DONRY NGUYEN – NGUYỄN ĐÌNH CHIẾN

Tóm Tắt Tiểu Sử
– Họ tên thật: Nguyễn Đình Chiến.
– Bút hiệu: Donry Nguyễn
– Sinh ngày ký Hiệp Định Grenever chia đôi đất nước: 20-7-1954.
– Quê quán: Tuy Hoà, Phú Yên, miền trung nước Việt.
– Cựu học sinh Trường Trung học Tổng hợp Nguyễn Huệ Tuy Hòa khoá 1967-1974.
– Nhập ngũ mùa hè 1972, Là pháo thủ tiểu đoàn 221/PB, SĐ22/BB
– Tháng 3-1975, Đơn vị tan vỡ trên đường di tản từ Kon Tum về Duyên hải.
– Tù chính trị từ đầu năm 1977 đến cuối năm 1981 tại trại tập trung A30 Phú Khánh.
– Đến Mỹ năm 2015, hiện định cư tại Los Angeles California.

–Tác phẩm đã xuất bản: Người Lính Làm Thơ Như Viết Sử.  Phát hành năm 2025 tại Hoa Kỳ nhân tưởng niệm 50 năm ngày Miền Nam thất thủ.
-Sáng tác thơ đăng trên các báo tại Hoa Kỳ: SaigonTimes, Trống Đồng, Cỏ Thơm, Tạp chí Ngôn Ngữ, Tin Văn, Văn Thơ Lạc Việt…
Sinh Hoạt:
-Thành viên Văn Thơ Lạc Việt Bắc California từ năm 2023.
-Thành viên Quốc Ngữ Việt Nam Văn Hiến từ năm 2024.
 Truyện Ngắn
 CÁI CHẾT CỦA MỘT CON NGỰA KÉO XE.
Donry Nguyễn
 

 (Ảnh chụp năm 1985 lúc tôi làm xà ích)

* Có người hỏi tôi:
 
-Chạy xe ngựa dễ hay khó?
 
Thoạt đầu tôi cho rằng rất dễ, bởi vì bất cứ tay ngang nào, sau 15 phút học lý thuyết và chừng một buổi thực hành cũng đều có thể điều khiển chú ngựa kéo chiếc xe chạy bon bon trên đường một cách ngon ơ. Nhưng sau này, khi trải qua nhiều năm tháng đụng chạm với nghề, tôi mới thấy rằng, đôi khi cũng khó, nhất là với những chú ngựa trái tính trái nết, hay dở chứng bất thường.
 
Đối với các phương tiện cơ giới, máy móc được chế tạo sao cho con người hoàn toàn có thể điều khiển theo ý mình; còn đối với loài vật, thì nó có những suy nghĩ mà đôi khi con người không biết, hoặc có những phản ứng bất ngờ khiến chúng ta trở tay không kịp.
 
Tôi đang nói về con ngựa mà Ông già vợ tôi đã sắm cho cậu em vợ tôi chạy.
 
Đó là một chú ngựa Khứu vạm vỡ. Gọi là ngựa khứu vì sắc lông đỏ-đậm pha màu nâu-đậm của nó. Chú còn khá trẻ, chắc là chưa có nhiều kinh nghiệp nên dù chạy rất hăng nhưng nhút nhát và hay hoảng sợ thình lình.
 
Tưởng cũng cần kể thêm rằng, bất cứ con ngựa kéo xe nào khi thiết kế bộ dây cương để điều khiển, người ta cũng đều gắn vào hai miếng bá, lớn hơn bàn tay một chút, che hết tầm nhìn hai bên mắt, chỉ cho nó nhìn thẳng về phía trước, chạy theo hiệu lệnh của chủ; và sẽ không bao giờ có thể liếc ngang liếc dọc để ngắm nghía những người đẹp qua đường hay đáp lại nụ cười lẳng lơ của một ả ngựa cái nào đó…
 
Tôi trở thành xà ích cũng là một việc bất đắc dĩ. Số là, sau khi rời khỏi “trại cải tạo” vào cuối năm 1981, trở về tham gia vào đội quân thất nghiệp khổng lồ nhờ chính sách “ngăn sông cấm chợ” lúc bấy giờ, tôi xớ rớ ra vào chả biết làm gì.
 
