NGUYỄN BỬU THOẠI

Tiểu sử:

THƠM

Gửi người một chút hương thôi
Mai sau còn tưởng trọn đời có nhau
Gửi người một chút mai sau
Bây giờ bóng nắng vẫy chào bóng mây…

Em nằm thơm cỏ gối cây
Ta nằm thơm suối nước say gối bờ
Không đời không đạo không thơ
Không đàn không hát không chờ mối ăn

Bên kia không tháng không năm
Bên nầy sông núi cũng bầm dập thương
Lưỡi mòn dao thịt cắt xương
Nhớ nhau khô ruộng cháy vườn hỏng xôi

Đói hôn hết chỗ em ngồi
Yêu nghìn kiếp trước lên ngôi bây giờ
Tàn kinh tàn sử tàn cờ
Nghìn sau thức giấc lệ mờ tình thư

Chân chim tai thỏ hiền từ
Tìm trăng giỡn bóng tương tư hết nguồn
Đi đau giông bão tha hương
Về đau động đất thèm đường chiêm bao

Sáo nâu mê áo cào cào
Đỏ môi hồng cánh chân cao cò cò
Thơm vòng kỷ niệm chưa no
Còn vương nửa tiếng dặn dò mưa rơi

Ta như hòn đất rã rời
Em như gà nước vịt trời rụng lông
Không ao không vũng không đồng
Mỏi mê cuối bãi đầu sông chống chèo

Ta như dưa chuột dưa leo
Em như củ cải muối treo để dành
Trời đông tháng giá nấu canh
Cũng thơm một bửa cũng đành bụng rau

Có thương rồi cũng có đau
Đói no ấm lạnh ôm nhau vẫy vùng
Quên chăn quên chiếu quên mùng
Trao da đổi thịt hồn chung như tình…

MD 03/20/06
LuânTâm
Thân tặng Nguyễn Bửu Thoại & Ngọc Sương

(Trích trong TT”HƯƠNG ÁO”, MinhThư xuất bản , MD/USA.2007, tr.271-272.)
Nửa đêm tiếng chuông chùa… Bi-Đông

Nguyễn Bửu Thoại


Thân kính tặng: những người đã cùng tác giả sống những giờ phút căng thẳng của ngày 01-11-1988, khi phái đoàn CSVN viếng (hụt) đảo tị nạn Pulau Bidong (Malaysia). Con người, thời gian, và sự kiện có (thể) thật. Nhưng “thật, giả” khởi đầu và chấm dứt ở đoạn nào thì chỉ những “người trong cuộc” mới biết được mà thôi! NBT

Chiếc trực thăng của Không Lực Hoàng Gia Mã Lai phải lượn hai vòng quanh đảo mới đáp đúng vào vị trí, mặc dù trước đó ít phút, nhiều trái khói màu vàng liên tục được cho kích hỏa nhả khói để đánh dấu bãi đáp. 

Hôm nay thời tiết gần như tuyệt hảo.
Sở dĩ viên phi công hơi “bối rối”, mặc dù hắn không lạ gì hòn đảo Pulau Bidong này, một nơi mà mỗi năm hắn cũng tới lui ít nhất là hai lần, là vì bãi đáp đã bất ngờ bị thay đổi giờ chót: thay vì đáp trên bãi đáp cũ ở khu F, thì lại phải đáp ở bãi đáp lạ, vừa mới được gấp rút sửa soạn vào sáng nay.

… Tối qua, một phiên họp đặc biệt giữa Bộ Chỉ Huy Lực Lượng Đặc Nhiệm Mã Lai (Task Force) và Hội Đồng Đại Diện (HĐĐD) Cộng Đồng Tị Nạn Việt Nam tại đảo Pulau Bidong đã không mang lại kết quả mong muốn cho cả hai phía….

Phiên họp khai mạc lúc 7:00 giờ tối với sự tham dự của một phái đoàn cấp Nha từ Kuala Lumpur sang do một Thiếu Tướng ngành Tình Báo dẫn đầu. Cuộc họp bất ngờ và gấp rút được tổ chức là vì, sáng mai, một phái đoàn của chính phủ Cộng Sản Việt Nam sẽ đến viếng Đảo với mục đích giải thích chính sách đổi mới của Đảng CSVN, hầu kêu gọi đồng bào trong trại hãy làm đơn tình nguyện hồi hương, chính phủ VN sẽ dành mọi dễ dàng, khoan dung(!) cho người trở về. Phái đoàn được dẫn đầu bởi tên Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Duy Kinh.
 

Đây là phái đoàn đầu tiên của chính phủ CSVN đến đảo tị nạn Pulau Bidong, kể từ ngày hòn đảo này được dùng làm nơi tạm trú cho người tị nạn Đông Dương, sau khi Cộng Sản chiếm trọn ba nước Việt, Miên, Lào vào giữa thập niên ’70.
 

Sau hơn 10 năm “vật lộn” với làn sóng thuyền nhân, các quốc gia cưu mang người tị nạn đã thấm mệt. Họ bắt đầu ca bản tình thương mệt mỏi…. Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Phillipines, Indonesia và Hong Kong đã áp lực cộng đồng quốc tế tìm cách giải quyết làn sóng thuyền nhân liên tục đổ về nước họ mà chưa thấy có dấu hiệu nào sẽ chấm dứt.
 

Các quốc gia cho tạm trú và các quốc gia nhận định cư người tị nạn đã họp tại Genève và đi đến nhiều thỏa thuận, trong đó có thỏa thuận giải quyết vấn nạn từ cái gốc, tức là từ quốc gia có người bỏ nước ra đi. Cộng Sản Việt Nam ở cái thế bẽ bàng nhiều nỗi, nên phải muối mặt hứa với cộng đồng quốc tế là sẽ ngăn chặn người đi và nhận lại người về. Phái đoàn CSVN lần này giống trống, thổi kèn, tiền hô, hậu ủng đến Pulau Bidong là để biểu diễn và thực thi lời hứa đó với quốc tế.

* * *

Tướng Mohamed Ajab, viên tướng Tình Báo Mã Lai chủ trì phiên họp, nghĩ rằng diễn tiến buổi gặp gỡ giữa ông ta và đại diện cộng đồng tị nạn Việt Nam sẽ nhanh và đơn giản! Có gì đâu: …Các anh về trại, sắp xếp nhân sự để sáng ngày mai ra bãi đáp trực thăng tiếp phái đoàn của chính phủ các anh (?!), họp với phái đoàn tại phòng họp của Lực Lượng Đặc Nhiệm, sau đó, về “triển khai” lại đồng bào các anh để đồng bào, nếu ai muốn, lên gặp phái đoàn, “đăng ký” tình nguyện trở về…. Tướng Ajab nghĩ thế. Nhưng….
 

Không ngờ Đại Diện Cộng Đồng tị nạn VN đã phản ứng một cách quyết liệt! Đại Đức Thích Như Đạt, Chủ Tịch Hội Đồng, sau khi tham khảo ý kiến các thành viên, đã dứt khoát minh xác lập trường:

– Thưa Thiếu Tướng, Cộng Đồng Việt Nam tại Pulau Bidong là một cộng đồng tị nạn Cộng Sản, vì không thể sống được đưới chế độ Cộng Sản (CS) nên chúng tôi đã bỏ nước ra đi. Chúng tôi không hề công nhận bạo quyền CS Hà Nội là một chính quyền chính thống, do dân bầu ra! Do đó, họ chẳng hề đại diện cho ai. Họ không đủ tư cách để viếng nơi cư trúù của một cộng đồng là nạn nhân của họ, vì họ mà phải lìa bỏ mồ mả tổ tiên, thân bằng quyến thuộc. Chúng tôi không hoan nghênh sự có mặt của họ nơi này. Do đó, việc đón tiếp họ là chuyện của nước chủ nhà (Mã Lai) quý vị đối với khách. Riêng chúng tôi, cộng đồng tị nạn Việt Nam, không có gì để bàn bạc, không có gì phải lắng nghe họ “lên lớp” chỉ bảo, dạy dỗ!

Lời tuyên bố của Đại Đức Như Đạt phản ảnh quan điểm đứt khoát của cộng đồng. Điều đó làm viên Tướng Mã Lai bẽ mặt. Hắn nhìn Đại Đức Như Đạt chằm chặp khá lâu, sau đó liếc qua năm gương mặt còn lại của Hội Đồng Đại Diện, như ngụ ý răn đe, hăm dọa. Hắn nói chậm rãi, nhưng rít chặt hai hàm răng:

– Chúng tôi cảm thông với nỗi khó chịu trong lòng các anh. Chính quyền CS đối vớùi các anh là kẻ thù, nhưng đối với chúng tôi họ là một phái đoàn đại diện cho một quốc gia. Nghi thức ngoại giao đòi hỏi chúng tôi phải tiếp đón cho đúng nghi lễ. Hơn nữa, chính phủ chúng tôi đang kêu gọi sự hợp tác và thiện chí của phía Việt Nam, cho nên, chuyến viếng thăm này của họ rất được đặt nặng. Các anh, dù muốn dù không, cũng phải đi đón tiếp và nghe phái đoàn Việt Nam truyền đạt quan điểm của chính phủ họ.

Thầy Như Đạt vẫn cương quyết giữ vững lập trường. Lập trường này, các thành viên trong Hội Đồng đã thỏa thuận trước trong phiên họp chớp nhoáng tại Văn Phòng Hội Đồng Trại, trước khi lên Task Force dự họp.
Đại Đức Như Đạt nói chậm rải nhưng cương quyết:

– Thưa Thiếu Tướng, một lần nữa, chúng tôi lấy làm tiếc phải nói lời từ chối, không thể tham dự cuộc đón tiếp và gặp gỡ phái đoàn CS, vì chúng tôi không muốn bị đồng bào mình nguyền rủa!

Như bị gáo nước lạnh giội vào mặt, viên tướng Mã Lai không còn giữ được bình tĩnh, hắn đập mạnh tay xuống bàn làm ly nước nhảy tưng lên rơi xuống bàn bể tan tành! Miểng ly văng tung tué trên bàn, trên sàn nhà! Một miểng nhỏ ghim vào cổ tay hắn, máu tươm đỏ cả tập tài liệu. Vừa đau, vừa giận, hắn quát:

– Các anh thật là vô ơn! Chúng tôi đã cho các anh nhiều thứ tại hòn đảo nầy, nay chỉ nhờ các anh có một chuyện nhỏ, các anh đã thẳng thừng từ chối! Các anh có thấy vậy là quá quắt lắm không?

Nhìn những gương mặt đầy vẻ lạ lùng bỡ ngỡ pha chút khinh thị của đối tác, viên Thiếu Tướng biết mình… quá đáng. Hơn nữa, nhóm Đại Diện Cộng Đồng nầy không dễ hù dọa: họ đã trưởng thành trong cuộc chiến, đã tái sinh từ trong ngục tù cải tạo, bị đọa đày hằng chục năm. Sức chịu đựng của họ rất phi thường. Không khéo mình sẽ thất bại chua cay. Nghĩ thế, viên Tướng đấu dịu lại:

– Hơn mười năm nay, quốc gia chúng tôi đã cưu mang đồng bào các anh. Gần 300 ngàn người tị nạn đã trú ngụ tại hòn đảo này, và đã được đi định cư ở các nước phương Tây. Chúng tôi đã làm hết sức mình cho đồng bào các anh, vậy mà chỉ có một việc nhỏ các anh đã không giúp được chúng tôi. Các anh khư khư giữ lấy lập trường không thực tế, cố chấp của các anh, phó mặc công tác của người khác không hoàn thành.

Trước phản ứng hơi xấc láo của tên Thiếu Tướng, anh em trong HĐĐD rất bất bình, nhưng hiểu được tâm trạng rối bời của hắn. Hắn mang một sứ mạng, tưởng rằng không khó để chu toàn. Vậy mà…! “Thế này, sáng ngày mai báo cáo ra làm sao về Kuala Lumpur đây? Ông Mahatir Mohamed mà bị bẽ mặt với chính phủ Hà Nội, mình dám mang ba-lô lên rừng già đếm… kỳ đà và khỉ đột như chơi!” (Rừng nhiệt đới Mã Lai nổi tiếng nhiều kỳ đà và khỉ đột). Nghĩ tới đó, hắn lo thật sự. Hắn xoay chuyển sang đòn tâm lý:

– Các anh thật sự cho đó là một quyết định khôn ngoan? Có phải đó là sự trả ơn của các anh? Các anh đã đọc lịch sử của trại tị nạn này chưa? Trong hơn mười năm nay, chưa có một người Mã Lai nào giết người tị nạn VN, nhưng đã có người tị nạn giết chết hai ngư phủ Mã Lai (?). Điều đó có hợp với đạo lý không, nhất là có hợp với truyền thống văn hóa dân tộc các anh, một dân tộc mà theo chúng tôi hiểu, luôn luôn yêu công bằng, chuộng nhân nghĩa, và lúc nào cũng đặt nặng cách cư xử có trước, có sau theo nguyên lý ân đền, nghĩa trả. Dù sao thì chúng tôi cũng có “ơn” với đồng bào các anh. Vậy các anh “trả” gì cho chúng tôi?

Đại Đức Như Đạt nhìn anh em, anh em trong đoàn nhìn Đại Đức. Tất cả ngầm hiểu rằng: họ không thể làm ngơ được trước “đòn” tâm lý tình cảm này của viên Tướng Mã Lai. Đại Đức xin 30 phút họp riêng để lấy quyết định của tập thể.

Sau đó, trong một phòng nhỏ, Hội Đồng Đại Diện đã phân tích: Người Mã rất ít kinh nghiệm về chiến tranh, không có mấy hiểu biết về sự trí trá lọc lừa của CS…. Việc họ tiểu trừ được Lực Lượng Du Kích CS hoạt động trong nước họ, vào cuối thập niên ’40, sau Đệ Nhị Thế Chiến, phần lớn là do công lao và sách lược của một người Anh, Sir Robert Thompson, một chuyên gia nổi tiếng về chống du kích chiến. Do đó, họ không lường được mọi mưu mô quỷ quyệt của CS. Cho nên đòi hỏi họ cảm thông, hay đứng về chính nghĩa tị nạn của mình là điều không thực tế trong tình trạng nầy….

Sau sự bùng nổ của làn sóng thuyền nhân Việt Nam tràn ra biển Đông, giai đoạn đầu họ đã thô bạo đẩy thuyền bè tị nạn trở ra khơi, gây ra không biết bao nhiêu trường hợp tử vong. Có thể họ không đích thân trực tiếp giết người, như tên Thiếu Tướng kể lể, nhưng hành động đó đã gián tiếp nhận chìm hằng trăm, hằng ngàn thuyền bè xuống lòng đại dương, chôn vùi hàng ngàn, hàng vạn đồâng bào ta vào lòng biển cả, hay làm mồi cho cá mập. Họ chỉ mở cửa trại tị nạn sau khi bị quốc tế lên án nặng nề, và nhất là, sau phiên họp của cộng đồng thế giới tại Genève, cuối năm 1979; theo đó, các nước phương Tây đồng ý sẽ thu nhận tất cả người tị nạn tại các trại Đông Nam Á.

Về phần các quốc gia cho người tạm trú, phải tiếp nhận và không được xua đuổi, đẩy thuyền ra khơi. Vậy mà hôm nay, trong một nhu cầu bất ngờ cần thiết, họ lại nhắc đến sự thọ ân và đòi “trả”. Hôm nay và ở đây, đại diện cộng đồng không thể bịt tai, xoay lưng, ngoảnh mặt để mang tiếng chung là phường vô ân, bạc nghĩa. Phải xoay chuyển, phải trả… ân theo yêu cầu. Nhưng trả bằng cách nào để không làm thương tổn chính nghĩa của người tị nạn, không làm trò hề trước mặt tên chủ nhà luôn kể lể và bọn khách xấc láo, đểu cáng, bạo tàn? Các thành viên Hội Đồng, cuối cùng chọn lựa được năm yếu tố làm tiêu chuẩn, như là điều kiện tiên quyết, để có thể gặp gỡ phái đoàn CS:

1.- Hội Đồng Đại Diện bằng lòng họp với phái đoàn CSVN với sự hiện diện của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (LHQ).
2.- Không treo cờ CS trong phòng họp.
3.- Bàn họp được đặt thành hình chữ U. Phái đoàn CS và HĐĐD Trại ngồi đối diện nhau, hai bên nhánh đứng của chữ U. Cao Ủy LHQ và đại điện chánh quyền Mã Lai ngồi trên nhánh ngang của chữ U.
4.- Được phân phối Kháng Thư gởi Thủ Tướng Mã Lai Mahatir Mohamed, Cao Ủy LHQ, và báo chí.
5.- Cuộc đối thoại giữa phái đoàn CSVN và HĐĐD Trại là cuộc đối thoại bình đẳng, trực tiếp, và bằng ngôn ngữ VN. Một thông dịch viên của Cao Ủy LHQ sẽ đảm trách phần thông dịch sang Anh ngữ cho phái đoàn Cao Ủy và đại diện chánh phủ Mã Lai.

