Chim- Huyền thoại và Thực tế- Cung Thị Lan

Chim- Huyền thoại và Thực tế
                                                                       Cung Thị Lan
 Chim được coi là biểu tượng mang nhiều ý nghĩa phong phú trong các tác phẩm văn chương Việt. Trong bài viết này, tôi không đề cập tới chim Lạc là một sinh vật truyền thuyết của người Việt cổ và được xem là vật tổ của cư dân thời kỳ văn hóa Đông Sơn trong buổi đầu hình thành nước Văn Lang-Âu Lạc. Tôi chỉ muốn chia sẻ đôi điều về biểu tượng loài chim được miêu tả và diễn đạt bằng nhiều thể loại khác nhau qua các câu ca dao tục ngữ, thi ca, và văn xuôi.
 Trong ca dao, tục ngữ và thành ngữ, hình ảnh của các loài chim thường được sử dụng qua lối ẩn dụ như sau:
“Chim khôn hót tiếng rảnh rang,
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe”
 
hay
“Chim đa đa đậu nhánh đa đa,
Chồng gần không lấy, đi lấy chồng xa.
Mai sau cha yếu mẹ già,
Chén cơm đôi đũa, tách trà ai nâng.”
 
hay
Chim trời ai dễ đếm lông,
Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày.
hay
Chim lạc bầy thương cây nhớ cội,
Xa bạn xa bè, lặn lội tìm nhau.
 hay
Một con chim én không làm nên mùa xuân.
Một số tác giả của những tác phẩm văn xuôi cũng thường dùng lối ẩn dụ, nhân cách hóa hay lồng những hình ảnh chim vào những áng văn để làm sinh động quang cảnh, không gian hay diễn tả  tâm trạng, những ý nghĩ thầm kín và khát vọng của mình.Ví dụ như cảnh chim chuyền cành, bay lượn trên không trung hay hót líu lo, véo von…
 Cho dù sử dụng nghệ thuật diễn đạt ngôn ngữ hay văn phong khác nhau như thế nào, các văn thi sĩ tiền bối Việt Nam đã để lại một kho tàng hết sức quý báu đối với việc lưu lại kinh nghiệm, truyền tải những lời khuyên sâu sắc đối với các thế hệ con cháu. Tuy nhiên, trong nguồn tài nguyên trí tuệ ấy, có những lối ẩn dụ và so sánh về loài chim không hoàn toàn chính xác.
 Ví dụ như mục đích câu tục ngữ: Chim có tổ, người có tông  nhắc nhở mỗi người trong cuộc đời  đều có nguồn gốc, gia đình, dòng họ và tổ tiên, tương tự như chim có tổ là nơi chúng trú ngụ  và được mẹ/cha chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ đến lúc lớn luôn. Đây là một câu nói mang tính khuyên răn, dạy dỗ, nhấn mạnh sự gắn bó giữa con người với cội nguồn, quê hương và  tổ tiên giòng tộc. Nhưng, thực tế khi chim ra ràng rời tổ, chúng không bao giờ quay về tìm lại cái tổ mà chúng từng được cha mẹ chim nuôi nấng. Và chúng cũng không có khả năng nhớ hay nhận biết con chim nào là cha mẹ, ông bà, cô bác hay anh em của chúng. Nếu quan sát kỹ đời sống của chim, ta sẽ nhận thấy là chim chỉ thích đồng hành với con chim “đối ngẫu” để cùng bay đó đây, bất kể cùng trời, cuối đất. Ngoài ra, còn có loại chim thích sống theo đàn. Đàn bay đến đâu chúng theo đến đó. Tuỳ theo thời tiết, chúng theo đàn bay xa ngàn dặm, tránh  xa vùng khí hậu lạnh lẽo, rồi bay trở lại chốn cũ khi mùa Đông trôi qua. Tuy nhiên, có lúc, chúng không trở về chốn cũ mà ở luôn nơi vùng đất mới, tuỳ thuộc vào ý thích của các con chim trong đàn.