Mẹ tôi thấy vậy mới bảo:
 
-Con cũng gần ba mươi tuổi rồi, thôi thì “lấy vợ làm ăn” cho yên phận con ạ!
 
-Mẹ làm như không lấy vợ thì không làm ăn được?
 
-Chớ sao nữa? Ông bà mình nói vậy mà đúng, lấy vợ rồi thì mới có động lực thúc đẩy làm nuôi vợ nuôi con, chớ một thân một mình thì cứ lông bông mãi thôi. Với lại con là con cả, má lo cho con xong để còn lo cho các em con nữa…
 
Nghe cũng có lý, tôi đồng ý. Thế là mẹ tôi đi hỏi cưới cô em xinh đẹp hiền lành trong xóm cho tôi. Cưới xong, sống chung nhà với tám anh chị em rất bất tiện, tôi nhờ hai người bạn cùng nhau lên núi chặt nguyên một nét nhà, kết bè thả xuôi theo sông Đà rằng, đem về tự cất một ngôi nhà nhỏ trét đất vô cùng ấm cúng.
 
Sau đó tôi làm đủ thứ việc để mưu sinh, nhưng việc gì cũng chả ra sao! Ông già vợ tôi (vốn là một viên chức cảnh sát quốc gia), đi tù về trước tôi vài tháng – (có lẽ nhờ vậy mà ông “thông cảm” chịu gả con gái của ông cho một thằng “lỡ thầy lỡ thợ” như tôi) – lấy làm lo lắng lắm.
 
*
 
Mấy lần ông đề nghị tôi mua xe ngựa tham gia vào hợp tác xã vận tải thô sơ Hòa Nam với ông, để cùng chở lúa cho Cty Lương thực huyện Tuy Hòa; nhưng tôi đều nại lý do thiếu tiền để từ chối. Không phải tôi chê nghề vất vả; nhưng nhìn hình ảnh những người xà ích dùng cái roi mây dài thượt quất tron trót lên lưng, lên mông ngựa để thúc nó chạy nhanh tôi chẳng đành lòng!
 
Ông bèn lập kế, một bữa ông kêu hai vợ chồng tôi đến, và đưa ra một “tối hậu thư”:
 
-Có chiếc xe ngựa kia họ bán rẻ có 2 chỉ, tao cho 1 chỉ, còn 1 chỉ tụi bay chạy trả, lấy xe về đi chở lúa với tao. Lần này nói không nghe nữa tao từ!
 
Vợ tôi xanh mặt.
 
Thế là tôi trở thành anh chàng lái “thổ mộ xa” trước nụ cười tủm tỉm của anh bạn Hòa cọt của tôi.
 
*
 
Vào mùa khô ráo, việc chở lúa từ các xã vùng xa về tổng kho Đông Tác hầu như diễn ra hàng ngày; nhưng vào mùa đông, các kho trống rỗng, cánh xe ngựa và cộ bò gác gọng nằm nghỉ.
 
Khổ nỗi, máy móc nếu không hoạt động thì để nó nằm yên đấy, không phải tốn dầu mỡ gì….nhưng với bò ngựa thì chạy hay không chạy cũng phải cho nó ăn uống, trong khi những cánh đồng chung quanh Thị trấn Phú Lâm-quê tôi-cỏ không mọc kịp cho con người cắt, vì quá nhiều cộ bò và xe ngựa.
 
Nhiều bữa vợ tôi ôm cái bao không nằm trên bờ ruộng mà khóc, hy vọng nước mắt sẽ khiến trời xanh cảm động làm cho cỏ mọc nhanh hơn; tiếc thay cỏ không phải như loài măng Mạnh Tông, không biết xúc cảm trước nỗi thống khổ của loài người…Cho nên khóc chán, nàng lại đứng lên cố gắng nạo cả những gốc cỏ già trộn lẫn bùn đất về cho ngựa ăn qua bữa.
 
