| “30 năm sau – Thuyền nhân Việt Nam tại CHLB Đức Những ví dụ cụ thể trong sự thành công và hội nhập” “30 Jahre danach – Boat People in Deutschland Beispiele gelungener Integration” http://www.drk.de/fileadmin/Angebote/migration/Broschuere_Boat_People.pdf Kính thưa quý thân hữu, năm 2009 hội Hồng Thập Tự Đức (Deutsches Rotes Kreuz -DRK) của CHLB Đức trước khi dự định thực hiện một tập kỷ yếu với chủ đề “30 Năm Người Việt Tỵ Nạn tại CHLB Đức”, trung ương hội DRK tại Berlin có gửi một phóng viên từ Berlin về Saarland để xin Tường Vi một cuộc interview, vì DRK tiểu bang đã gửi thư về Berlin đề cử Tường Vi là một trong những thuyền nhân Boat People Việt nam đã hội nhập và thành công tại Đức quốc. Cuộc phỏng vấn được diễn ra tại tư gia của Tường Vi, sau nhiều lần bổ túc bằng Email và phôn, bà Dr. Birgit Affedt đã viết xong bài viết đó đăng trong tập này. Xin mời quý thân hữu theo dõi bài viết của bà Dr. Birgit Affedt trang 15-18. (VTTG Lúa 9 lược dịch sang Việt ngữ). “30 năm sau – Thuyền nhân Việt Nam tại CHLB Đức Những ví dụ cụ thể trong sự thành công và hội nhập” Vietnamesischer Text: Tường Vi chạy trốn ( Trang 15-18) Tường Vi có nghĩa là bông Hồng nhỏ. Đứa con gái mang tên này được sanh ra đời tại tỉnh Bến Tre, Nam Việt Nam, cô là đứa con gái út trong một gia đình họ Võ, có cả thảy mười ba người con. Đứa con gái ấy thuộc loại thông minh và có óc cầu tiến, đã tốt nghiệp trung học tỉnh và có bằng tú tài, sau đó học hai năm cao đẳng sư phạm tại Mỹ Tho. Tường Vi rất quý tình yêu gia đình và mến yêu cuộc sống. Nhưng động lực nào đã thúc đẩy Tường Vi lao vào một tương lai không bờ bến, vượt biển đông tìm Tự Do chứ? Lao vào một thế giới hoàn toàn xa lạ với mình. Động lực đó có ảnh hưởng nền chính trị tại Việt nam và ý chí riêng cô: ” Tôi nhận thấy chế độ cộng sản là một chế độ bất công không có công bằng xã hội và thiếu Tự do. Người dân luôn bị gọng kiềm của nhà nước kiểm soát chặt chẽ. Ai là con của những người lính Quốc Gia thời VNCH cũ ( bị gọi là Ngụy ) chống lại Việt Cộng, thì người đó phải bị trừng phạt như cha của họ là bị đuổi ra khỏi trường, không có một tương lai. Những cựu quân nhân miền Nam VN sau cuộc chiến trở thành thất nghiệp, dĩ nhiên cuộc sống của gia đình của họ lầm than khốn khổ, những ai đã từng đứng về bên phe Quốc gia chống lại cộng sản miền Bắc, sẽ bị giam vào lao tù trong những trại cải tạo tập trung và nơi đó họ phải học thông thạo lý thuyết của Hồ Chí Minh thì mới mong có ngày được thả tự do về sum họp với gia đình. Sự nghe lóm và rình rập của công an khiến nhân dân luôn sống trong hồi hộp và sợ người xung quanh hại mình. Bất kể ai muốn phát biểu suy nghĩ riêng cũng phải hết sức cẩn thận, từ đó lòng tin tưởng lẫn nhau giữa những người miền Nam chợt biến mất, nhường lại sự ngờ vực. Khi bị bắt nộp tờ khai lý lịch là nỗi lo sợ với những ai có lý lịch không “sạch sẽ”, người cộng sản luôn muốn kiểm soát những hành vi, tư tưởng để biết suy nghĩ của nhân dân, kiểm soát để trị. Nhân dân sống trong phập phồng lo sợ thiếu bình an. Một cuộc cách mạng nổi lên chống chính quyền trong thời điểm này là điều không thể