CHUYẾN GHE ĐỊNH MỆNH! Lý Bửu Lộc

CHUYẾN GHE ĐỊNH MỆNH!

Câu chuyện được bắt đầu như vầy:…

BƯỚC KHỞI ĐẦU của CHUYẾN ĐI ĐỊNH MỆNH !
Sau hơn sáu tháng ròng rã mua dấu xăng dầu để tính chuyện vượt biên, bằng chiếc ghe  nhỏ khoảng chừng một trăm giạ, chuyên chở muối đường sông của một thằng bạn trong xóm.

Nhóm quyết tử  bọn tôi, có tổng số là 12 người. Đúng y danh số của một tiểu đội cảm tử quân, quyết vượt thoát vòng vây ngục tù cộng sản, để mong tìm gặp bến bờ tự do cho cuộc sống… (tính luôn cả vợ chồng tôi cùng đứa con gái đầu lòng Lý Tú Anh (02 tuổi) và chị Ken cùng con trai nhỏ tên Cảo- Kía (01 tuổi) là vợ con của Huỳnh Long cũng là chủ của chiếc ghe định mệnh này).

Kế hoạch mọi sự tuần tự xảy ra:  Sửa chửa “con cá đồng” trở thành “con cá biển”, và chờ đợi ngày giờ đặc biệt để có thể cho ghe ra cửa khẩu cũng trên dưới 6 tháng.
Cuối cùng thì đêm rằm tháng 8 năm 1981, tôi nhớ rất rõ vì tối hôm đó là ngày vui tết trung thu của bọn trẻ. Tối đêm đó mặt trăng tròn to, bầu trời trong vắt không một áng mây là lúc chiếc ghe định mệnh của bọn tôi đã rời được khỏi cửa khẩu của sông Ông Đốc… với điều kiện phải cho đồn công an biên phòng này gửi đi 10 người khách vượt biên, trong số đó có một tài công và một thợ máy chuyên nghiệp.

Kế hoạch giao kết một đằng, nhưng mọi chuyện xảy ra khi làm thì lại là một nẻo. Tài công không có, thợ máy cũng không.
Gần hai ngàn cây mía ngụy trang chở trên ghe để giả vờ mua bán trên sông và cũng là nguồn nước, thực phẩm dự trữ cho đoàn người vượt biên trong những ngày dài lênh đênh trên biển cả. Tất cả đều phải thảy hết lên bìa rừng, để sau đó đổ lên ghe không biết bao nhiêu  là khách của nhóm công an biên phòng này. 
Chiếc ghe đã quá trọng tải, mặt nước chỉ còn cách be ghe khoảng chừng non một tất. Mọi người phải chen chút ngồi bó gối san sát vào nhau.

Mọi chuyện, toàn bộ đều bị khống chế của nhóm công an giữ cửa khẩu.

Một câu của người trong nhóm điều động chuyến đi này, vừa như hỏi, cũng như vừa ra lệnh với tôi : “Bây giờ không có tài công, không có thợ máy… anh tính sao hả anh Lộc?”.

Lúc ấy thực sự trong lòng tôi chỉ nghỉ một điều là “LÀM SAO ĐỂ THOÁT ĐƯỢC RA KHỎI CỬA KHẨU LÀ ĐỦ RỒI !”.. Bầu trời  và không khí TỰ DO đang  đợi chờ ta đó! 

Thế là Tôi đã không ngần ngại trả lời : ” không sao, tôi đem chiếc ghe này từ Bạc Liêu xuống đây được … thì trên biển cũng sẽ đi được!”. Anh bạn lạ có lẽ thích chí câu trả lời này nên khuyến khích tôi: “Đúng đó anh!… đường sông cong queo anh còn lái được, huống hồ chi trên biển thì mênh mông tha hồ khỏi lo”.
Vâng, tôi thầm nghỉ đúng vậy! 
Tôi chỉ cần vượt ra khỏi ngục tù cộng sản thì ngoài kia là bầu trời TỰ DO, Chỉ cần được hít vào đầy buồng phổi cái không khí của tự do thì dù có chết, có phải làm mồi cho cá dữ giữa đại dương tôi cũng mãn nguyện.