Thấy thế, tôi bàn với vợ, rủ thêm ông anh cột chèo và cậu em, đánh xe lên vùng kinh tế mới Sơn Thành, cách quê tôi chừng 25 cây số, để vừa dễ dàng tìm cỏ cho ngựa ăn, vừa mua thêm khoai sắn chở về các chợ vùng biển bán lại.
 
Đi được vài chuyến, công việc trôi chảy, chúng tôi cũng kiếm được chút đỉnh tiền chênh lệch nên rất hào hứng.
 
Thường chúng tôi chạy vào ban đêm để tránh nắng, khiến ngựa không phải mau mất sức. Ban ngày, các chú  được buộc vào trong những bóng râm nhởn nhơ nhai cỏ, hoặc nằm lim dim ngủ, trong lúc chúng tôi làm việc, đào sắn mì, cắt gọn bỏ vô bao may lại, chờ đêm tối chạy về cho mát.
 
Mỗi bận đi về đều thong dong thế cả.
 
Hôm ấy, như thường lệ, công việc xong xuôi thì trời sụp tối. Mảnh trăng thượng tuần treo lơ lửng trên nền trời xám bạc khi chúng tôi lên đường.
 
Qua khỏi con đường đất đỏ chạy sát dưới chân Hòn Kén; một địa danh nổi tiếng trên tỉnh lộ 7B mà những ai từng di tản từ Pleiku về Tuy Hoà trong tháng 3 năm 1975 đều không thể nào quên; chúng tôi nhập vào con đường trải sỏi, bằng phẳng, chạy song song với con mương nước, từ Đập Đồng Cam dẫn về đồng bằng.
 
Đoạn này khá trống trải nên gió lạnh hun hút thổi tới. Làng Thạch Thành ẩn mình bên kia cánh đồng, với bóng đen của những hàng tre oằn mình nhẫn nại trong cái lạnh mùa đông giá buốt, đường vắng ngắt không một bóng người, thỉnh thoảng vài tiếng chó sủa vu vơ vọng lên văng vẳng, rồi âm thanh lại sớm chìm vào tĩnh mịch.
 
Chúng tôi sắp hàng một chạy dọc theo bờ kênh, tôi chạy sau chót vì ngựa tôi yếu nhất đoàn. Không gian trống trải đến nỗi, tiếng móng ngựa gõ lóc cóc xuống mặt đường, và tiếng sỏi lạo xạo nghiến dưới bánh xe lăn nghe rõ mồn một.
 
Bất ngờ, một cơn gió ùa qua lạnh ngắt, tôi rùng mình kéo cao cổ chiếc áo nhà binh đã sờn, trao dây cương cho vợ giữ giùm, quấn một điếu thuốc rê hút cho ấm bụng.      
 
Khi giành lại dây cương phì phà điếu thuốc, tôi nhìn lên, trong ánh sáng mờ nhạt của  mảnh trăng non, soi bóng âm u xuống mặt con mương loáng nước, cái bóng đen đen của chiếc xe cậu em cách xe tôi một đầu ngựa…đã biến mất khỏi mặt đường!.
 
Tưởng là hoa mắt, vì tôi vốn cận thị mà không có kính để đeo, tôi dụi mắt cố mở to nhìn lại cho rõ, thì cũng là lúc vợ tôi đập tay la lớn, cố tình cho hai chiếc xe chạy trước cùng nghe:
 
-Ngựa năm Điểu lọt xuống mương rồi…dừng lại mau…cứu…cứu…cứu!
 
Một luồng ớn lạnh chạy dọc sống lưng, tôi hấp tấp ghìm cương cho xe dừng hẳn lại, rồi vội vàng nhảy xuống, chạy về phía cái khối đen sì đang bì bõm dưới mương nước sâu. Tới nơi, nhìn thấy cậu em đang cố gắng hai tay nâng đầu con ngựa lên khỏi mặt nước, tôi nhảy ùm xuống phụ lôi vào bờ; nhưng…những cố gắng của hai anh em tôi đều vô ích.
 
