CHU LYNH

Tiểu sử Chu Lynh
Bút hiệu: Tuý Vân, Hồng Thương, Chu Lynh
Sinh tại Quảng Bình
1954: Di cư vào miền Nam
1955-1965: Học tại các trường Institut de la Providence Huế, Bình Minh Huế, Lê Bảo Tịnh Sài Gòn.
Nhập ngũ: năm 1965 tại Trường Sĩ Quan Bộ Binh Thủ Đức. Phục vụ trong ngành Quân Nhu
1975-1979: Đi tù tại hơn 10 trại tập trung tại miền Nam
1995: Định cư tại Virginia, Hoa Kỳ
 Hoạt động
 
2005: Thành lập Câu Lạc Bộ Đằng Phương (lấy bút hiệu Đằng Phương của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy).
2007: Phát hành các phim tài liệu:
      Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, Thân Thế và Sự Nghiệp
      Di sản Nguyễn Ngọc Huy
      A Fighter for Democracy in Vietnam
      Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, Nhà Chí Sĩ Thời Đại (sách)
2010: Đồng sáng lập Viettnam Film Club cùng với Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích
2008-2022: Lần lượt phát hành bằng DVD hoặc YouTube các phim tài liệu:
Hồn Việt Quốc Kỳ Quốc Ca Việt Nam (Ấn bản Việt ngữ)
The Soul of Vietnam, Vietnamese Flag And Anthem (Ấn bản Anh ngữ)
Ho Chi Minh, The Man And The Myth (Song ngữ Anh-Việt. Hợp tác với Saigon For Saigon Movement)
Cải Cách Ruộng Đất
Nhân Văn Giai Phẩm (Song ngữ Anh-Việt)
Thảm Sát Tại Huế
Thảm Sát Tại Cai Lậy
Trại Tập Trung
Đại Họa Mất Nước
Thảm Họa Bắc Thuộc
Hồn Tử Sĩ, Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa (Song ngữ Anh-Việt)
Nguyễn Ngọc Bích, Tấm Lòng Cho Quê Hương
Chết Cho Đoàn Chiên, Linh Mục Trương Bữu Diệp
Le Van Khoa, A Lifetime Of Arts (Song ngữ Anh-Việt)
Australia, The New Homeland (Song ngữ Anh-Việt)
Nhà Việt Nam Hoa Thịnh Đốn Hai Mươi Năm Hoạt Động (Song ngữ Anh-Việt)
Vụ Ám Sát Giáo Sư Nguyễn Văn Bông (Song ngữ Anh-Việt)
Bùi Tín và Hồ Chí Minh (Phỏng vấn)
Ngọc Đan Thanh theo mệnh nước nổi trôi (Phỏng vấn)
Đặng Chí Hùng và Đỗ Thị Minh Hạnh (Phỏng vấn)
Nguyễn Xuân Nghĩa và Thảm Họa Bắc Thuộc (Phỏng vấn)
2022: Phát hành Mảnh Da Vàng (sách)
Phim My South Vietnam (Sắp phát hành)
Carlyle Thayer, Uwe Siemon-Netto, Stephen Young, Đạo diễn David Satter, Nhà văn George Jay Veith, Phillip Roddock… (Phỏng vấn)
 Sở thích:
Làm phim tài liệu về chiến tranh Việt Nam và văn hoá nghệ thuật.
Viết về quê hương Việt Nam
 
Website của Vietnam Film Club:
www.vietnamfilmclub.org
Liên lạc:
vnfilmclub@gmail.com
chulynh@gmail.com
September 10, 2022
Phỏng vấn Vietnam Film Club về ngày 10/9/2022
Đài truyền hình HTĐ phỏng vấn Chu Lynh

Ấn bản mới song ngữ Anh-Việt: Video phim “Vụ Ám Sát Giáo Sư Nguyễn Văn Bông”
Em Phải Sống
Chu Lynh



Cắm xong ba nén nhang, tôi nhìn vào bức hình của anh trên bàn thờ. Đại uý Nguyễn Tường Lân trong chiếc áo trận bạc màu, mất ngày 25.9. Hôm nay là ngày giỗ thứ hai mươi của anh.


Bỗng tôi thấy anh nhìn tôi bằng cặp mắt kỳ lạ. Mọi thứ chung quanh như mờ dần. Mắt tôi chao đi. Không còn hoài nghi gì nữa, đôi mắt của anh trong ngày về phép cuối cùng đang trở về trên bức hình này. Tôi rùng mình. Có phải anh Lân muốn nói với tôi điều gì?
 
Tôi với tay lấy tờ báo đầy tro trên bàn thờ. Tờ đặc san Cảm Thông của Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp vận phát hành năm 1970. Tất cả những gì tôi còn giữ của anh là tấm ảnh này, chụp trong chuyến đi Nha Trang năm 1969 và tờ Cảm Thông có được từ gia đình anh tại Sài Gòn mấy ngày trước khi tôi vượt biên.
 
Ngồi xuống ghế, tôi mở tờ báo ra, nhằm ngay tựa đề “Chiến trường Đức Lập, ai sẽ sống sót”, bài viết cuối cùng của anh về những ngày khốc liệt trên chiến trường Đức Lập. Trong bài viết, anh mô tả xác bạn xác thù nằm chồng lên nhau là hình ảnh tiêu biểu nhất của chiến tranh Việt Nam.


Hôm nay đọc lại bài viết, những hình ảnh quá khứ bỗng trở về rõ rệt. Từng bước chân hai đứa đã đi trên các nẽo đường thành phố cao nguyên. Bài viết như là hình ảnh thu nhỏ về cuộc chiến anh tham dự. Anh mỗi ngày đối mặt kẻ thù ngoài mặt trận. Tôi hằng giờ thấp thỏm chờ tin ở hậu phương.
 
“Chiến trường Đức Lập, ai sẽ sống sót”. Thân xác anh đã về với tro bụi, nhưng hơn ai hết, hôm nay tôi biết anh đang sống bên hai mẹ con tôi. Những đồng đội một thời binh lửa với anh chắc khó mà quên được người chỉ huy sống chết với binh sĩ ngoài mặt trận.
 
Tôi nhìn lên bàn thờ lần nữa, đôi mắt anh như một lời nhắn hãy theo anh về lại mảnh đất miền Nam vấy máu, và một cuộc tình vỡ tan bởi mảnh pháo trên ngực người lính hai mươi năm trước…
 
Ngoại ô Ban Mê Thuột. Năm 1967.
 
Đang đẩy chiếc xe đạp lên bậc thềm, tôi nghe tiếng xe jeep trước cổng nhà. Anh Hai bước xuống xe. Dặn dò gì đó với tài xế rồi anh bước vào nhà. Thấy tôi, anh reo lên:
 
– Anh đang cần em đây.
– Có chuyện gì vậy anh?
– Chị Hai đã ra phi trường đón chú Khang. Vy đi với anh đến câu lạc bộ sĩ quan.
– Chỗ lính tráng em đến làm gì?
– Không có chuyện gì, chỉ là đi ăn thôi.
– Không có chị Hai mới nghĩ đến em phải không?
– Bậy nà.
 
Từ nhỏ đến giờ tôi ít khi từ chối anh điều gì, nhưng vẫn tìm cách thoái thác.
 
– Nhưng em đâu có áo quần đi ăn, chẳng lẽ mặc áo dài trắng?
– Vy mặc đầm của chị Hai cũng vừa mà.
 
Tôi đành làm thinh. Vắng chị Hai, căn nhà trống trải.
 
– Anh có người bạn vừa về hậu cứ. Anh mời ăn cơm tối nay ở câu lạc bộ. Bạn cùng khóa rất thân. Vy đi với anh.
 
Cái lối xưng tên em gái làm tôi dễ xiêu lòng. Chợt nghĩ tôi có khi nào lạc vào rừng gươm của người lính, nghe nói họ nỗi tiếng táo bạo, tán tỉnh bất kể chữ nghĩa. Có anh Hai bên cạnh, tôi cứ thử một lần cho biết lính tráng có gì ghê gớm không.
 
Nhìn vào kiếng tôi thấy khuôn mặt nữ sinh ngây ngô của mình ửng đỏ. Chưa có người yêu, chưa biết vẻ vời, vậy mà hôm nay tôi có một cảm giác là lạ. Chiếc váy hồng nhạt của chị Hai cũng vừa thân hình. Bắt chước chị Hai, tôi cũng tô chút son môi hồng.
 
Đứng trước mặt anh Hai, tôi hơi lúng túng trong chiếc váy. Anh như giám khảo đang ngắm nghía thí sinh trước khi chấm điểm.
 
– Em lớn hồi nào anh không hay. Từ hôm nay anh phải để mắt đến em mới được.
– Em còn ở tuổi học trò mà. Hay anh bày đặt tán tỉnh giùm ai đây?
 
Chú tài xế trở lại đón chúng tôi.
 
Câu lạc bộ sĩ quan nằm cạnh Tiểu khu quen thuộc với tôi vì thỉnh thoảng ra phố thường đi qua con đường Thống Nhất này, nhưng lần đầu tiên tôi bước vào bên trong. Anh Hai cho biết câu lạc bộ dành cho sĩ quan, có nấu cơm tháng, cuối tuần có ca nhạc và nhảy đầm. Bước vào cửa tôi thấy những chiếc bàn vuông có nhiều sĩ quan đang ăn cơm. Anh Hai đảo mắt về phía quầy rồi đưa tay chào người nào đó.
 
Vửa ngồi xuống, thì một sĩ quan mang cấp bậc trung uý tiến lại gần. Anh Hai bắt tay rồi nhìn tôi giới thiệu:
 
– Đây là anh Lân, cùng khoá với anh mới về từ Đức Lập. Còn đây là em gái tao, Thụy Vy.


Anh Lân gật đầu chào tôi, nét mặt buồn buồn. Anh Hai gọi thức ăn, bia lạnh và một ly đá chanh cho tôi. Tôi lặng lẽ quan sát hai người nói chuyện. Suốt bữa ăn, anh Lân chỉ hỏi tôi vài câu về chuyện học hành, xem ra đầu óc để đâu đâu, thỉnh thoảng liếc nhìn tôi rất nhanh rồi lại tiếp tục câu chuyện chiến trường.
 
Thì ra họ là bạn cùng trường Quốc Học ngoài Huế, thi Tú Tài II xong là rũ nhau vào trường Võ Bị Đà Lạt. Hai người lính xưng hô mày tao như hai cậu học trò thân thiết ngày xưa. Tôi ngồi im làm quen với chữ nghĩa của lính đánh giặc, bao lâu nay không có cơ hội biết đến.