Tên Thiếu Tướng mừng như chết đuối vớ được phao. Hắn chấp thuận toàn bộ năm điểm. Hắn chỉ xin “bổ sung” thêm vài qui định vào các điểm nêu trên cho… “được công bằng”:
– Về điểm 2: hắn yêu cầu cộng đồng tị nạn cũng không mang vào phòng họp cờ VNCH, không mặc áo T-shirt có in cờ.
– Về điểm 4: được phân phối Kháng Thư, nhưng chỉ sau khi hai bên đã vào phòng họp. (Báo chí không được mời tham dự.)
– Một người Mã Lai thông thạo tiếng Việt sẽ tham dự phiên họp (?)

Phía đại diện cộng đồng thấy không thể bài bác ba điểm thêm vào của viên tướng Mã nên đành thông qua. Nhưng bất ngờ, khi Công Bố Chung sắp được ký, hắn lại đưa thêm vào hai điều khoản:
– HĐĐD có mặt cùng Task Force đón phái đoàn CS tại bãi đáp trực thăng.
– HĐĐD bảo đảm an ninh lộ trình từ bãi đáp trực thăng trên khu F đến Bộ Chỉ Huy.
Hai điều khoản này gây bàn cãi và đưa đến bế tắc vì:

Một là: HĐĐD không thể ra đón một phái đoàn mà họ xem như là chỉ đại diện cho một tập thể gây ra muôn ngàn tội ác với dân tộc và lịch sử.
Hai là: Quãng đường mà phái đoàn CS đi qua, xuyên suốt chiều dài của trại và đầy bất trắc. Hội Đồng Trại không đủ nhân lực để dàn trải. Hơn nữa, tâm lý người tị nạn rất phức tạp, không thể lường trước được những phản ứng dữ dội bất ngờ, có thể có cả bạo lực, khi trong trại có rất nhiều gia đình vốn là nạn nhân thê thảm của bạo quyền CS: nạn nhân của Trại Cải Tạo, của vùng Kinh Tế Mới, của chiến dịch đánh Tư Sản Mại Bản, của Hải Tặc Biển Đông…. Tất cả đều từ Cộng Sản và do CS mà ra!

Đến 02 giờ sáng, viên Thiếu Tướng thấy không thể ép buộc được HĐĐD, ép mạnh tay sẽ bể nát. Hắn bằng lòng rút lại hai Điều Khoản thêm vào để phiên họp được chấm dứt với sự hợp tác “chừng mực” của HĐĐD.

Thế là sáng nay, một bãi đáp trực thăng dã chiến vừa được gấp rút hoàn tất tại bìa rừng, giáp với khu A, chỉ cách văn phòng Task Force Mã Lai một quãng ngắn. An ninh lộ trình và phòng họp do… Lực Lượng Cảnh Sát Chống Bạo Động từ Trengganu sang đảm trách.

* * *

Chiếc trực thăng từ từ hạ dần cao độ và chạm nhẹ mặt đất. Một lớp bụi hòa lẫn với lá cây, với những đụn khói màu vàng còn vương vấn tạo thành một bức màn dầy đặc, cuộn lấy chiếc trực thăng. Phải hơn năm phút sau, hình dáng chiếc “máy bay lên thẳng” mới dần dần lộ dạng, ló hình.

Viên Tướng Mã Lai nhanh nhẩu bước lại đứng cạnh càng trực thăng để chào đón. Cửa mở, lần lượt bảy người bước ra. Nhân dáng người Á châu tương tợ nhau, nên nhất thời không thể phân biệt được ai là Việt, ai là Mã. Sau đó, do sự tiếp xúc giới thiệu, người ta mới được biết có năm người Việt Nam trong phái đoàn CS và hai viên chức ngoại giao Mã Lai tháp tùng. Tên đi đầu dĩ nhiên là trưởng đoàn CS. Hắn khoảng gần 50, tương đối trẻ (so với đám lãnh tụ muôn năm ở Bắc Bộ Phủ). Hắn “sorry” vì thủ trưởng của hắn (ám chỉ tên thứ trưởng Nguyễn Duy Kinh) bận công tác ở Kuala Lumpur, nên là Phó đoàn, hắn phải đi thay.

Buổi đón tiếp diễn ra thật nhanh tại bãi đáp vì Task Force Mã không muốn có bất trắc. Họ trao đổi nhanh, và cũng kéo nhau về BCH nhanh….

3:00 giờ chiều, buổi tiếp xúc bắt đầu. Tên Thiếu Tướng giữ lời hứa: HĐĐD có 6 thành viên, ngồi đối mặt với 5 thành viên thuộc phái đoàn CS. Chúng cố giữ tư cách một phái đoàn ngoại giao nhưng vẻ mặt tên nào tên nấy cũng một… đống!

Viên Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Task Force đảo Pulau Bidong đọc lời chào mừng phái đoàn CS và giới thiệu đại diện Cao Ủy LHQ tại Mã Lai và HĐĐD tị nạn trên đảo. Hắn chúc chuyến thăm viếng của phái đoàn thành công (!)

Đại diện phái đoàn CS cảm ơn viên Đại Tá đã dành cho hắn buổi đón tiếp long trọng…. Hướng về phía đại diện Cao Ủy, hắn bày tỏ lòng ngưỡng mộ tổ chức quốc tế này đã dành cho đồng bào hắn(?!) sự chở che và trợ giúp nhân đạo cần thiết và kịp lúc! (Tội nghiệp thay cho những tên cán bộ CS được đào tạo trong khuôn thước ngôn ngữ Mác-Lê! Khi lọt ra ngoài môi trường sở trường quen thuộc và chưa kịp thích ứng với hoàn cảnh bất ngờ mới, bọn chúng dễ trở thành nạn nhân của ngôn ngữ, của chính những giáo điều chúng đã được tôi rèn thuần thục!)

Cuối cùng, quay sang mục tiêu chính của chuyến đi, hắn lướt một cái nhìn thật nhanh về phía đại diện của cộng đồng và dừng lại khá lâu ở Đại Đức Như Đạt. Hắn biết đây là những đại diện có khả năng của người tị nạn. Những người đang ngồi trước mặt hắn chắc chắn là nạn nhân cay nghiệt của chế độ “ta”, họ dày dặn kinh nghiệm về CS. Bọn này không dể đối phó! Hắn “chựng” lại một chút và… mở đầu bằng câu: Chào các bạn! Xong hắn tự giới thiệu:

– Tôi là Châu Thọ Nhân, tôi xin thay mặt cho đồng chí Thứ Trưởng Nguyễn Duy Kinh gởi lời chào và thăm hỏi đếân các dồng bào ta trong trại. Đồng chí Thủ Trưởng muốn, qua các bạn, nhắn nhủ với đồng bào ta tại Pulau Bidong rằng: Chính phủ và nhân dân có cảm thông được phần nào tâm trạng của đồng bào khi bỏ nước ra đi. Chúng tôi biết các bạn đã sống và trưởng thành trong một miền đất nước, tuy cùng tổ quốc, nhưng khác xa nhau về nhận thức và sinh hoạt. Tôi cũng không dấu diếm, với các bạn, là toàn dân ta vẫn còn khó khăn sau hơn mười năm Tổ quốc đã được thống nhất. Nhưng mọi chuyện giờ đây đã thay đổi! Mọi sinh hoạt trong nước đã bắt đầu khởi sắc từ sau Đại Hội VI. Mặc dù các bạn và đồng bào đã bỏ Tổ quốc ra đi, nhưng chánh phủ và nhân dân ta lúc nào cũng mở rộng vòng tay đón các bạn trở về. Chúng tôi lúc nào cũng “trước sau như một” là luôn luôn xem đồng bào ở các trại tạm trú tại Đông Nam Á, hay đã định cư ở khắp năm châu là “khúc ruột ngàn dặm”, một bộ phận không thể tách rời của dân tộc. Mong các bạn trung thực chuyển lời của chúng tôi đến đồng bào ta trong trại và hợp tác với chúng tôi, tạo mọi điều kiện thuận lợi để đồng bào đăng ký hồi hương càng nhiều càng tốt. Làm được như vậy, chúng ta đã tạo một dư luận tốt cho đồng bào quốc nội, nhằm ngăn chận những phần tử vẫn còn liều lĩnh với hiểm nguy bỏ nước ra đi (?!). Mong các anh tích cực hợp tác.

Với tư cách điềm đạm của một nhà tu, Đại Đức Như Đạt chậm rãi:
– Thưa ông Nhân, xin phép cho chúng tôi được gọi ông như vậy, Pulau Bidong tuy là một hòn đảo nhỏ, nhưng đây là vùng đất tự do vĩ đại mà chúng tôi vừa đặt chân đến. Nơi đây, cuộc sống chen chúc, chật hẹp, và thiếu thốn… nhưng về phương diện tư tưởng, mọi người tị nạn đều có quyền suy nghĩ, phán đoán, và quyết định một cách hoàn toàn tự do. Thông Điệp của chính phủ ông, chúng tôi sẽ chuyển đạt một cách trung thực đến cộng đồng chúng tôi. Chúng tôi không hề ngăn cản và, dĩ nhiên, cũng không khuyến khích đồng bào tị nạn tự nguyện “đăng ký”ù hồi hương. Chúng tôi nghĩ: đồng bào tôi đã có chọn lựa thích đáng và sáng suốt trước khi xuống thuyền ra bể.

Quét một cái nhìn sắc bén về hướng tên Trưởng Đoàn VC, Đại Đức Như Đạt tiếp:
– Thưa ông Nhân, vì ông nói “…các bạn và đồng bào đã bỏ tổ quốc ra đi…” nên xin cho phép tôi xác nhận một điều: chúng tôi không bao giờ bỏ tổ quốc. Tổ quốc luôn luôn ở trong tim người tị nạn VN, dù người đó sống ở chân trời góc bể nào. Trong một quốc gia thật sự tự do và nhân bản, người ta không đồng hóa Tổ quốc với nhà cầm quyền, vì Tổ quốc là thiên thu trường cửu, còn chính quyền chỉ là giai đoạn, giai đoạn rất ngắn trong lịch sử….

Đại Đức Như Đạt chấm dứt bài nói bằng câu: “Xin chào ông và quý phái đoàn.”
Những phát biểu sau đó giữa hai đối tác, cùng là người VN, chỉ xoay quanh việc thăm hỏi, xã giao, vì cả hai đều không muốn khiêu khích, gây tranh luận trước mặt Cao Ủy LHQ và quốc gia chủ nhà; một cuộc tranh cãi, nếu có, sẽ rất vô bổ và không đi đến đâu cả.

Được Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Task Force mời dự tiệc, nhưng HĐĐD nhã nhặn cảm ơn và xin cáo lui vì Đại Đức Như Đạt thì… ăn chay, còn các thành viên khác xin được về trại sớm để kịp “triển khai” “thông điệp” đến đồng bào trong trại.

Khi bước ra khỏi phòng họp, HĐĐD sững sờ chứng kiến một quang cảnh chưa từng thấy xảy ra ở đảo: gần mười ngàn người tị nạn đã tràn ra ngoài đường, tràn xuống bãi biển với rừng cờ vàng ba sọc đỏ, với rừng biểu ngữ phản đối sự có mặt của phái đoàn CS tại đảo. Đây là cuộc biểu tình tự phát. Tuy có sự chuẩn bị trước từ phía Hội Đồng Trại và phòng Phát Triển Cộng Đồng, nhưng số người tham dự đã vượt quá mọi dự đoán. Mọi khả năng dự trù trước đã không đáp ứng được: cờ và biểu ngữ cung cấp không thấm vào đâu so với số người tham dự. Thì ra trong lúc HĐĐD bận họp, thì các thành viên còn lại của Hội Đồng Trại đã phối hợp với phòng phát triển Cộng Đồng, do Nhà Văn Nguyễn Bá Trạc phụ trách. Anh Trạc là người Mỹ gốc Việt, có hợp đồng một năm với Cao Ủy LHQ làm việc cho trại Pulau Bidong. Anh giữ nhiệm vụ Cố Vấn Phòng Phát Triển Cộng Đồng. Nhiệt tình và tích cực trợ giúp đồng bào tị nạn, trợ giúp Hội Đồng Trại, anh là nguồn cung cấp mọi tin tức về chuyến viếng thăm của phái đoàn CS, cung cấp mọi phương tiện cờ và biểu ngữ cho cuộc biểu tình vĩ đại ngày 01-11-1988. Cuộc biểu tình với tất cả lòng phẩn uất, với khí thế hừng hực lửa của người tị nạn trên đảo đã khiến mọi sinh hoạt trên đảo bị trình trệ, mọi phiên họp tiếp theo bị hủy bỏ.

* * *

8:30 tối, một thông báo của Lực Lượng Task Force được đọc trên hệ thống phát thanh toàn đảo:
“Văn phòng Lực Lượng Đặc Nhiệm Mã Lai tại Pulau Bidong xin mời ông Nguyễn Văn Thanh, tàu MB898, lên văn phòng Lực Lượng Đặc Nhiệm có chuyện cần gấp.”

Thông báo được lặp lại nhiều lần.
Anh Nguyễn Văn Thanh là một người tị nạn rất “nổi tiếng”, trên đảo rất nhiều người biết anh. Biết anh không phải vì anh là một người tài ba kiệt xuất, hoặc có công lao gì to tát, mà chính vì anh là một… Sĩ Quan Công An ngành Chấp Pháp của CS. Anh đến trại tị nạn này đã gần tròn một năm, trên một chiếc ghe của gia đình nhà vợ gồm cha mẹ vợ, và vợ chồng anh. Gia đình anh được xếp định cư theo diện đoàn tụ với thân nhân bên Úc Đại Lợi và đang chờ list.

Trong mấy tháng đầu tiên ở đảo, gia đình anh sống hòa đồng và bình thường với cộng đồng, không có dấu hiệu gì trục trặc cho đến một ngày….
Một cựu quân nhân Quân Lực VNCH đến đảo và bất ngờ nhận ra anh: Thanh đích thực là một Thiếu Úy Công An. Trước đây, Thanh đã từng “chấp cung” cựu quân nhân này. Dĩ nhiên, vấn đề ân oán giang hồ được “tính” với nhau từ dạo ấy! Cái lầm lỗi lớn của Thanh là khi đến đảo, anh đã dấu nhẹm quá khứ mình, man khai là một người dân bình thường nên khi bị phát giác, anh hoàn toàn ở thế gian dối, khó biện bạch.

Người quân nhân, nạn nhân trước kia của anh, đã âm thầm thu thập mọi dữ kiện đầy đủ, chính xác về anh. Sau đó, anh ta kết hợp được một số cựu quân nhân khác, và đã bất ngờ “đánh hội đồng” Thanh vào một buổi chiều, gây cho Thanh và gia đình một phen kinh hoàng. Tuy vậy, nhóm quân nhân này cũng chỉ muốn cảnh cáo, dạy cho anh một bài học, chứ không muốn hạ sát anh, một điều họ có thể làm được, nên thương tích cũng không nặng lắm. Anh kêu cứu với Hội Đồng Trại, và được giải thoát. Trước HĐ Trại, Thanh công nhận có lỗi dấu diếm lý lịch, anh tường trình: tôi đúng là Công An Chấp Pháp, trong một lần làm việc với toán vượt biên, tôi đã “chấp cung” một cô gái và bị sắc đẹp cũng như tính tình của cô này “chấp cung” lại. Dần dà, tôi hoàn toàn bị cô gái chinh phục, chinh phục cả về lý lẽ lẫn về lý tưởng vượt biên.”

Thanh sa vào lưới tình, anh đam mê cô gái, bất chấp mọi hậu quả, nên tạo điều kiện, vẽ ra mọi cách để tha cả gia đình cô.
Cuối cùng, Thanh đã thành công là trả tự do cho cả gia đình cô. Bù lại, Thanh cũng được gia đình nhà gái, mà cha cô là một sĩ quan cấp Trung Tá “ngụy”, hiện còn trong tù Cải Tạo, “đền ơn” bằng chính đối tượng mà anh mơ ước: gả cô gái mà Thanh đã chấp cung! Dĩ nhiên, cái Thiên Đàng mà Bác và Đảng đã vạch ra cho Thanh, Thanh đành phụ rãy để đi theo tiếng gọi của “phường ma cô đĩ điếm” (câu nói nổi tiếng của Nguyễn Cơ Thạch, thứ trưởng ngoại giao CSVN) ra nước ngoài.

Thanh không “thưa gởi” gì mấy anh cựu quân nhân đã dần cho anh một trận nên thân, vì nhận mình có lỗi trước, nên tội hành hung của các anh em cựu quân nhân nầy được bỏ qua. Hội Đồng đã tìm cho anh và gia đình một chỗ ở khác an ninh hơn nhưng Thanh xin ở lại chỗ cũ. Vã lại, nhóm cựu quân nhân nọ cũng đã hứa sẽ bỏ qua chuyện cũ.

