Forum

Welcome to PEN Vietnam Forum

DIỄN ĐÀN HỘI LUẬN VĂN CHƯƠNG

Đây là diễn đàn thảo luận của hội viên Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại về các đề tài văn chương

Phiếm:  Phê Bình Nghệ Thuật Và Nghệ Thuật  Phê Bình
Ngọc-Cường
LTG: Trong sinh hoạt bình thường, hai chữ phê bình được hiểu giản dị là khen hay chê, thế nhưng trong nghệ thuật, có môn phê bình, chuyên nghiên cứu về các lý thuyết phê bình, rất là phức tạp khó hiểu,nó đòi hỏi hiểu biết về ngữ học, suy luận, và cả sáng tạo. Nếu trong chúng ta, ai ai cũng đều có tiềm tàng khả năng để sáng tác, giống như một em bé 3 tuổi vẫn có thể vẽ được một bức tranh đẹp, nhưng, để trở thành một nhà  phê bình không phải là dễ, đòi hỏi nhiều thời gian học tập và nghiên cứu.Hiện nay, trên văn đàn hải ngoại, chỉ có lác đác như đếm trên đầu ngón tay vài nhà nghiên cứu như vậy. Tác giả bài viết này không có trình độ như một học giả, chỉ cố gắng mò mẫm,qua mẩu chuyện phiếm dưới đây, viết lên những suy nghĩ thô thiển, hạn hẹp, như người mù sờ voi, mong mua vui quý độc giả …
   Có lẽ quý vị, cũng như chúng tôi, trong một lúc trà dư tửu hậu, ngồi tán dóc cùng bạn bè … rồi câu chuyện đưa đẩy đến đề tài dòng nhạc phản chiến … có kẻ khen , người chê, và đang tranh cãi sôi nổi đến hồi kịch liệt, đến nỗi bầu không khí trở nên căng thẳng…và trong thân hữu, có người cắt ngang câu chuyện văn nghệ, như có ý muốn tránh va chạm, rồi lên tiếng:
 “Xin lỗi … vì tôi không hiểu gì về nhạc, nên mạo muội hỏi quý vị:  trong hằng hà sa số các văn nhân thi sĩ… anh, chị ưa thích ai nhất ?”
 Câu hỏi có vẻ giản dị, không biết quý vị nghĩ sao, nhưng chúng tôi …ngơ ngẩn trong giây lát…và như bị ai bắt bí, không biết trả lời sao! Câu hỏi này, chẳng khác nào hỏi về các món ăn. Nhưng ẩm thực, cũng như văn thơ, đều tương tự nhau, vì cả hai đều mang tính chủ quan, và mỗi người có một sở thích riêng. Hơn nữa trong cả ngàn các món ngon của lạ, rất khó chọn ra được một thứ ngon nhất, nói chi phạm vi của nghệ thuật mênh mông , bao la…
Nhưng, nếu câu hỏi được đặt ra khác đi :
“Giả dụ, bị trôi giạt , sinh sống đơn độc trên một hoang đảo … và nếu được chọn sách của một tác giả, quý vị sẽ chọn ai ?”
Và, nếu như được hỏi như thế, chúng tôi không ngần ngại trả lời:  phải là cụ Nguyễn Du của chúng ta, với tuyệt tác phẩm Truyện Kiều và thêm bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh, là hai kho tàng văn chương , có đọc đi đọc lại vẫn không nhàm chán, như những kỷ niệm về mối tình đầu…
Thế rồi, tàn cuộc tranh cãi… về đến nhà, nằm suy nghĩ lại…nhận thấy rằng thơ của cụ Tố Như chứa  đựng nhiều điển tích cổ của Trung Hoa, và, với chữ nghĩa nông cạn, hiểu biết sơ sài… chúng tôi…ắt không thấu hiểu nổi tâm sự thầm kín của tác giả,  và sẽ mù mờ như kẻ đi lạc đường, và ở trên hoang đảo, biết hỏi ai đây ?
Ước gì, có mấy nhà văn đàn anh, đàn chị như : Phạm Quốc Bảo và Bùi Bích Hà, cùng có mặt trên đảo, để giúp giải nghĩa và bình thơ Kiều, chúng tôi sẽ không ngần ngại chọn Nguyễn Du là tác giả độc nhất vô nhị … cho nên, tôi đành đổi ý, và chọn một tác giả khác, và vị này có lời văn dễ hiểu, trong sáng nhưng sâu sắc, và được công nhận là “ nhà văn viết truyện ngắn hay nhất thế giới”…đó là William Somerset Maugham, một văn sĩ người Anh, ( 1874 -1965), tác giả cuốn Kiếp Người ( Of Human Bondage ), với hơn cả trăm truyện ngắn hấp dẫn . Viết rất hăng say và có công trình đồ sộ, ông là một nhà văn sung mãn và được hâm mộ nhất Thế Giới…
Chúng tôi mê văn Maugham từ khi còn nhỏ, khi được đọc qua cuốn Kiếp Người do Nguyễn Hiến  dịch nên dễ dàng trả lời câu hỏi nêu trên. Đây là cuốn tự truyện về mối tình ngang trái, khó hiểu của một sinh viên y-khoa với một cô gái vừa xấu xí vừa thô lỗ ,thuộc giai cấp nghèo hèn trong xã hội.
Có thể quý độc giả cho chúng tôi là lẩm cẩm khi đặt ra câu chuyện vớ vẩn như trên. Sở dĩ câu hỏi được đặt ra với mục đích giới thiệu vấn đề chính của bài viết này: đó là lý do nào, khiến người ta ưa chuộng một sáng tác ? Trong cả ngàn văn nhân, thi  sĩ, biết chọn ai đây, đứng trước một vườn hoa, biết hái bông nào ? Do đó, vấn đề dựa vào tiêu chuẩn khách quan nào để có thể đánh giá ( phê bình) một tác phẩm?
Trong cuốn Viết Và Đọc Tiểu Thuyết, Nhất-Linh đề nghị ra hai tiêu chuẩn: theo ông, một áng văn hay là qua được sự thử thách của không gian và thời gian. Nếu bất cứ ai, dù ở đâu và lúc nào đọc cũng thấy hay, tất là có gía trị lâu dài.
 Sáng tác của Maugham rõ ràng đã qua 2 thử thách trên , bởi vậy, dù là người Việt, nhưng chúng tôi đã không ngần ngại chọn nhà văn người Anh này, sau khi đọc một cách thích thú một số lớn tác phẩm của ông. Văn của Maugham vừa mang tính lãng mạn và nhân hậu, vừa lôi cuốn người đọc, đưa độc giả về miền quá khứ xa xôi, và tạo cơ hội cho chúng ta lọt vào các nơi chốn xa lạ, từ Âu sang Á, y như đang sống thật trong câu chuyện của tác giả. Ông diễn tả sâu sắc tâm lý nhân vật, như hiểu thâm sâu  con người, câu chuyện sát với sự thật, như đưa người đọc đi lạc vào mê hồn trận của cuộc đời! Sống đến 91 tuổi, cuộc đời của tác giả cũng lâm ly và bi đát không kém…hơn nữa, ông có cả trăm tác phẩm xuất bản, sẽ giúp chúng tôi tiêu pha thời gian sống trên hoang đảo cô đơn !
Tuy nhiên, chúng tôi ngạc nhiên là ông không đoạt được giải Nobel về văn chương dù là một tác giả ăn khách nhất của Thế Kỷ XX? Có thể, giải thưởng đó không tương xứng với ông, và nếu được chọn, ông cũng sẽ khước từ, vì coi mọi giải thưởng là có ràng buộc, như J.P. Sartre đã làm năm 1964? Về lý do từ chối giải thưởng, Sartre nói “ một nhà văn không nên trở thành một định chế “. Tuy nhiên, có lời đồn đãi là: sau đó, Sartre muốn lãnh số tiền thưởng và bị Hội Đồng giải Nobel khước từ? Triết gia và nhà văn người Tây này có thể cao siêu về Triết Lý, nhưng lại ngây thơ về chính trị, đã tin tưởng vào sự tốt đẹp của chủ nghĩa Cộng Sản. Điển hình thuộc loại chính  trị gia salon,  Sartre thường la cà ở các quán cà-phê khu Montmartre ( với bà Simone de Beauvoir, một đồng chí, và có khi là tình nhân ), ngồi tán dóc chuyện triết lý, khạc ra những lời ca tụng chủ nghĩa Duy Vật, trong khi ( ngu si hay hèn nhát ) không lên tiếng bênh vực cho cả trăm ngàn tù nhân vô tội đang đói khổ trong các Trại tù Cộng Sản!
Theo Maugham, một nhà văn cần vượt lên trên dư luận và viết đúng sự cảm nhận của mình ( độc lập và không chịu ảnh hưởng của bất cứ ai ) ?
Không phải là một người đọc nhiều, và hiểu rộng, nhưng chúng tôi cũng xin mạo muội có nhận xét: ảnh hưởng của Maugham vượt ra ngoài nước Anh, lan tràn khắp thế giới, như văn chương là ngôn ngữ chung của loài người. Chính cả các nhà văn trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn của chúng ta cũng đã chịu ảnh hưởng của Maugham (và thêm Guy de Maupassant, một tác giả người Pháp 1850-1893). Chẳng thế, có sự tương đồng rất đậm nét giữa cuốn Đời Mưa Gió của Nhất-Linh viết chung với Khái-Hưng và  Of Human Bondage của Maugham… và trong nhiều tác phẩm khác, chúng tôi nhận thấy phảng phất tính lãng mạn, tình tiết éo le bất ngờ trong văn của cả ba người. Riêng Nhất Linh, trong cuốn Giòng Sông Thanh Thủy, có đoạn đã nêu đích danh Maugham trong một cảnh miêu tả một đêm trăng .