Thế là: một cựu sĩ quan pháo binh của QLVNCH, nay tôi đã bất đắc dĩ trở thành Tài công lái tàu vượt biển!  Còn thằng bạn tôi:…Huỳnh Long, (ông thầy giáo làng) trở thành anh thợ máy châm dầu nhớt cho máy tàu (TS150) này.
Hiểm nguy như vậy, thế mà sao vui lạ khi chiếc ghe đã thực sự vừa ra khỏi cửa sông Ông Đốc và ánh bình minh cũng vừa chớm xuất hiện từ mí giáp của nước với trời… ai ai cũng hân hoan và hớn hở ra mặt.

Không chỉ
 tưởng bọn 12, tiểu đội cảm tử chúng tôi có cảm giác đó thôi, nhưng thật sự ra thì tất cả mọi người trên tàu ai ai cũng đều như vậy.
Có người nói: “Đây là lần thứ tư đi vượt biên và đã bị tù một lần… đến hôm nay mới ra được biển”. Và thêm một người khác cũng nói: “Chuyến này hên quá, khi đến nơi bến bờ bình an rồi tôi nguyện ăn chay một tháng để đáp lễ”.
Tôi chẳng hiểu họ nói “khi đến bến bờ, … tên là gì và ở đâu vậy? mà sao chính tôi cũng chưa biết!  Mặc dù là vậy, mênh mông như đại dương là vậy … vì con tàu đi tìm tự do với “ông tài công bất đắc dĩ” như tôi đây chẳng biết đâu là phương hướng. Lúc đó lòng tôi chỉ biết ước ao rời khỏi Việt Nam, thoát xa địa ngục trần gian, khỏi sự kìm kẹp, gông cùn của cộng sản thế thôi.
Nhưng những lời chia sẻ chân thành của các bạn đồng hành làm lòng tôi cũng vui lây. Đã khiến tôi quên đi bao hiểm nguy trước mặt. Tháng 7, tháng 8 nầy ngư dân họ thường gọi là tháng “Lòng Trung” thì mặt biển im- động bất chừng, chứ không giống như tháng 3, tháng 4 là tháng của ” bà già đi biển”.
Thế là chiếc ghe định mệnh đã thật sự ra khơi, khi rặng rừng đước của bãi biển ở cửa Ông Đốc còn lờ mờ nhìn thấy như hàng tăm, thì biển bắt đầu dậy sóng!

Thế là mới vui vẻ đó, mặt nước mới yên lặng như tờ đó. Bây giờ bắt đầu gầm thét lên dử dội. 
Từng ngọn sóng trắng xoá, cao vút bỏ vòi như muốn nuốt chửng chiếc ghe vượt biên bé nhỏ của chúng tôi.
Mọi người trong ghe bắt đầu hốt hoảng lo sợ. Tiếng ồn ào là hét trong ghe vọng lên,. Có nhiều người đang cố tranh giành nhau đổ bỏ những can đựng dầu, để lấy làm phao mà lội vào bờ mông tự cứu lấy mạng mình. Không một ai lo tát nước từ trong ghe ra, sau những đợt sóng ập tràn vào.
Tôi thật sự sợ chiếc ghe nhỏ bé này sẽ bị đắm chìm, nên đã thét vọng vào trong: “Đừng sợ, hãy bình tĩnh!…hãy lo tát nước ra, đừng dành nhau những can xăng dầu nữa! 
Các anh liệu có thể bơi nổi vào bờ không?”.
Từ xa lộng theo gió như tiếng gầm gừ, thịnh nộ của biển cả… Tôi đã nghe giọng quát thật lớn của một vị khổng lồ, đầy uy quyền hỏi tôi: “Mày là ai ? mà dám bảo tụi kia đừng sợ!”.
Khắp thân thể tôi đã nổi da gà vì quá kinh hãi!.(Có lẽ đây là một sự mầu nhiệm, không thể hiểu nổi của ” bà cậu” trên biển cả). Quá sợ!… tôi liền hỏi vọng vào trong ghe: “Ai là người lớn tuổi trong ghe? Đạo gì?. Xin đọc kinh dùm !”
Thế là mọi người trong ghe:  kẻ thì lo giúp tát nước ra, người đạo phật thì niệm “Quan Thế Âm Cứu nạn !”, kẻ trông cậy Thiên Chúa thì cũng đọc kinh mân côi cầu xin Đức Maria trợ giúp!

Thế là “ông tài công bất đắc dĩ”  như được một sức mạnh vô hình, lái đưa con tàu định mệnh nhỏ bé này lướt giữa phong ba bão tố để mong tìm cho ra được bến bờ Tự Do!