Hình ảnh ẩn dụ của chim trong ca dao Việt Nam thường mang nghệ thuật cao khi nói về thân phận con người,  cách ứng xử và kinh nghiệm  trong cuộc sống. Tuy nhiên có những lối so sánh không hợp lý như câu
Chim khôn đậu nóc nhà quan.”  Hình ảnh ẩn dụ chim trong câu này ngụ ý về con người và nhà quan mang hàm ý là nơi an toàn, nơi có chức quyền mà con người có thể tựa vào hay nhờ cậy được. Thực tế, không phải con chim nào cũng có thể đậu nơi an toàn. Tuỳ theo khả năng của nó và môi trường thiên nhiên nơi chúng ở, chúng có thể tìm những nơi an toàn để trú ngụ hay không. Thô thiển hơn, ta có thể nói: chim không có khả năng tìm nơi an toàn, cho dù chúng khôn ngoan đến mức độ nào. Và cũng có thể những nhà quan/ nơi an toàn không tạo cho chúng cơ hội được đậu hay trú ngụ. Cũng như không phải con người thông minh nào cũng có  thể  tựa vào nơi có chức quyền để trông cậy.
 Tương tự câu “Như chim liền cánh như cây liền cành” đề cao sự gắn bó mật thiết, không thể tách rời,  câu ca dao “chim bay về tổ có đôi” mang ý nghĩa đôi uyên ương luôn bên nhau, thường sánh đôi, sánh bước cùng nhau. “Về tổ” mang ý nghĩa về nhà, về nơi trú ngụ; nhưng thực tế, không phải chim có đôi, có bạn mới về tổ. Người hay chim cũng có thể về nhà hay về “tổ” một mình không cứ chi phải có đôi, có cặp.
 Hình ảnh trong câu Chim vàng đậu nhánh mai vàng vẽ nên bức tranh  đẹp của sự tương hợp giữa hoàng yến là chim vàng trên cành hoa mai vàng, một loài hoa thường nở vào mùa xuân. Nhưng thực tế, chim hoàng yến đậu bất cứ loại cây hay loại hoa nào thuận tiện khi chúng di chuyển trong môi trường chúng đang sinh sống chứ không phải chỉ đậu trên cành mai nở hoa vàng trong mùa Xuân.
 Trong văn xuôi cũng có nhiều câu so sánh về hình ảnh đẹp đầy tính nghệ thuật của các loài chim. Tuy nhiên, có những câu so sánh không hoàn toàn đúng với thực tế. Ví dụ như câu: “Ước gì anh có đôi cánh chim, anh sẽ bay đi khắp chốn tìm em…” Thực tế, không phải con chim nào có cánh cũng có thể bay được. Bản thân người viết từng nuôi chim trong mười năm hơn, chứng kiến nhiều con chim Yến Phụng từ lúc sinh ra đời đến lớn không thể bay dù có lông cánh đầy đủ. Những con chim này chỉ có thể dùng chân và mỏ để bám víu các vật gần kề khi muốn  di chuyển lên cao. Không khác loài người chúng ta, có những người có hai chân đầy đủ nhưng không thể đi được vì chứng bệnh bẩm sinh nào đó. Cho nên, nếu dùng hình ảnh đôi cánh của chim để có thể tự do bay khắp chốn chỉ là lối ví von huyễn hoặc. Trong lịch sử Việt Nam, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn từng nhấn mạnh rằng “Chim Hồng hộc muốn bay cao tất phải nhờ ở sáu trụ xương cánh!” Như thế, ngay cả chim Hồng hộc có cánh to rộng cũng phải có trụ xương vững. Chim hay người muốn theo đuổi chí lớn cần phải có điều kiện sức khỏe và ý chí rèn luyện.