Trong một  bài tiểu luận về sáng tác (A Traveller In Romance, Uncollected Writings, 1901-1964, tr 93 ) Maugham có một lời khuyên đến những kẻ tập tành viết văn ( xin lược dịch ) như sau :
 “bạn nên viết về những điều mình biết…bởi vì , nếu viết về những thứ quý vị không biết, sẽ đưa đến lỗi lầm khôi hài…”, rồi căn dặn thêm: “ nhà văn nên viết lên sự thật như họ đã nhìn thấy, về những  điều họ biết…dù cho đó là đề tài cũ…nhưng nếu người viết có cá tính,  nhìn nó với một nhận thức riêng, vẫn gây cho độc giả sự chú ý…một tác giả có thể luôn luôn muốn ở vị trí khách quan, nhưng tâm tính, thái độ riêng của họ với đời sống, vẫn là cá biệt, và sẽ tô đẹp quan điểm của mình.”
Một khi đã yêu mến ai, sẽ dễ chịu ảnh hưởng và muốn noi gương người đó, như một người con ngoan đối với ông cha. Có lẽ chúng tôi,  cũng vì lý do hâm mộ, và thầm phục nên tôn Maugham như một vị thầy. Thế nhưng, hôm nay, chúng tôi là đứa học trò hư đã không nghe theo lời khuyên của thầy, dám cả gan viết về một đề tài mà mình  không thông suốt, hiểu biết tường tận!
Xin quý độc giả, và sư phụ (ở dưới chín suối), nghe lời biện bạch của đệ tử :
Mặc dầu không hiểu biết tường tận, để có thể viết lên một bài tham luận đăng trong sách Giáo Khoa ,nhưng  những lời phiếm luận viết ra đây là trong vòng của sự hiểu biết giới hạn của mình, và quan trọng là viết đúng với sự việc tác giả nhìn thấy, và theo nhận thức của riêng cá nhân, hy vọng cũng có chút giá trị về giải trí, không phải là học hỏi như một bài giảng của vị giáo sư.
Có lẽ điều quan trọng không phải là biết nhiều, mà là biết rõ cái mình không biết và có tính mơ mộng, sáng tạo của nghệ sĩ, như Einstein đã nói “ sức tưởng tượng đáng kể  hơn sự hiểu biết”.
Nghệ thuật xuất hiện từ khi có loài người, từ bốn chục ngàn năm trước (qua những điêu khắc bằng ngà hay các hình vẽ trong hang đá) , và từ đó, luôn có mặt bên cạnh con người, tự nhiên như bầu không khí, và ngày nay được thể hiện qua mọi vật dụng hằng ngày. Tuy vậy, từ các nhà hiền triết Hy Lạp của nền văn minh Tây Phương, và Trung Hoa cổ xưa, cho đến gần đây hơn, nhiều nhà văn, triết gia đã cố gắng, như Leon Tolstoy, mổ xẻ,suy luận về một định nghĩa cho nghệ thuật, nhưng cũng không sao hoàn chỉnh được.
Các triết gia đương đại đưa đến một kết luận, cho rằng, về căn bản, nguồn gốc của nghệ thuật là một vấn đề triết học, nên không thể nào định nghĩa rành mạch!  Để dễ cho việc nghiên cứu và bàn luận, nghệ thuật được phân chia ra theo 7 loại hình ( Kiến trúc ,điêu khắc, hội họa, âm nhạc, văn học, kịch nghệ và điện ảnh ), nhưng hiện nay, khi nói đến nghệ thuật ( art ) người ta thường hàm nghĩa là nghệ thuật thị giác ( hội họa, kiến trúc và điêu khắc, visual art ), còn văn học là nghệ thuật về ngôn từ , văn bản ( văn chương, literature )…
Một bài viết phê bình về nghệ thuật ( thị giác ) như hội họa chẳng hạn, có đối tượng là một bức tranh,  nhưng không thể là hội họa ( bài văn không thay thế tấm tranh được), và luôn luôn phụ thuộc vào bức họa, thế nhưng, một bài phê bình văn học trở thành một tác phẩm riêng rẽ , độc lập, như một đứa con.
Do một sáng tác độc đáo, lạ đời về một tấm ảnh chụp cái bồn đi tiểu, của Marcel Duchamp triển lãm năm 1917, đã bị phản đối cho là quá tục tĩu và không thể nào là một công trình nghệ thuật. Sau đó đưa đến nhiều tranh cãi, bàn thảo…nhưng cuối cùng, mọi người cũng phải công nhận bức ảnh chụp đó là một tác phẩm nghệ thuật.
Kết quả tranh luận đưa đến một định nghĩa được nhiều người công nhận là hoàn chỉnh nhất (đại ý):
“Nghệ thuật là công trình do con người cấu tạo từ cảm xúc, tư duy ( không phải có sẵn trong thiên nhiên như khúc gỗ hay hòn đá có hình thù đặc sắc…), và đã được tác giả cho nó danh hiệu là nghệ thuật ( art )…”
Định nghĩa mới mẻ này rất rộng rãi, nhấn mạnh đến một điểm mấu chốt: đó là nếu ai có sáng tác và coi nó là nghệ thuật, vậy nó là nghệ thuật ! ( Thí dụ: nếu tôi vẽ một vòng tròn hơi méo, và đặt tên là Méo Mó, bức tranh đó là một công trình nghệ thuật)
Không như toán học, dựa vào lý luận và chứng minh, văn chương được xem như một lời tâm sự, viết ra từ cảm xúc để mua vui ( Nguyễn Du ), giải trí là mục đích chính, tất nhiên còn nhiều chủ đích khác của tác giả ( như giáo dục, tuyên truyền.v.v… ).
Sau lời rào trước đón sau, chúng tôi xin trở lại với đầu đề của bài tiểu luận này (Phê Bình Nghệ Thuật Và Nghệ Thuật Phê Bình) và xác định mấy chữ Phê Bình Nghệ Thuật đứng trước để chỉ một ngành nghiên cứu về phê bình, còn Nghệ Thuật Phê Bình, trong đó hai từ nghệ thuật được sử dụng như một động từ, có nghĩa rộng , nói chung, ví dụ như nghệ thuật chơi cờ, nghệ thuật nấu cơm.v.v…
Theo Wikipedia Tiếng Việt, phê bình văn học (nghệ thuật về ngôn từ) được định nghĩa như sau:
“Phê bình văn học là sự phán đoán, bình phẩm, đánh giá và giải thích tác phẩm văn học, đồng thời kèm theo việc phán đoán, bình luận, giải thích, đánh giá những hiện tượng đời sống mà tác phẩm nói tới.”
Ngành  phê bình văn học bắt đầu phát triển khi sách vở được phổ biến rộng rãi trong quần chúng. Lúc tiên khởi, một số nhà văn nhà thơ đứng ở vai trò phê bình và trở thành một thứ siêu độc giả, tự coi như họ hiểu rõ tác giả và tác phẩm để thẩm định, giản dị là khen hoặc chê một sáng tác. Có lẽ từ đó, mới có sự phân chia ra các trường phái văn học, đưa đến bút chiến, tranh cãi trên diễn đàn…
Đối tượng của phê bình là tác phẩm, và là đứa em song sinh của nghệ thuật, đi đôi với nhau như hình với bóng . Nhưng, phải chăng nhà văn vẫn có thể diễn tả một cái bóng mà không cần đả động đến cái hình.
Thường, lời phê bình đầu tiên cho một tác phẩm được ghi trong tựa đề, hoặc lời mở đầu của cuốn sách, có thể do chính tác giả hoặc người khác viết ra, mục đích giới thiệu, thường là có ý khen, cho in trước phần nội dung của văn bản và cũng có khi đặt sau văn bản, trường hợp này được gọi là lời bạt (khác với nhan đề hay đầu đề là tên đặt cho tác phẩm ). Tất nhiên : khen hay chê đều mang tính chủ quan, nên dễ sai lạc, do đó, vấn đề được đặt ra là cần có một tiêu chuẩn khách quan, như thước đo, để thẩm giá , định lượng chính trực một tác phẩm văn chương. Theo Nhất-Linh, hai tiêu chuẩn quan trọng nhất là sự thử thách của không gian và thời gian: nếu độc giả ở bất cứ nơi đâu và ở vào thời đại nào đọc vẫn thấy hay, tác phẩm đó sẽ có giá trị trường cửu, thí dụ như hai cuốn Chiến Tranh Và Hoa Bình của Tolstoy,và Đỉnh Gió Hú của Emily Bronte.
Trái lại, theo quan điểm thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo của Trung Hoa, văn học có mục đích di dưỡng tinh thần cho người viết và truyền bá tư tưởng đến người đọc, tương tự như quan điểm Duy Vật Mác-Xít, cả hai đều xem nghệ thuật có một giá trị rõ ràng, và mục đích phục vụ ( cho giai cấp vô sản) , từ đó văn học trở thành một công cụ tuyên truyền ! Muốn vượt thời gian và không gian, văn chương cần đứng ngoài đạo đức và tư tưởng và là món giải trí, mua vui thiên hạ như cụ Nguyễn Du chủ trương ! Có tác giả đi xa hơn cho văn học là môn chơi, và ở đời, chỉ có chơi là chính ! Maugham đã viết ( đại ý): “…một khi tác giả muốn đóng vai trò nhà truyền giáo hay tuyên truyền, họ không còn là một nghệ sĩ nữa…”
Từ đó, nhà nghiên cứu văn học phân ra hai quan điểm: nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh! Thực tế không thể có ranh giới giữ hai quan điểm trên, và cả hai đều là hai thái cực không có mặt trong văn học.