 
Chiếc xe chất đầy sắn, nặng nề trì xuống, trong lúc mương nước mùa này rất sâu và chảy xiết, vướng víu bộ áo quần trên mình, tôi bơi chập choạng, cái lạnh thấm vào cơ thể khiến tôi run lập cập, phải buông tay để tự cứu mình…
 
Khi ông anh cột chèo cầm cái câu-liêm chạy tới la to lên:
 
– Cắt dây…cắt dây…cho con ngựa thoát ra…
 
Thì mọi việc xem ra đã muộn!
 
Cả tấn gồm khoai sắn, và trọng lượng chiếc xe đã kéo con ngựa tội nghiệp xuống dòng nước sâu; có lẽ nó đã cố vùng vẫy để thoát ra khỏi mớ dây nhợ lùng bùng, mà con người-vì miếng cơm manh áo-đã buộc chặt nó vào cỗ xe oan khiên-và hủy diệt nó-trong buổi tối định mệnh này!
 
Bất lực nhìn dòng nước vừa cướp đi một phần tài sản của ông già, mà lúc này nó đã thản nhiên trơ mặt ra nhìn chúng tôi không chút xót thương, mấy anh em tôi co ro bên vệ đường vừa run lập cập vừa rít thuốc cho đỡ lạnh.
 
Cậu em giọng lạc đi nói qua kẽ răng:
 
-Đang chạy ngon lành…tự nhiên nó tạt mạnh qua bên phải…chiếc xe nghiêng hẳn rồi lọt ũm xuống mương…em trở tay không kịp…em cũng đâu biết bơi…mà nước sâu quá… em cố nâng cái đầu nó lên cho nó thở mà không nổi…hu hu!
 
-Đoạn này khá rộng và sâu…phải hơn 2 mét nước chứ không ít…
 
-Không biết nó thấy cái gì mà hoảng sợ nhảy lẹ vậy không biết nữa…?
 
-Chỗ này hồi xưa là đường di tản, người chết nhiều lắm…xác trôi nghẹt
 ứ cái cống xả phía dưới đây…chắc là có ma hù dọa nó nên nó mới sợ vậy…
 
Nghe ông anh nói câu này làm chúng tôi càng thêm sợ hãi, nhất là trong cảnh âm u ma mị, đầy vẻ chết chóc đang lởn vởn quanh đây. Vợ tôi mặt mày lấm lét ngồi sát vào tôi rên rỉ:
 
-Bây giờ phải làm cái gì đi chớ…hổng lẽ ngồi đây chờ tới sáng?
 
-Đợi bớt lạnh một chút rồi thi nhau lặn kéo nó lên, nếu nó chết thì còn cái xe và sắn khoai… phải vớt vát lại chút đỉnh…
 
Vợ tôi bắt đầu khóc thút thít:
 
-Tội nghiệp ông ba em…bà má vừa vay mượn 3 chỉ vàng sắm con ngựa này… mới chạy vài tháng chớ mấy!
 
-Lỡ rồi… biết sao…còn người là còn của…may chớ cậu năm nó chết nữa thì càng khổ…
 
Mấy anh em ngồi bàn tán trong không gian âm u trĩu nặng, chưa biết làm thế nào thì may sao lúc đó, một cậu thanh niên đạp xe ngang qua, dừng lại hỏi chuyện. Khi biết đầu đuôi, cậu ta không nói không rằng, cởi quần áo cầm cái câu-liêm lặn xuống mương. Phải nói cậu khỏe thiệt, không biết lạnh là gì.
 
Sau mấy lần ngoi lên hụp xuống cậu ta cắt được dây, kéo được con ngựa vào bờ cho chúng tôi đưa lên mặt đường.
 