PHẦN THỨ NHẤT của 15 NGÀY GIAN KHỔ TRÊN NẺO TÌM TỰ DO 


 Chiếc ghe gần như muốn bị nhận chìm trong cơn biển động. Nhiều tiếng la lối vì lo sợ… họ yêu cầu tôi phải cho chiếc ghe quay đầu trở vào bờ… vì rặng cây xanh xanh trong đất liền vẫn còn lờ mờ trông thấy. Tôi giữ im lặng như không nghe thấy gì hết và quyết nương theo sóng để chiếc ghe tiếp tục ra khơi. 
Theo hướng Đông- Nam của chiếc hải bàn, phải quyết tâm ra khơi cho đến hải phận quốc tế… mong chờ lòng nhân đạo của quốc tế ( tàu vớt tàu vượt biên !). Rồi thì rặng cây xanh xa xa trong bờ đã không còn nhìn thấy nữa. Trời nước mênh mông, cơn giận của biển từ từ dịu lại dần, những tiếng la thét trong ghe không còn nữa. Nỗi im lặng lạ lùng, kinh sợ bao trùm mọi người. Đói, mệt sau một ngày dài vật lộn với những cơn sóng dữ. Giờ thì trời đã tối, bắt đầu ẩn hiện nhiều ánh sao đêm… tôi vẫn ngồi giữ tay lái và quyết hết suốt đêm nay chiếc ghe này mong được chạm đến đường ranh của hải phận quốc tế. 
Thế là đã hơn trọn ngày đêm rời khỏi sự dòm ngó của anh công an khu vực, đã không sợ ông láng giềng tổ trưởng gọi đi công tác thủy lợi ( vì tên tuổi của tôi luôn được chiếu cố hàng đầu với nét mực đỏ ghi chú: “sĩ quan ngụy”)… tuy đang lênh đênh trên biển khơi nhưng lòng vẫn thấp thỏm chưa an, vì còn sợ bị tàu – ghe của bọn công an biên phòng bắt gặp. Chiếc ghe nhỏ khoảng độ 100 giạ, đặt một máy TS150 dưới lường, chở khẩm lừ người thì làm cách nào chạy nhanh cho được, nếu lỡ bị bọn công an biên phòng Việt cộng phát giác… bị bắt là cái chắc! Vài anh bạn lạ (nghe đâu từ Sài gòn được người môi giới để đi chuyến vượt biên nầy) thức giấc, thân thiện bắt chuyện hỏi tên tôi, mồi đưa tôi một điếu thuốc. Vừa lạnh, vừa đói và thần kinh thì luôn luôn căng thẳng vì lo nghỉ đủ mọi chuyện… hút một hơi thuốc , hít thật sâu đã khiến tôi thấy sảng khoái, người như lâng lâng bay bổng đến chín tầng mây…Thiệt tình giống y như những ngao thuốc lào được kéo trong những năm tháng ở các trại tù binh Sơn La, Nghĩa Lộ, Yên Bái vậy!
Cũng có vài câu hỏi vu vơ từ những anh chị nào đó trong ghe vọng ra: “mình đã đi xa bờ lắm phải không anh… đến hải phận quốc tế thấy tàu nước ngoài chưa?”. “Nhớ ngày hôm qua biển động sợ quá!… chết như chơi, nhưng công nhận sao anh gan thiệt… đã trấn an anh em trong ghe: đừng sợ !”. . Cũng có vài cô bác mời tôi ăn một ít bánh cho có thêm sức khỏe, để tiếp tục lèo lái chiếc ghe định mệnh chung này. Một buổi ban mai mới, mặt nước biển tàm tạm êm dịu. Tôi tính toán trong bụng chắc phải mất hết thêm một ngày nay nữa, với vận tốc lề rề như rùa của chiếc máy TS150 này thì chắc mới đến được vùng nước của hải phận quốc tế. Rồi sau đó mới vững tâm hơn,  tôi định lại hải bàn để cho ghe quay đầu về hướng Tây… là cốt ý,  mong sao đưa được chiếc ghe này đến vùng biển Thái lan, hoặc Indonesia hay là Malaysia gì đó cũng được… miễn sao xa khỏi cộng sản tìm thấy tự do là được. Tất cả chỉ biết hy vọng vào số mạng thôi vậy ! Thật vậy nhớ câu: ” Tận nhân lực- tri thiên mệnh”… không chút nào sai. 
Đang mơ màng vẻ hướng đi sắp tới thì từ nơi chân trời xa xa mây đen ùn ùn kéo đến, gió lại bắt đầu thổi mạnh để báo hiệu cho một cơn mưa giông và biển động khác!.
 