Chúng tôi suy đoán một cách thiển cận  ( vì không chứng minh nổi) : văn chương cần mang tính nhân bản và hướng thượng, vì con người chỉ thỏa mãn hoàn toàn khi có hành động tốt lành, hay vươn lên một lý tưởng cao đẹp ( nhân chi sơ tính bản thiện, Khổng Tử) ? Như vậy, cuối cùng phê bình lại quay về tiêu chuẩn cái đẹp như mấy triết gia Hy Lạp chủ trương từ ngàn xưa ? Ấy, ấy… như vậy, chúng ta lại trở lại cái vòng luẩn quẩn vì cái đẹp là một quan niệm chủ quan tùy theo phong hóa và thời gian!
( Các nhà phê bình văn học có đưa ra nhiều lý thuyết, lý giải sâu sắc chi ly về tiêu chuẩn phê bình, khó hiểu vượt qua trình độ của chúng tôi, và tiếc là ra ngoài phạm vi của bài viết này !)
Trong khi đó, nhà văn Tolstoy lại phủ nhận toàn bộ giá trị của phê bình nghệ thuật. Ông viết :
 “Phê bình nghệ thuật là điều phi lý và không cần thiết, vì lẽ bất cứ tác phẩm nghệ thuật đích thực nào cũng có khả năng tự biểu hiện tư duy và cảm xúc mà mọi người đều cảm nhận được… mọi sự lý giải các tư duy và cảm xúc đều là thừa, vì nghệ thuật truyền cảm xúc và trải nghiệm theo một cách mà lời nói không thể nào diễn tả lại được… giảng dạy nghệ thuật đồng nghĩa với tiêu diệt nghệ thuật, tiêu diệt cá tính của nghệ sĩ. ”.
Đi ngược với quan điểm cực đoan của Tolstoy,  Oscar Wilde ( 1854-1900) viết  “bản thân phê bình nghệ thuật cũng là một nghệ thuật, phê bình là một sự sáng tạo theo nghĩa cao cả nhất của từ đó. Phê bình thực chất vừa có tính sáng tạo lại vừa độc lập….Đối với nhà phê bình, tác phẩm nghệ thuật đơn giản chỉ là một sự gợi ý cho một tác phẩm mới của chính nhà phê bình. Tác phẩm mới này không nhất thiết phải giống với cái mà anh ta phê bình”
Chẳng khác gì, dù cho là con, nhưng khi trưởng thành, trở nên độc lập với cha mẹ và có cuộc sống và cá tính riêng , như người ta thường nói : cha mẹ sinh con, Trời sinh tính ? Như vậy, phê bình văn học và phê bình nghệ thuật vừa cần có sáng tạo, vừa đòi hỏi suy luận, và trở thành một bộ môn riêng của nghệ thuật.
Sau đây là một thí dụ về tính sáng tạo của phê bình nghệ thuật :
Vào cuối Thế Kỷ thứ XIX, một số họa sĩ Âu Châu tập trung ở Paris quyết định từ bỏ quan điểm hiện thực cố hữu (vẽ đúng như cảnh thật, sát với thiên nhiên ) thay vào đó,  chủ trương diễn tả theo nhận thức, cảm giác ( vẽ như họa sĩ cảm nhận thiên nhiên), và cho ra mắt nhiều bức họa sử dụng màu sắc sặc sỡ,ấn tượng.
Nhà báo Louis Leroy của tờ Charivari , sau khi đến xem triển lãm của những họa sĩ trong một môn phái mới này vào tháng 4 năm 1874, có viết một bài phê bình về bức “Ấn tượng, mặt trời mọc” của Claude Monet ( Impression, Soleil Levant) , in lại dưới đây, và đã chê bức tranh đó chỉ đáng là một bản phác họa, vẽ nháp, (sketch),  nhưng đã tình cờ cho khai sinh từ “trường phái ấn tượng“.
 
 Nhờ có lời mỉa mai về “ bọn ấn tượng” (với ý chê bai) khi phê bình bức họa của Monet mà Leroy đã vô tình đặt tên cho một môn phái hội họa quan trọng và lừng danh! Trong trường hợp này, đôi khi chê vẫn có giá trị hơn lời khen tặng ?
Trong thí dụ dưới đây, là trường hợp nhận xét của người viết và phản ứng của người đọc lại khác hẳn nhau:
Đó là nhà văn Nhất-Linh đã tự phê bình, và khác với quan điểm chung, không coi trọng mấy cuốn tiểu thuyết đã tạo nên danh cho mình, như Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng và Hai Vẻ Đẹp.
Ông tự đánh giá như sau : Sự hoan nghênh những truyện đó, nhất là Đoạn Tuyệt, những lời khen ngợi của các nhà phê bình, sau này đã làm cho tôi khó chịu một cách thành thật ( trích trong cuốn Viết Và Đọc Tiểu Thuyết của Nhất-Linh).
Còn nhiều nhà văn mới viết, và thường khi ra mắt tác phẩm lần đầu, trong bài mở đầu, hay có ý khiêm nhường, không dám tự nhận là một nhà văn, và chỉ coi mình là một người kể chuyện. Tương tự cũng có nhà phê bình văn học có ý khen một tác giả, và có lời lẽ như : “ tuy nhiên chưa là nhà văn, nhưng tác giả là một người kể chuyện tài tình ! “
Xin có hai nhận xét :
Thứ nhất : theo đúng định nghĩa (được công nhận rộng rãi : một người viết trở thành một nhà văn khi có tác phẩm được xuất bản và phổ biến), như vậy, tác giả , dù là của một tác phẩm đầu tay, tất nhiên là một nhà văn chính cống, không thể chối cãi được !
Thứ hai: không nên phân biệt vai trò của nhà văn với người kể chuyện. Theo thiển ý, mọi tác phẩm văn, thơ, đều là kể về một câu chuyện ( dùng ngôn ngữ, văn bản viết ra , để diễn tả, thay vì lời nói)… từ truyện thơ Kiều cho đến cuốn tiểu thuyết Chiến Tranh và Hòa Bình, và như tất cả mọi tác phẩm văn chương khác, đều là về một câu chuyện…và cụ Nguyễn Du lẫn Leon Tolstoy đều dùng văn, thơ để kể một câu chuyện, họ cũng chỉ là những người dùng ngôn ngữ kể câu chuyện, trong khi đó, người kể chuyện , tất nhiên dùng lời nói để diễn tả .Có thể nhiều người coi nội dung của văn chương phải khác hơn là một câu chuyện, như cần chứa đựng triết lý cao siêu, khó hiểu ? Câu chuyện nào cũng chứa đựng triết lý, hay bao hàm ngụ ý, đó là tùy theo nhận thức của người đọc, và độc giả có toàn quyền suy diễn.
Hai nhận xét trên cho thấy phê bình không phải là dễ, và tuy có thể dễ hơn sáng tạo, nhưng đòi hỏi sự hiểu biết chuyên môn và suy luận.. Đến đây, lời khuyên của Maugham lại văng vẳng bên tai chúng tôi, và trở thành lời dậy dỗ chí lý : “nên viết về điều gì bạn biết”.
Đứng trên phương diện kinh tế, mọi vật dụng trên thị trường đều có giá, bao gồm cả sách văn chương được bầy bán ở hiệu sách. Đánh giá tác phẩm, phê bình văn học trở thành một nghành phục vụ , thay mặt độc giả lựa chọn sản phẩm…còn nếu cố ý khen để được trả công, nhà phê bình trở thành người viết mướn hay nhà quảng cáo!
Tất nhiên, có sự phân biệt giữa hai giá trị của một tác phẩm văn chương: giá trị về nghệ thuật và kinh tế.  Cả hai đều quan trọng, và thường đi đôi với nhau; truyện có hay, sách mới bán được. Như vậy, gián tiếp, quảng cáo cần thiết cho sự phổ biến tác phẩm và nếu thành công, sẽ là một khích lệ cho tác giả. Thế nhưng, còn nhiều nghệ sĩ ( Việt-Nam ) rất e ngại quảng cáo cho tác phẩm của mình, đôi khi còn ngại cả danh hiệu nhà văn, như ta thường nghe nhiều vị than thở, thanh minh:
 “tôi không dám tự nhận là một nhà văn…tôi chỉ viết để viết…viết chỉ là nghiệp dĩ…và tôi chỉ là người kể chuyện !”
Nghệ sĩ không nên có mặc cảm như vậy, nhất là vào thời điểm và hoàn cảnh của xã hội tư bản, nền kinh tế thị trường, khi tiền bạc có ảnh hưởng đến nhiều lãnh vực, nhất là chính trị .
Liên quan đến việc xuất bản , xin kể quý độc giả một câu chuyện :
Cách đây đã lâu, tình cờ, chúng tôi được một người bạn tặng cho một tập thơ, do một nhà thơ nổi danh từ lâu đời ( thời thập niên 50 cho đến gần đây) sáng tác. Cụ là một thiên tài xuất khẩu thành thơ, còn được mệnh danh là vị chưởng môn của thi văn đàn hải ngoại. Chúng tôi có nghe tiếng cụ từ lâu, khi còn đi lính phục vụ tại Cục Tâm Lý Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà ở đường Hồng Thập Tự (cũ), ngay sát bên cạnh nơi cụ làm việc một thời gian dài.
Trao tập thơ xong , anh bạn còn tiết lộ đặc biệt về tác giả: mặc dù làm thơ rất sớm, sáng tác sung mãn, nhưng cho đến khi có tuổi, cụ vẫn chưa có một tác phẩm xuất bản. Vào cuối đời, sau khi được đàn em, thân hữu, và gia đình đề nghị và khuyến khích, cuối cùng cụ đồng ý cho in một tập thơ để đời, lưu lại cho hậu thế.