Tội nghiệp…Mắt nó trợn trừng và cái bụng cành nước. Tôi không dám hình dung ra cái giây phút lâm chung của nó…
 
Ì ạch mãi, cuối cùng chúng tôi cũng đưa được cái xe lên bờ, rồi đi dọc theo mương lượm những bao khoai sắn trôi dạt, chất lên ba chiếc xe còn lại. Hỏi tên cậu thanh niên để có dịp trở lại đền đáp nhưng cậu nhất định không nói, chỉ cười cười rồi lên xe đạp đi mất. Chúng tôi nhìn theo cậu, lòng dâng lên niềm cảm phục mà không biết nói gì hơn.
 
Còn lại mấy anh em, chúng tôi đưa xác con ngựa lên xe, gác gọng nó lên chiếc xe trước rồi kéo đi. Cho tới bây giờ tôi vẫn không quên được cái dáng ủ rũ của cậu em vợ tôi, khi lầm lũi lê bước sau lưng xác ngựa.
 
Khi đến cầu máng Đồng Bò, nhìn thấy dải cát rộng ven sông, chúng tôi bàn nhau, mượn cuốc xẻng đào một cái hố để chôn con vật xấu số. Chôn xong, chúng tôi đứng chắp tay cúi đầu dành cho nó một phút mặc niệm, tôi thì thầm khấn nó mà như nói với chính mình:
 
-Thôi nhé Khứu…Vĩnh biệt mày! Hãy yên nghỉ, coi như mày đã trả xong món nợ đời mày…chỉ còn lại tụi tao…tiếp tục đời mình để trả cho xong một kiếp…ngựa người…
 
Công việc xong xuôi thì tiếng gà đã gáy rộn trong thôn. Chúng tôi nặng nhọc lên xe trở về. Phương đông một vừng sáng đục vừa ửng lên trong nền mây xám xịt.
 
Vợ tôi mệt mỏi tựa lưng vào thành xe, đôi mắt nhắm nghiền như cố xua tan bao nhiêu hãi hùng và phiền muộn sau một đêm không ngủ. Hàng mi đẫm khô dấu lệ của nàng, nhăn nheo trên khuôn mặt thanh xuân sớm hằn lên vết nhọc nhằn của một đời gian lao nghèo khó…
 
Lòng tôi trĩu nặng, cảm thấy tương lai của mình chắc rồi cũng u ám giống như hình ảnh bầu trời trước mặt, y hệt bầu trời trong chiến tranh trước đây mà Phạm Công Thiện đã từng buồn bã đặt tên:
“Bầu trời Việt Nam mưng mủ!”
–Donry Nguyễn
37 NĂM NGÀY
BỨC TƯỜNG
BERLIN SỤP ĐỔ,
NHỚ BẠN XƯA
(1989-2026)

-thương tiếc Hạnh.

Vào ngày này 37 năm xưa,
Bọn chúng tôi đang đãi vàng trên núi.
Vùng nước độc ma thiêng thượng nguồn sông Cà Lúi,
Khuất mặt trời nên chiều xuống rất nhanh.

Nhóm có người sốt xuất huyết toàn thân,
Nằm run rẩy trên nền nứa lạnh.
Thiếu thuốc men e bạn mình khó sống,
Chúng tôi vội vàng cột võng khiêng đi.

Đêm tối đen từng bước chậm rì,
Ra tới bìa rừng bạn vừa tắt thở.
Gói xác bạn ngậm ngùi chiếc mền sẵn có
Thuê chuyến xe cọc cạnh chở bạn về xuôi.

Ngày ra đi cả bọn năm người,
Nay trở về chỉ còn lại bốn …
Thằng nào cũng từng qua mùa chinh chiến,
Chưa biết sợ là chi
Vậy mà 15 phút trôi đi …
Dài như thế kỷ,
Chẳng thằng nào dám gõ cửa báo hung tin.