* * *

Hội Đồng Trại đang họp tại Văn Phòng thì Nguyễn Văn Thanh xuất hiện. Anh xin gặp Đại Đức Như Đạt.
Đại Đức Như Đạt bước ra cửa. Năm phút sau trở vào, Thầy thông báo cho Hội Đồng:

– Anh Thanh xin ý kiến tôi về chuyện anh lên văn phòng Task Force trình diện theo thông báo mời. Tôi khuyến khích anh nên đi sớm, và khi về cho Hội Đồng biết diễn tiến cuộc gặp gỡ, nếu thấy cần thiết!

Hội Đồng Trại ngưng họp vào lúc 9:00 giờ đêm. Ai nấy đều đói và mệt sau một ngày căng thẳng với đủ thứ áp lực từ nhiều phía. Có lẽ mọi người cần nghĩ ngơi lấy lại sức.

10:30 đêm, một nguồn tin “đáng tin cậy” cho Hội Đồng Trại biết rằng Nguyễn Văn Thanh đang tiếp xúc với tên trưởng phái đoàn CS Châu Thọ Nhân. Dư luận bàn tán xôn xao, nhiều câu hỏi được đặt ra… nhưng tất cả chỉ là đoán mò hoặc suy luận theo kiểu ông bàn gà, bà bàn vịt. Thế thôi.

Quá nữa đêm, một số đồng bào còn thức, nhìn thấy hai cảnh sát Mã Lai, có một nhân viên Cao Ủy tháp tùng lên tận chùa Phật, nơi cư trú của Thầy Như Đạt và mời thầy đến văn phòng Cao Ủy.

Diễn tiến dồn dập của sự việc vào ban chiều cho thấy có một sự kiện bất thường đang xảy ra….

Người ta đang chờ một biến cố. Biến cố gì? Có thể là một sự kiện là vô tiền khoáng hậu, kể từ ngày hòn đảo Pulau Bidong này được dùng làm nơi tạm trú cho đồng bào tị nạn.

* * *

Buổi sáng êm ả trở về trên đảo Bidong…. Biển hôm nay vẫn xanh như mọi ngày. Gió nhẹ từ ngoài khơi đùa những đợt sóng lăn tăn thi nhau chạy vào bờ cát trắng, vỗ vào gành đá sủi bọt tung tóe. Những chú Dã Tràng nhỏ nhắn, ngộ nghĩnh tiếp tục những công trình chỉ tồn tại ngắn ngủi giữa hai lượn sóng. Vậy mà chúng không hề mệt mỏi, thất vọng.

Lác đác, một vài người đi tắm sớm đã thấy xuất hiện trên bãi…. Bên kia Đảo Cá Mập, những tia nắng vàng đầu tiên lấp lánh trên chòm cây cao của chóp đảo. Không lâu sau, ánh nắng tràn ngập chan hòa, một thứ nắng ấm của vùng nhiệt đới khiến cho người ngâm mình dưới làn nước bể trong xanh, mát rượi không hề muốn lên bờ….

Một ngày như mọi ngày ở đảo. Một số người thích chuyện giựt gân, thức cả đêm tối qua, tiên đoán và chờ đón sẽ có biến cố lớn trong sáng ngày hôm nay, đã bắt đầu thất vọng.

Đúng 9:00 giờ sáng, Phái Đoàn Cộng Sản, mà người tị nạn đã đặt cho một cái tên ý nghĩa từ hôm qua đến nay là Phái Đoàn “Chiêu Hồi”, chuẩn bị lên đường trở về đất liền. Lộ trình cũ!

Chiếc trực thăng đưa phái đoàn đến ngày hôm qua, vẫn còn đậu tại bãi đáp. Cánh quạt trực thăng đã bắt đầu khởi động. Cũng viên Thiếu Tướng Mã Lai, vài nhân viên Cao Ủy và một Tiểu Đội Cảnh Sát chống bạo động tiễn phái đoàn (Chiêu Hồi) ra trực thăng.

Không khí giữa chủ khách hôm nay có vẻ khác lạ. Viên Thiếu Tướng hình như đăm chiêu ít nói. Các thành viên trong phái đoàn VC lộ vẻ mệt mỏi, buồn bã nặng nề. Không có “ôm hôn thắm thiết” tiễn đưa như sáng hôm qua.

Không biết tâm trạng “kẻ ở người đi” như thế nào nhưng tâm trạng người tị nạn thì thắc mắc lo âu! Những tin đồn gần đây rằng Trại Tị Nạn rồi sẽ đóng cửa. Một thành phần tị nạn nào đó, sẽ bị cưởng bách hồi hương! Phái đoàn Cộng Sản Việt Nam lần nầy lại ra tận đảo thuyết phục. Sau khi họ về là cái gì?

Đoàn người tị nạn chứng kiến cuộc tiễn đưa sắp sửa giải tán thì một người trong đám đông, Thành, vốn là nhân viên Khối An Ninh của trại, có mặt giữ an ninh bãi đáp trực thăng sáng hôm qua, phát hiện một “chuyện động trời”…!

Anh la to:
– Châu Thiện Nhân đâu?

Quả vậy. Châu Thiện Nhân không hề có trong đoàn người lên trực thăng rời đảo vừa rồi.

Vậy hắn ở đâu? Chuyện gì xảy ra cho hắn?

Tối hôm qua, không ai nghe trực thăng cất cánh, không thấy tàu cao tốc tản thương rời đảo…. Vậy nếu hắn bệnh, hắn chỉ có thể nằm trên bệnh xá Sick Bay. Đoàn người ùn ùn kéo lên bệnh xá… nhưng không có nam bệnh nhân nào cả, ngoài mấy… sản phụ vừa sanh tối qua.
Vậy đích thị Châu Thọ Nhân đã ở lại đảo xin tị nạn chính trị rồi chăng?

Nguồn tin không biết đúng, sai; không biết có căn cứ hay không nhưng đó là loại “Breaking News” nên loan truyền nhanh. Không đầy 2 giờ đồng hồ sau, toàn đảo, ai cũng được “tin” tên Trưởng Đoàn CS đã tị nạn tại Pulau Bidong!

Những bản tin “phụ” còn được thêm thắt vào cho đầy đủ tình tiết… Người ta bảo nhau: Nguyễn Văn Thanh chính là cháu gọi Châu Thọ Nhân là cậu ruột. Hai cậu cháu dã chuyện trò gần suốt đêm qua. Thật ra, lúc đầu Nguyễn Văn Thanh cũng không biết cậu hắn lại là trưởng phái đoàn trong khi Châu Thọ Nhân đã có đầy đủ dữ kiện về Thanh trước khi rời VN. Cuộc nói chuyện đã chuyển từ văn phòng Task Force sang văn phòng của Cao Ủy LHQ, do Đại Đức Như Đạt làm trung gian.

Tên Thiếu Tướng và đại diện Bộ Ngoại Giao Mã lúc đầu muốn điên lên vì diễn biến đột ngột và kỳ cục này. Hắn sợ bị khiển trách, bị quy trách nhiệm làm “khủng hoảng ngoại giao” giữa hai nước. Nhưng sau cùng, hắn phải tôn trọng quy ước về người tị nạn mà quốc gia hắn đã ký kết.

Nếu báo chí và đài phát thanh loan tin này, thế nào cũng có kèm theo câu: “Chúng tôi loan tin này với sự dè dặt thường lệ,” nhưng “bản tin đặc biệt” chuyền miệng của cộng đồng tị nạn thì không nghe ai nêu ra câu trên.

Đồng bào ùa nhau lên văn phòng Cao Ủy, nhưng không có ai lạ, chỉ có nhân viên làm việc bình thường.

Kéo nhau lên dãy nhà Trường Huấn Nghệ, nơi thường tạm chứa đồng bào mới đến đảo chờ làm thủ tục, thì dãy nhà này trống trơn vì suốt đêm qua không có ghe vào đảo.

Vậy thì, chỉ còn có một chỗ duy nhất, mà tên CS có tầm cỡ này, có thể tạm lánh thân là… Chùa Phật.

Đoàn người ùn ùn kéo nhau lên chùa.

Sinh hoạt trong chùa cũng bình thường! Chỉ có sau Hậu Liêu, nơi dành riêng cho thầy trụ trì Như Đạt, thì cửa đóng kín, với tờ giấy dán trước cửa: “Thầy không khỏe, xin miễn tiếp khách!”

Làn sóng người kéo về Chùa mỗi lúc một đông, đến khoảng 2 giờ chiều thì con đường hẹp dẫn lên ngọn Đồi Tôn Giáo đều không còn chen chân vào lọt. Văn phòng Task Force lo ngại bất trắc cho chùa nên đã gởi đến bốn cảnh sát bảo vệ, nhưng Thầy Như Đạt đã có mặt đúng lúc trước cổng chùa.

Thầy cảm ơn lực lượng cảnh sát, và mời họ ra về.

Đám đông thấy Thầy xuất hiện, họ nhao nhao:

– Thầy giới thiệu tên CS cho chúng con đi thầy. Chúng con cam đoan là không “làm thịt” hắn, chỉ xin hỏi vài câu thôi.

Thầy ôn tồn nói:

– Xin quý vị trở về trại, ở đây không có tên cán bộ CS nào cả. Nhà chùa không bao giờ là nơi dung chứa kẻ ác. Nhà chùa chỉ chứa những người đã phát Tâm, hướng thiện hồi đầu, thoát bỏ trần tục….

Một giọng nói lớn từ ngoài xa vọng vào:

– Thầy ơi, coi chừng nó trốn trong phòng Thầy.

Nhiều giọng khác phụ họa:

– Đúng đó Thầy! Coi chứng nó ẩn náo trong phòng Thầy. Nó sẽ hại Thầy đó!

– A Di Đà Phật! Bần đạo tu hành, xa lánh ác nghiệp, không gây thù chuốc oán với ai. Hại bần đạo để làm chi?

Vẫn còn tiếng la lớn:

– Thầy không hại nó nhưng coi chừng nó cắt cổ Thầy đó. Việt Cộng mà Thầy! Thầy mở cửa đi, tụi con sẽ lôi nó ra giùm cho.

Thầy Như Đạt vẫn chậm rãi:

– A Di Đà Phật! Trong phòng tôi chỉ có một chú Tiểu mới phát tâm quy y thọ giới ngày hôm qua. Tôi vừa làm lễ xuống tóc cho chú sáng nay. Nếu quý vị không tin, tôi xin mời ra giới thiệu!

Nói xong, Thầy vào hậu liêu mở cửa phòng, gọi lớn:

– Tâm An! Con ra chào Cộng Đồng đi!

Một chú tiểu tuổi trung niên, đầu thật bóng loáng, đúng là vừa mới được xuống tóc, từ phòng trong bước ra, miệng niệm:

– A Di Đà Phật!

Hàng trăm tiếng “Ồ” phát ra từ đám đông:

– Giống lắm! Giống vô cùng!

Lại cũng có tiếng cãi:

– Không giống chút nào!Pulau Bidong 03-11-1988
Ngọc Sương & Nguyễn Bửu Thoại


“Giống” và “không giống”!
Họ muốn so sánh với nhân dáng của tên trưởng đoàn Châu Thọ Nhân! Nhưng làm sao xác minh được? Sáng qua, đồng bào bị cách ly khá xa; tên Trưởng Đoàn mặc âu phục sang trọng, đắc tiền, lại chỉ dừng ở bãi đáp có vài phút…. Bây giờ chú tiểu đầu nhẵn bóng, lại mặc bộ cà sa cũ kỹ, lạ hoắc, lạ huơ…. Không có tiêu chuẩn để so sánh! Biết thật chính xác, may ra chỉ có… Hội Đồng Đại Diện! Mà mấy “ông này” thì vô phương… cạy miệng!

* * *

Đúng hay không đúng?
“Sắc tức thị không, không tức thị sắc”
Cán bộ CS Châu Thọ Nhân cũng là không.
Chú tiểu Tâm An cũng là không.
Nhân quả xoay dần và chi phối vạn vật theo thuyết Luân Hồi của nhà Phật.
Đồ tể buông dao thành Phật.
Thiết Chưởng Thủy Thượng Phiêu Cừu Thiên Nhận, xuôi tay, buông Thiết Chưởng, quy y trở thành Từ Ân Hòa Thượng, ôm bình bát theo phò Thầy Nhất Đăng Đại Sư (Thần Điêu Đại Hiệp của Kim Dung.)
Cán bộ CS “ác ôn” Châu Thọ Nhân buông súng AK, bỏ dao mã tấu, quy y trở thành chú Tiểu TÂM AN.
Nếu nhân duyên, nghiệp quả xoay dần đúng như vậy, xin cộng đồng hãy để chú được… AN TÂM! An tâm từ nay mỏ sớm chuông chiều trên Đồi Tôn Giáo Pulau Bidong!

Đôi Mắt Người Bị Xử Bắn- Hồi Ức của Đại Uý Nguyễn Bửu Thoại

(Chân dung đại uý Nguyễn Bửu Thoại)
Kỷ luật là sức mạnh của quân đội, lệnh trên đưa xuống: “Xử bắn”, nhưng người Đại Đội Trưởng đã cãi lệnh, và hậu quả …
Xin kính mời quý vị và quý bạn đọc:
Đôi Mắt Người Bị Xử Bắn Trong Rặng Bình Bát của Đại Úy Nguyễn Bửu Thoại.

==========
[Hành quân từ 7 giờ sáng tới 2-3 giờ chiều tại khu vực Kinh Ranh Hạt, Quận Lỵ Thuận Nhơn, Cần Thơ, đại đội đã thấm mệt]


1 —

Bắt đầu nản, tôi vừa có ý xin Tiểu Đoàn cho đơn vị dừng quân để anh em ăn cơm vắt. Chưa kịp gọi Tiểu Đoàn thì Binh I An, âm thoại viên mang máy nội bộ, bước lại đưa ống liên hợp cho tôi:

– Ông Trường Thành 3 [Trung Đội 3] xin gặp Mười Một.

Tôi bấm ống liên hợp:

– Trường Thành 3 có gì nói đi!

Tiếng Chuẩn Úy Liêm gấp gáp:

– Trình Mười Một! Trình Mười Một! Có cái trạm xá của VC chứa nhiều thương binh… Mười Một cho biết… cho biết… biện pháp.

Chuẩn Úy Liêm là một sĩ quan trẻ độc thân, mấy tuần qua chứng tỏ anh cũng cố làm quen với chiến trường, rất gan dạ và dễ thương, có điều gặp chuyện gì cấp bách là Liêm hay… cà lăm!

Tôi cắt ngang:

– Anh đã kiểm soát được trạm xá chưa?

– Dạ rồi, Mười Một!

– Bố trí em út cẩn thận. Tôi sẽ tới anh ngay

Gọi luôn các trung đội còn lại, tôi chỉ thị:

– Trường Thành 1 và 2 nghe rõ chưa? Các anh dừng lại bố trí tại chỗ chờ lệnh. Riêng Trường Thành 1 lưu ý yểm trợ thằng 3.

– Trường Thành 1 nghe rõ 5.

– Trường Thành 2 nghe rõ 5.

Tôi vỗ vai Lữ, âm thoại viên mang máy liên lạc Tiểu Đoàn, bảo:

– Anh thông báo cho Tiểu Đoàn biết; Đạt Đội phải dừng quân vì khám phá trên. Yêu cầu Tiểu Đoàn sẵn sàng yểm trợ.

2 —

Chưa đầy một phút sau tôi đã tới… trạm xá. Chuẩn Úy Liêm đón ở góc ngoài trạm và lưu ý tôi một số lựu đạn nội hóa chất chung quanh.

Quan sát một vòng, tôi lấy làm lạ khi thấy các chiến sĩ Trung Đội 3 đứng dang ra khá xa vách trạm và ai nấy đều đưa tay bịt mũi. Mấy ông lính mình bữa nay lại làm duyên làm dáng gì nữa đây? Tôi bước nhanh tới và thật là khủng khiếp!!!

Một mùi hôi thối nồng nặc bao trùm cả trạm xá! Mùi của tử thi? Nhưng, có lẽ cũng không giống như vậy vì mùi xác chết sình tụi tôi cũng “thưởng thức” khá quen mũi hôm Tết Mậu Thân khi phải nằm nhiều ngày cạnh xác chết VC trong mấy con hẻm của thành phố mà không làm sao có thì giờ tống khứ đi chỗ khác hoặc tìm ra đất để chôn. Phải dùng đến mền, mùng, chiếu, ni- lông, hay bất cứ thứ gì để đắp, đậy tạm cho đỡ khổ cái lỗ mũi rồi tiếp tục… chiến đấu. Nhưng cái này thì không phải! Tôi nhìn Chuẩn ủy Liêm. Liêm hiểu ý tôi, nhăn mũi lắc đầu:

– Không có tử thi nào cả. Mười Một nhìn vào trạm xá sẽ hiểu!

Tôi bước tới trạm và nhìn vào…

Tôi không tin rằng đây là một cái trạm xá!

Trạm xá, dù là dã chiến đi nữa, ít ra cũng phải có cái tiện nghi tối thiểu của nó, nghĩa là phải có giường kê lên cao, có tấm trải giường, (hay chiếu, cói), có mền để đắp, có mùng tránh muỗi, nhất là ở giữa rừng. Đàng này! Tôi không sao tưởng tượng và hình dung được!

