con người theo chủ nghĩa Cộng sản, phản nghịch Tổ Tiên, chủ trương không tình cha, không nghĩa mẹ, mới dùng chữ đường ” SẮT” không cụ thể. 
     Như hiện nay các quốc lộ, của các quốc gia trên thế giới, ai cũng thấy đều tráng xi măng hoặc tráng nhựa ( Cao Su ), mà mọi người, mọi giới đều gọi là đường ” Nhựa ” hoặc đường “Xi măng” “. Mặc dầu Hồ Chí Minh có sống lại, hằng ngày lăn cục SẮt trên đường đó, cũng không ai gọi đường ” Cục Sắt ” bao giờ.                                                                               
      Có nhiều người nói ” Dân miến Bắc Việt Nam ” Nói và Viết ” đúng hơn người dân miền Nam Việt Nam, Nhìn vào sự thật  chưa đúng hoàn toàn được, có thể nói đa số dân miền Bắc Việt Nam, nói và viết đúng hơn đa số dân miền Nam Việt Nam, thì có thể chấp nhận được.
     Vì nhìn lại lịch sử Tổ Tiên Việt Nam lập quốc từ miền Bắc ( Hà Nội ), nên triều đình ở miền Bắc, rồi sau đó mới có triều đại khác dời về miền Trung ( Huế ), mà triều đình đóng Đô ở đâu, thì quần thần và gia đình theo ở đó, nên triều đình lo cung cấp đầy đủ phương tiện từ đời sống gia đình đến trường sở cho con cháu quần thần và những gia đình theo chế độ triều đại, mới có đủ phương tiện hành đến nơi đến chốn phục vụ cho triều đại đang cầm quyền. 
Còn miền Nam Việt Nam, từ khi lập quốc đến năm 1955 tại làng, thôn ( xã, ấp ) chưa có một triều đại nào chủ trương thành lập trường Tiểu Học đến tận làng thôn bao giờ, mà ở cấp quận và tỉnh. mới có trường Tiểu Học và lớp học vở lòng ” A, B, C “mà thôi. 
     Bởi đó dân miền  Nam Việt Nam đến năm 1956,  80 % dân chúng mù chữ, thì làm sao có đa số dân chúng viết đúng và nói đúng như dân miền Bắc và miền Trung được ? 
Đó là lỗi của các triều đại cầm quyền Việt Nam, chứ không phải dân miền Nam Viêt Nam không có bộ não thông minh hay vì làm biếng học !..
    Tuy nhiên, dân miền Bắc Việt Nam, mặc dầu đã có nhiều triều đại cầm quyển cung cấp đầy đủ trường sở cho nhiều đời, từ Cha mẹ, Ông bà, lan ra biết bao đời con cháu khắp cùng thôn xóm ( xã, ấp ) từ khi bắt đầu có chữ Việt Ngữ đến ngày nay ( 2021 ), mà dân miền Bắc Việt Nam cũng chưa phải mọi người đều nói và viết đúng 100%  được.
Cụ thể đến năm 2021, vẫn có nhiều người miền Bắc dầu đã có đủ trường sở học hành trải qua không biết bao nhiêu đời, mà cũng còn nhiều người nói”  SAI ” vậy.                     
     Như chữ “LÀM
 ” người miền Bắc nói ” Nàm
 “
, Chữ ” LO
 ” người miền Bắc ”  NO
 “, khi Cộng sản miền Bắc chiếm được Việt Nam Cộng Hòa ngày 30 tháng 4 năm 1975, Ban quân quản người Bắc vào miền Nam Việt Nam Cộng Hòa để cấm quyền nói: ”  NÀM thì NÀM đừng có  NO , để nhà nước NO “, có ý bảo dân miền Nam Việt Nam Cộng Hòa ” Làm thì làm, đừng có lo, để nhà nước lo “, đã là những thành phần đang cầm quyền mà còn đúng chữ ”  LÀM ” và chữ  LO “, chữ “LỬA “, thì thứ dân miền Bắc nói SAI cỡ  nào nữa ?
     Có thể còn nhiều chỗ người dân miền Bắc nói sai , nhưng không thể nhớ mà kiểm chứng hết được. So với dân ba miền Nam, Trung, Bắc, nếu là những người có học nơi trường sở chữ Việt ngữ như nhau, thì đa số người dân miền nào cũng có thể nói và viết đúng như nhau, mặc dầu không phải 100% đều đúng và 100 % đều sai với dân ba miền đều có học.                  
     –
Chỉ có thể chấp nhận người dân miền Bắc từ ngàn xưa nhiều người có học hơn nhiều người dân miền Nam Việt Nam, vì trường sở đầy đủ, nên nhiều người miền Bắc và miền Trung viết và nói đúng hơn nhiều người miền Nam, phân biệt rõ như vậy, mới có thế chấp nhận được. 