Người tính không qua trời tính !


 Biển động lớn, sóng vươn cao vòi như sẵn sàng nuốt trọn chiếc ghe nhỏ bé nầy. Làm cách nào dám chuyển hướng để quay đầu ghe như dự định ? Chỉ còn một cách sống là kê mũi ghe nương sóng gió mà đi! 
Giông tố chưa thuyên giảm thì Huỳnh Long bạn tôi lại báo: ” Lộc ơi hệ thống bơm nước giải nhiệt máy tàu đã hư rồi !”… thế thì lại cần nhiều bàn tay thay phiên nhau múc nước phụ cho hệ thống giải nhiệt máy. Rồi bão giông tiếp tục đến…. tôi thì đã gần như kiệt lực, tinh thần khi mơ lúc tỉnh…đã hơn 3-4 ngày chiến đấu với sóng gió đại dương, vì mỗi lần nhờ bất cứ một ai cầm lái hộ, thì chiếc ghe định mệnh này chòng chành như muốn lật úp. Thế là mọi người trong ghe lại khiêng tôi trở về tay lái. Họ sợ tôi không đứng vững,  sóng sẽ hất văng tôi xuống biển … thì ai sẽ giữ vững chiếc ghe nhỏ bé trên biển cả mỗi khi có sóng to gió lớn đây? Có người bảo tôi là một tài công giỏi ,  xin cứu mạng sống mọi người đừng bỏ tay lái,… chiếc ghe này sẽ chìm!. Cũng có nhóm lại ép buộc và hăm he sẽ quăng tôi xuống biển vì đã lấy tiền, lấy vàng làm nhiệm vụ tài công…. mà không tiếp tục giữ lái tàu. Cuối cùng thì thân tôi được cột vào mui ghe, để đề phòng bị sóng to gió lớn làm văng xuống biển. Còn cần để bẻ lái ghe họ cũng buộc bàn chân của tôi dính chặt vào để điều khiển qua trái qua phải. Và khi bão giông đến thì có vài ba người tiếp kè đỡ cho tôi được đứng vững hơn. Tôi chỉ ở tay lái đằng sau chiếc ghe ấy, nhắm mắt và lúc lắc bàn chân một chút là chiếc ghe định mệnh này vững vàng chẻ sóng mà tiến tới… chỉ có vậy thôi. 
 Mấy hôm rày trên ghe mọi người nhờ năm, ba cây mía còn sót lại nằm dưới đáy ghe, bẻ ra và chia cho nhau chút nước mía ngọt này mà cầm cự để sống, hay là nhờ những trận mưa giông mà có được ít nước mưa hứng để uống. 
 Mấy hổm rày cũng thấy nhiều tàu lớn của nhiều quốc gia khác trên thế giới qua lại. Chúng tôi cũng đã đốt quần áo lên để ra dấu hiệu cầu cứu nhưng chẳng có kết quả gì hết. Tôi không nản… máy ghe còn nổ, người người còn cùng nhau tát nước trong ghe ra mỗi khi có giông bão… thế là còn phải TẬN NHÂN LỰC ĐỂ TRI THIÊN MẠNG trong những ngày tới. 
 
ĐOẠN GIAN KHỔ CUỐI TRÊN NẺO TÌM TỰ DO
Liên tục 5 ngày 4 đêm chiếc ghe con luôn bị dập vùi trong bão táp.

Từng đợt sóng cuồn cuộn đẩy đưa chiếc ghe định mệnh đi không tài nào điều khiển, và cho đến bây giờ thì không ai có thể xác định tọa độ điểm đứng của chiếc ghe này được nữa.
Chỉ chắc chắn một điều là chúng tôi đang lênh đênh ngoài biển khơi, trên tuyến đường tàu của hải phận quốc tế.

Áo quần, vật dụng gì còn khô, có thể đốt lên để tạo lửa, tạo khói cho tính hiệu cầu cứu thì cứ đem ra đốt hết.