Cũng từ vấn đề này mà khi ta thả chim nuôi ra khỏi chuồng cho chúng được tự do không đúng với ý nghĩa của hai chữ “phóng sanh”. Những con chim quen sống trong môi trường được chăm sóc kỹ, chúng rất sợ khi bị đưa ra ngoài trời. Nhất là những con chim bị khuyết tật. Chúng sợ bị chụp bắt ăn thịt bởi những con chim ó hay diều hâu. Và như vậy, thiện ý “Phóng sanh” cho trường hợp này đưa đến kết quả trái ngược, có thể gọi là “Phóng tử”
Khi nhìn những con chim bay trong không trung hay đậu trên những cành cây cao, chúng ta khó xác định giới tính. Ngoại trừ, vài loài chim có màu sắc và đặc điểm riêng biệt giúp ta có thể đoán được là chim trống hay chim mái. Cho nên, hình ảnh “Chim mẹ mớm mồi cho con” nhằm đề cao tình mẫu tử của loài chim trong các đoạn văn xuôi có khi mắc phải sai lầm. Thực tế, không phải chỉ có chim mẹ mớm mồi cho con mà chim cha cũng mớm mồi nuôi con thay vợ. Nếu quan sát kỹ, chúng ta sẽ thấy có những con chim trống thường cư ngụ gần tổ chim để canh chừng, bảo vệ và chăm sóc cho vợ con chúng. Chúng thường kêu to báo động khi phát hiện sự nguy hiểm từ những con thú rình mồi, hay bay về trông tổ chim con khi chim mẹ bay đi kiếm ăn, và cũng thường xuyên thay chim mẹ mớm mồi nuôi con. Khi chim con ra ràng, những con chim trống cũng thường quấn quýt bay theo chim mẹ khi con chim này dạy cho chim con tập bay.
Có những đoạn văn tả tiếng chim hót vui tươi đón chào nắng mới để làm tăng lên sự hân hoan của loài lông vũ trước  vẻ đẹp của bình minh hay của mùa Xuân…Tuy nhiên, nếu có dịp quan sát tường tận loài chim, chúng ta sẽ rõ những tiếng chim kêu to rõ mang âm hưởng đặc biệt  mà ta chưa từng được nghe  không phải là “ tiếng hót hay, tiếng hót vui mang lại điềm may mắn trong mùa nắng ấm!” mà là lời oán trách của con chim trống đối với sự lạnh lùng từ chối của con chim mái mà nó ưa thích hoặc là những tiếng than trách thân phận cô đơn, bị giam cầm trong cái lồng nhỏ bé, thay vì được tung cánh bay lượn trong không gian ấm áp, tươi đẹp ngoài kia.
 “Đôi chim tình tứ, quấn quýt hôn nhau và rỉa cánh cho nhau trên cành.” là câu văn miêu tả hết sức sâu sắc hình ảnh gắn bó của đôi uyên ương. Nhưng thực tế, chim không hề biết hôn môi và  hình ảnh đôi chim quấn quýt bên nhau ấy, có khi không phải là hình ảnh của chim trống với chim mái.
Hình ảnh một con chim kề mỏ vào mỏ một con chim khác chỉ là hình ảnh  tưởng tượng đầy thi vị về đôi chim đang hôn môi nhưng thực tế, đó chỉ là hành động của việc san sẻ thức ăn cho nhau. Sau khi chim ăn hạt hay côn trùng, thực phẩm sẽ chứa vào trong mề. Khi chim muốn tán tỉnh con chim khác giới, chúng sẽ dụ dỗ bằng cách nôn/ ói thức ăn trong diều lên cuống họng rồi truyền thức ăn này vào mỏ con chim kia. Hình thức giống như cách chim mẹ mớm mồi cho chim con. Tuy nhiên, không phải chỉ có chim trống mới hào hiệp tiếp thực phẩm cho chim mái qua cách này. Có những con chim, bất kể là trống hay mái, có tính hào hiệp thường chăm sóc những con chim yếu đuối không thể bay đi kiếm ăn, bằng cách tiếp thức ăn qua cách này để giúp con chim ấy khỏe hơn.
Có thể nói rằng: Nếu chúng ta sử dụng ẩn dụ và so sánh không đúng với thực tế, chúng ta không thể thuyết phục độc giả một cách tuyệt đối.
Sự ví von về các loài chim qua điển tích và truyện cổđược lưu truyền qua những lời kể truyền miệng  hay các văn bản chữ viết đã giúp cho  các thế hệ tiếp nối mặc niệm về biểu tượng của các loài chim như : Chim khách báo hiệu điềm may mắn, vui vẻ, cú là điềm xui xẻo, tang chế, chim bồ câu tượng trưng cho hòa bình, chim cò là hình ảnh lam lũ, tần tảo của phụ nữ, tu hú là loại chim tráo trở, phượng hoàng tượng trưng cho sự cao quý….