Đây phải gọi là cái chòi thì đúng hơn, có khi còn thua cả cái chòi giữ vịt của nông dân miệt Cần Thơ, Sóc Trăng.

Trạm hình chữ nhật dài khoảng 8 mét, ngang 4 mét.

Trong trạm trống trơn, không một chiếc giường, một bộ ván nào cả. Nền nhà không ngập nước nhưng ẩm ướt vì mới dứt mùa mưa dầm, ánh nắng lại không soi rọi tới, đất chưa kịp khô… Mái trạm lợp bằng lá dừa nước, vách cũng lá dừa nước, bốn bề từ ngực trở lên để trống. Toàn khu nền nhà được rải một lớp rơm khá dầy.

Đó là tất cả những “tiện nghi” của một trạm xá VC! Phía góc trong của căn trạm có bốn thương binh Việt Cộng đang nằm. Bốn anh giương mắt nhìn tôi, ánh mắt vừa tò mò vừa lo sợ. Cả bốn còn tỉnh, mặc dù thương tích có vẻ rất trầm trọng.

Tôi bước qua khung cửa để vào chỗ các anh đang nằm. Mùi hôi thối đúng là phát ra từ đây! Cả bốn anh mình mẩy đều bê bết máu tươi và khô, nước vàng, mủ nung núc. Vương vãi khắp nơi là những loại quần áo cũ, khăn rằn quấn cổ, bị xé ra làm băng, làm vải thấm thay cho compress, trộn lẫn tất cả các thứ xú uế kể trên, được ném khắp nền nhà.

Vì cơ thể bốn anh liên tục phóng thích những chất kinh khủng đó suốt ngày nên quyến rũ hằng đàn, hằng đống ruồi, nhặng vo ve. Mùi hôi thối của những chất này còn khủng khiếp hơn cả thây ma. Ghê tởm hơn nữa, dưới nền nhà, những con giòi trắng bò lễn nghễn.

Tôi thật tình không thể tin rằng bốn anh tính của “Bác” có thể sinh tồn nhiều ngày trong điều kiện như vậy được.

3 —

Đang suy nghĩ, bỗng chiếc loa nhỏ gắn sau các máy PRC.25 phát ra. Tiếng gọi của ông Tiểu Đoàn Trưởng. Có lẽ ông muốn biết tình hình vì báo cáo ban nãy:

– Trường thành! Đây số Sáu gọi.

Tôi nhặt ống liên hợp gắn sau lưng Lữ và đáp ngay:

– Mười Một tôi nghe số Sáu!

– Anh đến chỗ trạm xá chưa và thấy thế nào?

– Đã đến hơn ba phút. Đang quan sát tìm hiểu, chưa tìm thấy gì cụ thể. Sẽ báo cho số Sáu sau.

– Cố khai thác nó xem: thằng nào, tên gì, đang đóng quân ở khu vực này? Bóp cổ nó tìm củi đuốc [súng đạn] coi có được gì không? Nửa tháng nay, không có chấm mút gì ráo!

Nói xong ông buông một tràng cười. Tính ông hay pha trò nhưng là con người rất nguyên tắc. Ông là một Tiểu Đoàn Trưởng giỏi nhưng cũng có nhiều tật lạ đời như là: quy y Phật, không bao giờ chửi thề, nhưng, khi giận, ông là vua nói tục! Có khi đang tụng kinh lâm râm vậy mà nghe bắt sống được VC thì bảo lính đem “cất” liền khỏi cần giải giao về Trung Đoàn hay Tiểu Khu cho mất công. Lính như thiên lôi, có lệnh là làm.

Ở đơn vị hành quân, trong vùng địch, không dân cư, đối diện với những sinh tử bất chợt, luật lệ ở đây là họng súng. Đó là một hệ quả tất nhiên của sự rình rập ngày đêm giữa hai mãnh thú săn mồi. (Cái này dù có mười ông nhiếp ảnh viên Eddie Adams, người chụp bức hình nổi tiếng Tướng Nguyễn Ngọc Loan trong vụ xử bắn tên đặc công CS tại Sài Gòn trong Tết Mậu Thân, cũng không có điều kiện để bấm máy).

Mỗi lần đem “cất” như vậy ông tâm sự với tôi: tụi nó là quỷ vương, giết cho sạch ma quỷ để Phật xuất thế! (Ông chỉ thị cho sĩ quan truyền tin ghi trong Đặc Lệnh Truyền Tin danh xưng của ông là số 6, Tiểu Đoàn Phó số 7, Đại Đội Trưởng Đại Đội I số 11, Đại Đội Trưởng Đại Đội 2 là 22… Ông còn nói thêm số 6 là Lục Tự Di Đà đó, ông biết không?)

Tôi không có ý kiến về cách tu hành và pháp môn niệm Phật của ông, nhưng quả tình tôi với ông có những quan điểm rất dị biệt về cách đối xử với tù, hàng, thương binh của địch…

Dù mùi hôi thối có thế nào tôi cũng phải đến tận chỗ nằm của bốn anh thương binh.

Người nằm sát chân tôi là một thanh niên trẻ, cũng chừng tuổi tôi, nghĩa là trên dưới 25. Anh mặc một chiếc áo sơ mi

Người thứ hai trên ba mươi tuổi, một chân bị cưa khỏi đầu gối, chắc có lẽ vết cắt chưa lâu lắm nên máu và nước vàng thấm ướt cả vải băng.

Người thứ ba tôi không tài nào đoán được tuổi vì gương mặt bị cháy xém nhiều chỗ, khắp thân hình anh nhăn nhúm và loang lổ. Chỗ nào da đã tuột mất thì phơi bày máu mủ bầy nhầy, nước vàng kinh khiếp. Chỗ nào còn da thì đổi màu đen và nhăn nhúm lại. Khắp người không có mảnh vải nào để che đắp vì những vết phỏng nhầy nhụa. Bộ phận sinh dục, xin lỗi, bị cháy teo không còn hình thù. Anh cho tôi biết anh bị napalm hơn tuần lễ trước.

Ngươi thứ tư có lẽ rất nguy kịch vì anh bị trúng pháo binh nên phần ngực và bụng bị rách và bể nhiều chỗ. Anh đắp trên bụng một cái mùng vải tám, màu vải nguyên thủy là màu trắng ngà, bây giờ không biết gọi màu gì sau khi nó thấm, nhuộm đủ thứ nào là máu, mủ nước vàng, đất v.v… Hạ Sĩ I Thạch Chêm, Trưỏng Toán Quân Báo Đại Đội dùng đầu súng M16 hất cái mùng ra để kiểm tra bên dưới. Tôi đã suýt kêu lên: Một đoạn ruột của anh lòi ra khỏi bụng và đã ngã màu đen!

Lòng tôi nặng nề chùn xuống. Là con người, là đồng loại, tôi ngỡ ngàng thương cảm cho các anh! Không phải bây giờ tôi mới thương các anh mà đã tư lâu rồi, từ Tết Mậu Thân kia, khi lôi chứng kiến những em bé bộ đội miền Bắc 15, 16 tuổi, miệng mếu máo, mặt mày dáo dác như con lạc mẹ, lạc cha, lúc đơn vị các em bị đánh tan tác; hoặc từng chùm hai người gục chết với cây đại liên phòng không, chân còn bị xích cứng với càng súng…!

Nhưng chưa bao giờ lòng thương cảm của tôi đối với các anh lại biến thành nỗi đau xót cùng tột như bây giờ. Người lính miền Nam, đối diện với lực lượng xâm lăng miền Bắc, chỉ để tự vệ và giữ gìn cuộc sống êm ấm cho đồng bào. Quân Lực VNCH không dạy người chiến sĩ mang trong lòng sự thù hận nào.

Không có quốc gia văn minh, có truyền thống nhân bản nào lại dạy người lính của họ bài học nhập môn là Lòng Thù Hận. Quân đội miền Nam, được đào tạo để bảo vệ xứ sở, bảo vệ chủ quyền, chứ không bảo vệ chủ… thuyết, nhất là loại chủ thuyết ngoại lai hảo huyền.

Tôi thương các anh, tôi không chịu nổi hình ảnh người thương binh, dù là thương binh ở hàng ngũ nào, bị đối xử còn thua con vật. Nhưng tôi làm được gì? Quyền lực của tôi rất giới hạn. Tôi sẽ giúp được các anh nếu các anh thật lòng và tạo điều kiện để tôi thực hiện được sự giúp đỡ đó.

Nhìn gần hai chục quả lựu đạn, đa số là nội hóa, nằm rải rác quanh trạm xá, tôi hỏi:

– Ai trang bị và xử dụng mấy quả lưu đạn này?

Sáu đôi mắt đổ dồn về người thương binh cụt chân, lớn tuổi. Tôi biết anh là người lãnh đạo của nhóm, một thứ “bí thư chi bộ”. Tôi nhìn anh chờ đợi. Anh liếc chung quanh: Lính Sư 21 bố trí dày đặc khắp trạm. Anh sợ sệt nhìn tôi, giọng run run:

– Thưa, thưa… ông! Bốn anh em chúng tôi ngồi còn không nổi, không ai xử dụng được vũ khí, có lẽ các anh bảo vệ bỏ lại.

– Các anh Bảo Vệ? Bao nhiêu anh và xử dụng vũ khí gì?

Thưa ông, tất cả có sáu anh với 5 khẩu AK47. Tên thương binh cụt chân đáp. Hắn thêm luôn:

– Các anh ấy đã chạy chừng mười phút, trước khi ông chỉ huy này đến, vừa nói hắn vừa chỉ Chuẩn Úy Liêm…

Tôi nói thật với các anh, và cũng nói thật với lương tâm của mình, rằng:

– Tôi muốn cứu các anh được sống bằng cách xin chuyển các anh về Quân Y Viện của chúng tôi để được điều trị. Nhưng để thực hiện được điều đó, các anh cũng phải thực tâm khai báo tin tức về những đơn vị đang trú đóng quanh đây hoặc là ít ra, các anh cũng phải chỉ cho chúng tôi vũ khí đạn dược đã chôn giấu.

Tên thương binh lớn tuổi có vẻ khổ sở, y thề thốt bán mạng với tôi rằng y không biết được gì vì thương tích quá nặng, mê man nhiều ngày. Hơn nữa, các anh giờ đây đã trở thành gánh nặng cho đồng đội, đâu còn được giao công tác gì mà biết được kế hoạch, đơn vị, và vũ khí?

Sau hơn 30 phút tiếp xúc và tra hỏi, tôi đánh giá có lẽ y chẳng biết gì thật. Tôi chạnh lòng nên thật tâm muốn cứu các anh nhưng không phải là không có điều kiện bởi vì quyền quyết định không phải do tôi. Trong cuộc đổi chác, các anh không có gì để trao nên cũng chẳng nhận được gì. Đó là sự trao đổi bình đẳng. Tôi rất lấy làm tiếc…

Tôi vừa định bảo An ra lệnh cho các Trung Đội tiếp tục lên đường thì chiếc loa nhỏ lại phát ra tiếng nói của ông Tiểu Đoàn Trưởng:

– Trường thành, Trường thành! Số Sáu gọi!

An bấm máy:

– Dạ Trường thành nghe số Sáu!

– Cho ông thầy anh đầu máy.

Tôi nhặt ống liên hợp trên tay An:

– Mười Một tôi nghe số Sáu!

– Có khai thác được gì không, Tango?

– Chẳng có gì cả, số Sáu, ngoại trừ gần 20 trái bình bát nội hóa [lựu đạn chế].

– Mở chốt, thảy vô cho nó xài! Sau câu nói là một tràng cười, ngừng mấy giây, ông dứt khoát:

– Thôi bỏ ! Chiều lắm rồi! Cho em út tiếp tục zulu [rút lui]. Nhớ trước khi đi, đem “cất” hết bốn thằng đó nhé!

– Nhận rõ, số Sáu!

Chiếc loa nhỏ, âm thanh yếu, nhưng rõ ràng. Trong bán kính 3, 4 mét, bất cứ ai cũng nghe không sót tiếng nào. Đó là lệnh của cấp chỉ huy. Lệnh tại chiến trường: Lệnh Xử Bắn!

Loại mệnh lệnh này chỉ có thi hành chứ không có bàn cãi.

4 —

Bọn thương binh Việt cộng nằm ngay dưới chân tôi. người mang máy lại luôn luôn di chuyển sát cạnh Đại Đội Trưởng, nên từ chiếc loa đến cả bốn anh chỉ cách khoảng từ một mét đến hơn hai mét. Nghĩa là họ nghe rõ ràng!

Động từ “cất” là một tiếng lóng của chúng tôi, nhưng tiếng lóng này không khó hiểu, ai nghe cũng đoán được nghĩa.

Hạ Sĩ I Thạch Chêm gỡ súng M 16 ra khỏi vai trong tư thế sẵn sàng. Anh là Tiểu Đội Trưởng Quân Báo, một đơn vị thuộc loại trinh sát của Đại Đội, có nhiệm vụ, nếu cần, sẽ thi hành những mission như vậy.

Trong khi ấy, cả bốn thương binh đều cố ngồi dậy, nhưng chỉ có hai anh gãy chân là ráng ngồi được, hai anh còn lại, dù cố gượng, nhưng quá đau đớn phải quỵ trở lại. Bốn anh, kẻ nằm người ngồi, giương bốn cặp mắt trắng dã, cặp mắt đứng tròng không còn thần sắc nhìn tôi. Khóe miệng thì co giật liên hồi. Đó có phải là phản xạ của cơ thể con người khi hay tin mình bị xừ chết chăng?

Mãi nhiều năm sau này trong trại cải tạo, chứng kiến sự gào thét, nhục mạ, hành hạ, hăm dọa, thủ tiêu của cán bộ quản giáo đối với người tù cải tạo sa cơ, tôi thường liên tưởng đến những đôi mắt này, đôi mắt đỏ, đôi mắt rưng rưng không còn thần sắc, và tôi hình dung lại thật rõ ràng… đôi mắt rã rời của bốn người… thua cuộc ngày xưa, nay đã thuộc về… dĩ vãng!

Tôi nhìn từng anh từ đầu đến chân.

Tôi không có ý bỏ lên bàn cân để tính thử trọng lượng cuộc sống của một con người.

Tôi cũng không hề có ý đánh giá hoặc so sánh sinh mạng con người ở hai giới tuyến khác nhau, vì khi sinh ra vạn vật muôn loàí, tạo hóa ban cho họ tất cả một giá trị bình đẳng như nhau! Chỉ có cái chết vô nghĩa, sự hy sinh bị lợi dụng, chứ không có cuộc sống nào là bỏ đi cả.

Tia nhìn của tôi dừng lại ở anh thương binh lớn tuổi. Tôi bắt gặp anh cũng đang nhìn tôi. Tôi thấy hai hàng nước mắt của anh chảy dài tư hố mắt trũng sâu. Tôi chớp mắt lại một giây. Mắt tôi không cay nhưng lòng tôi chua xót! Chua xót cho một kiếp con người! Chua xót cho những thân phận đầu thai lầm… chủ thuyết!

Dưới chân tôi có vật gì nhúc nhích. Tôi nhìn xuống: một con cóc ruộng thật lớn ở dưới lớp rơm, nhoi ra nhảy và ngồi trên mũi giày tôi. Cóc đang lè lưỡi… cuốn mấy con giòi trắng bò lễnh nghễnh trên nền trại. Tôi rùng mình hất nhẹ cho cóc nhảy đi.

Cùng lúc, một hình ảnh vô cùng tội nghiệp của giống vật lưỡng thể lưỡng cư, vừa sống được dưới nước cũng sống được trên cạn này, gây xót xa trong lòng tôi. Đó là hình ảnh mấy chú cóc, mấy chú ếch khi bị cắt cổ làm thịt, chúng luôn luôn dùng hai chân chõi mạnh lưỡi dao để đẩy ra, chõi cho đến khi đầu bị cắt lìa, hai chân vẫn còn chõi. Thật thảm thương!

Tôi đã có quyết định.

Tôi nói với… bốn cặp mắt thất thần đang nhìn tôi:

– Các anh đã nghe rõ rồi, tôi được lệnh phải bắn các anh trước khi di chuyển. Nhưng, tôi không làm điều đó vì hai lý do sau đây: thứ nhất, tôi không có thói quen đánh người bị trói, nên cũng không giết người đã bị thương nặng, bị loại khỏi vòng chiến. Lương tâm và truyền thống đạo đức không cho phép tôi thực hiện điều đó. Người chiến sĩ chân chính không bắn đối phương khi đối phương đã xuôi tay không còn vũ khí!

– Hơn nữa, hình ảnh thê lương của các anh gây ra một sự hụt hẫng thảm hại trong suy tư của tôi. Tôi không thể tin rằng: là con người với nhau, tầng lớp này lại có thể gạt gẫm và đọa đày tầng lớp kia và tầng lớp kia lại mù quáng, điên dại, lao thân vào chỗ chết để phục vụ cho một tham vọng, một chủ thuyết mơ hồ, xa vời và không tưởng! Tôi không hề làm công tác Chiến Tranh Chính Trị trong lúc này và cũng không có ý tranh luận với các anh về chủ thuyết, cái nào ưa việt, cái nào tệ hại. Công tác đó thuộc bộ phận khác, không hiện diện với đơn vị tác chiến.