tưởng. Bỏ quê hương gia đình ra đi chắc chắn đối với Tường Vi là điều không đơn giản. Hoang mang cô ấy nghĩ: Tình cảm quyến luyến với mẹ cha giữ chân cô lại, đồng thời hoài bão được hưởng không khí Tự do, sống cuộc sống không còn sợ hãi nữa lại ào ạt thúc đẩy cô ấy đi. Tường Vi thầm nhủ: ” Mình phải ra đi và chọn cho mình một đất nước, mà nơi đó sự Tự do Ngôn luận, Tự do phát biểu được tôn trọng. Từ đó mình mới có thể làm được gì cho quê hương mình, gia đình mình, hơn là sống ở đây với một tương lai đen tối “. Từ đó Tường Vi nhất quyết ra đi. Năm đó là năm 1978, Tường Vi lúc này mới 23 tuổi. Với hai người anh trai từ bỏ mái ấm gia đình bước xuống ghe ra đi tìm Tự Do. Không một lời từ giã mẹ cha, âm thầm ôm gói hành trang nhỏ trốn đi khỏi miền Nam Việt Nam. Giả trang như thể mình đi sang đại học sư phạm bên Mỹ Tho. Thật ra là cô đã cùng 57 Thuyền Nhân khác bước xuống một chiếc tàu đánh cá mỏng manh, một chiếc ghe định mệnh, mà không một ai biết rằng nó sẽ chở mình tới đâu. Tường Vi bò xuống mạn thuyền, lao vào Sự Chết chống chọi với sóng biển giữa đại dương để hy vọng tìm Sự Sống. Cái cảm giác rùng rợn bao trùm trên chiếc ghe nhỏ chật cứng. Sóng biển liên tục đánh tạt vào trong bong ghe. Đàn bà con nít ôm nhau rú lên sợ hãi mỗi khi chiếc ghe bị sóng đưa lên rồi nhấn chìm xuống. Những đàn ông trên ghe cố gắng hết sức mình múc nước ra cho ghe khỏi chìm vào lòng biển cả, cho đến gần kiệt sức. Tiếng trẻ con khóc, phụ nữ cất lời cầu nguyện ơn trên, và đàn ông thì cảm thấy mình bất lực trước cơn sóng dữ của Tử Thần. Ba ngày đầu ra biển, Tường Vi bị say sóng, chóng mặt buồn nôn, sóng biển làm ướt hết thực phẩm mang theo trên ghe, quên cả đói và khát. Đến khi hoàn hồn lại nàng mới hay mình đã xa cha mẹ, xa quê hương thật sự. Lúc này nàng mới bắt đầu âm thầm khóc, mừng là quanh mình còn có hai ông anh ruột, luôn sẵn sàng bảo vệ đứa em gái. Qua tám ngày lênh đênh trên biển, chiếc thuyền gỗ mong manh chiến đấu với thần chết để dành sự sống. Bất thình lình mọi người trên ghe nghe tiếng người gọi, giọng nói vọng ra từ loa phát thanh: “Hello, quý vị thuyền nhân thân mến, xin quý vị đừng sợ, đừng chạy xa hơn nữa. Chúng tôi là Ban Đại Diện trại tỵ nạn dành cho người Việt nam, chúng tôi đến để cứu quý vị đây”. Tường Vi kể tiếp: Sau tám ngày mới được nghe lại tiếng người, nhất là người Việt, lúc này mới hay, là chúng tôi còn sống sót“. Thế là định mệnh đã đưa thuyền vượt biên của Tường Vi ghé vào trại tỵ nạn tại đảo Pulau Tengah thuộc Mã Lai Á. Trên đảo thời gian này (1978) đã có hơn 10.000 người cư ngụ, đang chờ được đi vào đệ tam quốc gia. Giang sơn mới ở trại là những căn nhà gỗ, những chiếc sạp gỗ được đóng thấp san sát vào nhau làm giường ngủ, bếp thì được dựng tạm bợ sau hè của trại. Mỗi ngày thuyền nhân nhận được ít gạo, phần nhiều là cá, mì và ít gia vị nấu ăn. Rau cải thì hiếm hoi. Gần đó có một cái giếng nước ngọt, người ta sắp hàng để hứng nước về nấu ăn và uống. Hội Chữ Thập Thập Đỏ quốc tế phân phát quần áo, chăn màn cũ cho thuyền nhân trên trại. Những cầu xí được xây lên tạm bợ ven biển, không cung cấp vệ sinh và tiện nghi cho cả 