Thế nhưng, vị chưởng môn trong văn đàn của chúng ta đưa ra một điều kiện:  không được cho mang đi xuất bản, vì theo ý cụ :” thơ không phải để bán !” cho nên khi in xong, chỉ gửi tặng thân hữu. ( Trên trang bìa sau, có in đậm hai chữ : Không Bán !
Cầm tập thơ trên tay, lòng tôi bỗng ngẩn ngơ, rồi cảm thấy bâng khuâng giây lát, bởi vì: tâm tính của tác giả phảng phất như của một kẻ sĩ thời xa xăm nào đó; rồi hình ảnh ông đồ già trở lại trong trí nhớ của tôi:  
Những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ? ( Vũ Đình Liên ,1936)
Trái ngược với chưởng môn, tôi chỉ là một kẻ tập tành viết lách, nên sau mỗi lần cho ra mắt một tác phẩm , thường hao hức muốn có độc giả chiếu cố, và mong cho bán được dăm ba cuốn, như thế là cảm thấy vui rồi.
Câu chuyện đến đó, tưởng thế là chấm dứt…chợt gần đây, tình cờ tiếp xúc với một thứ nam của cụ, và có dịp nhắc đến tập thơ, chúng tôi tỏ ý tiếc tác phẩm  không được cho in và phổ biến, nên, mạo muội đề nghị ( biết cụ đã qui tiên ) là đem xuất bản để quần chúng có cơ hội mua thưởng thức, và anh đã trả lời ( đại ý) :” vì chỉ là một đứa con trong đại gia đình còn nhiều anh, chị em… có lẽ một ý kiến sẽ không đáng kể và khó được chấp nhận…”. ( Trao đổi với anh Phạm Hoài Bắc, cựu phóng viên Quân Đội VNCH )
Quyết định của vị chưởng môn khiến chúng tôi nghĩ đến trong văn học sử thế giới, có nhiều trường hợp tương tự, như nhiều văn nhân, thi sĩ, họa sĩ, đã có ý tiêu hủy sáng tác của mình, xin đưa ra hai thí dụ:
Nhà văn Franz Kafka (1883-1924): vào cuối đời, đã để lại bản thảo (chưa xuất bản) cho hai người bạn với lời dặn dò là đốt hết sau khi ông qua đời. Nhưng một trong hai người là Max Brod, đã không theo lời dặn và đem xuất bản như thường. Và, ngày nay, những cuốn sách đó được coi như là các tuyệt tác của Kafka.
Còn họa sĩ Claude Monet (1840-1926), ở thủa hàn vi, phải chịu cảnh khó khăn , nghèo khổ, và vì không muốn tác phẩm lọt vào tay các chủ nợ nên ông tự phá hủy tranh của mình.
Tất nhiên, nên tôn trọng ý nguyện của người sáng tác, và chúng tôi có  quan điểm khác với vị chưởng môn, và tự hỏi : Một khi đã viết, là để cho có người đọc, vậy , tại sao lại giới hạn độc giả ? Giữa thân hữu và quần chúng,  có khác gì nhau ? Hơn nữa, phải chăng, sáng tác là nhằm mục đích chia xẻ và phục vụ ? Nghệ sĩ, cũng như tất cả mọi người, rồi cũng phải ra đi, còn lại chăng là những sáng tác của họ, vậy sao chưởng môn không để lại cho hậu thế chút quà vui ?
Bài viết này (dưới dạng một phiếm luận), dường như đã đưa tới thắc mắc, và tạo ra nhiều câu hỏi hơn là giải đáp về đề tài (đơn giản) là khen hay chê, và cuối bài lại đưa đến chỗ mơ hồ. Tất nhiên do lỗi tác giả không am tường về phê bình văn học và đã viết lung tung, chẳng ra đâu, vào đâu ?
Nếu phê bình nghệ thuật là một bộ môn của nghệ thuật, phần lớn dựa vào suy luận và nghiên cứu,  và muốn trở thành một nhà phê bình, rất khó khăn. Thế nhưng, ai ai cũng có thể bàn về vấn đề nghệ thuật của phê bình, như tác giả bài phiếm này.
Có lẽ tựu chung Nghệ thuật là giải trí, và không để giải quyết vấn đề nào cả, nên không có gì là cao siêu và khó hiểu  ./.
Đôi dòng về nghệ thuật
* Ngọc Cường
Chúng tôi định cư ở Ohio.Các anh chị em khác trong gia đình và phần đông thân hữu,bạn bè,đều ở miền Tây Hoa-Kỳ;còn lại,một số ít sinh sống quanh vùng Maryland-D.C-Virginia. Hằng năm, thường vài ba lần, chúng tôi đi Cali:Trước là thăm gia đình, thân hữu (nếu là mùa Đông,cũng là để lánh cơn lạnh buốt da của Dayton này,mà tìm về nắng ấm của Bolsa, thủ đô của người tỵ nạn). Sau nữa, không kém phần quan trọng là để thưởng thức các món ăn ta, mà nơi thành phố chúng tôi đang ở – một tỉnh nhỏ tiêu biểu của Hoa-Kỳ – không tài nào kiếm ra được!
Trước khi lên đường, tôi gọi điện thoại báo tin. Sau vài lời thăm hỏi nhau thường lệ, thế nào người thân bên Ca-li cũng kèm theo lời chào đón quen thuộc : “Thế thì vui quá. Qua đây mình sẽ đi ăn các tiệm ăn mới mở mọc nhiều như nấm: nào phở đuôi bò …cơm gà…đang sale vừa rẻ vừa ngon , còn ngon hơn cả ở Việt-Nam … À, tụi này mới về Sài Gòn, đi ăn khắp nơi, đủ món mà chả đâu ngon bằng ở Cali.”
Bây giờ món ăn Việt Nam không đâu ngon bằng ở Little Saigon? Đúng thế! Ý kiến đó cũng là của đa số, khiến tôi tự hỏi: tại sao lại như vậy? Có phải nhiều đầu bếp tài tình người Việt của chúng ta đồng thanh rủ rê  nhau trôi dạt tới Cali hết? Hay do thực phẩm, chất liệu, rau cỏ tươi sẵn có ở đó?..Và , chẳng lẽ khẩu vị của chúng ta, một khi ra đi -tha phương cầu thực lâu- đã thay đổi cho phù hợp theo cảnh vật , khí hậu nơi sinh sống? Không khác chi mấy ông Tây già,  sau cả một đời sống ở Việt Nam, năm 1954 không chịu về Pháp, vì yêu thích mắm tôm chăng? Nhưng dù sao đó mới chỉ nói đến nhu cầu sinh tồn của cái bao tử, còn về món ăn tinh thần như văn chương, âm nhạc.., liệu  có thay đổi luôn không?
Qua chơi Cali được vài ngày, và sau khi  đã no nê đủ chầu “canh gà cá gỏi”,“ trà dư tửu hậu” , và bắt đầu lo ngại cho cái sức chứa của bao tử, như người ta thường than thở : “no dồn đói góp”…Thì bắt đầu như không báo trước, tự nhiên nhu cầu về tâm thần chợt lẳng lặng đến( Như đang từ một dân lao động phàm phu tục tử, tôi bỗng trở thành một nhà trí thức hào hoa phong nhã!) thôi thúc tôi tìm mua sách báo tiếng Việt (mà Ohio không có ) đem mang về để thỏa mãn cho cái đầu, cái tâm tình. Nghĩa là đi tản bộ qua nhiều khu chợ búa sầm uất, tôi vẫn thường ghé vào các tiệm sách ở Bolsa, thấy bày bán đủ loại tác phẩm, la liệt vui mắt như đang thực sự diễn ra cảnh“trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”, khiến tôi hân hoan, vui mừng cho tiền đồ tiếng Việt và nền văn học hải ngoại. Đó chỉ là về số lượng, còn  phẩm chất thì có lẽ phải hạ hồi phân giải, bàn đến sau, vì hay hoặc dở, thành công hay thất bại là do độc giả quyết định, nhưng thị hiếu quần chúng không nhất định, như lịch sử đã chứng minh: sở thích thay đổi theo thời gian và không gian.