– Tôi chỉ muốn bày tỏ với các anh một điều hết sức giản di rằng: là người lính, khi sức lực còn khang kiện, chúng ta cống hiến sức lực đó cho quốc gia, cho lý tưởng. Chẳng may khi bị thương tật, chúng ta đòi hỏi phải được chăm sóc và điều trị tới nơi tới chốn. Thứ hai, hoàn cảnh của các anh làm chúng tôi kinh tởm, kinh tởm trước hết cho những người lãnh đạo các anh, và cũng kinh tởm cho chính các anh nữa!

– Tôi đã từng chứng kiến nhiều gia đình nuôi những loại gia cầm như: mèo, chó, trâu, bò… Khi khỏe mạnh chúng giúp đỡ cho chủ, nhưng khi chúng bị bệnh hoạn hay thương tật, người chủ cũng tận tụy săn sóc chữa chạy cho chúng như đã săn sóc một thành viên thân thiết trong gia đình, có khi còn vất vả hơn vì con vật vốn không biết… nói!

– Tôi thành thật xin lỗi bốn anh khi phải đưa ra sự so sánh này, một sự so sánh tôi biết dù ít dù nhiều cũng làm thương tổn đến sự tự ái của các anh, nhưng tôi mong có dịp các anh sẽ suy nghĩ về lời tôi. Tôi không có bất cứ điều kiện nào khi tha cho các anh, kể cả điều kiện dạy… đời các anh. Tôi phải nói hết như thế để bốn anh hiểu và cũng để các chiến hữu của tôi hiểu về quyết định của tôi.

Nói xong, tôi day qua Thạch Chêm, chỉ tay ra góc vườn:

– Anh bước ra góc kia và bắn hai băng M16 vào bụi bình bát đó! Còn Lư, chú mày báo cho ông số Sáu biết là mình đã cất xong mấy tên VC và chuẩn bị lên đường đây.

Sau khi chứng kiến Chêm trút hết hai băng M16 vào bụi bình bát xử bắn giả, bốn tên thương binh VC mới tin rằng tôi tha chúng thật. Tên lãnh đạo nói với tôi trong nỗi xúc động nghẹn ngào:

– Thưa ông, tôi biết ông là người chỉ huy cánh quân này. Tôi không thấy ông đeo lon nên không hiểu cấp bậc của ông, nhưng chắc chắn ông phải là sĩ quan, một tầng lớp mà chúng tôi vừa thù, vừa sợ. Tôi được học tập rằng sĩ quan Quốc Gia gặp chúng tôi là tàn sát, trẻ không tha, già không thương…! Đây là lần đầu tiên tôi gặp được một sĩ quan bằng xương bằng thịt và thấy rằng ông đã không phải con người ghê gớm như vậy. Ông không giống với hình ảnh những sĩ quan sắt máu mà chúng tôi đã có trong ý tưởng lâu nay. Xin thay mặt cho ba anh em, tôi chân thành đội ơn ông…

Đưa tay ngăn anh lại, tôi đáp:

– Tôi không dám nhận sự cảm ơn! Tôn chỉ làm điều mà lương tâm và bổn phận hướng dẫn tôi phải làm. Khi tha chết cho các anh, tôi đã vi phạm vào Huấn Lệnh Quân Sự của quân đội tôi tại mặt trận. Có thể tôi sẽ bị kỷ luật, hoặc bị đưa ra Tòa Án Binh không chừng, nhưng tôi vẫn làm vì tôi chưa đánh mất nhân tính và vẫn tin ở chủ trương: “Đem đạo nghĩa để thắng hung tàn” của Quân Đội tôi. Tôi đã suy nghĩ chín chắn, đã cân nhắc nặng nhẹ giữa đạo đức và lương tâm con người với trách nhiệm mà quân đội giao phó và tôi hoàn toàn chấp nhận mọi hậu quả do quyết định của mình. Tôi chỉ mong rằng các anh có dịp hiểu biết rõ hơn về chúng tôi và quân đội Quốc Gia, như anh vừa nói, để đối chiếu với những điều các anh đã được học. Chỉ có vậy! Thôi nhé! Xin chào. Chúng tôi cần phải đi.

Tên cán bộ ráng nói thêm:

– Xin cho tôi một câu chót…

Tôi dừng lại nhìn anh:

– Anh nói đi!

Tên cán bộ câu hai tay để trước bụng, nói nhỏ:

– Chúng tôi xin thành tâm cầu mong mọi điều may mắn, bình an cho ông suốt cả cuộc đời (!?!)

Có lẽ đây là câu nói xúc động phát ra từ tấm lòng chân thật của anh

Tôi gật nhẹ đầu cảm ơn và chào anh ta! Tôi mỉm cười khi suy nghiệm về câu cầu chức của anh ta. Tôi may mắn bình an mỗi lần “tao ngộ” với phía các anh, thì các anh sẽ ra sao?

5 —

Đến đây, tôi nghĩ mọi chuyện đã xong, đã mất rất nhiều thời giờ. Buổi chiều cũng sắp về, buổi chiều ở vùng rừng rậm xuống rất nhanh và chỗ trú quân đêm, trong vùng đất xa lạ này, phải được quan sát khi trời còn sáng. Tôi báo cáo lên Tiểu Đoàn: công tác đã thi hành xong và xin tiếp tục di chuyển.

Chúng tôi theo lộ trình cũ. Đi chưa được 50 mét thì ông số Sáu lại gọi tôi: anh dừng lại cho em út bố trí giữ an ninh. Hai “thằng” cố vấn đang lội sông qua bên anh đó. Nó muốn ngắm nghía trạm xá của VC.

Tôi… chới với ngẩn người. Vậy là bể rồi! Nhưng không còn cách nào khác! Cho các trung đội dừng quân xong, tôi và BCH đứng ở bờ sông đợi hai ông… Cố. Khúc sông này của con rạch Cai Tổng Cang lạ đời thật: sông rộng hơn 40 mét, nước trôi lững lờ, vậy mà khúc cạn, khúc sâu như chính lòng dạ đổi thay khi vầy, khi khác của con người. Khó đo, khó đoán, khó lường! Dò sông dò biển dễ dò!

Nhìn mấy người lính đang lội qua, mực nước chỉ tới vai, còn hai ông Mẽo thì chỉ tới ngực. Phải chi nước ngập khỏi đầu như khúc trên kia thì đâu có chi rắc rối!

Thiếu Tá Calvin, Cố Vấn Trưởng, và Trung Úy Hayes, Cố Vấn Phó, lên bờ và bước lại phía tôi. Tôi đứng dậy bắt tay hai ông. (Gặp nhau hằng ngày và ở vùng hành quân, chúng tôi ít khi chào kính). Tôi bảo Thạch Chêm dẫn hai ông đi đến chỗ đó. Tôi vẫn ngồi yên ở bờ sông hút thuốc. Tôi biết sẽ có… chuyện, nhưng tôi vẫn giữ quyết định vừa rồi. Tôi thấy không cần giải thích gì thêm.

Các Cố Vấn Mỹ ở đơn vị tôi họ cũng rất lịch sự và hiểu vị trí của mình. Từ ngày về đơn vị đến giờ, tôi chưa từng thấy họ tham gia bàn thảo kế hoạch hành quân, điều động hay chỉ huy ai cả. Họ chỉ được yêu cầu “cố vấn” chúng tôi xin trực thăng võ trang, xin phi tuần, xin tản thương, xin hỏa châu…v.v… Nghĩa là chỉ có xin dùm đủ thứ! Công tác đó họ làm kết quả nhanh gấp mấy lần mình! Ít nhất thì ở đơn vị tác chiến cấp Tiểu Đoàn, Cố Vấn đã không dám phát huy vai trò “chủ Mỹ” của mình một cách lộ liễu?

Sau khi quan sát, chụp hình mấy vị trí, hai ông quay trở về. Khi đến chỗ tôi, Thiếu Tá Calvin đưa ngón tay cái lên trời và nói:

– Hi, Commander! You did a good job!

Tôi mĩm cười chào ông và nói vỏn vẹn hai tiếng: Thank You. (Tôi không hiểu ý ông qua hai chữ “good job” là good ở khía cạnh nào? Good khi khám phá ra trạm xá VC, hay good vì bắn mấy loạt M16 mà bốn tên thương binh địch vẫn còn sống nhăn?)

Đằng kia, bốn ánh mắt tê dại nhìn về hướng tôi.

Các anh tin rằng lần này mới là chết thật! Ông “chủ” Mỹ đã đến, làm sao còn sống được nữa? Sĩ quan Ngụy, được mấy cái đầu, mà dám cãi?

Mấy anh thật chẳng hiểu gì về Quân Đội VNCH cả. Khi được tiếp xúc với chúng tôi, mắt các anh sẽ mở trừng trừng, ngạc nhiên từng chập, mở cho đến độ rách cả khóe mắt!

Tôi biết bốn anh rất muốn nói chuyện với tôi trong giờ phút thời gian như dừng lại này. Nhưng tôi không có gì để nói thêm với các anh. Chuyện các anh tôi đã quyết định xong!

Tôi là “Tư Lệnh” của mặt trận bờ Bắc này, là một tư lệnh nhỏ xíu thôi nhưng là người có quyền quyết định cao nhất tại đây. Không ai có quyền quyết định thay cho tôi, khi tôi chưa rời đơn vị.

Tôi ngồi chờ… bên kia sông. Tôi biết thế nào cũng sẽ có bão táp tới. Tôi chờ nghe tiếng… “đức” của ông Tiểu Đoàn Trưởng.

Năm phút sau, “bão” tới:

– Tango! Nói cho tôi biết: anh hát cái bản gì đây? Mấy thằng Tây về báo cáo rằng bốn thằng VC còn ngồi hút Quân Tiếp Vụ bên ấy. Vậy là sao? anh chống lệnh tôi? Anh chỉ huy ở đây hay tôi. Nói nghe?

Tôi làm thinh để cho ông xì bớt hơi.

Trong bốn Đại Đội Trưởng, tôi là người có cấp bậc thấp nhất, Thiếu Úy, nhưng tôi cũng là người tương đồng với ông nhiều vấn đề, trong đó phải kể cả những vấn để gay go nguy hiểm mà ai cũng chê, nhưng tôi nhận! Có gì đâu! Mình chẳng có chi bận bịu! Tử sanh hữu mạng mà! Tôi chỉ lo các anh em tôi trong Đại Đội sẽ phản đối những cái gật đầu hơi nhiều của tôi thay vì bắt thăm chia đều. Thế nhưng chuyện đó chưa xảy ra vì họ tin tôi, thương tôi. Họ cũng biết tôi rất thương họ và cũng không đến đỗi… ngu lắm!

Mấy mươi giây trôi qua, không nghe tôi trả lời, ông số Sáu hỏi lớn:

– Tango đâu rồi! Anh có nghe tôi không??

Tôi cầm ống liên hợp, thẳng thắn và chân tình đáp:

– Tôi đang nghe số Sáu. Trước hết, tôi rất tiếc phải nói câu xin lỗi, nhưng thật tình tôi không hề có ý qua mặt hay chống lại lệnh của số Sáu! Đây chỉ là vấn đề lương tâm và đạo đức con người, một con người có lẽ không đủ nhẫn tâm để giết đồng loại đang bị thương tích trầm trọng. Ngoài ra, tôi cũng không dám quên những bài học ở Quân Truờng, quy định về cách đối xử với thương binh địch. Do đó, xin số Sáu cho phép tôi giữ quyết định đã ban hành về số phận của bốn thương binh địch. Tuy nhiên, nếu số Sáu cho rằng việc bắn bỏ họ là điều không thể đảo ngược được, thì đó là thẩm quyền của số Sáu. Tôi không chống đối. Đại Đội tôi xin chờ và xin số Sáu cho vài Trinh Sát hay Quân Báo Tiểu Đoàn qua đây thực hiện công tác hành quyết. Tôi muốn rằng cho đến chết người lính CS vẫn giữ hình ảnh người chiến sĩ QLVNCH luôn luôn bảo tồn chữ tín.

Nói xong tôi giữ combinet để chờ ông.

Nhiều phút trôi qua, có lẽ ông đang suy tư hoặc đang chỉ thị cho Trinh Sát, Quân Báo.

Tôi trả ống liên hợp lại cho Lữ. Lữ vừa cài cái móc của ống liên hợp lên giây ba chạc thì tiếng ông Tiểu Đoàn Trưởng chỉ thị cho âm thoại viên với giọng dịu nhẹ hơn:

– Thôi, Lê Lai, nói với Thầy anh: số Sáu đồng ý cho Mười Một mua cái đức cho vợ con sau này. Nhưng mà… bắn… thêm vài loạt đạn nữa, rồi zulu. Lưu ý: Vị trí đã bị lộ!

Lữ nhìn tôi, tôi nhìn Lữ. Hai thầy trò trao đổi nụ cười nhẹ nhỏm! Lữ le lưỡi:

– Có lẽ chỉ có ông Thầy là được số Sáu chìu và nể như vậy mà thôi.

6 —

Tôi nhìn sang bên kia sông, hướng Tiểu Đoàn. Chiều xuống thật nhanh. Những tia nắng yếu ớt cuối cùng còn rơi rớt trên ngọn rặng bình bát bạt ngàn. Gió lay nhè nhẹ. Xa xa bên kia bờ, chỗ rặng cây cao, đàn cò bay về nơi trú đêm, điểm trắng cả chòm cây xanh như những bông hoa dại, âm thầm nở, âm thầm tàn trong ngôi vườn bỏ hoang không người tới lui săn sóc.

Chúng tôi lại lên đường. Không như đàn cò về lại chòm cây cao, chúng tôi không có chỗ trú nhất định cho mỗi đêm…, có thể là một vùng bình bát, có thể là một khu vườn hoang, có thể là một đám rẫy, hay cũng có thể là một bãi… tha ma. Ba mươi ngày trong tháng thì hơn hai phần ba số đêm đó chúng tôi ngủ hoang, ngủ bậy như vậy cho người dân lành được ngon giấc trong chăn ấm, nệm êm. Chúng tôi không có ý so sánh những hình ảnh đối ngược của hai nếp sống để kể lể công lao, hay cay đắng ngậm ngùi, nhưng chúng tôi mong rằng sự hy sinh của người chiến sĩ trong cuộc chiến vừa qua không bị mỉa mai và quên lãng.

Phần Phụ Chú:

Sau biến cố đó, tôi không bị bất cứ một biện pháp chế tài kỷ luật nào, nhưng một tuần lễ sau, khi tập trung ra lằn chỉ đỏ, ông Tiểu Đoàn Phó xuống Đại Đội tôi chủ tọa lễ bàn giao chức vụ Đại Đội Trưởng Đại Đội 1 cho một sĩ quan khác! Sự trừng phạt, nếu đúng, chỉ có tính cách tượng trưng.

Có điều cho đến nay, sau đúng 32 năm, mỗi khi nhớ lại chuyện này, tôi vẫn không kết luận dứt khoát được là trong hai quyết định của ông Tiểu Đoàn Trưởng và của tôi: Ai đúng, ai sai – Đúng sai trong hai lãnh vực: giữa lương tâm và truyền thống nhân ái của dân tộc với sự tha chết cho giặc, “dưỡng hổ di họa”?

Cuộc chiến đã chấm dứt đúng 1/4 thế kỷ. Sau nhiều năm bị đọa đày trong trại cải tao, sau hiểm nguy của gia đình qua chuyến vượt biên bằng đường biển, sau những tháng năm bình tỉnh nhìn lại cuộc chiến mà mình đã đổ máu xương để trang trải và đã bị phản bội, bị bỏ rơi thê thảm…, nếu một mệnh lệnh như xưa được ban hành, tôi vẫn lấy cái quyết định như đã từng quyết định trong rặng bình bát! Đó là lương tâm, là phẩm giá của người lính Việt Nam Cộng Hòa!

Tiểu Đoạn này được viết rất bất ngờ, sau khi người viết đọc được bài “Đối Thoại Với Nhà Văn Trong Hàng Ngũ Thắng Trận” của Trần Hoài Thư trên trang Internet, viết “kỷ lục” chỉ trong hai ngày để phổ biến trên truyền thông nhân buổi ra mắt tác phẩm “Về Hướng Mặt Trời Lặn” của anh Trần Hoài Thư tại Houston. Không ngờ, sau khi BNS Dân Ta, BNS Việt Báo ở Houston, rồi Nhật Báo Người Việt, Đặc San KBC ở Nam California, Đặc San Võ Khoa Thủ Đức Washington DC, phổ biến rộng rãi bài này, một vài cuộc hội thảo đã diễn ra quanh một vài chủ đề mà người viết đã “đụng” tới trong tác phẩm!