10.000 người, nhưng họ vẫn cảm thấy hài lòng với hoàn cảnh sống tạm bợ đó. Miễn là thoát khỏi ách cộng sản và đến nơi bình an đã là quá may mắn hơn số phận của nhiều người phải bỏ xác trên đường tìm Tự do. Nỗi lo lắng của họ hiện nay là: Chưa biết tương lai mình sẽ ra sao, ở nhà, nếu chính quyền phát giác ra trong gia đình có người vượt biên chắc chắn là có tội với “cách mạng”. Gia đình, cha mẹ, anh em còn vướng lại sẽ bị trừng phạt ra sao? Còn mình, quốc gia nào sẽ nhận mình vào? Cuộc sống trên quê hương xứ lạ sẽ ra sao? Tại sao tôi có mặt nơi này? Việt nam nay đâu? Đời tôi rồi sẽ ra sao khi không còn sự bảo bọc của cha mẹ nữa? Khi người tỵ nạn trên đảo được nước-thứ-ba ” bốc ” đi như qua Mỹ, Pháp, Úc, Đức, Na Uy, Canada, Đan Mạch, Thụy Sỹ, Ý. Họ quen nhau trong những ngày tháng sống trên đảo, nương tựa, an ủi nhau mỗi khi nhớ nhà, sự chia lìa lần này giống như bứt rời họ xa gia đình một lần nữa. Trong ngậm ngùi đứng ngay bến tàu vẫy tay chào nhau, Tường Vi đã từng khóc tiễn đưa, cơ hồ như chia tay một lần vĩnh biệt mãi mãi trong đời không bao giờ gặp lại trên thế gian này. Nhưng cô tự dặn lòng mình: ” Muộn phiền khóc lóc nhớ nhà sẽ làm rủng ý chí cầu tiến chi bằng mình hãy cố gắng lao vào tìm quên trong công việc, hướng đến tương lai. Cô luôn luôn ham học, tập trung tư tưởng vào ngôn ngữ mới, hay là đi du lịch, mở rộng tầm kiến thức, làm quen bạn mới, ráng tạo cho mình một chỗ đứng trong xã hội “. Với suy nghĩ đó Tường Vi vượt qua những khó khăn nhất trong giai đoạn đầu tỵ nạn nơi xứ người. Tường Vi và hai anh của cô cuối cùng cũng được nhận vào đệ tam quốc gia Đan mạch vì chị lớn của cô đã vượt biên đi rất sớm và đang cư ngụ tại nơi ấy sau biến cố 30.04.1975. Trong khi Tường Vi quyết tâm gồng mình để hội nhập nhanh vào xã hội mới thì người anh của cô trái ngược lại em gái mình. Anh đã trải qua đời lính chiến gian khổ, xa gia đình, sau khi mất Miền Nam, anh bị tù tội trong trại học tập cải tạo, 4 năm dài. Ra khỏi tù chưa gần cha mẹ được bao lâu, thì chuyến vượt biên đã tách anh ra khỏi vòng tay cha mẹ vĩnh viễn. Cuộc hội nhập với đời sống mới đối với cựu quân nhân, cựu tù binh như anh quả là một đòi hỏi lớn, anh buồn, anh kết bè kết bạn, rượu chè say sưa, và sau cùng anh chết, khi vừa tròn 32 tuổi. Bao nhiêu năm dài đăng đẳng anh chị em của Tường Vi phải giấu nhẹm về cái chết của anh mình, sợ cha mẹ già chịu không nổi khi hay hung tin, anh em của cô đã phải mạo chữ viết của anh thứ Mười để gửi thư về thăm nhà và gửi tiền về nuôi gia đình đều đặn. Để cha mẹ không nghi ngờ, rằng anh không còn nữa trên cõi đời này. Chỉ 3 năm Tường Vi sống tại Đan Mạch, cô nuôi giấc mộng tiến thân nên lao vào đường học vấn. Học để quên cô đơn, quên nhớ nhà. Quên nhớ người yêu. Về sau Tường Vi quen với một người con trai Việt, trước kia anh này sang Tây Đức du học vào thập niên 70, sau cuộc đổi đời tại Sài Gòn anh không thể về nước được nữa. Liên lạc với gia đình chỉ bằng thư từ gửi bằng bưu điện. Năm 1981 Tường Vi tốt nghiệp trường laborant và ghi danh vào đại học Nha khoa tại Kobenhaven. Hai người cưới nhau và cô dọn theo chồng về Tây Đức, vì