Nhưng, tại sao có hiện tượng nhiều người cầm bút,chịu khó sáng tác như thời nay vậy? Phải chăng từ điều kiện dễ dàng về ấn loát? Cái bầu không khí tự do (của xứ sở này) khích lệ họ? Hay một khi gia đình yên bề, êm ấm, và tuổi tác đã “gần đất xa trời” rồi thì chúng ta mong muốn để lại chút gì, nên ‘hạ sinh’ đứa con tinh thần? Tìm không ra câu trả lời, vì khả năng có giới hạn, tôi mong những nhà nghiên cứu văn học sẽ cho lời giải đáp …
Sách được bầy bán nhiều quá, đầy trên kệ, còn la liệt trên bàn nữa.Không biết lựa chọn cuốn nào, dở trang đầu, đọc lướt qua mục “Lời Tựa”, tôi nhận thấy ở nhiều tác giả (thường là họ mới có tác phẩm đầu tay), hay nói về lý do cầm bút. Họ giải thích “tôi viết để mà viết …” , hoặc“tôi không dám tự nhận là một nhà văn ..”Những câu tâm sự như vậy trở nên như một thông lệ ở phần đầu cuốn sách. Có thể do sự  khiêm nhường hay dè dặt của họ, như để “rào trước đón sau”, phòng trường hợp có bị chê thì..vì tôi đâu phải một nhà văn? …Điều này theo tôi đáng tiếc, vì lẽ ít ra họ phải có chút tự tin, và cần được khích lệ vì một khi tác phẩm được xuất bản, hiển nhiên họ là một nhà văn ( theo định nghĩa) ,không nên tự phủ nhận một tất yếu như vậy ; Và một khi bỏ công ra viết là cố gắng hơn nhiều người, là điều đáng được khuyến khích, nếu không nên được khen thưởng? Người cầm bút không nên có mặc cảm. Mong độc giả rộng lượng, lên tiếng khuyến khích. Còn nếu nói viết chỉ để viết thì cũng không trọn nghĩa, vì một khi đã ra mắt , sách là để người khác đọc , nếu không , nên bỏ ở xó nhà chỉ là đống giấy lộn . J. P. Sartre trong bài tiểu luận“Văn Học Là Gì” đã khẳng định là một tác giả chỉ thành một nhà văn khi có người đọc. Thật vậy , tác giả nào chả mong có nhiều độc giả, còn nếu không thì đừng mang tác phẩm ra xuất bản – Sách bầy ra tất sẽ có người mua đọc. Và như vậy , động lực cầm bút (của một nhà văn ) , đầu tiên có thể chỉ là viết để mà viết ,  nhưng thật ra nó đã chứa đựng tiềm ẩn nhiều nguyên nhân : giải bày một tâm sự, chia sẻ một kỷ niệm .v.v…,và lý do khác như muốn thỏa mãn tự ái, kiếm chút danh vị…Nên,  không thể nói : viết chỉ để viết đơn thuần ,  mà phải là  viết  cho người khác thưởng thức.Tất nhiên, cũng có nhiều cuốn hồi ký chỉ nhằm vào số nhóm độc giả chọn lọc nào đó …Một tác phẩm không xuất bản, để quên vùi một xó, không ai biết thì vốn không là một tác phẩm nghệ thuật. Theo Tolstoy: sự thông tin, giao cảm giữa tác giả và người đón nhận tạo thành tác phẩm nghệ thuật. Nhật ký Ann Frank nếu không được ông bố cô bé đem ra in sau khi cô qua đời, thì cũng sẽ chỉ là một sản phẩm riêng tư, nó trở thành tác phẩm nghệ thuật khi được chia sẻ, có người thưởng thức. Sở dĩ nêu lên khía cạnh này, vì tôi muốn nhấn mạnh đến vai trò của độc giả.Theo tôi, dù tác giả có công sáng tạo, nhưng chính người đọc mới là sở hữu chủ của tác phẩm, ít ra thì đó là dưới quan điểm kinh tế của một cuốn sách. Còn về giá trị, hay hoặc dở là do chủ quan thưởng thức của người đọc quyết định. Một khi cuốn sách được xuất bản, nhiệm vụ nhà văn chấm dứt, như đứa con ( tinh thần ) đã trưởng thành .
Thường khi cầm bút viết về một đề tài gì, tác giả nếu không qua sự tìm tòi, nghiên cứu thì cũng phải được đào tạo chuyên môn về đề tài đó. Tác giả hẳn có đủ hiểu biết, nắm vững những gì viết ra.Đó là điều kiện tối thiểu, để tôn trọng chính mình và cả độc giả. Độc giả không dễ bị lừa: Bởi qua đôi giòng đầu sách, có thể họ tin vào tác giả mà không cần suy xét sâu xa; nhưng khi càng đọc họ càng thêm khám phá ra những điều sai hay phi lý của toàn bài…Như vậy điều kiện tiên khởi của một tác giả là biết về điều mình viết .
Xét riêng về cá nhân, tôi đang viết về đề tài văn chương, cống hiến và mua vui quý vị mà tôi chẳng có khả năng chuyên môn gì về văn học nghệ thuật cả ! Tại sao tôi lại dám liều mạng, cả gan đến vậy? Câu trả lời thực sự  nằm trong nội dung bài này. Hy vọng rằng khi đọc xong lời bạt , quý vị có được sự thông cảm …và đồng ý với tôi là : riêng nghệ thuật, điều kiện đó là một ngoại lệ , ai cũng có thẩm quyền nêu ý kiến, không riêng gì các nhà nghiên cứu hay văn nghệ sĩ mà thôi  .
Một điều căn bản khi nói đến nghệ thuật, là xem nó là gì,  thường nghệ thuật gồm 6 bộ môn chính như văn học, múa, kiến trúc, hội họa,  sân khấu  và âm nhạc, và gần đây thêm nghệ thuật thứ 7: nghành điện ảnh . Theo các cuốn từ điển thông dụng, từ nghệ thuật được định nghĩa rất vắn tắt và giản dị là …thực hiện hay diễn tả vẻ đẹp, thực tế…là sản phẩm trí thức và không là khoa học …
Văn học bao gồm cả văn chương nhưng cộng thêm về lý luận và phê bình.Có thể nói văn học dùng phương pháp khoa học nghiên cứu văn chương, trong khi văn chương thuần túy là sáng tạo do diễn đạt xúc cảm , như định nghĩa của nó.Văn chương (thơ và văn xuôi) là nghệ thuật dùng chữ để diễn tả tư tưởng và cảm xúc.Như vậy,trước khi nói đến văn chương, ta thử tìm hiểu rõ thêm xem nghệ thuật là gì?
Từ lâu, cách đây trên hai ngàn năm, Plato đã tìm về ý nghĩa của nghệ thuật; và từ đó đến nay, nhiều người cũng đã làm công việc này nhưng vẫn chưa ai hoàn thành vì nó phức tạp và khó khăn cho định nghĩa nghệ thuật. Văn hào Tolstoy nước Nga đã viết một cuốn sách nhỏ (Nghệ Thuật Là Gì, Tolstoy,1896), chỉ nhằm định nghĩa hai từ nghệ thuật! Dù vậy, định nghĩa của Tolstoy vẫn chưa toàn hảo,chính xác. Một tiêu chuẩn Tolstoy nêu ra (ngoài rất nhiều chi tiết khác) là : nghệ thuật không phải để giải trí ,mua vui mà là phương tiện giao cảm giữa tác giả và người khác… Điều này …có vẻ  trái với ý của cụ Nguyễn Du nước ta , khi cụ viết :
“Lời quê chắp nhặt dông dài ,
Mua vui cũng đươc một vài trống canh.”(câu kết của Truyện Kiều )
Ở đây , xin đồng ý với cụ Tiên Điền, không phải vì tôi cũng là người Việt, ghét ông người Nga, nhưng vì tận cùng thì nghệ thuật là một vấn đề triết lý,mà triết lý thì đã bị chôn sống rồi( “Triết Học Đã Chết”   , S. Hawking, trong cuốn The Grand Design, 2010, theo đó, những khám phá mới về vật lý và toán đã có giải đáp khoa học về vũ trụ và đấng tạo hóa…,do đó triết học trở nên lỗi thời.) 
Căn bản của nghệ thuật là ở tính hấp dẫn, mua vui,thích thú và tự nguyện. Nếu Truyện Kiều được giảng dậy trong lớp học, khi bị bắt buộc phải đọc đối với học sinh thì Kiều chỉ là cuốn sách giáo khoa dùng để học, chứ không còn tính nghệ thuật; nhưng khi, cũng ở người  học sinh đó, qua lời giảng của vị thầy mà đột nhiên cảm thấy hay, cảm thấy thú vị thì lúc đó Truyện Kiều nó lại mang tính nghệ thuật! Như vậy nghệ thuật không có mục đích rõ ràng vì không thể có nghệ thuật hoàn toàn vị nghệ thuật hay nghệ thuật hoàn toàn vị nhân sinh được, mà thường như trong cuộc đời, lẫn lộn cả hai thứ, không có gì trắng hoặc đen mà lẫn lộn giữa hai thái cực, trung dung.
Nói chung, nghệ thuật phản ảnh cuộc sống nên cũng mơ hồ, phức tạp như thế; và giá trị của nghệ thuật mang tính chủ quan, không thể chỉ do các nhà phê bình đơn thuần cho là hay hoặc dở, đẹp hay xấu, mà chỉ có nhận định chủ quan của người thưởng ngoạn quyết định. Nếu khai triển thêm ra, nghệ thuật là sáng tạo có tính hấp dẫn: khen chê là do quyết định của người nhận, độc giả, thính giả hay người xem tranh …Trước kia, khi mới được khai sanh,trường phái họa “ấn tượng”ở Pháp đã bị chê bai gắt gao, ngay cả danh hiệu của họ ( impressionism, môn phái ấn tượng )- xuất phát từ bức tranh“Ấn tượng, một buổi bình minh” của Claude Monet- bị nhà phê bình Louis Leroy gắn cho cái tên“Bọn Ấn Tượng” một cách mỉa mai qua bài đăng trên báo Le Charivari. Không ngờ từ đó Ấn Tượng lại trở thành môn phái quan trọng trong nền hội họa: và gần đây, ở nước ta,  thấy xuất hiện một văn phái, họ viết rất hấp dẫn, dùng nhiều từ khó hiểu, ra vẻ cao siêu, đầy triết lý mà độc giả bình thường không hiểu nổi. Xin thí dụ một đoạn như sau “…tiểu thuyết Việt-Nam hiện nay , không phải là xác nhận một trở thành đã hoàn tất , mà là theo dõi những chặng đường của một vận động đang tuần tự hình thành.Vận động đó là một vận động của ý thức, một vận động của nghệ thuật…”( Mai Thảo,1965) : Những luận điểm như trên khó hiểu và dễ làm lẫn lộn, hoang mang người đọc. Họ tự nhận là nhóm sáng tạo, gay gắt với trào lưu văn nghệ tiền chiến, nhưng hình như họ muốn đồng nghĩa khó hiểu với xâu sắc, tối nghĩa với triết lý. Sự thật, chuyện bình thường và giản dị trên đời như tình yêu, gia đình, vui, buồn …là những vấn đề sâu xa nhất của con người. Nhóm sáng tạo là môn phái lập dị thì đúng hơn (Lê Huy Oanh, Về thơ tự do, 1957 ). Dù sao, chỉ có thời gian mới là quan tòa, mới có lời phê phán cuối cùng cho nghệ thuật: Tác phẩm có giá trị khi nó vượt được thử thách của thời gian và không gian ( Nhất Linh,Viết và đọc tiểu thuyết,1958 ).