Biết bao nhiêu tàu bè lớn nhỏ của nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới đã đi ngang qua. Họ thấy đó, chụp hình hay là quay phim ảnh gì đó một lát rồi tất cả đều bỏ đi mất hút.

Tàu đến, rồi tàu cũng lại rời đi. Biển tạm im sóng gió đó, rồi biển lại giận dữ, ầm vang gào thét. Vui mừng đó, rồi tuyệt vọng đó, cứ liên tục đến đến, đi đi !

Cho đến buổi trưa của ngày thứ 5 thì đã thật sự xảy ra biến cố trên chiếc ghe nhỏ, trên chuyến vượt biên định mệnh này rồi! Ống quần jean của một anh bạn trong nhóm khách Sài Gòn, bị láp máy tàu cuốn vào và đã làm dập
gảy xương ống quyển của anh, máu tuôn chảy đỏ cả khoan ghe. Anh rên khóc thật thê thảm, một cảnh đau lòng, hãi hùng bao phủ mọi người.

Có vài ba anh bạn trẻ bắt đầu văng tục, chửi nhóm tổ chức vượt biên.
Họ bảo là: “khi móc nối bắt khách thì vẽ rồng, vẽ rắn”.
“Đúng tầm cỡ tàu biển vượt biên… bảo đảm, đáng tin cậy. Bây giờ thì té ra là một chiếc ghe con, máy móc “lô – can”, chưa gì mà hệ thống bơm nước đã bị hư. Người đi thì ngồi chen nhau như ép mắm, còn thằng tài công lấy vàng và đưa hết vợ con đi mà còn không cố gắng giữ tay lái”.

“Đ.M liệng mẹ bọn này xuống biển vì tụi nó là một lũ bất lương, lường gạt, hại chết tụi mình !”.

Lại còn thêm một anh bạn trong xóm, lúc xa xưa tự xưng cùng sống chết với anh em trên biển thì hôm nay cũng nói hùa theo đám đông trên ghe.

” Mẹ nó!… thằng mù dắt thằng đui đi vượt biên, chuyến này chắc chết hết.”

Đời đôi lúc là vậy! Tình người đôi lúc cũng bạc bẽo là vậy!… đến đường cùng rồi mới thấu hiểu vậy thôi.

Bên cạnh cái xấu cũng có cái tốt.
Bên cạnh kẻ ghét cũng được người cảm thông. Tôi nhớ lại mà thương chị Ken (vợ của Huỳnh Long bạn tôi), mấy hôm nay vì thấy tôi đã quá mỏi mệt, sống chết với chiếc ghe định mệnh này, đã bỏ tiền, bỏ công… không một cắc bạc lợi lộc nào vào túi, mà còn bị người ta chửi rủa thậm tệ và còn bị hăm he xô xuống biển.

Chị Ken tuy sức đã kiệt lắm rồi, vì bốn năm bữa nay không một hạt cơm, hột cháo gì vào bụng, vậy mà đứa con trai nhỏ của chị , vì quá đói nên cứ đòi bú luôn. Chị Ken tuy sức lực đã kiệt nhưng cũng cố thì thào đính chính cho mọi người hiểu:

“Anh Lộc không nhận vàng, tiền của ai để làm tài công lái chiếc ghe này hết đâu, đến phút cuối trước khi ra biển, vì nhóm chỉ huy bắt khách của tụi công an biên phòng gởi theo mười người, trong đó phải có một tài công, một thợ máy… nhưng rốt cuộc lại thì không, bởi thế nên buộc anh Lộc và chồng tôi phải đứng ra chịu. Thế là một người thì phải lái ghe và một người thì phải lo dầu nhớt máy đó, cũng vì  bọn tôi chỉ muốn VƯỢT BIÊN. Các anh chị hãy hiểu cho chúng tôi nhất là anh Lộc đã chịu gian khổ, chịu oan ức lắm. Nếu có muốn hỏi tội, có muốn đòi tiền vàng gì đó… hãy tìm bọn bắt mối vượt biên của các anh chị đi !”.

Lời chị Ken đã làm dịu lại sự tức bực của nhóm khách trẻ này phần nào… quanh đâu đó có tiếng thở dài và cũng đã có nhiều ánh mắt cảm thông.

Rồi qua ngày kế tiếp thì  anh bạn bị thương đó đã chết… vì mất quá nhiều máu, không thuốc men và còn nằm dầm mình, dầm luôn cả vết thương trong một chiếc ghe đầy nước dầu và máu dơ bẩn đó.