Những ý niệm nhân cách hóa về các loài chim được lưu truyền trong dân gian và trong văn chương Việt đã trở thành những biểu tượng về tính chất và thân phận con người. Những ví von này không chỉ làm phong phú ngôn ngữ Việt mà còn là hình thức  mà ông cha ta nhắc nhở con cháu về các giá trị đạo đức và cách đối nhân xử thế. Tuy những ý niệm này giúp chúng ta tự soi chiếu bản thân và  thấu hiểu các giá trị sống qua thế giới loài chim nhưng thế giới điển tích và truyện cổ của ông cha vẫn còn có những giai thoại khiến ta cần phải phân tích kỹ lưỡng sự đúng, sai.  Nếu không, ý niệm về một loài chim qua một giai thoại sẽ dẫn đến sự so sánh sai lầm từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Điển hình là giai thoại   trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi gọi chim sẻ là kẻ tiểu nhân khi ông đi sứ nhà Nguyên năm 1308. Khi vào phủ Tể tướng nhà Nguyên, trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi thấy một bức trướng thêu hình con chim sẻ vàng đậu trên cành trúc. Ông tưởng là chim thật, chạy đến bắt khiến quan quân nhà Nguyên cười ồ chế giễu. Ngay lập tức, Mạc Đĩnh Chi đã giật bức trướng xuống và xé toạc nó. Khi bị chất vấn, ông bình thản giải thích rằng: “Người xưa chỉ vẽ chim sẻ đậu cành mai, chưa thấy vẽ chim sẻ đậu cành trúc bao giờ. Trúc là biểu tượng của quân tử, sẻ là vật mọn của tiểu nhân. Tể tướng treo bức tranh này là để tiểu nhân trên quân tử, tôi sợ đạo của thánh hiền bị suy đồi nên phải trừ đi.”
Câu trả lời của Mạc Đĩnh Chi đã giúp ông thoát khỏi tình huống bị chê cười và còn thể hiện sự am tường sâu sắc về văn hóa đồng thời tỏ rõ sự tôn trọng đối với Nhà Nguyên (triều đình phương Bắc lúc bấy giờ) khiến cho quan quân nhà Nguyên thấy lời của Mạc Đĩnh Chi đúng với đạo lý.
 Nhưng chính sự giải thích có tính cách khẳng định này song song với quan niệm của Á Đông về tính cách “quân Tử” đối lập với “ tiểu nhân” thời ấy đã khiến mọi người mặc định  loài chim sẻ là tiểu nhân tầm thường khi so sánh đối lập hình ảnh loài chim đại bàng uy vũ và dũng cảm, hay loài chim phượng hoàng cao quý và bất tử.
Từ đó, trong quan niệm văn chương cổ điển, chim sẻ thường bị gọi là “kẻ tiểu nhân”.Trong nhiều điển tích, chim sẻ (tước) được đặt cạnh chim én (yến) để minh họa  sự đối lập giữa những người tầm thường với những người có chí lớn. Câu nói của Trần Thắng thời TầnYến tước an tri hồng hộc chi chí tai?” (Chim sẻ, chim én sao biết được chí hướng của chim hồng hộc?) đã khẳng định về tính chất thấp kém của loài chim này.
Hơn nữa, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (1272–1346), bậc thánh hiền thông  minh xuất chúng, đạt chức vụ Đại Liêu Tả bộc xạ (tương đương Tể tướng), được vua nhà Nguyên  tán phục phong làm Lưỡng quốc Trạng nguyên (năm 1308) sau khi trổ tài ứng biến qua bài phú “Hoa sen trong giếng ngọc” (Ngọc tỉnh liên phú), thì  tính tiểu nhân của loài chim sẻ qua giai thoại về bức họa chim sẻ đậu cành trúc cứ thế mà lan truyền, được thuộc lòng và trở thành mặc định từ đời này sang đời khác. Điều này khiến cho kiến thức về loài chim sẻ trong các câu chuyện dân gian truyền miệng không có đủ sức để phản biện.  Làm sao những kẻ bé cổ thấp miệng có thể chạm vào những lý lẽ đã được minh định một cách vững chắc?