Nếu đồng ý như vậy, ta có thể nói rằng không có tác phẩm nào tuyệt hảo cả: Nói cho cùng thì dù chỉ được một độc giả yêu thích cũng đem niềm vui cho tác giả. Nghệ thuật rõ rệt là chủ quan và phi thời trang nhưng  lại  mang tính dân chủ (số đông quyết định giá trị). Như trường hợp của Van Gogh, cả một đời vẽ tranh( rất nghèo lại vắn số, chết sớm) chỉ bán lèo tèo vài bức( dù người em là môi giới hội họa đã cố gắng giúp anh). Thế mà ngày nay, bức“Hoa Diên Vỹ”( Irises,1889) được bán với giá mấy chục triệu đô! Cùng số phận hẩm hiu với Van Gogh là nữ văn hào Emily Bronte, tác giả cuốn “Đỉnh Gió Hú”( Wuthering Heights,1847) khi xuất bản đã không được độc giả hưởng ứng mà phải chờ đến cả trăm năm sau mới có lời khen. Ngày nay, tác phẩm duy nhất này của bà trở thành một tuyệt tác của thế giới, được mọi người, mọi nơi công nhận! Sự kiện tương tự sẽ là niềm an ủi cho nhiều nghệ sĩ không thành công ngày hôm nay ( trong đó có tôi, nói một cách tự an ủi),và hy vọng rằng có thể sau này, vài chục năm nữa, sẽ có người yêu thích? Phải chăng con người bao giờ cũng bám víu và sống với chút hy vọng vào ngày mai tươi sáng hơn hôm nay?
Thẩm mỹ , hay cái đẹp,  – đối tượng chính của nghệ thuật- hiển nhiên là do nhận định chủ quan mỗi người , nhưng liệu ta có thể tìm thấy một tiêu chuẩn, hay mẫu số chung , dựa vào đó , mọi người cùng đồng ý hoặc chấp nhận, dù họ ở đâu và sống ở bất cứ thời đại nào? Lúc trước , khi xem hình ảnh bên Phi Châu chụp mọi cà răng căng tai, ít ai coi đó là thẩm mỹ , mà còn cho là man di mọi rợ , nhưng đâu ngờ , gần đây, ngay ở Bolsa bên Mỹ , lại xuất hiện người đi căng tai , chà răng và đeo vòng ở lưỡi  !   Theo tôi, vẻ đẹp (có lẽ) phát xuất từ ấn tượng người tiền sử cảm nhận qua thiên nhiên (tranh vẽ, khắc trên đá, mô tả thú vật ở hang Lascaux, Pháp, khoảng 20,000 ngàn năm trước) và sau này, khi lòai người đã hợp quần thành xã hội), thì từ tình yêu , trước tiên là tình mẫu tử , đôi lứa , vợ chồng  …rồi nâng cao,  biến dạng trở thành lòng trắc ẩn, thương yêu đồng loại. Không khác gì các giống vật hợp quần (con kiến, loài ong…) để duy trì giống nòi , con người phải hy sinh ; và khi sống cho tha nhân, cảm thấy thỏa mãn vì đó là bản tánh chân thật của mình (Nhân chi sơ tính bản thiện, Khổng Tử, 500 năm trước Công Nguyên).Thâm tâm con người , không một ai muốn gây đau đớn sầu khổ cho người khác. Phải chăng , tội ác do hoàn cảnh gây ra , vì mà có ai thực sự làm chủ được vận mệnh của mình đâu , nếu như vậy : ý chí tự do ( free-will ) chỉ là một ảo tưởng , như người ta thường ví : cuộc đời là một vở kịch hay canh bạc , trong đó , con người đóng một vai hay tùy thuộc vào may mắn ! Vậy tôi là ai ?
Nếu một tác phẩm là đứa con tinh thần của người sáng tác, thì sự liên hệ giữa tác giả và tác phẩm rất mật thiết, như chuyện của một gia đình:Vì lẽ đó,muốn hiểu thấu đáo bức tranh, hoặc cuốn tiểu thuyết , sự hiểu biết về tác giả giúp ta tận hưởng rõ hơn tác phẩm của họ. Nhưng ta cũng tránh có quan điểm quá khích: như ghét tác giả ( vì lý do gì đó, chính trị chẳng hạn) rồi vơ đũa chê tác phẩm của họ luôn! Ngược lại, cũng đừng tôn thờ tác giả như là một fan của họ (nguyên ngữ từ fanatic ra, nghĩa quá khích).
Nghệ thuật không là bản sao chép thiên nhiên mà là cách diễn tả cuộc đời qua nhận thức của tác giả- Phải chăng con người nhìn mọi thứ trên đời qua nhận thức chủ quan của mình- Nhưng chính nhờ đó mà tác phẩm trở nên sống động , như được tái sinh, có cuộc sống thứ hai, vì vậy đã đem lại sự thích thú cho người thưởng ngoạn: thu hút họ, làm như chính họ được sống như một nhân vật trong truyện dù câu chuyện đã xẩy ra cả trăm năm trước ; hay chính mình, như họa sĩ, đang đứng trước cảnh của bức tranh , dù ở một nơi ta chưa hề đặt chân tới .Đó là sự kỳ diệu của nghệ thuật,chứ không phải vấn đề triết lý cao siêu.Câu hỏi nên đặt ra, không phải là“con người,cuộc sống là gì?”mà trở thành“Cái gì có thật trên cõi đời này?”(Rainer Rilke,1912 );và đối với người nghệ sĩ thì cảm giác phải là thật (Bạn cứ thử đá chân vào hòn đá thì biết!).
Để kết luận, có thể nói, nghệ thuật có rất nhiều mục đích, tùy quan niệm của tác giả: như giúp ta trở nên cao thượng, tận hưởng cuộc sống hơn( như nhận xét của Thạch Lam, Nhất Linh), giải bầy vấn đề triêt lý ( như Sartre, Camus) .v.v..nhưng theo tôi, tất cả những mục đích ấy chỉ là phụ, đến sau, không chủ tâm , nhưng xuất hiện như mấy phản ứng  phụ của thuốc tây (side effect ) mà có thể lại mãnh liệt hơn cả mục đích chính là mua vui dù là một thú đau thương! Nghệ thuật phải có tính hấp dẫn trước nhất, để giải trí thiên hạ (Nguyễn Du), một món ăn tinh thần cho công chúng. Nếu không có tính hấp dẫn thì nghệ thuật không tồn tại và sẽ không truyền đạt các mục đích khác nữa được.
Phải chăng,với chủ quan và hiểu biết hạn hẹp,tôi đã vừa liều lĩnh trả lời về điều kiện tối thiểu của người viết nêu ra ở phần đầu : đó là ai cũng có thẩm quyền bàn về nghề thuật cả  ?
Xin cảm tạ quý độc giả .
* Ngọc Cường.

Sách Việt Hải Ngoại – Hiện Tại và Tương Lai
Sách Việt Nam tại hải ngoại, trong hiện tại thế nào, về tương lai ra sao?
Xin đọc ba chuyện dưới đây.
Chuyện thứ nhất: Tâm sự của một tác giả đã có trên ba tác phẩm biên khảo: Có hai người từ tiểu bang khác đặt mua sách, tôi gửi sách đi theo priority mail, nhưng họ nhận sách rồi…”quên” luôn, không trả tiền, dù cho tôi đã gửi thư nhắc nhở.
Chuyện thứ hai: Hai tiểu bang Maryland, Virginia, cộng thêm Thủ Đô Washington-DC – nơi có cộng đồng người Việt đông thứ năm tại Hoa Kỳ, vậy mà không có lấy một tiệm sách. Đúng ra, chỉ có một tiệm bán băng nhạc, ké thêm vài kệ sách. Vậy cũng là đáng mừng lắm rồi.
Chuyện thứ ba: Kinh nghiệm bản thân người viết. Có lần gởi sách cho một anh – một nhà báo từ trong nước ra tới hải ngoại. Anh viết thư cám ơn nhưng kèm thêm dòng chữ: “Nói thật, An đừng mất công nữa nhé”.
Ba câu chuyện trên – có thể nói là điển hình trong thế giới sách Việt tại hải ngoại, cho thấy càng ngày càng ít người đọc sách. Nói đúng hơn, ít người mua sách. Hoặc cả hai.
Tôi có cảm tưởng đó là một cuộc chiến.
Cuộc chiến có ba phe.
Phe người đọc, phát ngán lên được với những buổi giới thiệu sách không-đi-không-được của bạn bè. Thấy bạn hào hứng kể lể về đứa con tinh thần, hớn hở ký tặng sách, còn mình thì rầu thúi vì phải bỏ tiền ra mua và biết chắc sách lại chiếm thêm một chỗ trong nhà vốn đã đầy ắp đồ đạc. Tâm trạng héo hon ấy chẳng khác gì tâm trạng nàng Kiều, mặc người mưa Sở mây Tần, riêng mình nào biết có Xuân là gì!