Kế tiếp là chị Ken cũng qua đời!

Tôi nghe tiếng khóc than khe khẻ của Huỳnh Long ( bạn tôi).
“Em ơi ! Em ơi, em bỏ đi rồi anh và con biết làm sao đây?.. trời ơi!
em ơi!”.

Thế là thêm một mạng người ra đi vĩnh viễn nữa, chị Ken chết rồi thì kiếm đâu ra nguồn sữa cho “Cảo Kía” đây?… rồi thì chẳng lâu cháu nhỏ cũng đã đi theo mẹ của nó luôn.

Đau thương quá lớn!
Bây giờ thì Huỳnh Long như người mất hồn, không khóc không than nữa… mà chỉ ngồi lặng im ôm xác vợ và con.

Xác những người chết thân nhân không nỡ rời xa, họ luôn muốn giữ hoài bên mình.
Nhưng vì mùi hôi, vì sức khỏe của những người còn đang sống trên ghe… nên không thể và tất cả phải “Thuỷ Tán”.
Thật nát lòng khi phải nhìn những thi thể nầy trôi lềnh bềnh theo sóng, bám đằng sau đuôi ghe… một đoạn, rồi từ từ mất hút.

Giờ thì trên ghe đã mất dần tiếng cười, tiếng nói, tiếng cải cự nhau như những ngày trước đây.
Giờ thì mọi người chỉ lo đâm đâm để ý nhìn xa xăm, cốt mong tìm thấy những chấm đen xuất hiện trên biển… để báo động liền cho tôi quay hướng ghe chạy về phương ấy.
Tất cả là cũng chỉ cầu mong có một phép lạ, được tàu vớt, được sống và trở lại đất liền.

Rồi thêm một ngày mới, một cơn mưa giông mới kéo đến. Mọi người lo tìm cách hứng chút nước để uống.

Quang, vợ của tôi cũng vậy! Nàng cũng tìm cách để hứng nước cho nàng và cho đứa con gái nhỏ, tuy bụng đang có mang độ 8, 9 tháng.

(Xin kể thêm chút về lý do tại sao mà ngày giờ dự tính bị đình trễ cho chuyến ra khơi của bọn cảm tử 12 chúng tôi… Chúng tôi đã dự định là trong khoảng trung tuần tháng 3 năm 1981 khi xăng dầu mua dự trữ đủ là sẽ vượt trạm công an biên phòng tại cửa sông Gành Hào,… bằng cách là nữa đêm cho ghe tắt máy và thả trôi theo dòng nước ròng để ra cửa khẩu. Lúc đó Quang, vợ của tôi đã mang bầu khoảng 2,3 tháng gì đó thôi. Cách thức thả ghe trôi theo con nước ròng để ra biển này thì đã có nhiều chiếc may mắn đi lọt  và cũng có nhiều chiếc bị phát giác, bị bắt. Đúng là: “năm ăn, năm thua !”.
Bởi không hoàn toàn chắc ăn nên mới có một ngày,… chúng tôi tình cờ gặp được một người bạn xưa chung xóm. Anh ta đã từng giúp được cho nhiều chuyến ghe qua trạm kiểm soát của công an biên phòng rất tốt đẹp, nên đã nhờ anh này giúp đỡ làm môi giới cho ra cửa khẩu. Sau khi được sự ưng thuận rồi thì bọn tôi phải chờ đợi lệnh lạc, giờ giấc của họ, nên đã phải kéo dài thời gian hơn sáu tháng sau. Thế nên khi được ra ghe thì Quang vợ của tôi cũng sắp đến ngày giờ sinh nở).

Hôm nay là ngày thứ 7 lênh đênh trên biển và mưa giông cũng lại kéo đến. Quang cố đứng lên hứng lấy một ít nước từ mui ghe đổ xuống, một cơn lắc mạnh của ghe bởi sóng dữ đập tới đã làm nàng té ngã, thai bị chấn động khiến nàng đau bụng và sinh con.