Nhìn kỹ mới thấy anh Lân phong sương hơn anh Hai nhiều, có lẽ là lính ngoài mặt trận trong khi anh Hai đã về hậu cứ, thong dong hơn những năm trước đây lăn lóc nơi các tiền đồn ở Quãng Đức.
 
– Mầy về nhà tao chơi một lát rồi đi đâu thì đi. Bà xã tao có hỏi dạo này không thấy mầy với Diễm ghé nhà.
 
Anh Lân vẫn làm thinh. Ăn xong, anh biểu tài xế lái một vòng phố Ban Mê Thuột. Đến đường Quang Trung, anh đưa tay ra dấu chậm lại. Nơi đây có một dãy quán bar dành cho lính Mỹ. Đèn quán vừa bật sáng. Tôi liếc thấy bên trái tên bảng hiệu Kim Bar kết đèn màu. Anh Lân cũng nhìn bảng tên này thật lâu, nhưng không có vẽ gì muốn tài xế ngừng xe lại. Tôi lạ lẫm về dãy quán này, cũng lạ lẫm về thái độ của hai người lính.
 
Về đến nhà, đã thấy chị Hai đang sửa soạn cơm tối. Chị cho biết chú Khang đã vào Châu Sơn ở lại với ba mẹ. Anh Hai bảo tôi ở lại, đằng nào ba mẹ cũng biết, vì cuối tuần tôi thường ra đây dọn dẹp nhà cửa cho anh chị rồi ngủ lại.
 
Sau bữa cơm, chị Hai chợt hỏi anh Lân:
 
–          Sao hôm nay Diễm không đi theo?
 
Anh Lân không trả lời ngay, một lúc sau mới nói từng tiếng một:
 
– Chuyện buồn về Diễm.
 
Anh Hai ngạc nhiên hỏi.
 
– Diễm có chuyện gì?
– Mầy nhớ con Thu làm chung với Diễm ở Kim Bar đường Quang Trung? Nó nhờ người ở Truyền Tin gọi cho tao.
– Nhớ. Nhưng có chuyện gì?
 
Anh Lân lặng đi một lúc rồi nghẹn lại.
 
–          Diễm mất rồi. Tao vừa ghé thăm mộ.
 
Anh Hai biến sắc. Chị Hai sững sốt la lên. Anh Lân chùng xuống. Đang dọn dẹp phòng khách, tôi bỗng quay nhìn anh Lân thật kỹ. Cô Diễm nào đó là người con gái quan trọng của đời anh đã mất. Tôi nhớ lại khuôn mặt anh Lân buồn buồn tại câu lạc bộ, và mắt anh nhìn thật lâu vào quán Kim Bar khi qua đường Quang Trung.



– Diễm bị ung thư mà không biết. Hay Diễm biết nhưng không nói ra, kể cả gia đình. Tao cũng không biết. Chỉ thấy Diễm yêu đời hơn, sống những ngày hạnh phúc trọn vẹn mỗi lần tao về thăm.
 
Tôi cứ đứng đó lặng người nghe anh Lân nói về Diễm. Cái chết của Diễm thật bất ngờ, chỉ hai ngày sau khi nhập viện vì ung thư phổi. Tự nhiên tôi thấy thương cô gái xa lạ ấy. Mà sao anh Lân lại yêu một cô gái bán Bar, và anh chị Hai lại quan tâm đến cô gái này?
 
Sau nầy tôi được chị Hai kể về mối tình của họ. Không phải mối tình của người lính ngang tàng với cô gái buông thả. Họ yêu nhau từ tuổi học trò ở Nha Trang, lạc mất nhau vì chiến tranh, gặp lại nhau trên đường phố Ban Mê Thuột. Họ có đến thăm anh chị Hai mà tôi chưa lần nào gặp. Đêm đó, không hiểu sao tôi cứ trằn trọc nghĩ đến anh Lân.
 
Sáng sớm, tôi quyết định theo anh Hai vào phi trường L19 tiễn anh Lân lên trực thăng về đơn vị. Trên xe anh Lân ngồi với tôi ở băng ghế sau, có vẽ chú ý đến tôi chứ không lạnh lùng như hôm qua. Nét mặt vẫn thế, buồn, trầm lặng nhưng bình thản hơn.
 
Tôi làm một việc mà sau này nhớ lại thấy mình đi quá nhanh, nhưng tôi không hối tiếc. Tôi xin địa chỉ đơn vị anh Lân.
 
Vẫy tay chào anh Lân khi trực thăng rời mặt đất, tôi có một cảm giác khác lạ, như thể đã coi anh là một người thân trong gia đình.
 
Lá thư đầu tiên tôi gởi đi sau mấy tuần lễ đắn đo. Tôi nhận thơ anh khoảng hai tuần sau đó. Anh cám ơn tôi đã tiễn anh lên máy bay, chúc tôi học hành chăm chỉ. Chỉ thế thôi.
 
Tôi trở lại lớp học với chút vấn vương như làn khói nhẹ lững lờ trong đầu.
 
Rồi những lá thư tiếp theo tôi viết về cảm xúc của đứa con gái hậu phương mỗi khi nghĩ đến người lính đang chiến đấu ngoài mặt trận. Tôi bắt đầu nghe tin tức chiến sự chị Hai đọc trên đài phát thanh, các chương trình tiền tuyến hậu phương, vào tiệm sách mua những bản nhạc về lính. Anh Lân khuyên tôi chỉ nên quan tâm việc học hành, chuyện chiến sự là chuyện của người lính.


Xem ra lời anh khuyên chẳng tác dụng, vì tôi đã thành người lớn rồi, biết nghĩ tại sao tôi được tung tăng vào lớp học. Như có ai đã mở đầu óc cô nữ sinh khờ khạo này. Tôi thương anh Hai nhiều hơn, thường xúc động khi nhìn những người lính lầm lũi trong mưa đi qua khung cửa sổ nhà tôi.
 
Tôi không xao lảng việc học, ngược lại càng chăm chỉ hơn. Cả lớp ngạc nhiên về sự thay đổi của tôi, không còn nghịch phá đám con trai, không còn nhiều chuyện với đám con gái. Anh chị Hai hài lòng, ba mẹ tôi vui, mấy đứa em có người chị nghiêm nghị hơn trước.
 
Những lá thư đều đặn qua lại, có chút lo lắng, có chút quan tâm, nhiều thứ dặn dò lẫn nhau đẩy tôi lại gần anh hơn. Tôi cảm thấy những lá thư ngầm chứa một thứ tình cảm khác thường vừa nẩy mầm. Đi lễ, tôi cầu nguyện cho anh được bình yên trong các cuộc hành quân. Tôi hẹn ngày Giáng Sinh anh về đi lễ với tôi, sẽ quỳ thật lâu bên hang đá cầu nguyện khi không còn ai trong nhà thờ.
 
Tôi tìm nghe những bản nhạc về Giáng Sinh nói về tình yêu người con gái hậu phương dành cho người lính tiền tuyến xem tình yêu quê hương lớn hơn mọi thứ. Nhưng gần như mọi bài hát đều không có đoạn kết “tay trong tay khi đất nước thanh bình”, mà hầu hết người lính đều nằm xuống ngoài chiến trường. Có phải đó là số phận của người con gái hậu phương trong thời chiến?


Tôi không biết đã yêu anh từ lúc nào, từ những lá thư qua lại thường xuyên, từ nỗi buồn chiến tranh của anh, từ hình ảnh người lính xông pha nơi chiến trường, hay vì định mệnh đã đưa chúng tôi đến với nhau?
 
Chuyện buồn về cô Diễm không hề nghe anh nhắc đến lần nào, nhưng tôi tin anh đã để vào một góc kín nào đó trong tim. Tôi cũng kín đáo tôn trọng nỗi buồn của anh.
 
Ngồi trên hàng ghế cuối lớp học, tôi nhớ anh da diết. Tôi nghĩ mình không thể sống xa anh được. Tôi viết lên cuốn tập: “Anh Lân, em đã yêu anh”.
 
Đó là buổi chiều se lạnh, mưa lất phất, bầu trời quen thuộc của thành phố “buồn muôn thuở” vào mùa mưa. Những lá thư không đũ cho tôi vơi bớt nỗi nhớ anh. Tôi đến hậu cứ Trung đoàn của anh Hai để nói chuyện với anh Lân qua máy vô tuyến.
 
Chiến trường nào đó tôi không biết, chỉ biết anh sống giữa bom đạn, hầm hố và hỏa châu. Đã ba năm yêu nhau, anh vẫn không cho tôi đến nơi đóng quân của anh. Suốt tháng nay, tôi không một tin tức về anh ngoài vài lần nghe anh Hai nói anh vẫn bình yên.
 
Tôi run run cầm ống nghe. Anh Lân đang ăn cơm chiều với binh sĩ dưới hầm phòng thủ. Tôi xúc động đến phát khóc khi nghe anh mô tả bữa ăn với gạo sấy và lương khô. Toán lính gỏ loạn vào nồi niêu chào mừng người yêu của lính. Họ cười vang, lại còn trêu chọc tôi mít ướt. Sống giữa bom đạn mà họ vẫn lạc quan yêu đời.
 
Tôi bắt anh kể chuyện tiền đồn, chuyện những người lính của anh sống như thế nào giữa núi rừng.
 
Qua điện thoại, giọng anh nghe khác lạ, nhưng lại ấm áp, hơi thở như phà vào tai tôi. Thỉnh thoảng có tiếng gió rít xen vào khó nghe. Rồi có tiếng một người lính hỏi tôi có em gái nào chịu viết thư cho lính không.
 
Trong một giây, không ngăn được lòng mình, tôi nói thật chậm “Anh Lân, em sẽ yêu anh suốt đời”. Nói xong, nước mắt tôi lăn dài trên má. Những giọt nước mắt sung sướng vì yêu, thật lòng cảm thương người lính gian khổ. Anh Hai ngồi kế bên cười tủm tỉm.
 
–          Sao bây giờ mới chịu nói?
 
Tôi nguýt anh Hai một cái dài:



– Tại em muốn … để dành chứ bộ.
 
Đó là khoảnh khắc tôi nhớ suốt đời. Vâng, em yêu anh và không bao giờ hối tiếc đã xin địa chỉ lính của anh khi chưa biết anh là ai.
 
Bao nhiêu người tìm cách an thân thì anh Lân cứ miệt mài với những trận đánh. Đơn vị anh hành quân liên miên, hết quy mô đến lẻ tẻ, đụng độ du kích đến lính chính quy. Anh nói không thể tin được tụi lính Bắc chỉ là những đứa trẻ non choẹt đáng lẽ đến trường thì lại xung phong vào Nam đánh Mỹ cứu nước. Có một lần, anh Hai đùa với anh Lân:
 
– Mầy cẩn thận nhìn cho kỹ mấy đứa cháu tao ở Bắc Ninh vào Nam mà tha cho tụi nó.
 