Nay, nhân khi bài viết này được đặt đúng vị trí thời gian trong tác phẩm để xuất bản, người viết muốn minh xác: tác giả không có ý định dùng mẩu chuyện thật trên đây để phản bác lại những điều hoang tưởng, xuyên tạc chiến sĩ QLVNCH của hai nhà văn “lớn” CS là Dương Thu Hương và Bảo Ninh. Dương Thu Hương với tác phẩm ồn ào một dạo “Tiểu Thuyết Vô Đề” đã mô tả người lính Thám Báo QLVNCH như sau:

“… Tới vực cô hồn, gặp sáu cái xác truồng, xác đàn bà, vú và cửa mình bị xẻo ném vung vãi khắp đám cỏ xung quanh… Cũng có thể họ đi kiếm măng… rồi vấp bọn thám báo. Chúng đã hiếp các cô tàn bạo trước khi giết.” (TTVĐ, trang 16)

Còn Bảo Ninh với tác phẩm “Nỗi Buồn Chiến Tranh” cũng gán cho Thám Báo cái tội bắt ba cô gái trong mật khu rồi hãm hiếp, sau đó giết họ, vất xuống sông:

“Ba nhỏ đó, trình quý anh, tụi này làm thịt cúng hà bá rồi. Mấy nhỏ khóc quá trời” (NBCT, trang 52)

Tôi không hiểu sao các nhà văn VC lại luôn gán ghép người lính miền Nam vào hành động thích hãm hiếp và “lắt xẻo” mấy bộ phận của đàn bà?

Hai mươi lăm năm sau cuộc chiến, đã đến lúc phải trả lại cái gì thật sự của lịch sử cho lịch sử. Tôi không nói người lính miền Nam là một thứ Khổng Tử, nhưng tôi biết chắc rằng không một quân nhân nào của chúng tôi đủ hứng thú để làm cái trò dị hợm, kỳ cục (hãm hiếp dã man con lắt xẻo) tại chiến trường như Dương Thu Hương đã mô tả. Tôi mong đọc được những bài viết nói lên sự thật của những người cầm bút, ở cả hai phía, không bị chi phối bởi bất cứ mặc cảm, dù là tự tôn hay tự ti; bởi sự cám dỗ vật chất hay bởi bất cứ thế lực nào.

Tôi mong bà Dương Thu Hương và ông Bảo Ninh đọc được truyện này. Tôi lặp lại lần nữa là tôi không hề có ý đinh viết chuyện để bênh vực người lính Miền Nam, hoặc để phản bác lại hai tác phẩm của ông và bà vì một lý do rất đơn giản là: tôi không hề là một nhà văn, nên cũng không có tham vọng tranh danh, đoạt lợi bằng ngòi bút, theo lập luận đời thường: “đánh” một người nổi danh để được nổi danh hơn!

Tôi chỉ là người lính chiến trong cuộc, chứng kiến sự thật, kể lại sự thật, một sự thật nhỏ bé, trong vô vàn sự thật to tát, từ cuộc-chiến-tự-vệ của Miền Nam, một cuộc chiến bị bóp méo, bị xuyên tạc, bị sỉ vả vô tội vạ bởi những ngòi bút đứng trong hàng ngủ của kẻ thắng trận!

Ông Đại Đội Trưởng và Tiểu Đoàn Trưởng trong truyện này hiện nay đều định cư tại thành phố Houston sau nhiều năm trong Trại Cải Tạo (viết hoa). Còn bốn anh thương binh trong truyện có lẽ hiện vẫn còn sống, nếu không đủ cả bốn, cũng còn hai, hay ba. Đây là một ấn tượng sâu sắc trong đời các anh nên, chắc chắn, các anh phải nhớ. Nếu truyện này được phổ biến trong nước và thật sự các anh là người có chút liêm sỉ, các anh sẽ không thể quay lưng lại với sự thật của “một thời” quá khứ.

Nguyễn Bửu Thoại
ĐÔI MẮT BỊ XỬ BẮN TRONG RẶNG BÌNH BÁT – Nguyễn Bửu Thoại
Posted on  by dongsongcu


Nguyễn Bửu Thoại

Đến Kinh Cai Tổng Cang, một con kinh cắt ngang Rạch Bà Đầm-Thát Lát, Tiểu Đoàn chia làm hai cánh. Cánh A: Tiểu Đoàn trừ (-), trách nhiệm bờ Nam. Cánh B: Đại Đội I, bờ Bắc. Hai cánh quân song song lục soát về hướng quận lỵ Thuận Nhơn, một quận lỵ đang bị áp lực rất nặng của Cộng quân khiến trục giao thông đường thủy từ quận lỵ ra Cần Thơ gần như bị cắt đứt hoàn toàn từ ba hôm trước.
Xuất phát lúc 7:00 giờ sáng từ gần Kinh Ranh Hạt và Kinh số 7, với khoảng cách trên dưới năm cây số, Tiểu Đoàn di chuyển nhanh và không gây tiếng động.