Nghe tiếng chó sủa vang,
Vợ bạn bưng ngọn đèn ra xem thử.
Thấy xác chồng chị òa lên nức nở,
Ôm thây chồng khóc nghẹn … anh ơi!

Chúng tôi lặng yên không thốt nên lời,
Từ hôm đó tôi giã từ rừng núi.
Chỉ e sợ một ngày vợ tôi sẽ không chịu nổi,
Nếu tôi trở về như thằng bạn tôi đây.

•
37 năm biết mấy đổi thay …
Người bạn năm xưa bây giờ mồ khô ngọn cỏ.
Tên tuổi bạn mấy ai còn nhớ,
Cháu con chắc cũng quên rồi.
Tôi lưu lạc xứ người,
Lâu lắm chưa về thăm xóm chợ.
Nghĩ thương bạn một thời khốn khổ,
Kiếm miếng ăn thôi đành bỏ mạng núi rừng.

•

37 năm ngày bức tường ô nhục Berlin,
Đổ sụp xuống nối liền Đông-Tây Đức.
Không có cảnh nồi da xáo thịt,
Không có trại tập trung,
Không nung nấu căm hờn,
Không bần cùng đói rách,
Để hôm nay …
Đất nước họ hùng cường
Dân chúng họ vui hưởng cảnh giàu sang hạnh phúc.

Tôi không hiểu vì sao những kẻ nắm quyền sinh sát,
Lúc bấy giờ không mở rộng vòng tay,
Trọng dụng nhân tài,
Đem công nghiệp miền Nam ra phương Bắc,
Đoàn kết toàn dân một lòng hòa hợp,
Cùng xây lên đất nước đẹp giàu…

Than ôi, não ngắn thù sâu,
Chỉ chăm chú tóm thâu quyền lực,
Tha hồ vơ vét,
Lột sạch miền Nam,
Hợp tác hóa ruộng đồng khiến dân chúng lầm than,
Phải cắm đầu lên non xuống bể,
Kiếm miếng ăn hành thân hại thể,
Đạo đức suy vong,
Lòng người ly tán,
Say học thuyết điên cuồng mộng tưởng.
Cảnh thiên đường tôi chưa thấy bóng,
Đã thấy vòm địa ngục thênh thang.
Làm kiệt quệ tương lai nòi giống Việt.

•

51 năm ngày núi sông nối liền khoảng cách,
Sao lòng người còn rẽ Bắc chia Nam.
Khi bạo quyền lo vơ vét cho thỏa túi tham,
Gieo thù hận lên những mái đầu thơ trẻ.

Khi kẻ thắng ăn mừng trên nỗi đau của người thất thế,
Nhưng lại cúi đầu trước bọn ngoại bang.
“Hèn với giặc mà ác với dân”
Hỏi làm sao không đau lòng cho được.

Nhiều đêm thức giấc,
Vỗ gối mà than …
Biết bao giờ lành lặn vết thương,
Tôi trở lại thắp nén hương,
rót chén rượu chiêu hồn nơi mồ bạn.

Đêm tối quá chưa thấy trời hừng sáng,
Chạnh nhớ ngày bạn bỏ đi xa.
Tôi viết vội mấy câu thơ …
Tưởng niệm một thời chia nhau nghèo khó.

Bạn hiển linh nơi cuối trời xa đó …
Xin nguyện cầu cho nước Việt thân yêu.

Donry Nguyễn
BIỆT KÍCH HÀNH
(Kính tặng những chiến sĩ Kinh Kha VNCH)

Kinh Kha thuở trước qua sông Dịch,
Ba nghìn tân khách khóc đưa tang.
Biệt kích thời nay vào đất chết,
Lặng lẽ trong đêm tự giấu mình.

Ngàn xưa một bọn cuồng khanh tướng,
Mộng tước công hầu vay máu xương.
Thời nay một lũ làm trâu ngựa,
Mơ đem súng đạn dựng thiên đường.

Bạn ta mới phải ra trận mạc,
Đem sức trai hùng bảo vệ dân.
Ra đi hào khí rung trời đất,
Mặt lạnh như tiền, Biệt kích quân.