Anh thường nói về số phận đáng quý nhưng lại bọt bèo của người lính ngoài chiến trường. Anh rất hiền khi về phép, nóng tính ngoài mặt trận, nhưng rất thương lính, quan tâm vợ con họ trong trại gia binh. Tôi nghĩ khó mà làm anh thoát ra khỏi nỗi buồn chiến tranh. Những lá thơ của anh thường viết về hai điều. Chuyện về người lính trận và chuyện tình yêu của chúng tôi. Đây là một đoạn:
 
“Người Việt đang giết người Việt. Vì đâu ra nông nổi này? Miền Nam bình yên không cần ai đến đây. Sao lại có cộng sản trên mảnh đất sung túc của chúng ta rồi phất cờ giải phóng? Sao lại có quân viễn chinh đến đây? Họ tạo ra cuộc chiến để bán vũ khí, để đạt tham vọng, nhưng lại nhân danh bảo vệ tiền đồn của thế giới tự do.
 
“Người Việt sinh ra giữa cơn gió đồng nội, hài lòng với đám trẻ quê mùa ê a trong lớp học, hạnh phúc giữa tiếng pháo giao thừa trong xóm nghèo. Người Việt được nuôi sống và tồn tại bởi hơi thở của tổ tiên. Có quá nhiều hình ảnh đau thương ngoài chiến trường hay ở hậu phương vẫn không làm thế giới thổn thức.
 
“Trước mắt, anh phải đưa tay bóp cò súng loại trừ kẻ thù để sống sót. Biết rằng ngày nào đó mình sẽ ngã xuống. Trước khi ngã xuống, người lính phải hiểu rằng họ hy sinh không phải cho một chế độ, cho một số người, mà cho mảnh đất đã sinh ra mình, đã nuôi nấng mình thành người Việt Nam”.
 
Ban Mê Thuột, 1970.
 
Tan học, tôi không về nhà mà đến nhà anh Hai vì cảm nặng ngay trong lớp, có lẽ tôi đã đi bộ dưới mưa ngày hôm trước. Anh Hai đã vào Trung đoàn từ sáng sớm, chị Hai thì có chương trình ở đài phát thanh Đắc Lắc. Tôi thành bệnh nhân không ai chăm sóc nằm mê man trên giường.
 
Khi thức giấc, tôi mờ mờ thấy một người đàn ông ngồi bên giường. Tôi giật mình nhận ra chiếc áo trận quen thuộc. Anh Lân.
 
Tôi đoán anh đã ngồi nhìn tôi lâu lắm. Chuyến về phép nào của anh cũng ngắn ngủi và không khi nào tôi được báo trước. Trước khi tôi đưa hai tay quàng lên cổ anh, thì anh cúi xuống. Tôi nhắm mắt chờ đợi, nhưng anh chỉ nhìn tôi một lúc rồi đưa tay luồn vào mái tóc rối tung của tôi. Anh thường làm cử chỉ này với tôi trước khi nói điều gì đó. Hai đứa nhìn nhau thật lâu, mắt tôi ươn ướt.
 
Một lúc sau anh mới nói:
 
– Anh có ngày năm phép dành cho em.
 
Tin vui bất ngờ làm tôi bật dậy, bắt anh dìu ra phòng khách. Cơn sốt bỗng biến mất. Tôi không nói một lời, vùi đầu vào lòng anh, im lặng nghe anh nói, cảm giác hạnh phúc khi năm ngón tay anh tiếp tục lùa vào mái tóc tôi.
 
Hôm đó anh cứ lẩn quẩn bên cạnh tôi. Không như những lần về phép trước đây, anh thường dẫn tôi đến cây số 14 đi bộ dọc con suối, lên thác nhà đèn chụp hình, đến Buôn Hô quen thuộc uống rượu cần, nói tiếng Pháp với mấy người Thượng lớn tuổi, hay thỉnh thoảng vào Châu Sơn thăm ba mẹ tôi.
 
Sáng hôm sau, anh liên lạc với một người bạn trong phi trường L19 xin quá giang hai chỗ về Nha Trang. Tôi thấy anh khó hiểu, nhưng vẫn ngoan ngoãn theo anh. Đi đâu cũng được, chỉ cần có anh bên cạnh, người đàn ông thâm trầm, lắm bạn bè mà lại cô độc, gắn bó với gia đình mà vẫn lẻ loi, nhiều gian truân nhưng lại thích khôi hài.
 
Thật bất ngờ, anh Hai không phản đối chuyến đi của tôi. Tại anh muốn chiều tôi hay anh và anh Lân đều là những người lính quý cái hiện tại hiếm có này?
 
Trước khi đến Khánh Dương, chiếc trực thăng bay vào một thung lũng hẹp giữa hai dãy núi. Tôi sợ hãi vì phi công lượn quanh co theo sườn núi đến chóng mặt. Anh Lân cho biết đó là chuyến bay cuối ngày về Bộ Chỉ Huy ở Nha Trang sau một ngày quần thảo trên rừng Quảng Đức. Anh nói tụi Mỹ ngán phi công Việt Nam gan lì, họ thường liều lĩnh cứu phi công Mỹ, trong khi tụi Mỹ cần tới cả phi đội.
 
Lần đầu tiên tôi phiêu lưu vào thế giới người lính trận. Liếc nhìn hai phi công rồi nhìn anh Lân, tôi thực sự thấy mình quá bé nhỏ trước những người lính ngang tàng coi thường sinh tử. Nắm chặt tay anh Lân, mắt tôi rươm rướm nhìn anh. Chắc anh hiểu tôi muốn nói gì.
 
Đến Nha Trang thì trời đã về chiều. Nha Trang không có không khí chiến tranh như Ban Mê Thuột. Màn đêm đã phủ lên thành phố, nhưng đằng sau cái bình yên này, có gì đó đang âm thầm chuyển dịch. Thật không may tình yêu của chúng tôi lớn dần giữa chiến tranh và bất ổn


Hôm nay với tôi, giây phút bên anh lớn hơn bất cứ điều gì chung quanh. Lần đầu tiên tôi đi xa với một người đàn ông. Ngồi trên chiếc cyclo chầm chậm trong buổi chiều êm ái của thành phố biển, tôi nói chậm rãi bên tai anh là tôi không thể sống xa anh được. Anh nhìn thật lâu vào mắt tôi rồi hôn lên môi tôi, cái hôn đầu tiên nóng bỏng của cuộc đời. Người tôi mềm đi trong vòng tay rắn chắc của anh. Bác xích lô dường như đạp xe chậm lại. Tôi nói nhỏ:
 
– Chút nữa cho ông nhiều nhiều tiền nghe anh!
– Nhất quỷ nhì ma thứ ba là …em.



Thay vì nhéo anh, tôi lại rúc đầu vào lòng anh hưởng hạnh phúc đầu đời của đứa con gái hư hỏng, thật sự muốn hư hỏng bên người lính đang bảo vệ đất nước và bảo vệ đời tôi.
 
Hai đứa tắm biển một lúc rồi về khách sạn.
 
Nằm bên anh trong căn phòng nhìn ra biển là một thế giới riêng tư tôi chưa bao giờ nghĩ đến, một hạnh phúc trọn vẹn chưa bao giờ gặp. Hai thân xác quyện vào nhau, truyền cho nhau giòng nước tình yêu chầm chậm chảy vào từng đường gân thớ thịt. Tôi bằng lòng thay đổi cuộc đời cô nữ sinh ngơ ngác để bước qua thế giới tình yêu lạ lùng khiến tôi có thể chết đi trong vòng tay của anh. Tôi đã nhận ra đây đích thực là tình yêu, anh Lân đích thực là người đàn ông của cuộc đời tôi.
 
Lúc này tôi không muốn nghe anh kể chuyện chiến trường, chỉ muốn nghe anh kể về tuổi thơ của anh. Những ngày thơ ấu của anh ở trường nội trú, những năm lang thang nhiều nơi tìm kế mưu sinh để tiếp tục học hành, hay quãng đời quân ngũ lăn lộn theo chiến tranh của anh.


Anh nói anh không có giấc mơ nào, cũng không thể làm gì cho riêng anh trong những ngày chiến trận sôi bỏng này. Tôi nhận ra tình yêu của chúng tôi giá trị như thế nào khi gạt ra những giấc mơ hay dự tính, để yêu nhau thật trọn vẹn và chấp nhận những gì xảy đến. Không biết tôi đang lãng mạn hay đang thách thức cuộc đời khi cho anh tất cả, thân xác này và cả sự lo lắng mạng sống của anh ngoài mặt trận.
 
Sáng sớm, hai đứa lại quấn quýt nhau. Mỗi động tác đều mới mẻ đến mê mẩn, mỗi khoảnh khắc yêu nhau là những hạnh phúc Trời ban chuyền cho nhau, như thể không biết sẽ có lần nữa với tôi trong đời.
 
Chiến tranh như bóng ma lởn vởn ngày đêm làm chùng lại mọi toan tính. Chúng tôi không có chuẩn bị nào cho ngôi nhà tương lai. Chúng tôi chỉ biết yêu nhau và yêu nhau. Anh cũng chưa có dịp đưa tôi về giới thiệu gia đình anh tại Sài Gòn. Cũng nhờ anh chị Hai mà cha mẹ tôi không hối thúc chuyện hôn nhân.
 
Một buổi sáng Chủ Nhật anh Lân về phép rồi cùng tôi đi lễ nhà thờ Châu Sơn. Sau thánh lễ, quỳ dưới tượng Chúa, chúng tôi có một ý nguyện chung là giao phó tình yêu cho đấng Tối Cao định đoạt. Tôi có những cảm giác khác nhau sau lời cầu nguyện. Lòng tin vào sự che chở của Chúa, hạnh phúc về tình yêu anh dành cho tôi, nhưng vẫn lo âu cho những ngày sắp tới về số phận người lính trận giữa bom đạn gầm thét không biết ngày nào chấm dứt.
 
Anh Hai lấy chiếc Honda 67 chở tôi chạy như bay khi nghe nhân viên hậu cứ báo trực thăng đang đưa thương binh về Trung đoàn.
Hình như anh Lân có tên trong danh sách thương binh. Tôi không khóc nhưng nước mắt cứ trào ra.


– Nhanh lên anh Hai, em nóng ruột lắm! Anh Lân bị thương ở đâu? Sao không đưa vào quân y viện mà đưa về hậu cứ?



Anh Hai phóng xe vù vù mà tôi cứ hối thúc anh chạy nhanh hơn nữa.
 