Thực tế, “chim sẻ” có tính “tiểu nhân” như  trong quan niệm xưa cũ không?
Chúng ta không thể căn cứ vào thân hình nhỏ bé, đầu óc nhỏ bé để kết luận sự thấp kém, thiếu ý chí và tâm địa nhỏ nhen tiểu nhân của loài chim sẻ. Khi khẳng định đặc điểm, tính cách  của một sinh vật, chúng ta chỉ tựa vào thân thể,  hình dáng và thể chất của một sinh vật ấy rồi kết luận qua cảm tính  thôi sao? Hay đơn giản chỉ lập lại những quan niệm của đạo đức xưa cũ? Rồi phớt lờ quá trình quan sát, ghi nhận, và tổng hợp những kết luận xác thực.
 Cho dù  chúng ta đã rõ đặc điểm của loài chim có mỏ quặp như đại bàng/ diều hâu  là loài chim hung dữ và có thể xé tan xác con mồi mà chúng bắt thịt trong khi loài chim sẻ có mỏ nhọn, không quặp là giống chim hiền lành không hề  làm tổn thương con vật khác, chúng ta cũng không thể kết luận rằng chim sẻ hiền hơn đại bàng, hay đại bàng hung ác hơn chim sẻ.  Tương đồng như thế, chúng ta không thể nói những chim sẻ có thân hình nhỏ bé là tầm thường, là không quân tử, không chí lớn như những con chim có thân hình to lớn, hùng dũng như chim đại bàng. Mỗi loài sinh ra trên trái đất có đặc điểm khác nhau và chúng ta không nên so sánh một cách phiến diện và khập khiễng giữa loài này với loài khác, cho dù đồng loại hay khác loài.  Người viết bài này có thể khẳng định rằng: Trong loài chim sẻ, có những con chim sẻ tiểu nhân và cũng có những con chim sẻ quân tử. Trong loài chim đại bàng, có những con chim đại bàng tiểu nhân và những con đại bàng quân tử. Và trong các loài chim khác cũng thế!
 Chúng ta không nên kết luận vội vã rằng: Con chim to lớn có thể bay cao, vượt cuồng phong giữa trời giông bão là uy dũng can đảm, mà chúng ta cần quan sát những con chim sẻ, chỉ dùng chiếc mỏ nhỏ bé của chúng để “khuân/tha” những miếng rơm rạ, vỏ cây, nhành lá to lớn hơn thân thể của chúng gấp đôi ba lần để làm tổ, chúng không dung cảm sao?  Chúng ta cũng cần quan sát cảnh các chú chim sẻ tần tảo bới những đống tuyết cao để kiếm mồi trong mùa đông giá lạnh và sự đoàn tụ quây quần của chúng  khi kiếm ăn hay di chuyển từ nơi này sang nơi khác theo đàn để xóa tan ý nghĩ cho rằng chim sẻ là kẻ tiểu nhân. Gán cho chim sẻ chữ tiểu nhân là cách nhân hóa dựa trên quan điểm đạo đức xưa cũ, và không chính xác.
Trong thực tế, chim sẻ  không phải là  kẻ thiếu ý chí, thích soi mói, chấp nhất những chuyện nhỏ nhặt hay hạ  thấp kẻ khác mà là  loài chim có ích  cho các cánh đồng  nông thôn với hình ảnh nhỏ nhắn, nhanh nhẹn và linh hoạt. Chúng là những con chim chăm chỉ, kiên trì, sống theo đàn một cách hồn nhiên, yêu đời và đoàn kết.
Theo thiển ý của người viết đề tài này là chúng ta cần thấy rõ những điều bất hợp lý trong văn chương Việt để tránh sử dụng lối so sánh khập khiễng, bất hợp lý làm sai ý nghĩa hình ảnh và đời sống của các loài chim.
 Cung Thị Lan
Maryland 17/1/2026