Tráng sĩ một đi không trở lại,
Gió lạnh vi vu Dịch thủy buồn.
Bạn ta nhảy xuống trên đầu giặc,
Sống chết coi hề, như khói sương.

Len lỏi rừng sâu truy tìm dấu,
Vạch lá lần theo đám khỉ rừng.
Ngày núp mặt trời chôn đỉnh núi,
Hồn ma biên giới thức về đêm.

Cực phải tránh nhau không thèm bắn,
Nhìn thấy bọn này tức ứa gan.
Khi không kéo rốc vào cướp phá,
Gây cảnh tang thương khắp xóm làng.
•
Bạn ta một bữa không may mắn,
Lọt giữa trùng vây họng súng thù.
Đưa lưng hứng cả nguyên tràng đạn,
Ngã xuống âm thầm như lá khô.

Kéo vội xác mày vùi lớp đất,
Nấm mộ san bằng không khói hương.
Tao vuốt mặt mày lần sau chót,
Hồn mày quanh quẩn giữ biên cương.

Lén chạy ra khe tìm mạch nước,
Múc lẹ cho đầy hai bình đông.
Chia mày một nửa, tao một nửa,
Thay làm rượu đế rưới mồ không.

Kinh Kha lúc trước còn lưu thủ,
Tạ tấm chân tình Thái tử Đan.
Bạn ta gối đất nằm yên ngủ,
Dưới vạt rừng hoang không tuổi tên.

Tao hứa khi nào may về được,
Sẽ tìm thưa báo mẹ mày hay.
Mẹ mày không chắc còn nước mắt,
Nhỏ xuống mà thương số phận mày.

Số phận những thằng đi làm lính,
Chọn vào Biệt Kích nhảy rừng sâu.
Đánh nhau không phải do mình chọn,
Hòa bình xa lắc tận đâu đâu.

Lớn lên giữa buổi Xuân Thu Việt,
Sông núi ngậm hờn chia Bắc Nam
Tao với mày đây còn sống sót,
Thì cũng suốt đời mang vết thương.

Mai có trực thăng vào bốc kịp,
Trở về tao ghé quán em Loan.
Sẽ báo tin buồn cho nó biết,
Mày vừa nằm xuống giữa rừng hoang.
•
Chẳng phải người xưa hờn quan tái,
Buông gươm xuống ngựa chịu quy hàng.
Bạn ta đền đáp ơn sông núi,
Khí hùng sống mãi cõi trời Nam…
–Donry Nguyễn.
THỜI MA QUỶ

Ta làm thi sĩ trong thời loạn,
Trải mấy mươi năm chả ích gì.
Gặp buổi trời hành ma quỷ ám,
Ba nghìn thần thánh cũng quăng đi.

Kiếm được miếng ăn xanh máu mặt, 
Một mớ giẻ cùn cắn xé nhau.
Cả bọn trên bờ còn khố rách,
Huống hồ ta dưới đáy ao sâu.

Lên núi đãi vàng, vàng con mắt,
Về tặng vợ con chứng sốt rừng
Tìm xuống biển đông mò tôm ốc,
Biển đông hề, cát trắng mênh mông.

Có hôm gạo hết, con than đói,
Xách rổ sang nhà hàng xóm vay. 
Ba lần mượn trước còn chưa trả,
Chẳng lẽ đưa thêm cái mặt dày.

Nhìn con gầy yếu như que củi,
Ta còn bụng dạ để làm thơ.
Vai mang rìu rựa trèo lên núi,
Vợ tiễn chồng một túi khoai khô.

Anh ráng ăn no mà vượt dốc,
Bếp còn rau cháo mẹ con em.
Ta làm muông thú nơi rừng thẳm,
Theo dấu chân ngậm ngải tìm trầm.

Nghe bầy vượn hú sờ râu tóc,
Bấm đốt tay tính buổi lìa rừng.
Ngày ta xuống núi tràn hy vọng,
Đâu ngờ đụng mặt đám kiểm lâm.