Đến doanh trại, đã thấy một chiếc trực thăng trên bầu trời đang giảm tốc độ. Trực thăng quạt mạnh vào những mái tôn, thổi tung bụi mù trong lúc đáp xuống. Tôi nhìn thấy hai người lính nhanh chóng lôi từng chiếc băng ca ra khỏi trực thăng. Máy bay vụt lên không, lao đi về phía phi trường Phụng Dực.
 
Năm chiếc băng ca được đưa vào một nhà kho trống. Hai anh em tìm anh Lân giữa năm bao đựng xác. Tôi hiểu tạo sao máy bay không đáp xuống quân y viện. Anh Hai kéo tôi đến một bao xác, rồi kéo dây mở ra. Hai vũng máu khô trên thân thể người lính.
 
Không phải anh Lân. Nhưng khi thấy bảng tên Lân trên túi áo lem luốc máu, tôi nhìn vào đôi mắt dường như còn hé mở của anh, tôi thét lên. Anh Lân!
Mắt tôi mờ đi. Tôi gục xuống ngực anh như một cái xác rồi không biết gì nữa.
 
Tỉnh dậy, tôi thấy mình nằm giữa những thương binh trong Quân y viện Ban Mê Thuột. Chỗ này không phải dành cho tôi, là chỗ dành cho anh Lân. Anh phải được sống.
Anh Hai đang nói chuyện với bác sĩ. Thấy tôi tỉnh lại, anh mừng rỡ, nhưng nỗi buồn thật nặng nề trên khuôn mặt.
 
– Em cần nghỉ ngơi cho khoẻ lại.
– Không. Em không cần nghỉ ngơi. Em muốn về lại hậu cứ. Em sẽ ở bên cạnh anh Lân, em sẽ làm bất cứ điều gì một goá phụ phải làm.
 
Anh Lân được liệm vào quan tài đặt trong doanh trại Trung đoàn, nhưng nắp vẫn để hở chờ gia đình anh ở Sài Gòn ra. Trên đầu anh là cây thánh giá, bức ảnh của anh lấy từ album của tôi phóng lớn ra. Hai bên quan tài có hai sĩ quan gác xác đứng nghiêm như pho tượng. Sĩ quan và binh sĩ lần lượt đến thắp nhang, nhiều người nước mắt dàn dụa.
 
Tôi, cô học trò Thụy Vi, người vợ chưa bao giờ cưới của anh Lân, không khăn tang trên đầu, lễ phép cúi chào đáp lễ từng người đến thắp nhang. Trong căn phòng nghi ngút khói nhang, tất cả đang là những nhân chứng cuối cùng tiếc thương, đau đớn, uất nghẹn về người lính trận Nguyễn Tường Lân đã ngã xuống chiến trường Đức Lập.
 
Tôi phải tỉnh táo ở bên anh, thu vào mắt những khoảnh khắc cuối cùng trước khi đưa anh vào lòng đất. Hơn ai hết, tôi hiểu sự hy sinh của anh lớn lao như những giòng chữ anh đã viết cho tôi:


“Trước khi ngã xuống, người lính phải hiểu rằng họ hy sinh không phải cho một chế độ, cho một số người, mà cho mảnh đất đã sinh ra mình, đã nuôi nấng mình thành người Việt Nam”.
 
Đại uý Nguyễn Tường Lân mất ngày 25 tháng 9 năm 1971, cùng ngày anh nhập ngũ.



“Chiến trường Đức Lập, ai sẽ sống sót” bài anh viết như một lời báo trước về số phận của chính anh, hơn là viết cho độc giả.
 
Ước nguyện một mái nhà cho hai kẻ yêu nhau đã tan thành mây khói. Không còn hình ảnh hai đứa quỳ bên hang đá cầu nguyện, không còn những lá thư, không còn hẹn hò, không bao giờ tay trong tay cho cuộc đời.
 
Trước khi nằm xuống, anh Lân đã không biết một điều quan trọng. Tôi mang thai trong chuyến về phép cuối cùng của anh. Anh không biết mặt con. Bé Thụy Vân chỉ biết cha mình qua khung hình trên bàn thờ hay qua những câu chuyện tôi kể.
 
Anh mất đi, ba mẹ tôi mang vào lòng nỗi buồn đứa con bất hạnh. Khi biết tôi có thai, mọi người có những phản ứng khác nhau. Anh chị Hai là những người nâng đỡ tôi khỏi rơi xuống hố tuyệt vọng.


Tôi quyết định nghỉ học tìm việc làm. Với tôi, đứa con sắp chào đời quan trọng hơn mọi thứ. Không có anh để đặt tên cho con, tôi đã ghép tên tôi và bút hiệu của anh thành Thụy Vân để nó mang hình ảnh của ba mẹ nó suốt đời.
 
Tuổi thanh xuân của anh dành cho chiến tranh, anh chết cho quê hương nơi chiến trường. Nhưng may mắn, anh đã ra đi trước ngày miền Nam mất. Anh thoát khỏi những trại giam tàn độc của quân thù. Anh khỏi nhìn thấy quê hương tan tác sau 75. Anh không phải lênh đênh trên biển cả tìm đường sống.
 
Anh Hai trong trại tập trung, chị Hai khốn đốn tìm đường mưu sinh vì nhà cửa bị chiếm đoạt. Cũng may cha mẹ tôi còn đất để cày cuốc.
 
Nhưng hai mẹ con tôi phải rời khỏi mảnh đất này. Tôi tin anh Lân muốn mẹ con tôi ra đi. Tôi bất chấp mọi can ngăn của gia đình, bất chấp mọi rủi ro trên đường đi. Tôi nói thầm với anh Lân suốt cuộc hành trình bằng đường bộ: “Hãy bảo vệ mẹ con em đến nơi an toàn”.
 
Cuộc hành trình đầy rủi ro, nhưng tôi tin anh Lân là tấm thẻ hộ mệnh cho hai mẹ con. Sau bảy ngày lẩn trốn trên đất Miên, rồi cuộc băng rừng gian nan qua biên giới Thái Lan, mẹ con tôi đến được trại Panatnikhom.
 
Tôi đứng lên đặt tờ báo trở lại trên bàn thờ, bước đến bên cửa sổ, vén màn nhìn ra vườn. Cánh rừng sau khu vườn bây giờ trần trụi chờ mùa đông đang đến gần. Tôi cố tìm bóng anh ẩn hiện đâu đó giữa những thân cây, ước gì thấy anh bước trên khu vườn phủ đầy lá khô tiến về phía tôi.
 
Hôm nay ngày giỗ thứ hai mươi của anh, cộng với ba năm yêu nhau, tôi vẫn là người vợ không có ngày cưới. Tôi không được là góa phụ chít khăn tang cho chồng. Tôi không có khăn tang may bằng vải trắng. Khăn tang của tôi kết bằng nước mắt và đau đớn. Tôi không ngờ mình đã để tang anh trong lòng đến tận hôm nay, như một goá phụ thủ tiết thờ chồng.



Có tiếng chân bước vào phòng, tôi quay lại. Vân và Quý đã về nhà. Hai đứa vừa đi tham dự buổi hội thảo của AEI tổ chức bên Washington D.C.
 
–  Tụi con về hơi trễ, vì ghé tiệm mua hoa cho ba.
– Hoa đẹp lắm. Thắp nhang cho ba đi.
 
Vân và Quý cùng bước lên cắm hoa vào bình rồi thắp nhang. Nhìn hai đứa đứng yên một lúc trước khi vái lạy, tôi nghĩ đến căn nhà sắp có thêm một đứa con.
 
Tôi không có gì lo lắng về bạn trai của con gái. Quý là du học sinh, con của một sĩ quan bị kẹt lại Việt Nam vì không đủ điều kiện định cư theo chương trình HO. Học xong là xin ở lại. Quý đang học về Political science. Nó quen con bé trong một thư viện.
 
Chuyện tôi vượt biên suông sẻ, cuộc sống của hai mẹ con bình yên nơi đất khách quê người, chuyện hai đưa đến với nhau, dường như mọi thứ xảy ra theo một trình tự ai đó đã sắp đặt.
 
– Mẹ đã nấu cơm rồi. Hai đứa đói chưa?
– Tụi con chưa đói. Quý lên tiếng.
– Qua D.C. có gì vui kể cho mẹ nghe.
 
Vân nở nụ cười thật tươi. Con bé luôn luôn cười với bất cứ ai trò chuyện với nó.
 
– Sau hội thảo, tụi con ở lại nói chuyện với một giáo sư người Mỹ. Ông này nói tiếng Việt rất giỏi. Ông còn rành lịch sử Việt Nam nữa. Ông còn mời tụi con qua Oregon chơi khi có dịp. Mẹ cũng nên đi xa một chuyến với tụi con.
 
-Để qua mùa tuyết rồi tính. Hôm nay mẹ cho tụi con xem một bài viết của ba cách đây hơn hai chục năm.
 
Tôi đứng dậy định lấy cuốn đặc san trên bàn thờ thì Quý đưa tay bảo tôi ngồi xuống.
 
– Con biết mẹ muốn nói bài viết của ba trong tờ báo Cảm Thông phải không? Tụi con đã đọc mấy lần rồi.
 
Thật ngạc nhiên vì tôi để cuốn báo trên bàn thờ chỉ mấy tuần nay, sau bao nhiêu năm cất kỹ trong tủ.
 
– Hai đứa đọc hồi nào?
– Tụi con đánh được hơi của ba mà.
– Tụi con nghĩ gì sau khi đọc bài của ba?
 
Vân nghiêm mặt lại, cặp mắt hơi buồn:



– Con đọc xong là khóc quá chừng. Không ngờ mẹ giữ được bài viết của ba. Anh Quý rất xúc động cho rằng không có bài viết nào hay hơn được. Con nghĩ bài viết là di sản ba để lại. Tụi con hiểu được tình yêu của mẹ dành cho ba và sự hy sinh của ba cho đất nước.
 
Quý tiếp lời:


– Vân và con đã nói chuyện với nhau rất nhiều về bài viết của ba. Con nhận ra ba đã gián tiếp để lại bài học cho tụi con về xây dựng gia đình và có trách nhiệm với đất nước mình.
– Con nói rõ hơn.
– Con đã nghĩ nhiều đến tựa đề “Chiến trường Đức Lập, ai sẽ sống sót”. Con không hiểu được ý ba khi đặt tựa đề. Có thể hiểu rằng sau khi chiến trường chấm dứt, bên nào sống sót sẽ làm chủ chiến trường. Riêng con thì rất thích bốn chữ “ai sẽ sống sót”. Con nghĩ điều gì sống sót sau trận địa, đó là sự hy sinh chứ không phải thân xác người lính. Con đã hiểu được điều đó.
 