     Vì người miền Bắc và miền Trung có đủ trường sở cho trẻ con cháu trải qua nhiều đời học hành, dân chúng miền Nam Việt Nam đã trải qua biết bao triều đại cầm quyền, ở làng, thôn ( xã, ấp ) không có một triều đại cầm quyền Việt Nam nào lo phát triển trường sở tại làng, thôn ( xã, ấp ), thì dân chúng làm sao học hành được như dân miền Bắc và miền Trung Việt Nam được ?
Cái lỗi nầy là do nhiều triều đại cầm quyền, nhứt là thời một ngàn năm Tàu đô hộ và một trăm năm Việt gian rước thực dân Pháp vào xâm lăng, dầy xéo quê hương và phá hoại tan tành văn hóa Tổ Tiên Việt Nam lưu truyền,  mãi đến thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, mới có chủ trương phát triển trường sở cấp Tiểu Học đến tận xã, ấp. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, ai cũng thấy trình độ dân trí miền Nam, cao  hơn nhân viên Hà NỘi cầm quyền, ước độ 65 %, thì thứ dân Hà Nội còn như thế nào ?                                                                                               
    Hiểu được hoàn cảnh dân tộc Việt Nam như đã nói,  mặc dầu tôi đã rời khỏi ghế học đường 59 năm ( 1962-2021= 59 năm ), tôi cố gắng ngồi nhớ ghi lại đại khái một số luật chánh tả văn phạm như sau:
                                           1/- VỀ DẤU HỎI VÀ DẤU NGÃ:
-Ở trước,dấu huyền và không dấu, thì chữ sau là dấu ” HỎI”, nhưng không hoàn toàn được như những chữ sau đây:
– An dưỡng, An tĩnh, Suy nghĩ,  An dưỡng đường… thường là viết dấu ” NGÃ ” và những nguyên âm : L, M, N, D, V, dạy nguyên tắc là dấu ” NGÃ ”
 nhưng không hẳn nhất thiết viết đều là dấu ” NGÃ ” được, như những chữ:
– ” Mổ bụng, mổ cá, dở cơm, dở chứng, nải chuối, nài nỉ, ngẩn ngơ, nổi nầy, nằm ngủ. lở lấy, lở da, lở đất, phá vở , mỉm cười, lở ghẻ, dở ẹc…là dấu “ HỎI “, chứ đâu phải viết toàn dấu ” NGÃ ” được .
-Ở trước
 dấu SẮC và dấu NẶNG, thì chữ sau là dấu ” NGÃ “, cũng không đúng hoàn toàn được như những chữ:
Giáo Chủ, Giáo dưỡng,Giáo hữu, Giáo lễ, Giáo lữ, Giáo sĩ, Giáo Tổ, Giáo Trưởng…


                                 2/-  VỀ  DẤU CHẤM CÂU:
     – Dấu chấm ( . )  đặt ở cuối một đoạn văn đã trọn nghĩa
     – Dấu phẩy ( , ) là để phân hai tiếng hoặc hai mệnh đề.
     – Dấu chấm phẩy (; ) là để phân hai vế trong một đoạn văn dài nhưng còn trợ nghĩa nhau.
     – Dấu hai chấm ( : ) để giải rõ những điều sẽ nói, hoặc nhắc lại những điều đã nói.
     – Dấu hỏi ( ?  )  đặt ở cuối đoạn văn muốn hỏi
     – Dấu chấm than ( !) đặt sau một đoạn văn có ý than thở hay buồn não  hoặc ngạc nhiên.
     – Dấu ngoặc đơn ” (  ) ”  để phân những tiếng có nghĩa riêng ở giữa đoạn văn hoặc để giải thích đoạn văn.
     – Dấu ngoặc kép ( ”  ”  ) để nói lại những gì đã nói  cũng nhằm để lưu ý những điều cần thiết
     – Dấu  gạch ngang đầu dòng ( – ) để phân biệt hai người cùng nói và còn có ý để người đọc lưu ý đoạn văn tiếp nối. 

     Vì hiểu được hoàn cảnh dân gian miền Nam Việt Nam, đã bao triều đại không được phát triển trường sở, nhằm thúc đẩy tôi phải cố gắng ngồi suy nghĩ, nhớ ghi lại  một số điểm,  qui điều chánh tả , văn phạm Việt Nam, hầu góp phần văn hóa với những thế hệ mai sau ở hải ngoại, đã và đang thiếu sách vở và chủ trương như một quốc gia dạy văn học Việt ngữ.
        California, ngày 2 tháng 6 năm 2021
                  tác giả Huỳnh Kim