Bao nhiêu gỗ mục ta bòn mót,
Bay vèo theo lệnh bắt sung công.
Vợ ta nghe kể ngùi thương xót,
May còn sống sót cái thân chồng.

Vườn sau lá úa trơ giàn mướp,
Dăm trái đèo heo vợ hái vào.
Nồi canh thơm ngát mùi rau muối.
Ta phỉnh con hải vị sơn hào.

Nắng xuống nhà tole hầm than lửa,
Nước lã cầm hơi thiếu vị trà.
Ta giận đời ta, mày quá tệ …
Chữ nghĩa trong đầu cho chó tha.

Xóm chợ đìu hiu gầy dáng mẹ,
Một đàn chó dại ốm trơ xương.
Lúa đồng hợp tác um tùm cỏ,
Gạo đâu đút miệng đám dân quèn.

Ta đu tàu lửa buôn phế liệu,
Ba chuyến tuôn hàng tay trắng tay.
Vợ ta hối hận ưng nhầm gã,
Vướng nghiệp thơ túi gậy ăn mày.

Không lẽ xách dao làm kẻ cướp,
Mà cướp được gì từ dân đen.
Họa may đi cướp nhà quan chức,
Còn có chia nhau mớ bạc vàng.

Ta gõ gươm cùn ta hát cuội,
Vợ thương mua đãi chén rượu chiều.
Trời vẫn còn dung người thất thế,
Ta còn vỗ chí giữ lòng kiêu.

Thơ chẳng hạ mình câu nịnh hót,
Ta thà bẻ bút bỏ văn chương.
Trót mang thân thế trong thời mạt,
Ta thà nhịn đói giữ thiên lương.

-Donry Nguyễn.
THƠ
 
QUÊ HƯƠNG
CHIỀU LOẠN SỬ
 
Tôi đi trong chiều loạn sử,
Quê hương khói đụn tro tàn.
Khăn tang trắng đầu cô phụ,
Xóm làng nghẹn tiếng hờn than.
 
Xương khô phơi ngoài muôn dặm,
Mồ hoang mọc khắp núi rừng.
Miếu đền phủ mờ rêu xám
Giáo đường tượng Chúa lặng câm.
 

 
Tôi qua phố phường im vắng,
Dưới màu cờ đỏ tanh tao.
Hỏi thăm người em xóm đạo,
-“Tản cư, mất xác nơi nào.
 
Rưng rưng gục đầu tôi khóc,
Khóc em khóc cả quê mình.
“Hòa bình” sao em không sống,
Tội gì mái tóc còn xanh?
 
Gặp cháu trên đường lưu lạc
-Chỉ dùm ba má con đâu?
-Chú còn bao nhiêu chiến hữu,
Đọa đày lao khổ rừng sâu.
 
Gặp anh trong tù “lao cải”,
Chia nhau nửa khúc sắn mì.
Lần sau thăm nuôi vợ hỏi:
Sốt rừng đã cướp anh đi.
 
Gặp cha trên đồng hợp tác,
Áo bùn bạc vết phèn nâu.
Em thơ kéo cày đi trước,
Mẹ già lê bước theo sau.
 
Hỏi thăm một “ngài cách mạng”:
“Thiên đường” đã tới chưa ông?
-“Mẹ kiếp, chúng mày “phản động”
Phen này ông nhốt mọt gông”.
 
Gặp chị trên đường vượt biển,
Chồng con hải tặc giết rồi.
Chị ôm mặt cười điên dại,
Không ra hình bóng con người.
 
Tôi đi trong chiều loạn sử,
Khó lòng nhận diện quê hương.
Việt Nam trong tay quỷ dữ,
Trở thành tang tóc thê lương.
 
Náu mình sau lưng bóng tối,
Tôi nên câm, điếc, đui mù …
Nếu còn lương tri, tôi chắc,
Rục thây giữa chốn lao tù!.
 
–Donry Nguyễn–