Đúng 11:00 giờ sáng, Đại Đội 1 của tôi vượt qua con rạch Bà Đầm-Thát Lát, một con rạch mỗi lần đọc đến tên tôi lại liên tưởng đến Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu đoàn 42 BĐQ đã hy sinh tại đây gần hai năm về trước. Bình bátt, một loại cây thuộc họ mãng cầu, “lựu lê, bình bát, mãng cầu”, có trái bằng nắm tay khi chín vàng rực, thơm lừng nhưng ăn chẳng ra gì cả. Tuy cùng họ nhưng mãng cầu mọc trên bờ còn bình bát mọc dưới nước. Bình bát thuộc họ trầm thủy, nên rễ đâm thành cây con, cây con nhô lên thành cây lớn… cứ thế bình bát nhảy bạt ngàn dày đặc hơn cả rừng nhiệt đới bên… Mã Lai. Một địa hình kỳ lạ, tôi chưa thấy qua.
Cho Đại Đội dừng quân và bố trí, tôi đứng quan sát chung quanh… Nhất thời, tôi chưa hình dung được cách dàn quân như thế nào nếu ngay bây giờ địch khai hỏa? Đất gần như hoang địa, có thể trước đây có người ở, nhưng bỏ phế đã lâu, những bờ và mương đã “lạn” hết! Bình bát mọc thành rừng, không gò cao, không trũng sâu, nhưng địa thế cũng không bằng phẳng và nhất là không thể đào hố cá nhân được vì dưới chân chẳng hề có đất mà chỉ có rễ và cây bình bát nằm ngổn ngang sấp lớp! Suy nghĩ một lúc tôi tìm ra… chân lý: mình vô kế khả thi thì thằng địch cũng thế, chẳng lẽ ở đây nó biến thành chuột biết đào hang?
Quyết định thật nhanh, tôi mời ba ông Trung Đội Trưởng đến và phân công: Thiếu úy Đại, Trung Đội Trưởng Trung Đội 1 kiêm Đại Đội Phó, bên trái, Chuẩn úy Liêm, Trung Đội Trưởng Trung Đội 3, bên phải, hai trung đội bắt tay nhau, đội hình hàng ngang. Liêm phải rải em út sát bờ sông, phải nhớ kiểm soát được bờ sông và đừng quên bên kia bờ Nam là Tiểu Đoàn, là bạn! Chuẩn úy Cần, Trung Đội Trưởng Trung Đội 2 làm cái râu cạnh sườn trái. Lưu ý nếu chạm địch, Cần giữ cạnh sườn, hướng tác xạ bên trái. Ba anh em bắt tay thật chặt chẽ, di chuyển chậm, giữ khoảng cách hợp lý, quan sát phải thấy nhau. Tôi lặp lại cho anh em là phải thấy nhau vì với địa hình này cách xa hơn hai thước là không ai thấy ai nữa. Do đó khi chạm địch, đội hình hàng ngang không còn, có khi anh em phía sau bắn bừa lên đồng đội mình ở phía trước, ở bên hông.
Ba ông sĩ quan Trung Đội Trưởng nhận lệnh và bắt đầu dàn quân tiến lên phía trước. Tôi quay qua Thượng Sĩ Bình, Thường Vụ Đại Đội, TSI Hiển Trung Đội Trưởng Trung Đội 4, dặn hai ông trách nhiệm mặt sau lưng không được lơ đãng vì địch có thể bọc hậu sát bên, mình vẫn không phát giác.
Đúng như dự đoán của tôi, địa hình thật quái dị: dưới chân đất không cứng hẳn, có đoạn phập phồng vì nước ngập lên khỏi lớp rễ khá cao. Có đoạn đất lại khô cứng trải dài. Những đoạn đường như vậy bình bát rất rậm, che khuất cả mặt trời buổi trưa, giống như hoàng hôn ở vùng rừng núi. Tầm nhìn hết sức hạn chế. Đại Đội đến chậm vì phải quan sát và giữ khoảng cách. Cây cối chằng chịt, ngoằn ngoèo rất khó đi; sơ ý vướng rễ cây là té sấp. Do đó anh em đi đầu luôn luôn phải hú hí nhau cho khỏi lạc.
Bên kia bờ sông cũng có bình bát nhưng thưa thớt hơn nhiều. Tiểu Đoàn di chuyển dễ dàng và nhanh. Ông Tiểu Đoàn Trưởng cũng biết chúng tôi không sao đi kịp được nên Tiểu đoàn tiến lên một khoảng rồi dừng lại chờ, rồi lại tiến…!
Hai giờ chiều, sau ba giờ di chuyển, đối chiếu lại với bản đồ, tôi biết chúng tôi vượt điểm xuất phát không hơn bốn cây số, quân, chúng tôi chưa khám phá được gì quan trọng ngoài mấy cái chòi nhỏ bỏ hoang.
Bắt đầu nản, tôi vừa có ý xin Tiểu Đoàn cho đơn vị dừng quân để anh em ăn cơm vắt. Chưa kịp gọi Tiểu Đoàn thì Binh I An, âm thoại viên mang máy nội bộ, bước lại đưa ống liên hợp cho tôi:
– Ông Trường Thành 3 xin gặp Mười Một.
Tôi bấm ống liên hợp:
– Trường Thành 3 có gì nói đi!
Tiếng Chuẩn Úy Liêm gấp gáp:
– Trình Mười Một! Trình Mười Một! Cỏ cái trạm xá của VC chứa nhiều thương binh… Mười Một cho biết… cho biết… biện pháp.
Chuẩn Úy Liêm là một sĩ quan trẻ độc thân, mấy tuần qua chứng tỏ anh cũng cố làm quen với chiến trường, rất gan dạ và dễ thương, có điều gặp chuyện gì cấp bách là Liêm hay… cà lăm!
Tôi cắt ngang:
– Anh đã kiểm soát được trạm xá chưa?
– Dạ rồi, Mười Một!
– Bố trí em út cẩn thận. Tôi sẽ tới anh ngay
Gọi luôn các trung đội còn lại, tôi chỉ thị:
– Trường Thành 1 và 2 nghe rõ chưa? Các anh dừng lại bố trí tại chỗ chờ lệnh. Riêng Trường Thành 1 lưu ý yểm trợ thằng 3.
– Trường Thành 1 nghe rõ 5.
– Trường Thành 2 nghe rõ 5.
Tôi vỗ vai Lữ, âm thoại viên mang máy liên lạc Tiểu Đoàn, bảo:
– Anh thông báo cho Tiểu Đoàn biết; Đạt Đội phải dừng quân vì khám phá trên. Yêu cầu Tiểu Đoàn sẵn sàng yểm trợ.
2
Chưa đầy một phút sau tôi đã tới… trạm xá. Chuẩn Úy Liêm đón ở góc ngoài trạm và lưu ý tôi một số lựu đạn nội hóa chất chung quanh.
Quan sát một vòng, tôi lấy làm lạ khi thấy các chến sĩ Trung Đội 3 đứng dang ra khá xa vách trạm và ai nấy đều đưa tay bịt mũi. Mấy ông lính mình bữa nay lại làm duyên làm dáng gì nữa đây? Tôi bước nhanh tới và thật là khủng khiếp!!! Một mùi hôi thối nồng nặc bao trùm cả trạm xá! Mùi của tử thi? Nhưng, có lẽ cũng không giống như vậy vì mùi xác chết sình tụi tôi cũng “thưởng thức” khá quen mũi hôn Tết Mậu Thân khi phải nằm nhiều ngày cạnh xác chết VC trong mấy con hẻm của thành phố mà không làm sao có thì giờ tống khứ đi chỗ khác hoặc tìm ra đất để chôn. Phải dùng đến mền, mùng, chiếu, ni- lông, hay bất cứ thứ gì để đắp, đậy tạm cho đỡ khổ cái lỗ mũi rồi tiếp tục… chiến đấu. Nhưng cái này thì không phải! Tôi nhìn Chuẩn ủy Liêm. Liêm hiểu ý tôi, nhăn mũi lắc đầu:
– Không có tử thi nào cả. Mười Một nhìn vào trạm xá sẽ hiểu!
Tôi bước tới trạm và nhìn vào…
Tôi không tin rằng đây là một cái trạm xá!
Trạm xá, dù là dã chiến đi nữa, ít ra cũng phải có cái tiện nghi tối thiểu của nó, nghĩa là phải có giường kê lên cao, có tấm trải giường, (hay chiếu, cói), có mền để đắp, có mùng tránh muỗi, nhất là ở giữa rừng. Đàng này! Tôi không sao tưởng tượng và hình dung được!
Đây phải gọi là cái chòi thì đúng hơn, có khi còn thua cả cái chòi giữ vịt của nông dân miệt Cần Thơ, Sóc Trăng.
Trạm hình chữ nhật dài khoảng 8 mét, ngang 4 mét.
Trong trạm trống trơn, không một chiếc giương, một bộ ván nào cả. Nền nhà không ngập nước nhưng ẩm ướt vì mới dứt mùa mưa dầm, ánh nắng lại không soi rọi tới, đất chưa kịp khô… Mái trạm lợp bằng lá dừa nước, vách cũng lá dừa nước, bốn bề từ ngực trở lên để trống. Toàn khu nền nhà được rải một lớp rơm khá dầy. Đó là tất cả những “tiện nghi” của một trạm xá VC! Phía góc trong của căn trạm có bốn thương binh Việt Cộng đang nằm. Bốn anh giương mắt nhìn tôi, ánh mắt vừa tò mò vừa lo sợ. Cả bốn còn tỉnh, mặc dù thương tích có vẻ rất trầm trọng.
Tôi bước qua khung cửa để vào chỗ các anh đang nằm. Mùi hôi thối đúng là phát ra từ đây! Cả bốn anh mình mẩy đều bê bết máu tươi và khô, nước vàng, mủ nung núc. Vương vãi khắp nơi là những loại quần áo cũ, khăn rằn quấn cổ, bị xé ra làm băng, làm vải thấm thay cho compress, trộn lẫn tất cả các thứ xú uế kể trên, được ném khắp nền nhà. Vì cơ thể bốn anh liên tục phóng thích những chất kinh khủng đó suốt ngày nên quyến rũ hằng đàn, hằng đống ruồi, nhặng vo ve. Mùi hôi thối của những chất này còn khủng khiếp hơn cả thây ma. Ghê tởm hơn nữa, dưới nền nhà, những con giòi trắng bò lễn nghễn.
Tôi thật tình không thể tin rằng bốn anh tính của “Bác” có thể sinh tồn nhiều ngày trong điều kiện như vậy được.
3
Đang suy nghĩ, bỗng chiếc loa nhỏ gắn sau các máy PRC.25 phát ra. Tiếng gọi của ông Tiểu Đoàn Trưởng. Có lẽ ông muốn biết tình hình vì báo cáo ban nãy:
– Trường thành! Đây số Sáu gọi.
Tôi nhặt ống liên hợp gắn sau lưng Lữ và đáp ngay:
– Mười Một tôi nghe số Sáu!
– Anh đến chỗ trạm xá chưa và thấy thế nào?
– Đã đến hơn ba phút. Đang quan sát tìm hiểu, chưa tìm thấy gì cụ thể. Sẽ báo cho số Sáu sau.
– Cố khai thác nó xem: thằng nào, tên gì, đang đóng quân ở khu vực này? Bóp cổ nó tìm củi đuốc1 coi có được gì không? Nửa tháng nay, không có chấm mút gì ráo!
Nói xong ông buông một tràng cười. Tính ông hay pha trò nhưng là con người rất nguyên tắc. Ông là một Tiểu Đoàn Trưởng giỏi nhưng cũng có nhiều tật lạ đời như là: quy y Phật, không bao giờ chửi thề, nhưng, khi giận, ông là vua nói tục! Có khi đang tụng kinh lâm râm vậy mà nghe bắt sống được VC thì bảo lính đem “cất” liền khỏi cần giải giao về Trung Đoàn hay Tiểu Khu cho mất công. Lính như thiên lôi, có lệnh là làm. Ở đơn vị hành quân, trong vùng địch, không dân cư, đối diện với những sinh tử bất chợt, luật lệ ở đây là họng súng. Đó là một hệ quả tất nhiên của sự rình rập ngày đêm giữa hai mãnh thú săn mồi. (Cái này dù có mười ông nhiếp ảnh viên Eddie Adams, người chụp bức hình nổi tiếng Tướng Nguyễn Ngọc Loan trong vụ xử bắn tên đặc công CS tại Sài Gòn trong Tết Mậu Thân, cũng không có điều kiện để bấm máy). Mỗi lần đem “cất” như vậy ông tâm sự với tôi: tụi nó là quỷ vương, giết cho sạch ma quỷ để Phật xuất thế! (Ông chỉ thị cho sĩ quan truyền tin ghi trong Đặc Lệnh Truyền Tin danh xưng của ông là số 6, Tiểu Đoàn Phó số 7, Đại Đội Trưởng Đại Đội I số 11, Đại Đội Trưởng Đại Đội 2 là 22… Ông còn nói thêm số 6 là Lục Tự Di Đà đó, ông biết không?)
Tôi không có ý kiến về cách tu hành và pháp môn niệm Phật của ông, nhưng quả tình tôi với ông có những quan điểm rất dị biệt về cách đối xử với tù, hàng, thương binh của địch…
Dù mùa hôi thối có thế nào tôi cũng phải đến tận chỗ nằm của bốn anh thương binh.
Người nằm sát chân tôi là một thanh niên trẻ, cũng chừng tuổi tôi, nghĩa là trên dưới 25. Anh mặc một chiếc áo sơ mi
Người thứ hai trên ba mươi tuổi, một chân bị cưa khỏi đầu gối, chắc có lẽ vết cắt chưa lâu lắm nên máu và nước vàng thấm ướt cả vải băng.
Người thứ ba tôi không tài nào đoán được tuổi vì gương mặt bị cháy xém nhiều chỗ, khắp thân hình anh nhăn nhúm và loang lổ. Chỗ nào da đã tuột mất thì phơi bày máu mủ bầy nhầy, nước vàng kinh khiếp. Chỗ nào còn da thì đổi màu đen và nhăn nhúm lại. Khắp người không có mảnh vải nào để che đắp vì những vết phỏng nhầy nhụa. Bộ phận sinh dục, xin lỗi, bị cháy teo không còn hình thù. Anh cho tôi biết anh bị napalm hơn tuần lễ trước.
Ngươi thứ tư có lẽ rất nguy kịch vì anh bị trúng pháo binh nên phần ngực và bụng bị rách và bể nhiều chỗ. Anh đắp trên bụng một cái mùng vải tám, màu vải nguyên thủy là màu trắng ngà, bây giờ không biết gọi màu gì sau khi nó thấm, nhuộm đủ thứ nào là máu, mủ nước vàng, đất v.v… Hạ Sĩ I Thạch Chêm, Trưỏng Toán Quân Báo Đại Đội dùng đầu súng M16 hất cái mùng ra để kiểm tra bên dưới. Tôi đã suýt kêu lên: Một đoạn ruột của anh lòi ra khỏi bụng và đã ngã màu đen!
Lòng tôi nặng nề chùn xuống. Là con người, là đồng loại, tôi ngỡ ngàng thương cảm cho các anh! Không phải bây giờ tôi mới thương các anh mà đã tư lâu rồi, từ Tết Mậu Thân kia, khi lôi chứng kiến những em bé bộ đội miền Bắc 15, 16 tuổi, miệng mếu máo, mặt mày dáo dác như con lạc mẹ, lạc cha, lúc đơn vị các em bị đánh tan tác; hoặc từng chùm hai người gục chết với cây đại liên phòng không, chân còn bị xích cứng với càng súng…! Nhưng chưa bao giờ lòng thương cảm của tôi đối với các anh lại biến thành nỗi đau xót cùng tột như bây giờ. Người lính miền Nam, đối diện với lực lượng xâm lăng miền Bắc, chỉ để tự vệ và giữ gìn cuộc sống êm ấm cho đồng bào. Quân Lực VNCH không dạy người chiến sĩ mang trong lòng sự thù hận nào. Không có quốc gia văn minh, có truyền thống nhân bản nào lại dạy người lính của họ bài học nhập môn là Lòng Thù Hận. Quân đội miền Nam, được đào tạo để bảo vệ xứ sở, bảo vệ chủ quyền, chứ không bảo vệ chủ… thuyết, nhất là loại chủ thuyết ngoại lai hảo huyền.
Tôi thương các anh, tôi không chịu nổi hình ảnh người thương binh, dù là thương binh ở hàng ngũ nào, bị đối xử còn thua con vật. Nhưng tôi làm được gì? Quyền lực của tôi rất giới hạn. Tôi sẽ giúp được các anh nếu các anh thật lòng và tạo điều kiện để tôi thực hiện được sự giúp đỡ đó.
Nhìn gần hai chục quả lựu đạn, đa số là nội hóa, nằm rải rác quanh trạm xá, tôi hỏi:
– Ai trang bị và xử dụng mấy quả lưu đạn này?
Sáu đôi mắt đổ dồn về người thương binh cụt chân, lớn tuổi. Tôi biết anh là người lãnh đạo của nhóm, một thứ “bí thư chi bộ”. Tôi nhìn anh chờ đợi. Anh liếc chung quanh: Lính Sư 21 bố trí dày đặc khắp trạm. Anh sợ sệt nhìn tôi, giọng run run:
– Thưa, thưa… ông! Bốn anh em chúng tôi ngồi còn không nổi, không ai xử dụng được vũ khí, có lẽ các anh bảo vệ bỏ lại.
– Các anh Bảo Vệ? Bao nhiêu anh và xử dụng vũ khí gì?
Thưa ông, tất cả có sáu anh với 5 khẩu AK47. Tên thương binh cụt chân đáp. Hắn thêm luôn:
– Các anh ấy đã chạy chừng mười phút, trước khi ông chỉ huy này đến, vừa nói hắn vừa chỉ Chuẩn Úy Liêm…
Tôi nói thật với các anh, và cũng nói thật với lương tâm của mình, rằng:
– Tôi muốn cứu các anh được sống bằng cách xin chuyển các anh về Quân Y Viện của chúng tôi để được điều trị. Nhưng để thực hiện được điều đó, các anh cũng phải thực tâm khai báo tin tức về những đơn vị đang trú đóng quanh đây hoặc là ít ra, các anh cũng phải chỉ cho chúng tôi vũ khí đạn dược đã chôn giấu.
Tên thương binh lớn tuổi có vẻ khổ sở, y thề thốt bán mạng với tôi rằng y không biết được gì vì thương tích quá nặng, mê man nhiều ngày. Hơn nữa, các anh giờ đây đã trở thành gánh nặng cho đồng đội, đâu còn được giao công tác gì mà biết được kế hoạch, đơn vị, và vũ khí?
Sau hơn 30 phút tiếp xúc và tra hỏi, tôi đánh giá có lẽ y chẳng biết gì thật. Tôi chạnh lòng nên thật tâm muốn cứu các anh nhưng không phải là không có điều kiện bởi vì quyền quyết định không phải do tôi. Trong cuộc đổi chác, các anh không có gì để trao nên cũng chẳng nhận được gì. Đó là sự trao đổi bình đẳng. Tôi rất lấy làm tiếc…
Tôi vừa định bảo An ra lệnh cho các Trung Đội tiếp tục lên đường thì chiếc loa nhỏ lại phát ra tiếng nói của ông Tiểu Đoàn Trưởng:
– Trường thành, Trường thành! Số Sáu gọi!
An bấm máy:
– Dạ Trường thành nghe số Sáu!
– Cho ông thầy anh đầu máy.
Tôi nhặt ống liên hợp trên tay An:
– Mười Một tôi nghe số Sáu!
– Có khai thác được gì không, Tango?
– Chẳng có gì cả, số Sáu, ngoại trừ gần 20 trái bình bát nội hóa.
– Mở chốt, thảy vô cho nó xài! Sau câu nói là một tràng cười Ngừng mấy giây, ông dứt khoát:
– Thôi bỏ ! Chiều lắm rồi! Cho em út tiếp tục zulu 2. Nhớ trước khi đi, đem “cất” hết bốn thằng đó nhé!
– Nhận rõ, số Sáu!
Chiếc loa nhỏ, âm thanh yếu, nhưng rõ ràng. Trong bán kính 3, 4 mét, bất cứ ai cũng nghe không sót tiếng nào. Đó là lệnh của cấp chỉ huy. Lệnh tại chiến trường: Lệnh Xử Bắn!
Loại mệnh lệnh này chỉ có thi hành chứ không có bàn cãi.
4
Bọn thương binh Việt cộng nằm ngay dưới chân tôi. người mang máy lại luôn luôn di chuyển sát cạnh Đại Đội Trưởng, nên từ chiếc loa đến cả bốn anh chỉ cách khoảng từ một mét đến hơn hai mét. Nghĩa là họ nghe rõ ràng!
Động từ “cất” là một tiếng lóng của chúng tôi, nhưng tiếng lóng này không khó hiểu, ai nghe cũng đoán được nghĩa.
Hạ Sĩ I Thạch Chêm gỡ súng M 16 ra khỏi vai trong tư thế sẵn sàng. Anh là Tiểu Đội Trưởng Quân Báo, một đơn vị thuộc loại trinh sát của Đại Đội, có nhiệm vụ, nếu cần, sẽ thi hành những mission như vậy.
Trong khi ấy, cả bốn thương binh đều cố ngồi dậy, nhưng chỉ có hai anh gãy chân là ráng ngồi được, hai anh còn lại, dù cố gượng, nhưng quá đau đớn phải quỵ trở lại. Bốn anh, kẻ nằm người ngồi, giương bốn cặp mắt trắng dã, cặp mắt đứng tròng không còn thần sắc nhìn tôi. Khóe miệng thì co giật liên hồi. Đó có phải là phản xạ của cơ thể con người khi hay tin mình bị xừ chết chăng?
Mãi nhiều năm sau này trong trại cải tạo, chứng kiến sự gào thét, nhục mạ, hành hạ, hăm dọa, thủ tiêu của cán bộ quản giáo đối với người tù cải tạo sa cơ, tôi thường liên tưởng đến những đôi mắt này, đôi mắt đỏ, đôi mắt rưng rưng không còn thần sắc, và tôi hình dung lại thật rõ ràng… đôi mắt rã rời của bốn người… thua cuộc ngày xưa, nay đã thuộc về… dĩ vãng!
Tôi nhìn từng anh từ đầu đến chân.
Tôi không có ý bỏ lên bàn cân để tính thử trọng lượng cuộc sống của một con người.
Tôi cũng không hề có ý đánh giá hoặc so sánh sinh mạng con người ở hai giới tuyến khác nhau, vì khi sinh ra vạn vật muôn loàí, tạo hóa ban cho họ tất cả một giá trị bình đẳng như nhau! Chỉ có cái chết vô nghĩa, sự hy sinh bị lợi dụng, chứ không có cuộc sống nào là bỏ đi cả.
Tia nhìn của tôi dừng lại ở anh thương binh lớn tuổi. Tôi bắt gặp anh cũng đang nhìn tôi. Tôi thấy hai hàng nước mắt của anh chảy dài tư hố mắt trũng sâu. Tôi chớp mắt lại một giây. Mắt tôi không cay nhưng lòng tôi chua xót! Chua xót cho một kiếp con người! Chua xót cho những thân phận đầu thai lầm… chủ thuyết!