Phe người viết, hì hục, vò võ, tốn cả ngàn tiếng đồng hồ ra viết, viết miệt mài, viết lầm lũi; rồi thì tốn cả ngàn đồng để in thành sách, lại tốn thì giờ, tốn tiền bạc tổ chức ra mắt sách, gởi chỗ này chỗ kia bán. Cuối cùng tâm trạng cũng in hệt Kiều nương, khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, giật mình, mình lại thương mình xót xa!
Và phe… những cuốn sách. Khi in ra – được nâng niu vô cùng từ bìa đến ruột. Đến lúc bán đi (nhiều khi là “cho đi”) – bị xếp ngay vào một góc, đóng bụi. Nếu sách có nói được hẳn sẽ than, như Kiều nhi từng than, khi sao phong gấm rũ là, giờ sao tan tác như hoa giữa đường!
Trong cuộc chiến, phe đọc sách và phe làm sách dường như nằm trong chiến hào của mỗi bên. Rình rình nhau, xem bên nào đổ trước. Đọc-Sách lâu lâu hỏi vói qua: Chết chưa? Làm-Sách đáp: Chưa chết! Đọc-Sách càng không thèm mua, rồi lại hỏi vói qua: Chết chưa? Vẫn đáp: Chưa chết! Và cuộc chiến cứ thế tiếp diễn, dai nhách.
Một số Đọc-Sách, cuối cùng “xông lên”, nhất định không thèm đọc nữa, dù có cho free cũng không thèm. Uyên Thao có lần chỉ vào gói sách bị trả về, nói với tôi: “Không sai địa chỉ, nhưng sách gửi đi thì bị trả về, chắc người ta không muốn nhận”. Sách của Tủ Sách Tiếng Quê Hương được gởi đi trước, bạn đọc ai muốn trả tiền thì trả, không thì thôi. Nhưng nhiều người đọc dứt khoát không “thỏa hiệp”. Họ thét to: “Các ông ơi, bọn tôi không đọc nữa đâu, xin làm ơn làm phước đừng viết nữa, đừng in nữa, đừng gởi nữa” – “Không, không, không. Tôi không còn, tôi không còn đọc sách (của các ông) nữa…” v.v. và v.v.
Vậy người viết có chùn bước không, có bỏ cuộc không?
Câu trả lời là KHÔNG!
Vào những số đầu tiên của bản Tin Sách, Trần Phong Vũ nhắc tôi: “Giới thiệu 10 cuốn sách trong một kỳ Tin Sách thì tốt đấy, nhưng lỡ đến lúc không còn sách hay thì chả nhẽ đi giới thiệu sách coi bói à?”
Tôi cười, thầm nghĩ, ông anh mình cũng thuộc loại không (thèm) đọc sách rồi. Vì nếu có theo dõi thị trường sách Việt hải ngoại mới thấy số lượng sách được xuất bản không hề giảm mà chỉ có tăng. Tin Sách chạy hụt hơi cũng không giới thiệu hết sách của các văn hữu của gia-đình-chúng-ta đâu.
Trong cái-gọi-là “cuộc chiến sách Việt hải ngoại”, phe làm sách quả rất ngoan cường. Chê gì chê, cười gì cười, họ vẫn lầm lũi tiến lên, như thể muốn nói: “Các ông không mua thì thôi. Chúng tôi cứ viết đấy, cứ in đấy. Đã sao nào”.
Cứ như nếu gặp câu hỏi: Why do you have to make books?
Thì câu trả lời sẽ là: Why not?
Những người viết không phải không có lý, nhất là khi sách thuộc thể loại hồi ký. Khi những người ông, bà, cha, mẹ, viết ra với mục đích để lại ký ức của mình. Nhờ đó, một ngày kia, con cháu sẽ biết được tại sao chúng có mặt trên xứ người chứ không là Việt Nam. Sách dành riêng cho người trong nhà đọc, người ngoài có đọc thì chỉ là đọc ké mà thôi.
Có điều cần viết, có người muốn viết, và có đối tượng để viết cho. Vậy là đã đạt yếu tố con người, tức Nhân Hòa. Thế thì phe làm sách đã chiếm lĩnh được một ưu thế rồi đó.
Về yếu tố Địa Lợi? Nếu nói theo kiểu chơi chữ, “địa” là “tiền”, thì không có gì khó khăn với phe “mần” sách cả. Nhiều vị có sẵn tiền… hưu, để dành một năm, vài năm, cộng thêm con cái giúp cho một ít là đủ “đắc địa” rồi.
Tôi biết một người dành dụm tiền hưu in hồi ký. Ông tự soạn sách, tự dàn trang, tự xuất bản. Sách ông trình bày chẳng theo bất cứ quy tắc nào hết. Hễ thấy cần nhấn mạnh, ông cho chữ đậm hay chữ hoa to tướng, trông rất tức cười. Nhưng ông viết thẳng, viết thật, viết tếu lâm, nên đọc thấy rất gần gũi, dễ thương. Sách bán được hơn 200 cuốn. Tác giả hỏi Uyên Thao nghĩ sao. Uyên Thao cười, vậy thì quá giỏi rồi còn gì.
Và yếu tố cuối cùng – Thiên Thời, thì sao?
Chưa bao giờ thời cơ lại thuận lợi với người viết hơn lúc này. Phương pháp Print-On-Demand (in sách theo yêu cầu) – với Amazon là trung tâm tiên phong – đang là một cơ hội Trời ban cho những ai muốn xuất bản sách mà không rủng rỉnh tiền vốn hay rộng rãi kho chứa.
Điển hình là cuốn Cưỡi Ngọn Sấm mà tôi được dịp phụ với các anh Lý Văn Quý, Nguyễn Hiền trong việc dịch thuật. Anh Quý lo phần xuất bản sách. Anh tạo trương mục (account) với Amazon, làm layout trên khuôn có sẵn của Amazon. Khi nào có người muốn mua sách, anh báo tin cho Amazon biết, thế là Amazon gởi thẳng về địa chỉ của người mua. Tiền thu được từ bán sách, sau khi trừ hoa hồng (không nhiều lắm) sẽ được Amazon gởi về cho tác giả. Thật gọn gàng, nhẹ nhàng. Người làm sách không phải ôm cả trăm cuốn sách, cũng không phải hì hục gói sách, gởi sách, rồi còn nơm nớp lo bị quỵt tiền hay bị thất lạc.
Và như thế, với cả ba yếu tố: thiên thời – địa lợi – nhân hòa, thị trường sách Việt hải ngoại hiện tại vốn đang dồi dào, thì trong tương lai gần, sẽ còn dồi dào hơn.
Nhưng, vẫn còn đó câu hỏi: Sách in ra nhiều thật, nhưng ai đọc cho đây?
Thưa đúng, sách in để đọc chứ chẳng để ngắm, và người đọc hải ngoại thì cứ như sao buổi sớm, như lá mùa thu…
Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, mà có lẽ trong kho Nhà Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ vẫn còn một đống sách tồn đọng, trong một buổi họp mặt văn nghệ đã rất lạc quan tiên đoán rằng: “Chúng ta chả có gì phải lo ngại. Một ngày không xa, sách hải ngoại sẽ “vượt biển” xâm nhập Việt Nam. Tới lúc đó, chỉ e chúng ta không có đủ sách để bán nữa chứ”.
Nhà văn quân đội Trần Hoài Thư, ròng rã hàng chục năm với việc sưu tầm, tự in ấn và phát hành những tác phẩm của Miền Nam–Việt Nam Cộng Hòa qua Nhà Xuất Bản Thư Ấn Quán, vẫn đều đặn cho ra đời những tập sách nho nhỏ, xinh xắn. Loạt sách này dần được sự hưởng ứng của người trong nước, nhất là giới trẻ Việt Nam, khi họ ngày càng ý thức rằng trên đất nước ngột ngạt đang sống đã từng có một nền văn học tự do.
Còn Uyên Thao, người sáng lập Tủ Sách Tiếng Quê Hương, thì từng nói ông đang “làm ăn mày để in sách”. Với Uyên Thao, người tự cho mình “chưa bao giờ làm văn học” mà “chỉ chọn cây viết thay cây súng”. Với ông, mỗi cuốn sách là một “người cán bộ” . Người cán bộ nếu không giữ tư cách thì không thuyết phục được dân, cũng thế, nếu cuốn sách không chỉnh tề, từ nội dung đến hình thức, thì sẽ không được bạn đọc đón nhận. Và thế là “gã hành khất” Uyên Thao cứ lầm lũi ăn mày để đào tạo cán bộ. Cho tới nay, Tủ Sách Tiếng Quê Hương đã cho ra đời trên 70 tác phẩm.
Còn riêng tôi, trong việc làm Tin Sách, tôi không ngừng xúc động mỗi khi đọc được những cuốn sách thật hay nhưng ít người nhắc đến. Sách như trẻ nhỏ. Em nào may mắn vào gia đình khá giả, khi sinh ra được mọi người đón mừng, chúc tụng. Còn những em kém may mắn hơn lỡ sinh trong gia đình nghèo khó thì sự ra đời của các em sẽ thật lặng lẽ, âm thầm. Tôi chỉ hy vọng Tin Sách sẽ giúp bạn đọc biết đến những cuốn sách kém may mắn ấy dù chỉ qua vài hàng giới thiệu ngắn ngủi.
Xin có vài lời cuối…
Với người đọc: Xin đọc ít nhất một vài trang cho một cuốn sách. Có thể bạn sẽ bắt gặp một câu – và chỉ cần một câu thôi, sẽ giúp bạn rất nhiều. Và sau đó, nếu bạn muốn giục sách vào thùng rác thì cứ tự nhiên vì bạn đã được nhiều hơn là bỏ ra rồi đấy. Ngay cả khi không thu lượm được gì, bạn cũng sẽ học được cách đừng viết như thế, đừng nói như thế. Không phải khoa học gia lừng danh Thomas Edison đã bảo rằng: “Tôi biết tới một ngàn cách để không thành công”.