Một đứa cháu trai rất mạnh dạn, cất tiếng khóc chào đời trên biển trong chuyến vượt biên đi tìm tự do của mẹ cha! Nhưng cháu chỉ sống được độ hai ba giờ đồng hồ gì đó thôi thì đã qua đời vì đói lạnh và động kinh. 
Cháu bé không áo quần để mặc, mẹ thì kiệt lực nên không đủ sữa cho con và cháu bị động kinh vì lúc cháu chào đời không có dao kéo để cắt rốn, nên buộc phải dùng một mảnh kiếng bể soi mặt, thay kéo mà cắt rốn cho cháu. Chắc bởi vì thế mà cháu bé đã bị kinh phong giật chết.

Trước khi thả xác cháu xuống biển, cô bác lớn tuổi trên ghe gợi ý vợ chồng tôi nên đặt tên cho đứa con trai mới sanh nầy, và xin cháu phù hộ cho chiếc ghe này.

Quang lúc ấy sức khỏe rất yếu, mê man vì nhao còn nằm trong bụng chưa ra… nên tôi đã đặt tên cho đứa con trai nầy là LÝ BỬU LONG và cũng đã nguyện cầu vong linh con trẻ hãy giúp cho chuyến ghe này sớm đến bến bờ TỰ DO!… trước khi tự tay mình thủy táng thi hài cháu trên biển. Xác cháu LÝ BỬU LONG cũng trôi theo sau đuôi ghe, đưa tiễn tôi một khúc đường trên biển.

Rồi khoảng 1 giờ sau đó đứa con gái của tôi (Lý Tú Anh) cũng qua đời vì đói khát và kiệt sức. Sau đó thì chiếc máy TS150 cũng không còn hoạt động nữa.
Rồi thì tay lái ghe được buộc chặt lại… mặc tình cho những cơn sóng bão sắp tới muốn đưa đẩy về đâu cũng được! Tôi đã tận hết sức mình rồi, được mọi người thương cảm cho vào trong ghe nằm bên cạnh vợ, nằm bên cạnh thằng bạn thân đã quyết sống chết cho chuyến vượt biên ( Huỳnh Long). Để thỉnh thoảng nghe thêm một vài người trong ghe mới vừa chết. Lại cũng đã nghe có một vài người mê sảng nhảy xuống biển và cũng không quên la lớn lời từ biệt anh chị em trên ghe.

Mọi người trên ghe giờ thì chỉ còn một bộ đồ dính da, không còn gì để đốt làm tính hiệu cầu cứu nữa!

Tính tổng cộng có trên 30 chiếc tàu đủ các nước qua lại trên hải phận quốc tế, đã nhìn thấy ghe vượt biên của chúng tôi và đã bỏ đi. Bây giờ thì tàu bè không còn thấy bóng’… sóng biển đã xô dạt chiếc ghe định mệnh này đến một vùng nước biển có một màu tím ngắt, không còn là màu xanh của nước biển bình thường như mấy ngày trước đây nữa rồi. Vợ tôi thỉnh thoảng mê sảng đòi uống nước, tôi cố gắng lắm mới có được chút nước tiểu cho nàng uống. Huỳnh Long thỉnh thoảng cũng nài nỉ xin tôi chút nước (tiểu)… tôi cũng cố gắng vậy thôi. Ai cũng còn xương bọc da, một xác người chết 5, 7 người cố khiêng liệng xuống biển cũng rất khó khăn vì không ai còn sức.

Có một hôm Huỳnh Long đã hỏi tôi “tao, mầy ai chết trước đây Lộc ?”.
Tôi trả lời: “không biết”. Tất cả như bất động !

Thế mà đến ngày thứ 15, tờ mờ sáng có tiếng người trong ghe la to: “Có tàu Mỹ vớt rồi, có tàu Mỹ vớt rồi!”. Thật vậy,… tôi đã thấy một thang dây từ trên một chiếc tàu rất lớn có lá cờ MỸ bay phấp phới… một anh lính hải quân Mỹ leo xuống ghe chúng tôi bằng chiếc thang giây này. Thế là trừ 8 người chết trên biển (3 trẻ em & 5 người lớn), tổng số còn lại được đưa lên tàu Hải Quân Mỹ tên SOUTHERN CROSS là 61 người ( không phải chỉ có 22 người như dự tính trước khi rời VN). Chúng tôi 61 người đã có được chung một ngày SINH NHẬT mới!… Chúng tôi đã được cứu sống bởi Hải Quân Mỹ, bởi lòng nhân đạo của Người Mỹ và hiện nay chúng tôi đã cùng sống trên đất nước Mỹ thân yêu này!
LÝ BỬU LỘC