Bạn bè của con trong nước vẫn tìm đọc tài liệu của những tác giả hải ngoại, không những về chính trị mà còn về hệ thống giáo dục và văn hoá của miền Nam trước năm 1975. Con muốn nói là chúng con phải tìm về nguồn.
– Những gì con nói là do ba mẹ con dạy dỗ hay do con nhận thức được?
– Con nói một cách thành thật, có lẽ do kết quả của những lần trao đổi với Vân, những kiến thức từ môn học, và một phần từ gia đình con. Tuy nhiên một điều gì đó tiềm tàng khó hiểu từ sự hy sinh của ba, từ cuộc sống yên lặng của mẹ đã ảnh hưởng đến suy nghĩ của con. Chính Vân cũng thừa nhận, mẹ ít nói khi dạy dỗ, nhưng Vân học được nhiều điều từ mẹ. Con biết mình may mắn khi có Vân trong đời con, và may mắn được làm con trong gia đình này.
 
Đến đây tôi thực sự xúc động, nhưng lại muốn che dấu niềm hạnh phúc của mình.
 
– Mẹ đói lắm rồi. Mình ăn cơm đi.
 
Vân chần chừ như muốn nói điều gì.
 
– Mẹ. Con muốn cả nhà mình thắp nhang cho ba thêm một lần nữa.
– Để làm gì?
– Để cám ơn ba lúc nào cũng ở bên hai mẹ con mình.
 
Quý nhìn Vân rồi nhìn tôi thật đáng thương.
 
– Mẹ. Vân quên một người nữa cũng phải cám ơn ba.
 
Vân thắp ba cây nhang mới. Hai đứa thì thầm gì đó tôi không biết. Nhưng nhìn vào đôi mắt anh Lân, tôi tin anh đang nghe rõ tụi nó nói gì. Hai mươi năm rồi, mẹ con tôi trải qua biết bao thay đổi, nhưng có một thứ không hề lay chuyển: tình yêu của tôi dành cho anh.
 
“Ngày ấy hai đứa bên nhau trên mọi nẽo đường cao nguyên, yêu nhau mà không lo lắng về một căn nhà. Chuyến về phép ngập tràn hạnh phúc cuối cùng của anh. Rồi những buổi chiều bên mộ anh bên cạnh mấy cây bông sứ anh thích. Những ngày mò mẫm từng bước trong cánh rừng Miên tối om, để vượt qua biên giới Thái Lan. Và bây giờ mỗi năm trong ngày giỗ của anh, em luôn tin anh vẫn sống với mẹ con em.
 
Anh có nhớ ngày em đến hậu cứ Trung đoàn nói chuyện với anh qua máy vô tuyến? Nếu không nhớ, em nhắc lại câu nói trong nước mắt của cô nữ sinh lãng mạn với người lính chiến can trường: “Anh Lân, em yêu anh suốt đời”.
Chu Lynh
 
 
Mảnh Da Vàng
 
 
Ðể tưởng nhớ những người thân yêu đã ra đi
Chu Lynh
 
 
Ðã từ lâu, tôi muốn viết về quãng đời niên thiếu kém may mắn của mình, nhưng vẫn chưa tìm được ngày tháng yên hàn để thực hiện giấc mơ.  Chinh chiến đã xô đẩy tôi phiêu bạt khắp nơi. Khi chiến tranh chấm dứt, tôi bị lùa vào các trại tập trung. Thoát vòng lao lý, tôi phải lang thang nhiều nơi tìm kế mưu sinh. Ðến xứ người, tôi vẫn chưa tìm được những khoảnh khắc yên vị để thu nhặt lại những mảnh đời đã lạc khuất trong quá khứ.
Tôi vừa kỷ niệm sinh nhật.  Tuổi ngũ thập, tuổi tri thiên mệnh.  Chuyện ngày mai, tôi có thể nghi hoặc về những dự đoán hay toan tính của mình. Nhưng chuyện ngày qua, tôi tin những tương quan trong quá khứ chưa hẳn đã chấm dứt, có thể ẩn mình đâu đó như con thú ngủ giấc đông miên, rồi bỗng một hôm thức giấc tiếp tục cuộc hành trình.
Ðã đến lúc tôi cần viết ra câu chuyện của chính tôi mà không một chút hoài nghi về sự tương quan kỳ diệu Thương Ðế đã xếp đặt.  Tôi nghĩ đây không còn là chuyện của riêng tôi, mà của một dân tộc chìm đắm trong oan nghiệt một ngàn năm, một trăm năm, rồi mấy chục năm đăng đẳng mà vẫn chưa ló dạng ánh sáng của phục sinh.  Ðêm canh thức vẫn còn thăm thẳm.  Như thể chiếc đũa thần đâu đó chưa buông tha dân tộc khốn khổ nầy, vẫn còn khuấy động giòng sông quê hương thêm những đợt sóng bi thương khác.
Mời bạn cùng tôi ngược giòng thời gian, về lại chốn xưa, với những hình ảnh tưởng đã xóa mờ, nhưng lạ thay vẫn còn sống động trong trí nhớ tôi như vừa mới hôm qua.
*
Giao thừa năm Mậu Thân, 1968.
Thay cho tiếng pháo nổ rền để đón chào giờ phút thiêng liêng của một năm mới, là những đợt pháo kích dồn dập của Cộng quân vào khắp nơi thị xã Banmêthuột.  Có người vẫn ngỡ tiếng pháo giao thừa, không tin chiến tranh có thể nhẫn tâm dẫm lên truyền thống dân tộc.  Qua máy truyền thanh, tôi biết tin khắp toàn lãnh thổ miền Nam nằm trong chết chóc kinh hoàng bởi trận tổng công kích của Bắc quân.
Thoạt đầu, các đơn vị đồn trú chịu một số thiệt hại do pháo kích, nhưng sau đó được củng cố hệ thống phòng thủ, bắt đầu phản công mãnh liệt.  Cường độ tấn công của địch quân giảm dần sau hơn mười ngày giao tranh.  Thiếu tiếp liệu, chịu nhiều tổn thất nặng do đạn pháo binh và phản lực oanh kích, Bắc quân đành tháo chạy, bỏ lại những xác chết la liệt quanh vòng đai thị xã.
Tờ mờ sáng, đơn vị tôi tổ chức lục soát ngoài hàng rào phòng thủ.  Toán pháo binh tăng cường cho đơn vị chấm tọa độ khá chính xác.  Hơn mười xác địch bỏ lại rải rác bên dốc suối. Thật không thể tin được, những người lính nầy còn quá trẻ.  Hà Nội đã vét đến những thiếu niên vào chiến trường miền Nam.  Trong khi lục soát, tôi chú ý một thây người khuất trong bụi rậm.  Thân hình nằm nghiêng, tay còn ôm cái túi xách quàng vai dành cho cán bộ.  Vũ khí không còn, chắc đồng đội đã thu nhặt trước khi rút lui.  Ngoài giấy tùy thân của một cán bộ chính ủy, tôi tìm thấy trong túi áo một cái ví da màu vàng cũ, bên trong là một tấm hình đôi trai gái, mặt sau ghi vụng về hàng chữ: Hoàng Thanh – Ðoàn Thị Ðịnh.
 Trở về văn phòng, tôi cứ ngờ ngợ, dường như khuôn mặt người thanh niên trong ảnh tôi đã gặp đâu đó trong quá khứ.  Khi giao nộp chiến lợi phẩm cho đơn vị, không hiểu sao tôi giữ lại chiếc ví da và tấm hình.  Chiếc ví bằng da thuộc đã bạc màu được may rất khéo, hẳn là vật kỷ niệm của một người con gái tiễn người yêu lên đường.  Khuôn mặt người trong ảnh đi vào tâm trí tôi.  Hai tuần lễ sau, tôi đã nhớ ra người thanh niên ấy…
 