Dưới chân tôi có vật gì nhúc nhích. Tôi nhìn xuống: một con cóc ruộng thật lớn ở dưới lớp rơm, nhoi ra nhảy và ngồi trên mũi giày tôi. Cóc đang lè lưỡi… cuốn mấy con giòi trắng bò lễnh nghễnh trên nền trại. Tôi rùng mình hất nhẹ cho cóc nhảy đi. Cùng lúc, một hình ảnh vô cùng tội nghiệp của giống vật lưỡng thể lưỡng cư, vừa sống được dưới nước cũng sống được trên cạn này, gây xót xa trong lòng tôi. Đó là hình ảnh mấy chú cóc, mấy chú ếch khi bị cắt cổ làm thịt, chúng luôn luôn dùng hai chân chõi mạnh lưỡi dao để đẩy ra, chõi cho đến khi đầu bị cắt lìa, hai chân vẫn còn chõi. Thật thảm thương!
Tôi đã có quyết định.
Tôi nói với… bốn cặp mắt thất thần đang nhìn tôi:
– Các anh đã nghe rõ rồi, tôi được lệnh phải bắn các anh trước khi di chuyển. Nhưng, tôi không làm điều đó vì hai lý do sau đây: thứ nhất, tôi không có thói quen đánh người bị trói, nên cũng không giết người đã bị thương nặng, bị loại khỏi vòng chiến. Lương tâm và truyền thống đạo đức không cho phép tôi thực hiện điều đó. Người chiến sĩ chân chính không bắn đối phương khi đối phương đã xuôi tay không còn vũ khí! Hơn nữa, hình ảnh thê lương của các anh gây ra một sự hụt hẫng thảm hại trong suy tư của tôi. Tôi không thể tin rằng: là con người với nhau, tầng lớp này lại có thể gạt gẫm và đọa đày tầng lớp kia và tầng lớp kia lại mù quáng, điên dại, lao thân vào chỗ chết để phục vụ cho một tham vọng, một chủ thuyết mơ hồ, xa vời và không tưởng! Tôi không hề làm công tác Chiến Tranh Chính Trị trong lúc này và cũng không có ý tranh luận với các anh về chủ thuyết, cái nào ưa việt, cái nào tệ hại. Công tác đó thuộc bộ phận khác, không hiện diện với đơn vị tác chiến. Tôi chỉ muốn bày tỏ với các anh một điều hết sức giản di rằng: là người lính, khi sức lực còn khang kiện, chúng ta cống hiến sức lực đó cho quốc gia, cho lý tưởng. Chẳng may khi bị thương tật, chúng ta đòi hỏi phải được chăm sóc và điều trị tới nơi tới chốn. Thứ hai, hoàn cảnh của các anh làm chúng tôi kinh tởm, kinh tởm trước hết cho những người lãnh đạo các anh, và cũng kinh tởm cho chính các anh nữa! Tôi đã từng chứng kiến nhiều gia đình nuôi những loại gia cầm như: mèo, chó, trâu, bò… Khi khỏe mạnh chúng giúp đỡ cho chủ, nhưng khi chúng bị bệnh hoạn hay thương tật, người chủ cũng tận tụy săn sóc chữa chạy cho chúng như đã săn sóc một thành viên thân thiết trong gia đình, có khi còn vất vả hơn vì con vật vốn không biết… nói! Tôi thành thật xin lỗi bốn anh khi phải đưa ra sự so sánh này, một sự so sánh tôi biết dù ít dù nhiều cũng làm thương tổn đến sự tự ái của các anh, nhưng tôi mong có dịp các anh sẽ suy nghĩ về lời tôi. Tôi không có bất cứ điều kiện nào khi tha cho các anh, kể cả điều kiện dạy… đời các anh. Tôi phải nói hết như thế để bốn anh hiểu và cũng để các chiến hữu của tôi hiểu về quyết định của tôi.
Nói xong, tôi day qua Thạch Chêm, chỉ tay ra góc vườn:
– Anh bước ra góc kia và bắn hai băng M16 vào bụi bình bát đó! Còn Lư, chú mày báo cho ông số Sáu biết là mình đã cất xong mấy tên VC và chuẩn bị lên đường đây.
Sau khi chứng kiến Chêm trút hết hai băng M16 vào bụi bình bát xử bắn giả, bốn tên thương binh VC mới tin rằng tôi tha chúng thật. Tên lãnh đạo nói với tôi trong nỗi xúc động nghẹn ngào:
– Thưa ông, tôi biết ông là người chỉ huy cánh quân này. Tôi không thấy ông đeo lon nên không hiểu cấp bậc của ông, nhưng chắc chắn ông phải là sĩ quan, một tầng lớp mà chúng tôi vừa thù, vừa sợ. Tôi được học tập rằng sĩ quan Quốc Gia gặp chúng tôi là tàn sát, trẻ không tha, già không thương…! Đây là lần đầu tiên tôi gặp được một sĩ quan bằng xương bằng thịt và thấy rằng ông đã không phải con người ghê gớm như vậy. Ông không giống với hình ảnh những sĩ quan sắt máu mà chúng tôi đã có trong ý tưởng lâu nay. Xin thay mặt cho ba anh em, tôi chân thành đội ơn ông…
Đưa tay ngăn anh lại, tôi đáp:
– Tôi không dám nhận sự cảm ơn! Tôn chỉ làm điều mà lương tâm và bổn phận hướng dẫn tôi phải làm. Khi tha chết cho các anh, tôi đã vi phạm vào Huấn Lệnh Quân Sự của quân đội tôi tại mặt trận. Có thể tôi sẽ bị kỷ luật, hoặc bị đưa ra Tòa Án Binh không chừng, nhưng tôi vẫn làm vì tôi chưa đánh mất nhân tính và vẫn tin ở chủ trương: “Đem đạo nghĩa để thắng hung tàn” của Quân Đội tôi. Tôi đã suy nghĩ chín chắn, đã cân nhắc nặng nhẹ giữa đạo đức và lương tâm con người với trách nhiệm mà quân đội giao phó và tôi hoàn toàn chấp nhận mọi hậu quả do quyết định của mình. Tôi chỉ mong rằng các anh có dịp hiểu biết rõ hơn về chúng tôi và quân đội Quốc Gia, như anh vừa nói, để đối chiếu với những điều các anh đã được học. Chỉ có vậy! Thôi nhé! Xin chào. Chúng tôi cần phải đi.
Tên cán bộ ráng nói thêm:
– Xin cho tôi một câu chót…
Tôi dừng lại nhìn anh:
– Anh nói đi!
Tên cán bộ câu hai tay để trước bụng, nói nhỏ:
– Chúng tôi xin thành tâm cầu mong mọi điều may mắn, bình an cho ông suốt cả cuộc đời (!?!)
Có lẽ đây là câu nói xúc động phát ra từ tấm lòng chân thật của anh
Tôi gật nhẹ đầu cảm ơn và chào anh ta! Tôi mỉm cười khi suy nghiệm về câu cầu chức của anh ta. Tôi may mắn bình an mỗi lần “tao ngộ” với phía các anh, thì các anh sẽ ra sao?
5
Đến đây, tôi nghĩ mọi chuyện đã xong, đã mất rất nhiều thời giờ. Buổi chiều cũng sắp về, buổi chiều ở vùng rừng rậm xuống rất nhanh và chỗ trú quân đêm, trong vùng đất xa lạ này, phải được quan sát khi trời còn sáng. Tôi báo cáo lên Tiểu Đoàn: công tác đã thi hành xong và xin tiếp tục di chuyển.
Chúng tôi theo lộ trình cũ. Đi chưa được 50 mét thì ông số Sáu lại gọi tôi: anh dừng lại cho em út bố trí giữ an ninh. Hai “thằng” cố vấn đang lội sông qua bên anh đó. Nó muốn ngắm nghía trạm xá của VC.
Tôi… chới với ngẩn người. Vậy là bể rồi! Nhưng không còn cách nào khác! Cho các trung đội dừng quân xong, tôi và BCH đứng ở bờ sông đợi hai ông… Cố. Khúc sông này của con rạch Cai Tổng Cang lạ đời thật: sông rộng hơn 40 mét, nước trôi lững lờ, vậy mà khúc cạn, khúc sâu như chính lòng dạ đổi thay khi vầy, khi khác của con người. Khó đo, khó đoán, khó lường! Dò sông dò biển dễ dò!
Nhìn mấy người lính đang lội qua, mực nước chỉ tới vai, còn hai ông Mẽo thì chỉ tới ngực. Phải chi nước ngập khỏi đầu như khúc trên kia thì đâu có chi rắc rối!
Thiếu Tá Calvin, Cố Vấn Trưởng, và Trung Úy Hayes, Cố Vấn Phó, lên bờ và bước lại phía tôi. Tôi đứng dậy bắt tay hai ông. (Gặp nhau hằng ngày và ở vùng hành quân, chúng tôi ít khi chào kính). Tôi bảo Thạch Chêm dẫn hai ông đi đến chỗ đó. Tôi vẫn ngồi yên ở bờ sông hút thuốc. Tôi biết sẽ có… chuyện, nhưng tôi vẫn giữ quyết định vừa rồi. Tôi thấy không cần giải thích gì thêm.
Các Cố Vấn Mỹ ở đơn vị tôi họ cũng rất lịch sự và hiểu vị trí của mình. Từ ngày về đơn vị đến giờ, tôi chưa từng thấy họ tham gia bàn thảo kế hoạch hành quân, điều động hay chỉ huy ai cả. Họ chỉ được yêu cầu “cố vấn” chúng tôi xin trực thăng võ trang, xin phi tuần, xin tản thương, xin hỏa châu…v.v… Nghĩa là chỉ có xin dùm đủ thứ! Công tác đó họ làm kết quả nhanh gấp mấy lần mình! Ít nhất thì ở đơn vị tác chiến cấp Tiểu Đoàn, Cố Vấn đã không dám phát huy vai trò “chủ Mỹ” của mình một cách lộ liễu?
Sau khi quan sát, chụp hình mấy vị trí, hai ông quay trở về. Khi đến chỗ tôi, Thiếu Tá Calvin đưa ngón tay cái lên trời và nói:
– Hi, Commander! You did a good job!
Tôi mĩm cười chào ông và nói vỏn vẹn hai tiếng: Thank You. (Tôi không hiểu ý ông qua hai chữ “good job” là good ở khía cạnh nào? Good khi khám phá ra trạm xá VC, hay good vì bắn mấy loạt M16 mà bốn tên thương binh địch vẫn còn sống nhăn?)
Đằng kia, bốn ánh mắt tê dại nhìn về hướng tôi.
Các anh tin rằng lần này mới là chết thật! Ông “chủ” Mỹ đã đến, làm sao còn sống được nữa? Sĩ quan Ngụy, được mấy cái đầu, mà dám cãi?
Mấy anh thật chẳng hiểu gì về Quân Đội VNCH cả. Khi được tiếp xúc với chúng tôi, mắt các anh sẽ mở trừng trừng, ngạc nhiên từng chập, mở cho đến độ rách cả khóe mắt!
Tôi biết bốn anh rất muốn nói chuyện với tôi trong giờ phút thời gian như dừng lại này. Nhưng tôi không có gì để nói thêm với các anh. Chuyện các anh tôi đã quyết định xong!
Tôi là “Tư Lệnh” của mặt trận bờ Bắc này, là một tư lệnh nhỏ xíu thôi nhưng là người có quyền quyết định cao nhất tại đây. Không ai có quyền quyết định thay cho tôi, khi tôi chưa rời đơn vị.
Tôi ngồi chờ… bên kia sông. Tôi biết thế nào cũng sẽ có bão táp tới. Tôi chờ nghe tiếng… “đức” của ông Tiểu Đoàn Trưởng.
Năm phút sau, “bão” tới:
– Tango! Nói cho tôi biết: anh hát cái bản gì đây? Mấy thằng Tây về báo cáo rằng bốn thằng VC còn ngồi hút Quân Tiếp Vụ bên ấy. Vậy là sao? anh chống lệnh tôi? Anh chỉ huy ở đây hay tôi. Nói nghe?
Tôi làm thinh để cho ông xì bớt hơi.
Trong bốn Đại Đội Trưởng, tôi là người có cấp bậc thấp nhất, Thiếu Úy, nhưng tôi cũng là người tương đồng với ông nhiều vấn đề, trong đó phải kể cả những vấn để gay go nguy hiểm mà ai cũng chê, nhưng tôi nhận! Có gì đâu! Mình chẳng có chi bận bịu! Tử sanh hữu mạng mà! Tôi chỉ lo các anh em tôi trong Đại Đội sẽ phản đối những cái gật đầu hơi nhiều của tôi thay vì bắt thăm chia đều. Thế nhưng chuyện đó chưa xảy ra vì họ tin tôi, thương tôi. Họ cũng biết tôi rất thương họ và cũng không đến đỗi… ngu lắm!
Mấy mươi giây trôi qua, không nghe tôi trả lời, ông số Sáu hỏi lớn:
– Tango đâu rồi! Anh có nghe tôi không??
Tôi cầm ống liên hợp, thẳng thắn và chân tình đáp:
– Tôi đang nghe số Sáu. Trước hết, tôi rất tiếc phải nói câu xin lỗi, nhưng thật tình tôi không hề có ý qua mặt hay chống lại lệnh của số Sáu! Đây chỉ là vấn đề lương tâm và đạo đức con người, một con người có lẽ không đủ nhẫn tâm để giết đồng loại đang bị thương tích trầm trọng. Ngoài ra, tôi cũng không dám quên những bài học ở Quân Truờng, quy định về cách đối xử với thương binh địch. Do đó, xin số Sáu cho phép tôi giữ quyết định đã ban hành về số phận của bốn thương binh địch. Tuy nhiên, nếu số Sáu cho rằng việc bắn bỏ họ là điều không thể đảo ngược được, thì đó là thẩm quyền của số Sáu. Tôi không chống đối. Đại Đội tôi xin chờ và xin số Sáu cho vài Trinh Sát hay Quân Báo Tiểu Đoàn qua đây thực hiện công tác hành quyết. Tôi muốn rằng cho đến chết người lính CS vẫn giữ hình ảnh người chiến sĩ QLVNCH luôn luôn bảo tồn chữ tín.
Nói xong tôi giữ combinet để chờ ông.
Nhiều phút trôi qua, có lẽ ông đang suy tư hoặc đang chỉ thị cho Trinh Sát, Quân Báo.
Tôi trả ống liên hợp lại cho Lữ. Lữ vừa cài cái móc của ống liên hợp lên giây ba chạc thì tiếng ông Tiểu Đoàn Trưởng chỉ thị cho âm thoại viên với giọng dịu nhẹ hơn:
– Thôi, Lê Lai, nói với Thầy anh: số Sáu đồng ý cho Mười Một mua cái đức cho vợ con sau này. Nhưng mà… bắn… thêm vài loạt đạn nữa, rồi zulu. Lưu ý: Vị trí đã bị lộ!
Lữ nhìn tôi, tôi nhìn Lữ. Hai thầy trò trao đổi nụ cười nhẹ nhỏm! Lữ le lưỡi:
– Có lẽ chỉ có ông Thầy là được số Sáu chìu và nể như vậy mà thôi.
6
Tôi nhìn sang bên kia sông, hướng Tiểu Đoàn. Chiều xuống thật nhanh. Những tia nắng yếu ớt cuối cùng còn rơi rớt trên ngọn rặng bình bát bạt ngàn. Gió lay nhè nhẹ. Xa xa bên kia bờ, chỗ rặng cây cao, đàn cò bay về nơi trú đêm, điểm trắng cả chòm cây xanh như những bông hoa dại, âm thầm nở, âm thầm tàn trong ngôi vườn bỏ hoang không người tới lui săn sóc.
Chúng tôi lại lên đường. Không như đàn cò về lại chòm cây cao, chúng tôi không có chỗ trú nhất định cho mỗi đêm…, có thể là một vùng bình bát, có thể là một khu vườn hoang, có thể là một đám rẫy, hay cũng có thể là một bãi… tha ma. Ba mươi ngày trong tháng thì hơn hai phần ba số đêm đó chúng tôi ngủ hoang, ngủ bậy như vậy cho người dân lành được ngon giấc trong chăn ấm, nệm êm. Chúng tôi không có ý so sánh những hình ảnh đối ngược của hai nếp sống để kể lể công lao, hay cay đắng ngậm ngùi, nhưng chúng tôi mong rằng sự hy sinh của người chiến sĩ trong cuộc chiến vừa qua không bị mỉa mai và quên lãng.
Phần Phụ Chú:
Sau biến cố đó, tôi không bị bất cứ một biện pháp chế tài kỷ luật nào, nhưng một tuần lễ sau, khi tập trung ra lằn chỉ đỏ, ông Tiểu Đoàn Phó xuống Đại Đội tôi chủ tọa lễ bàn giao chức vụ Đại Đội Trưởng Đại Đội 1 cho một sĩ quan khác! Sự trừng phạt, nếu đúng, chỉ có tính cách tượng trưng. Có điều cho đến nay, sau đúng 32 năm, mỗi khi nhớ lại chuyện này, tôi vẫn không kết luận dứt khoát được là trong hai quyết định của ông Tiểu Đoàn Trưởng và của tôi: Ai đúng, ai sai – Đúng sai trong hai lãnh vực: giữa lương tâm và truyền thống nhân ái của dân tộc với sự tha chết cho giặc, “dưỡng hổ di họa”?
Cuộc chiến đã chấm dứt đúng 1/4 thế kỷ. Sau nhiều năm bị đọa đày trong trại cải tao, sau hiểm nguy của gia đình qua chuyến vượt biên bằng đường biển, sau những tháng năm bình tỉnh nhìn lại cuộc chiến mà mình đã đổ máu xương để trang trải và đã bị phản bội, bị bỏ rơi thê thảm…, nếu một mệnh lệnh như xưa được ban hành, tôi vẫn lấy cái quyết định như đã từng quyết định trong rặng bình bát! Đó là lương âm, là phẩm giá của người lính Việt Nam Cộng Hòa!
Tiểu Đoạn này được viết rất bất ngờ, sau khi người viết đọc được bài “Đôi Thoại Với Nhà Văn Trong Hàng Ngũ Thắng Trận” của Trần Hoài Thư trên trang Internet, viết “kỷ lục” chỉ trong hai ngày để phổ biến trên truyền thông nhân buổi ra mắt tác phẩm “Về Hướng Mặt Trời Lặn” của anh Trần Hoài Thư tại Houston. Không ngờ, sau khi BNS Dân Ta, BNS Việt Báo ở Houston, rồi Nhật Báo Người Việt, Đặc San KBC ở Nam California, Đặc San Võ Khoa Thủ Đức Washington DC, phổ biến rộng rãi bài này, một vài cuộc hội thảo đã diễn ra quanh một vài chủ đề mà người viết đã “đụng” tới trong tác phẩm!
Nay, nhân khi bài viết này được đặt đúng vị trí thời gian trong tác phẩm để xuất bản, người viết muốn minh xác: tác giả không có ý định dùng mẩu chuyện thật trên đây để phản bác lại những điều hoang tưởng, xuyên tạc chiến sĩ QLVNCH của hai nhà văn “lớn” CS là Dương Thu Hương và Bảo Ninh. Dương Thu Hương với tác phẩm ồn ào một dạo “Tiểu Thuyết Vô Đề” đã mô tả người lính Thám Báo QLVNCH như sau:
“… Tới vực cô hồn, gặp sáu cái xác truồng, xác đàn bà, vú và cửa mình bị xẻo ném vung vãi khắp đám cỏ xung quanh… Cũng có thể họ đi kiếm măng… rồi vấp bọn thám báo. Chúng đã hiếp các cô tàn bạo trước khi giết.” (TTVĐ, trang 16)
Còn Bảo Ninh với tác phẩm “Nỗi Buồn Chiến Tranh” cũng gán cho Thám Báo cái tội bắt ba cô gái trong mật khu rồi hãm hiếp, sau đó giết họ, vất xuống sông:
“Ba nhỏ đó, trình quý anh, tụi này làm thịt cúng hà bá rồi. Mấy nhỏ khóc quá trời” (NBCT, trang 52)
Tôi không hiểu sao các nhà văn VC lại luôn gán ghép người lính miền Nam vào hành động thích hãm hiếp và “lắt xẻo” mấy bộ phận của đàn bà?
Hai mươi lăm năm sau cuộc chiến, đã đến lúc phải trả lại cái gì thật sự của lịch sử cho lịch sử. Tôi không nói người lính miền Nam là một thứ Khổng Tử, nhưng tôi biết chắc rằng không một quân nhân nào của chúng tôi đủ hứng thú để làm cái trò dị hợm, kỳ cục (hãm hiếp dã man con lắt xẻo) tại chiến trường như Dương Thu Hương đã mô tả. Tôi mong đọc được những bài viết nói lên sự thật của những người cầm bút, ở cả hai phía, không bị chi phối bởi bất cứ mặc cảm, dù là tự tôn hay tự ti; bởi sự cám dỗ vật chất hay bởi bất cứ thế lực nào.
Tôi mong bà Dương Thu Hương và ông Bảo Ninh đọc được truyện này. Tôi lặp lại lần nữa là tôi không hề có ý đinh viết chuyện để bênh vực người lính Miền Nam, hoặc để phản bác lại hai tác phẩm của ông và bà vì một lý do rất đơn giản là: tôi không hề là một nhà văn, nên cũng không có tham vọng tranh danh, đoạt lợi bằng ngòi bút, theo lập luận đời thường: “đánh” một người nổi danh để được nổi danh hơn!
Tôi chỉ là người lính chiến trong cuộc, chứng kiến sự thật, kể lại sự thật, một sự thật nhỏ bé, trong vô vàn sự thật to tát, từ cuộc-chiến-tự-vệ của Miền Nam, một cuộc chiến bị bóp méo, bị xuyên tạc, bị sỉ vả vô tội vạ bởi những ngòi bút đứng trong hàng ngủ của kẻ thắng trận!
Ông Đại Đội Trưởng và Tiểu Đoàn Trưởng trong truyện này hiện nay đều định cư tại thành phố Houston sau nhiều năm trong Trại Cải Tạo (viết hoa). Còn bốn anh thương binh trong truyện có lẽ hiện vẫn còn sống, nếu không đủ cả bốn, cũng còn hai, hay ba. Đây là một ấn tượng sâu sắc trong đời các anh nên, chắc chắn, các anh phải nhớ. Nếu truyện này được phổ biến trong nước và thật sự các anh là người có chút liêm sỉ, các anh sẽ không thể quay lưng lại với sự thật của “một thời” quá khứ.
Nguyễn Bửu Thoại
Trở Lại Mật Khu Sình Lầy
(In lần thứ 2, tháng 12-2000, trang 363)
1) củi đuốc = vũ khí.
2) zulu = d = di chuyển.