gặp vấn đề khó khăn bằng cấp nước khác vào Đức không được công nhận, Tường Vi lao vào vừa làm kinh doanh, vừa là người nội trợ, vừa là mẹ của 2 con. Qua sự năng động, hòa đồng Tường Vi thể hiện một phụ nữ có cá tính đặc biệt. Cô là hội viên Hội Chữ Thập Đỏ Đức (DRK), mặc dù cô đã tham gia Đoàn Thanh Niên Hồng Thập Tự VN khi vừa 17 tuổi tại BếnTre. Khi tới quê hương thứ hai Đức quốc cô vào Hội DRK tại Kreisverband St. Ingbert, tham gia Hội Người Việt Tỵ nạn Cộng sản tại Saarland, chăm lo ban văn nghệ và may quần áo cho ban múa. Lãnh vực nổi bật của cô là chuyên về Văn Học Nghệ Thuật và Chính Trị. Là một nhà văn cho đến nay cô đã viết 5 cuốn sách bằng Việt ngữ, cô lấy bút hiệu là Võ Thị Trúc Giang. Trong lúc sống lưu vong cô tham gia cho vài tờ báo khác nhau ở Âu Châu cũng như bên Hoakỳ. Trong một thời gian tham gia với Hội Văn Bút Việt nam Hải Ngoại, Tường Vi nằm trong Ban Chấp Hành (BCH) Hội VBVN HN Trung Tâm Âu châu. Có mặt trong ban tổ chức Hội Xây Dựng Tượng Đài Thuyền Nhân VN tại Hamburg ( Cap Anamur cũ ). Kể từ 1997 cô cùng gia đình dọn nhà sang sống bên Pháp, một thành phố sát biên giới Saarbrücken. Từ đó cô thấy sự gắn bó giữa mình và quê hương thứ hai càng gần hơn xưa. Sự làm việc chăm chỉ, sự hội nhập nhanh chóng của Tường Vi như một Bilderbuch ( bức tranh vẽ ). Ngoài những sự thất vọng chán nản như việc bằng cấp từ Việt Nam mang theo, cũng như từ Bắc Âu Đan mạch mang về Đức, tất cả đều không được công nhận bằng tương đương. Nó đã ngăn cản bước tiến tương lai của cô, ngưỡng cửa đại học không được rộng mở, trong khó khăn cùng cực đó Tường Vi vẫn kiên trì và cố gắng không ngừng. Cô ghi danh học thêm nhiều khóa Đức ngữ trong đại học để tự trau giồi thêm cho chính mình, nhiều công tác phụng sự xã hội liên tục trong cộng đồng Việt lẫn cộng đồng Đức. Sự dấn thân đó là một gương sáng, không phải chỉ đối với cộng động tỵ nạn từ Việt nam không mà thôi. Nhìn chung cuộc sống mới của cô tại Âu châu so ra quả thành công trong đời sống cũng như về nghề nghiệp, và thời gian cô sống tại Tây Đức nay là dài hơn thời gian cô lớn lên trên quê hương mình. Tường Vi còn nhớ kỷ niệm trong quá khứ bên Việt nam không? Cô có cảm tưởng gì? Cô nghĩ gì về Bến Tre hiện tại nhỉ? Câu trả lời của Tường Vi rất tự nhiên: ” Nhớ nhà, nhớ quá đi thôi!”. Cô thấy nhớ đồng ruộng lúa bao la, mặt trời rực rỡ lên mái nhà lá đơn sơ giản dị, và ánh trăng vàng treo lơ lửng xuyên qua cành lá dừa thơ mộng, khí hậu hiền hòa ấm áp của miền Nam Việt Nam giữa hai mùa mưa nắng, cô nhớ mùi của trái xoài cát chín mọng trong sân nhà của cha mẹ mình dưới quê. Tường Vi kể tiếp:”Tôi nhớ hồi còn bé, tôi rất sợ băng qua chiếc cầu khỉ dưới tỉnh Bến Tre, có những buổi chiều lũ trẻ chúng tôi bò chơi bắt cá bóng ngoài ruộng, quần áo tóc tai dơ bẩn, mẹ bắt chúng tôi xuống sông sau nhà tắm gội trước khi vào ăn cơm tối”. Cô hồi tưởng lại thời gian sống bên gia đình, còn cha còn mẹ, còn anh chị em. Cô có cái cảm giác, dường như mình dõi tìm hoài một Thiên Đường đã đánh mất mà không bao giờ tìm lại được một lần nữa. Autorin: Dr. Birgit Affedt Người dịch: Tường Vi Võ thị Trúc Giang Lúa 9 |