1954. Quảng Bình, bên kia bờ vĩ tuyến, những ngày sau khi ký kết Hiệp Ðịnh Genève.
Qua một người bà con tín cẩn, mẹ tôi biết được tin Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Ðình Chiến cho phép dân chúng di cư vào Nam.  Sau khi tin tức ấy được loan nhanh trong dân chúng, từng toán bộ đội vội vã đến đóng quân ngay trong làng với nhiều máy móc truyền tin và sách báo.  Họ chia từng toán nhỏ vào ở từng nhà, bắt đầu chiến dịch tuyên truyền, vào Nam là sẽ chết đói trong các trại tập trung của Mỹ-Diệm, ở lại quê nhà sẽ được Bác và Ðảng bảo đảm đời sống no ấm.  Họ dạy anh em tôi nhảy những vũ điệu theo những bài hát như:
Thắm thiết tình Việt-Trung-Xô
Ðế quốc càng đầy mối lo
Ðó là tình người lao động
Mối tình tràn ngập núi sông có công xây đắp tình Việt-Trung-Xô…
Việt-Miên-Lào bên nhau ta cùng chiến đấu.
Việt-Miên-Lào căm thù đế quốc đi sau…
Hoặc
Cuốc cày của ta là súng ống.
Ruộng đồng của ta là áo cơm
Thôn quê của ta là chiến trường.
Nông dân của ta là chiến sĩ …
Họ biến nhà thờ thành nơi nhảy nhót và hội họp.  Họ theo sát mẹ tôi mỗi khi người qua nhà hàng xóm. Họ kiểm thảo ngay khi thấy có hai người nói chuyện riêng.  Không như ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, làng quê tôi mù tịt với thế giới bên ngoài, nhất cử nhất động của dân làng đều bị theo dõi để chận đứng mọi ý định rời đất Bắc.  Ðối với tôi, việc gặp lại ba tôi trên đất Nam chỉ là một giấc mơ.
Hoàng Thanh là tên người lính trẻ nhất ở trong nhà tôi.  Anh ta tỏ ra gần gũi bốn anh em tôi, đôi khi đến bửa ăn còn cho em gái tôi một chén cơm trắng.  Mỗi đêm, anh ta thường đứng dựa cột nhà đầu giường mẹ tôi, nói về những xã hội tốt đẹp ở những miền xa xôi như Trung Quốc, Liên Xô.  Anh ta còn báo động về cảnh nghèo đói ở Miền Nam và cảnh đạp lên nhau mà chết trong các trại tập trung.
Mỗi tuần hai lần, anh bộ đội nầy dẫn hai anh em tôi đi xem đấu tố địa chủ ở làng trên.  Tôi thường sợ hãi mỗi khi nhìn người đàn bà mặc đồ đen trên khán đài dõng dạc tuyên án tử hình hay cải tạo lâu dài những người bà nói là bọn phản động, địa chủ, cường hào ác bá bóc lột nhân dân.  Nhưng không hiểu sao hai anh em tôi lại thường xuyên theo anh bộ đội có mặt trong mọi cuộc đấu tố.  Sau nầy, tôi nghĩ những câu chuyện gần như thần thoại về những người du kích anh dũng chống Pháp anh ta thường kể trên con đường đê đến địa điểm đấu tố, đã hấp dẫn đứa bé bảy tuổi như tôi, một đứa bé không người cha bên cạnh trong những ngày bơ vơ nơi làng quê quanh năm nghèo đói.
Tôi còn nhớ như in buổi đấu tố địa chủ cuối cùng.  Khi tôi đến thì địa điểm đã đầy ắp người đến từ các thôn xã trong vùng.  Ðó là một mảnh đất rộng ngay trung tâm làng, được chia thành nhiều lô cho từng thôn. Một khán đài dựng sát bụi tre có băng chữ Tòa Án Nhân Dân với những cán bộ mặc đồ đen lầm lì đang nhìn xuống phía dân chúng.  Trước mặt khán đài là những ghế băng dành cho các viên chức thôn xã, bên trái là vành móng ngựa bằng tre dành cho tội nhân, bên phải là khu vực dành cho mấy chục nhân chứng được bao quanh bằng những sợi dây thừng.
Như thường lệ, người đàn bà quan trọng nhất của Tòa Án Nhân Dân đứng lên tuyên bố khai mạc, nói rõ tên địa chủ cần xét xử.  Sau khi bà khi dứt lời, một người đàn ông đứng lên hô to các khẫu hiệu: “Hồ Chí Minh muôn năm! Ðả đảo địa chủ! Ðả đảo đế quốc!”  Dân chúng đồng loạt gào theo hai chữ muôn năm, đả đảo.  Trong đêm tối, âm thanh vang vang trong không gian, dội vào lồng ngực, khiến tôi rùng mình sợ hãi. Hoàng Thanh luôn luôn ngồi sát bên tôi như một sự che chở.
Ở xa, tôi chỉ thấy thấp thoáng hai tên du kích đang áp giải một người đàn ông lớn tuổi, thỉnh thoảng một trong hai tên dộng báng súng vào lưng người đàn ông.  Sau cùng, tên thứ hai đẩy mạnh nạn nhân vào trong vành móng ngựa.  Ông ta ngã xuống, nhưng cố gượng đứng dậy.  Hai ngọn đèn măng sông không đủ sáng để soi rõ khuôn mặt bị cáo.  Một cán bộ trên khán đài đứng lên đọc một bản cáo trạng dài, cứ vài phút, như muốn nhấn mạnh tội ác, ông ta lại chỉ vào vành móng ngựa mà la lớn “tên địa chủ nầy phải đền tội”.  Tôi không nghe người địa chủ nói được tiếng nào, thỉnh thoảng lại khuỵu xuống, người đàn bà lại kết án ông ta ngoan cố.  Không được lên tiếng, ngược lại con người bất hạnh nầy lại bị mấy chục người trong khuon giây thừng làm nhân chứng kể những tội ác tày trời.  Sau nầy mẹ tôi cho hay họ bị buộc phải kể ra những tội ác tưởng tượng như thế.
Trước khi tuyên án, người đàn bà áo đen lại đứng lên kể công ơn và sự khoan hồng của Bác và Ðảng đối với những kẻ có tội biết ăn năn, nhưng với những tên địa chủ ác ôn phản cách mạng như Ðoàn Tấn hôm nay phải bị trừng trị đích đáng.  Bà tuyên án tử hình người địa chủ.  Liền sau đó, rừng người bị kích động đồng loạt đứng dậy, vung tay lên không, hô to những khẩu hiệu của người đàn ông trên khán đài. “Ðả đảo tên địa chủ Ðoàn Tấn!”
Tôi giật bắn người lên khỏi thảm cỏ.  Anh bộ đội không hiểu được cử chỉ bất thường hôm nay của đứa bé.  Tôi chạy lại gần sân khấu, nhìn cho rõ khuôn mặt người đàn ông lúc nầy đang run rẩy bám vào khung tre.  Tôi cứ ngỡ mình nghe lầm, nhìn lầm.  Nhưng là sự thật. Bác tôi, Ðoàn Tấn họ vừa kết án tử hình.
Trong làng tôi, còn ai hiền từ hơn bác Tấn?  Trong giòng họ, có ai săn sóc gia đình tôi trong những ngày ba tôi biền biệt phương xa ngoài bác Tấn?  Vậy mà hôm nay, bác Tấn là địa chủ ác ôn. Một nỗi sợ hãi chạy khắp toàn thân.  Ðột nhiên, tôi hiểu được rằng những gì đã xảy ra trong những buổi đấu tố hoàn toàn dối trá và bịa đặt.  Theo anh bộ đội trở về nhà, tôi ngậm tăm không nói một câu.  Con đường đê hôm ấy dài hun hút.  Anh ta không hiểu bên trong sự im lặng của đúa bé là một trận bảo ngầm.
Một người bà con đã tiết lộ cho mẹ tôi hay chính anh bộ đội Hoàng Thanh đã làm việc với Ủy Ban Hành Chánh Xã và đưa tên bác tôi vào danh sách địa chủ phải đấu tố.  Tôi nói với mẹ tôi, hảy coi chừng những anh lính trong nhà mình và mẹ hảy cương quyết xin cho được tờ giấy vào Nam.  Sau mấy tháng chạy đôn chạy đáo lên huyện xuống xã, họ đã chịu cho mẹ và anh em tôi ra đi đầy đủ, không như các gia đình khác họ cố tình giữ lại một hai người.
Ngày ra đi, giòng họ tôi như một đám tang.  Nỗi vui gặp lại ba tôi phải dấu kín trong lòng, chỉ có nước mắt tuôn ra.  Tôi không thể nào quên được hình ảnh bà cố tôi chín mươi tuổi run run chống gậy đứng bên hông nhà, đôi mắt nhìn vào khoảng không.  Không một giọt nước mắt, nhưng tôi biết bà đang đau đớn tận cùng cảnh chia ly vĩnh viễn những đứa cháu bà đã chăm sóc bao nhiêu năm trời.
Thật lạ lùng, trước khi ra khỏi địa phận làng, tôi thấy anh bộ đội Hoàng Thanh đang đứng bên đường cùng vài người lạ khác.  Lúc nầy tôi nhìn anh ta như một bóng ma cần phải trốn chạy.  Anh ta nói gì đó thật tha thiết với mẹ tôi nhưng mẹ tôi vẫn dửng dưng.  Quay qua xoa đầu tôi, anh bỗng bật khóc, nói rằng tính mạng anh em tôi rồi sẽ bị Mỹ-Diệm hành hạ dã man cho đến chết trong các trại tập trung.  Tôi rùng mình.  Hai khuôn mặt đã in đậm mãi trong ký ức tôi ngày ra đi, bà cố tôi và anh bộ đội Hoàng Thanh, một người để yêu thương và một người để sợ hãi.
*
Phải một tháng sau khi đến thành phố Huế, tôi mới gặp lại ba tôi. Ba tôi trở về sau một cuộc hành quân.  Gia đình tôi đã sum họp, nhưng với tôi nửa phần hồn đã để lại quê nhà.  Tuổi ấu thơ, con đường làng, cơn gió buốt mùa đông, cây rau tràng đắng nghét ngoài đồng sau mùa gặt, mái tranh nghèo và những người dân quê dạt dào tình thôn xóm đã chiếm hẳn một phần trong ký ức tôi.  Tôi thích sưu tầm những bài hát về đồng quê.  Mỗi khi hát bài Tôi Yêu Quê Tôi, là tôi nhớ từng con đường nơi tôi đã sinh ra, mảnh đất nghèo ấy đã ấp ủ và nuôi sống tuổi thơ tôi.  Nhớ đến làng quê là tôi nhớ đến bà cố, nhớ từng nếp nhăn trên trán bà, rồi bất ngờ tôi có thể khóc dễ dàng như một đứa bé.  Trẻ con trong xóm thường nhờ tôi dạy chúng những vũ điệu Việt Minh.  Chúng nói điệu nhảy ngồ ngộ.  Nhưng tôi lại thích kể những cuộc đấu tố để chúng sợ hãi.
Ba mẹ tôi gởi tôi vào một trường nội trú.  Con đường học vấn của tôi đang đi lên đầy hứa hẹn, thì chiến tranh bùng nổ dữ dội.  Cuối tuần về thăm nhà, tôi phải vượt qua những con đường đắp mô, có khi bị lùa vào rừng cao su nghe “quân giải phóng” tuyên truyền, rồi chạy bán sống bán chết khi biệt kích đột nhập giải vây hành khách.  Hai anh tôi đã vào quân ngũ, ba mẹ tôi kỳ vọng nơi tôi một đứa con đỗ đạt. Mặc cho ba mẹ tôi ngăn cản, tôi nộp đơn tình nguyện vào trường Bộ Binh Thủ Ðức.  Tôi biết điều gì đã thúc đẩy tôi bỏ nghiệp thư sinh để nhập vào giòng chiến tranh.
Chiến tranh đã lên đến cao điểm.  Càng nhiều tổn thất, càng nhiều thanh niên trẻ bị đưa vào lò thuốc súng. Một bên để bảo vệ và một bên để xâm chiếm.  Khắp nơi chỉ có tàn phá và hủy diệt. Người ta chỉ xây dựng tạm thời nhưng rồi cũng bị tàn phá và hủy diệt.  Miền Nam như đã chiến thắng trên các mặt trận, nhưng lại thất bại trên các lãnh vực khác.  Thay vì tìm hiểu cội gốc của chiến tranh, một số người đắm mình trong giòng nhạc ru ngủ, cổ vũ luận điệu chủ hòa như những món thời trang cần chạy theo.  Tại Hoa Kỳ, những kẻ chủ trương rút khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam, những trí thức phản chiến bạc nhược cộng với mưu đồ của cộng sản quốc tế đã dẫn đến một Hiệp Ðịnh mở đường xâm lăng cho Bắc quân và trói tay quân lính Miền Nam.  Tất cả đã dẫn đến thảm nạn: làn sóng xâm lăng đã nhuộm đỏ Miền Nam.
Những gì xảy ra sau đó?  Thế giới đã thấy rõ, nhưng tất cả đã muộn màng. Ngay cả những nhận thức đứng đắn về cuộc chiến cũng cần đến mấy chục năm sau.  Lớp lớp người bị đưa vào các trại tập trung nơi rừng thiêng nước độc.  Dân thành phố phải giao lại sản nghiệp của mình cho kẻ chiến thắng chiếm hữu để lên sống vất vưởng trên các vùng kinh tế mới đầy muổi và vắt.  Chưa hết, mong tìm tự do ở bất cứ nơi dâu, ngươi ta đã bỏ xác trên biển cả, trong rừng sâu.  Nhân loại chỉ thổn thức trên ngôn từ, có chăng là chia sẻ một chút từ tâm nào đó, để rồi lại tiếp tục chứng kiến những cảnh man rợ giữa những người cùng màu da giòng máu.  Quê hương tôi đã tan nát trong chiến tranh, tiếp tục vỡ ra từng mảnh sau ngày im tiếng súng.
Tôi theo giòng người lưu cư trên cuộc hành trình của thảm trạng lưu đày Babylone.  Ngày rời đất Bắc, tôi chưa đủ khôn lớn để khóc cho một đời người.  Ngày rời quê hương, tôi mang theo cả một trời tang thương về đất nước.  Tôi mang theo hình ảnh những thương bệnh binh bị đẩy ra khỏi các Quân Y Viện với thương tích trên thân thể để đau tận tâm can phận người dân Việt dưới bàn tay tàn độc của người cộng sản. Tôi mang theo hình ảnh ba tôi quằn quại trên giường bệnh bên cạnh những bác sĩ vô lương để đau xé ruột đấng sinh thành ra đi trong uất hận.  Và tận cùng hành trang qua xứ người, tôi mang theo ước vọng ngày về với một đất nước thay da đổi thịt …
*
1998. Thư viện George Mason, Virginia.
Tôi đánh rơi một cuốn sách khi tiến đến quầy check-out.  Tôi nghe đâu đó ai gọi tên tôi.  Bảo Trâm, cô bạn cùng lớp.  Ðứng bên cạnh là một cô gái.  Cô gái để tóc khá dài, khuôn mặt hơi gầy, dáng dấp là lạ. Bảo Trâm giới thiệu Hoài Nguyên là du học sinh từ Việt Nam, đang học trường Nova.
Chúng tôi làm quen với nhau.  Tôi hỏi thăm cô tình hình ở Việt Nam, cô gái Bắc dường như không sốt sắng trả lời.  Vậy mà sau đó, cô lại nhận lời đi dự buổi picnic của những sinh viện Việt Nam tại Springfield tháng tới.  Tôi bỗng có ý định muốn tìm hiểu những du học sinh mà chế độ cộng sản đang gởi qua hàng loạt.  Tôi nghe nói gia đình họ chịu bỏ ra một số tiền lớn để lo lót cho con cái được qua đây du học, và bản thân các du học sinh nầy cũng không để tâm lắm đến việc học hành.
Công viên vào đầu thu chuyễn qua màu vàng nhạt khiến cảnh trí thêm sặc sở.  Thiên nhiên như đang pha trộn sinh khí mới để thay cho mùa hè uể oải, nên người đến đây cảm thấy sảng khoái.  Thanh niên Việt Nam dường như trở nên tươi trẻ hơn dân bản xứ, vui đùa ríu rít vơí những mẫu chuyện không dứt. Trên thảm cỏ, bốn người đang bày đồ ăn thức uống.  Hoài Nguyên ngồi bên cạnh lễ phép mời tôi ăn. Không như lần đầu ngại ngùng tiếp chuyện, hôm nay cô có vẻ dạn dĩ và gần gũi hơn.  Lối nói chuyện của cô hơi nghiêm trang nhưng thực tế, không khách sáo như các cô gái miền Bắc khác.  Thấy tôi lớn tuổi, cô bắt đầu nhờ tôi chỉ dẫn vài điều.  Cô đang cần việc làm bán thời gian để trang trải vài chi phí.  Tôi cứ nghĩ đa số du học sinh như cô đâu có lo lắng chuyện tiền bạc.
Dần dà, tôi chú ý đến hoàn cảnh đặc biệt của Hoài Nguyên.  Cô mồ côi cha lúc hai tuổi.  Mấy năm sau đó, mẹ cô bị thương nặng trong trận không tập của máy bay Mỹ xuống thành phố Hải Phòng.  Sau năm 1975, cô bỏ dở chương trình du học Liên Xô, để theo đoàn người vào Nam làm việc trong một xưởng xe đạp ở Saigon hầu lo lắng cho bà mẹ bị thương.  Nhưng cuối cùng, bà đã ra đi vì thiếu phương tiện chữa trị. Cô vừa theo học ngành y vừa đi làm.  Nhờ một người bà con làm việc trong chính quyền, cô xin được du học tại Mỹ.  Cô cho rằng mình là người duy nhất không phải tốn tiền nhiều để lo lót cho các cán bộ chạy dịch vụ.
Trong một thoáng, tôi bỗng muốn quan tâm đến người con gái nầy.  Tôi muốn giới thiệu cho cô thêm nhiều người bạn Việt Nam ở đây.  Tôi hỏi mà cô như không nghe.  Dường như cô đang suy nghĩ điều gì. Cô ngập ngừng một lúc rồi nói:
–  Cháu mồ côi cha từ nhỏ, có mẹ mà cũng như không.  Cháu phải làm việc vất vả để nuôi thân và nuôi mẹ.  Nhưng cháu không nề hà.  Từ bao lâu nay, cháu chỉ có một ước muốn duy nhất là tìm được ngôi mộ của bố cháu và bốc cốt về làng.
Tôi buột miệng:
–  Bố cháu có đi bộ đội không?
–  Bố cháu là một chính trị viên.
–  Bố cháu mất ở đâu?
–  Dạ trong Nam.
–  Ở đâu?
–  Cháu không rõ.  Người ta đồn bố cháu mất ở cao nguyên.  Bố cháu ra đi lúc cháu mới hai tuổi, nên cháu không biết mặt, càng không biết gì nhiều ngoài những điều mẹ cháu nói.
Tôi đột ngột hỏi:
–  Bố cháu tên gì?
–  Dạ Thanh, Hoàng Thanh.  Cô bỗng xoay qua nhìn tôi ngạc nhiên về câu hỏi.
Ðột nhiên tôi liên tưởng đến quá khứ.  Tết Mậu Thân Banmêthuột.  Vòng đai phòng thủ đơn vị. Xác chết bên dốc suối.  Chiếc ví da.  Tấm ảnh cặp vợ chồng mới cưới.  Hoàng Thanh — Ðoàn Thị Ðịnh. Thây người trong bụi rậm ba mươi năm trước là cha của cô bé trước mặt tôi?  Kẻ đã ở trong nhà tôi để ngăn cản gia đình tôi di cư vào Nam?  Kẻ đã gián tiếp giết bác Tấn tôi?  Tôi không nói một lời nào sau đó. Hết sức lúng túng, tôi hẹn Hoài Nguyên cuối tuần, cũng trong công viên nầy.
Tôi không tài nào ngủ được đêm đó.  Trước mắt tôi cứ hiện ra người lính miền Bắc nằm nghiêng, tay còn giữ chặt túi vải, khuôn mặt như cố nhận ra sự phi lý ngay khi mảnh đạn pháo binh ghim vào lồng ngực. Tại sao tôi lại nhớ rõ mồn một từng chi tiết cuộc lục soát ngày hôm ấy?  Tôi chập chờn thấy anh ta lăn lộn trong vũng máu, lăn tròn xuống suối, cán nát cỏ cây, bay lên không rồi hạ xuống, xoay không ngừng quanh vành móng ngựa bằng tre.  Không là cơn ác mộng kinh hoàng, nhưng giấc mơ đã làm tôi suy nghĩ miên man những ngày sau đó, như thể quá khứ xa xăm đang tái diễn lại.  Tòa án Nhân Dân lạnh lùng sát khí. Rừng người vung cánh tay lên la hét hoan hô đả đảo.  Những ánh mắt sợ hãi. Người địa chủ gục xuống bên vành móng ngựa…
Lần đầu tiên, cô đến công viên mà không có bạn bè đi theo.  Cô xuống xe buýt, đi chậm rãi đến băng ghế dưới tàn cây rậm.  Cô nhìn quanh tìm tôi.  Tôi ngồi trong xe quan sát.  Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, một làn gió vừa thổi qua hay một âm thanh nào đó vang bên tai khiến tôi rùng mình. Có thể nào đứa con gái đang ngồi kia chính là giọt máu của người lính cộng sản mà gia đình tôi đã trốn chạy?
Khi đến bên Hoài Nguyên, tôi thấy cô không còn là đứa con gái tôi gặp lần đầu trong thư viện.  Cô kín đáo mà cũng sẵn sàng trò chuyện, xa vắng nhưng lại gần gũi như một đứa con.  Trên khuôn mặt cô, phảng phất một nỗi buồn từ bao giờ.  Tiếc thay, tôi lại sắp mang đến cho cô thêm một nỗi buồn. Làm sao vào câu chuyện đây?  Không chỉ là một tấm ảnh để trao lại, không chỉ là một cái chết sẽ nói ra. Sau cùng tôi cương quyết đi thẳng vào câu chuyện.
–  Chú sắp nói cho cháu một chuyện quan trọng.  Ba mươi năm nay, chú giữ một vật của một người lính miền Bắc đã chết trong trận đánh Tết Mậu Thân ở cao nguyên.  Chú sẽ đưa cháu coi, xem có … liên quan gì đến việc tìm kiếm bố cháu không.
Hoài Nguyên chăm chăm nhìn tôi.  Tôi thấy môi cô mấp máy như hỏi tôi muốn nói gì.
Tôi lấy từ túi áo ra chiếc hộp.  Hình như trong ba mươi năm qua, tôi không hề mở nó ra.  Chiếc hộp đã theo tôi trên mọi nẻo đường đất nước và sau cùng là chuyến đi ngàn dặm qua xứ người.  Có phải tôi giữ chiếc ví vì người trong tấm hình có liên quan đến gia đình tôi hay người khuất mặt muốn dùng tôi như một nhân chứng về số phận những kẻ bất hạnh trong chiến tranh.
Hoài Nguyên cầm lấy chiếc hộp và mở ra.  Cô quan sát chiếc ví da, tôi không đoán được cảm xúc nào rõ rệt trên khuôn mặt.  Nhưng khi lôi ra tấm ảnh, mặt cô biến sắc, tay cô run rẩy, hai mắt mở tròn.  Toàn thân cô bất động.  Chính tôi cũng sửng sờ như thể tôi thấy tấm ảnh lần đầu.  Cô đăm đăm nhìn bức hình. Ðột nhiên đôi mắt cô nhòa đi.  Không còn hoài nghi gì nữa, cô đã nhận ra người thân.  Những giọt nước mắt đua nhau lăn tròn trên má.
Hoài Nguyên cố cầm nước mắt bằng cách mím môi lại.  Nước mắt đang chảy vào tim.  Không biết tôi đã để cô yên lặng bao lâu với nỗi đau tôi vừa khơi lại.  Tôi nhẹ nhàng hỏi:
–  Bố mẹ cháu phải không?
Cô gật nhẹ.  Một lúc sau mới nói trong tiếng nghẹn
–  Vâng. Thưa chú.  Chính bố mẹ cháu.  Cháu cũng có một tấm hình như thế trong cuốn album gia đình.  Mẹ cháu nói bức hình chụp một tháng trước khi bố cháu theo đoàn xe tiếp tế cho chiến trường miền Nam. Không hiểu sao, khi gặp chú lần đầu, cháu nhìn được cái gì đó nơi chú.  Cháu thực sự không hiểu có gì bí ẩn đã xui khiến cháu nói chuyện gia đình với chú. Nói cho cháu biết, do đâu chú có chiếc ví và tấm hình của bố cháu?
–  Chú không hiểu tại sao mình lại giữ những kỷ vật nầy trong bao nhiêu năm.  Ði đâu chú cũng mang theo.  Bây giờ những kỷ vật nầy thuộc về cháu.  Ngày trước chú làm một việc tình cờ, nhưng hôm nay lại giúp ích rất nhiều cho cháu.
Tôi nhận ra một điều kỳ lạ.  Tại sao Thương Ðế đã không để chúng tôi gặp nhau trên quê hương mình mà phải đến một xứ xa lạ?  Phải chăng trên mảnh đất xứ người chúng tôi dễ cảm thông thân phận của nhau hơn.  Tôi kể cho cô nghe về cuộc tấn công của cộng sản vào thị xã Banmêthuột. Lúc nầy cô đã bình tỉnh trở lại và chăm chú lắng nghe.  Tôi không muốn kể về những ngày bố cô đến ở trong nhà tôi, những cuộc đấu tố hay cái chết của bác tôi mà anh ta đã can dự.  Tôi nghĩ chưa phải lúc để nói ra.
–  Chú còn nhớ địa điểm chôn bố cháu không?
–  Chú rời Banmêthuột năm 1971, nên không biết nơi chôn bố cháu có gì thay đổi không.  Nhưng chú nhớ rất rõ địa điểm.  Ðó là một cái hố chôn tập thể chừng năm người, phía sau một cái am trên sườn đồi cụ Ðức.  Cháu đến Banmêhuột nên tìm hỏi những người đã sống trước năm 1975 về đồi cụ Ðức phía sau Tiểu Khu, họ sẽ chỉ cho.  Ngôi mộ được dân chúng đắp cao nhưng không ghi tên tuổi người chết. Chú tin cháu sẽ gặp may mắn.
Chúng tôi im lặng một lúc lâu.  Công viên đã vắng người.  Chiều xuống trãi những vạt nắng cuối cùng như những dải lụa vàng phủ lên cảnh vật và những bóng người đây đó vẫn còn mãi mê chuyện trò.
Trên đường đưa cô về nhà, tôi nói đứa con gái đầu lòng của tôi trạc tuổi cô, mất lúc ba tuổi sau một tai nạn.  Hoài Nguyên lắng nghe tôi kể cái chết kỳ lạ của đứa con tôi và tỏ ra thông cảm sâu xa về mất mát của tôi.  Bỗng nhiên chúng tôi có một thứ tình cảm mới, cảm thấy gần gủi và dễ dàng nói ra những điều mình nghĩ.
–  Cũng như bố cháu, chú cũng là nạn nhân của chiến tranh.   Chỉ tiếc là sau khi chiến tranh chấm dứt, đất nước mình thay vì hàn gắn và xây dựng, lại đập đổ và đánh mất đi nhiều thứ đã xây dựng được từ hằng thế hệ trước đây.  Kẻ chiến thắng cai trị bằng bạo lực, kẻ bại trận rủ nhau rời khỏi đất nước.  Nhân tài cũng ra đi.  Trước khi nói đến chuyện làm giàu cho đất nước, phải nói chuyện làm giàu tình dân tộc trước đã. Chính quyền đã không làm điều đó.  Ðó là cái bất hạnh lớn nhất cho đất nước mình.
     Chú không tin tương lai đất nước mình sẽ khá hơn bởi những người đang nắm giữ quyền bính trong tay hôm nay.  Họ thành công trong việc quản lý con người nhưng họ thất bại trong việc xây dựng, kể cả xây dựng tình dân tộc.  Muốn đưa đất nước đi lên phải có những con người có kiến thức và lương tri.  Cháu nên có thêm những người bạn Việt Nam để chia sẻ về mặt tinh thần.  Chú sẽ giúp được điều nầy.  Ðó là những người bạn trẻ thành công trên đất Mỹ, nhưng họ vẫn mong trở về xây dựng đất nước.  Chỉ tiếc rằng họ vẫn chưa thực hiện được hoài bảo của mình.
  –  Tại sao vậy chú?  Bây giờ nhà nước sẵn sàng tiếp đón họ mà.
  –  Một số người đã về và thất vọng.  Họ tưởng rằng, đem thiện chí, tài năng và tiền bạc về là chính quyền sẽ khuyến khích và tạo điều kiện để họ thực hiện hoài bảo của mình.  Họ không thể tin được rằng, ngay cả những tổ chức từ thiện, những công tác cứu trợ cũng bị những viên chức địa phương làm tiền trắng trợn, nói chi đến đầu tư làm ăn.
  –  Nhưng mà cháu ngại lắm.  Cháu nghe nói những người Việt Nam ở đây có thành kiến với du học sinh.
  –  Ðó là điều tự nhiên.  Nhưng không phải tất cả.  Với những người bạn của chú thì không.  Ngược lại, chú bảo đảm, họ rất cởi mở và thẳng thắn.
 –  Thưa chú.  Cháu là một đứa con gái mồ côi từ nhỏ.  Từ lâu cháu chỉ muốn được học hành, nhưng hoàn cảnh của cháu thật khó khăn. Nếu không có bà dì và đứa em bà con, cháu không bao giờ mơ đến được xứ nầy.  Nhưng mà qua đây, mọi cái đều không như cháu nghĩ.  Ngôn ngữ, sinh hoạt, phong tục, mọi thứ đều khác với đất nước mình.
 –   Từ từ cháu sẽ quen.  Ai mới qua đây cũng tâm trạng như cháu.  Chú không tin cháu thuộc những gia đình nhiều tiền gởi con đi du học, khi qua đây, những du học sinh lại phung phí ăn chơi, không màng đến chuyện học hành.  Những người bạn trẻ của chú sẽ giúp cháu.  Ðiều cần nhất là phải kiên nhẫn.
 –   Cháu không ngại điều đó.
         –  Vậy là cháu thành công được một nửa rồi đó.
 Chúng tôi cùng cười.  Chiếc xe đã về đến nhà Bảo Trâm.  Hoài Nguyên trọ ở đây.
 Khi Hoài Nguyên quay vào nhà, tôi nhìn theo dáng cô khuất sau một chiếc xe Van.  Phải đây là đứa con của người lính cộng sản đã gieo chết chóc cho gia đình tôi gần năm mươi năm về trước?  Nhưng hôm nay, khi nhắc lại quá khứ đau thương, tôi không một chút oán hận.   Chỉ như một tai nạn của chiến tranh. Như vận nước không may rơi vào một giai đoạn bất hạnh của lịch sử. 
Bây giờ tôi lại hoài mong tương lai đất nước sẽ nằm trong tay lớp người như Hoài Nguyên.  Có phải là điều khôn ngoan cần phải có khi nhìn về tương lai đất nước bằng cái tình tự dân tộc nhiệm mầu mà người cộng sản không thể có được?  Dù sao, Hoàng Thanh đã nằm xuống, đứa con đã đứng lên bằng cái nhìn khác, tấm lòng khác, theo một tiếng gọi khác.  Núi xương và sông máu, qua hằng thế hệ trên quê hương tôi, là bài học lịch sử qủa đắt giá hơn bất cứ đất nước nào, hôm nay với kẻ hậu sinh phải được gẫm suy để đưa vận nước thoát khỏi cơn mê lầm thế kỷ.  Chiếc xe lịch sử phải chăng đã thản nhiên lăn trên con đường đầy máu và nước mắt, cán nát cả những kẻ thân yêu của mình, bởi vì lịch sử chỉ có một con đường để đi …
*
Khi tôi rời sân khấu, những tiếng vỗ tay nổ dòn từ những sinh viên, giáo sư, thân nhân ngồi chật cả hội trường. Tôi tiến về chiếc bàn tròn các sinh viên Việt Nam đang ngồi.  Gần một nửa là du học sinh.  Họ đứng lên chúc mừng tôi.  Một cô bé trong số du học sinh chiếm được giải nhì thi viết.  Bà giáo sư Wilma Parker cho tôi hay, bà rất xúc động ngay lần đầu đọc bài của tôi, bà nói rằng tôi có quyền hy vọng nơi ban giám khảo.  Trước giờ khai mạc, ban giám khảo đã đến chúc mừng và cho phép tôi đọc nguyên bài thay vì tóm lược như các sinh viên đoạt giải khác.  Có phải đây là đặc ân dành cho giải nhất toàn trường?  Một điều lý thú là tôi đã nhìn thấy các sinh viên Việt Nam đến tham dự khá đông, kể cả một số du học sinh đã không ngại đến hỏi tôi về những nhân vật trong câu chuyện.
Chỉ tiếc một điều.  Hoài Nguyên đã theo Bảo Trâm di chuyển về tiểu bang Washington ba năm trước. Phải chi Hoài Nguyên có mặt trong ngày hôm nay để nghe câu chuyện Mảnh Da Vàng, câu chuyện của tôi mà cũng là câu chuyện của cô, đứa con của một người lính bên kia chiến tuyến.  Và hơn hết, tôi nghĩ đây cũng là câu chuyện của những người Việt Nam thời ly loạn, để rồi khi hết loạn ly, chỉ còn lại những mảnh da vàng rách nát.  Nhưng là những mảnh da vàng để xót thương.
Rồi có một ngày dẫn nhau về nơi chôn nhau cắt rốn, cùng thắp lên những nén nhang tạ tội với tổ tiên và ước nguyện cho những người Việt Nam đã nằm xuống trong cuộc chiến tranh vừa qua, bất luận từ phía nào và nguyên cớ nào, được thanh thản nơi thế giới nào đó, một thế giới không binh đao và oán thù.
 
Virginia, xứ người hồn tôi
Chu Lynh