Với người viết: Xin cứ tiếp tục viết, dù khó khăn, dù nản lòng, dù biết mình viết dở ẹc. Nếu sách viết ra không bán được thì càng mừng nữa chứ, vì bạn đã hoàn toàn được tự do – tự do khỏi cái ràng buộc vật chất đời thường. Bạn tốn tiền, bạn nhọc công vì một cuộc chơi. Mà nghĩ thử coi, cuộc chơi nào mà chẳng tốn tiền, tốn công. Nghề chơi cũng lắm công phu huống hồ là… chơi chữ.
Tôi vẫn phục Nguyễn Liệu. Ông thực hiện một cuốn sách dày cui, đặt tên hết sức chảnh: “Đời Tôi”. Sách in ra, bán được bao nhiêu thì bán, còn lại đem cho hết. Bây giờ, sách thành tuyệt bản, không phải thích thú sao?
Tôi hên, mua được một “Đời Tôi”. Quý lắm. Mỗi lần cầm sách lên, tâm trạng không khác tâm trạng nàng Thúy Kiều thuở nao:
Tưởng bây giờ là bao giờ
Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao!
 
Trịnh Bình An
Đoàn Kết trong truyện Tam Quốc
Trịnh Bình An
Đoàn Kết trong truyện Tam Quốc
Trịnh Bình An
Lời ngỏ: Khi được hỏi “Đoàn Kết là gì?” thì hầu như ai cũng biết Đoàn Kết 團結 là sự hợp lại với nhau của một nhóm người nhằm đạt được một mục tiêu nào đó. Do vậy một nhóm bạn họp nhau để cùng đi chơi thì không được gọi là đoàn kết, chỉ khi nào họ hợp với nhau để cùng làm một việc khá khó khăn thì mới là đoàn kết.
Trong tác phẩm “Tam Quốc Diễn Nghĩa“, so với hai nước Ngụy và Ngô, Thục là nước nhỏ nhất và yếu nhất. Tới khi Tào Tháo và Tôn Quyền vững vàng với đất rộng sông dài thì Lưu Bị cùng nhóm người của ông vẫn còn lang thang không chốn dung thân. Thế nhưng cuối cùng, nhóm người nhỏ bé ấy vẫn hùng cứ một phương, cũng làm nên kỳ tích. Nhờ đâu họ được như thế? Tiểu luận này xét đến khía cạnh đoàn kết của nhóm Lưu Bị, ở đó có những cá nhân chấp nhận dẹp bỏ “cái tôi” để thực hiện mục đích chung. (TBA)
***
Lưu Bị cảm thấy đầu nhức như búa bổ…
Dạo này ông thấy tinh thần sa sút. Kể từ ngày khởi quân, chưa lúc nào ông thấy bất an đến thế. Tình hình thật nguy nan, Tân Dã chỉ là một vùng hẻo lánh nghèo nàn, không thể là nơi trú ẩn lâu dài. Nhưng đó vẫn chưa phải là điều làm Lưu Bị lo lắng. Cái làm ông lo nhất là tình hình quân cơ, tình hình nhân sự trong nhóm người của ông.
Kể từ khi Lưu Quan Trương kết nghĩa vườn đào, lúc này là lúc có nguy cơ rạn vỡ nhất. Dĩ nhiên trong bọn họ vẫn thường xảy ra những lúc không đồng ý với nhau, thậm chí cãi vã to tiếng. Trương Phi tánh nóng như lửa, đụng chút là thượng cẳng chân hạ cẳng tay, lại là cái hũ rượu, rượu vào thành ẩu xị. Còn Quan Vũ tuy nghĩa khí hơn người, nhưng quá cứng nhắc, cái chiếu trải không ngay không ngồi, chuyện gì không đồng ý thì phải thuyết phục mướt mồ hôi mới nghe thủng.
May còn có Triệu Vân!
Nghĩ tới Triệu Vân, Lưu Bị bỗng dưng cảm thấy khoan khoái! Quả là một trang hảo hán trí dũng song toàn. Lưu Bị không bao giờ hết kinh ngạc ông may mắn có được một chiến hữu tài giỏi như Triệu Tử Long.
Nhớ lúc đi phó hội bị Thái Mạo tìm cách ám toán. May nhờ Y Tịch vốn ái mộ nên ngầm báo cho biết, Lưu Bị mượn cớ đi thay áo rồi ra ngoài cỡi ngựa bỏ chạy. Đến bờ sông Đàn Khê không có cầu, cũng không có thuyền, tưởng đã bỏ mạng, ngờ đâu con Đích Lô nghe ông than bỗng soải vó phóng một cái qua bờ sông bên kia. Thật hú vía!
Triệu Vân cùng đi với Lưu Bị nhưng bị mời qua tiệc khác. Khi quay trở lại không thấy chủ tướng, lo lắng, hỏi thăm. Thấy người ta trả lời loanh quanh, Triệu Vân không nói gì, lẳng lặng đi vòng quanh dò xét. Đến bờ sông, Triệu Vân thấy nhiều dấu chân ngựa. Có dấu chân còn in lõm sâu vào bờ đất ẩm, sâu đến mức làm đất chung quanh lở cả ra. Triệu Vân ngẫm nghĩ một hồi rồi ra về. Quả thật, Lưu Bị đã về trước.
Nếu như hôm đó không phải Triệu Vân mà là Trương hay Quan thì thôi rồi! Chỉ mới nghe qua loa vài câu hai người thế nào cũng vác thanh long đao, xà mâu kích ra phang loạn xạ. Triệu Vân thì khác hẳn, kiên nhẫn. biết quan sát, chịu khó suy nghĩ, không làm ẩu.
Cái tình huynh đệ kết nghĩa thật sâu đậm, Lưu Bị nghĩ lại không khỏi cảm thám. Quan Trương hai người đã hy sinh biết bao nhiêu cho ông và cho lý tưởng của ông. Thế nhưng chính cái tình anh em lại làm ông khó xử. Có những lúc cứ anh anh em em bá vai bá cổ rồi chẳng ra gì! Không lẽ những lúc đó Lưu Bị lại thành người mặt sắt đen sì quân pháp bất vị thân với hai nghĩa đệ của ông sao? Thật nan giải!
Và nếu không thay đổi thì đám quân của ông rồi ra cũng chỉ là một đám người ô hợp. Không kỷ luật thì làm sao đối đầu với Tào Tháo, quân lệnh như núi, nghiêm minh đến điều.
Nghĩ đến Tào Tháo, Lưu Bị không khỏi thở dài. Quả là một người tài ba thao lược lại dũng khí hơn người. Cứ nhớ vụ Tào Tháo dám lận dao, một mình đi hành thích lão bụng phệ Đổng Trác mới biết Tháo có gan lớn. Tháo lại còn trí tuệ và thao lược. Giá như Tháo cùng với ông thành một phe thì hay biết bao.
Bỗng một suy nghĩ chợt loé lên như tia chớp. Đúng rồi, Lưu Bị cần tìm được một người giống như Tào Tháo, một người cũng trí tuệ, cũng mưu lược và cứng rắn. Một người có thể làm “bàn tay sắt” để cho Lưu Bị là “bàn tay nhung.” Chỉ có như thế mới chấn chỉnh được đám quân lè nhè thày ba chú bảy của ông.
Thế nhưng, làm sao tìm cho ra? Kiếm được người đó khó như hái sao trên trời. Làm sao có người vừa như Tào Tháo về tài mà lại giống Lưu Bị về tính: vừa nhân nghĩa vừa uyên bác thao lược. Khó lắm thay!
Và như thế Lưu Huyền Đức vẫn tiếp tục nhức đầu. Chỉ cho đến khi….

****
Khổng Minh nôn nóng thúc dục tả hữu đi nhanh. Trên đường về kinh ông được tin Bàng Thống đã đến Kinh Châu, ra mắt Lưu Bị, rồi chỉ được giao cho một chức huyện quan. Kỳ lạ thật!
Thống với ông vốn là bạn thân. So về tài, Thống không thua kém ông. Mà chẳng lẽ Lưu Bị không nghe tiếng đồn trong dân gian hay sao? “Ngọa Long – Phụng Sồ” – Gia Cát Lượng là rồng thì Bàng Thống là phụng, có kém chi? Vậy sao Lưu Bị lại làm chuyện như thế? Lại còn nghe Lưu Bị nói với tả hữu rằng Thống trông xấu xí quá, không có vẻ gì là “hiền nhân”.
Khổng Minh tự nghĩ mình đã rất cẩn thận. Dù biết Lưu Bị vốn nổi tiếng cầu hiền đãi sĩ nhưng Khổng Minh vẫn đưa cho bạn một lá thơ giới thiệu, lại dặn dò khi cần nhớ đưa ra. Thế mà mọi sự vẫn hỏng bét!
Bàng Thống ở Lôi Dương chẳng thèm làm việc, tối ngày say sưa. Lưu Bị nghe vậy liền phái ngay Trương Phi tới “hỏi thăm sức khỏe”. Trương Phi đến nơi lập tức nổi trận lôi đình. Ngờ đâu sau đó Bàng Thống trổ tài, trong một ngày giải quyết hết mọi việc tồn đọng. Trương Phi hoảng hồn, lập tức báo tin về. Lưu Bị vội vã mời Bàng Thống trở lại tư dinh. Không biết Lưu Bị rồi sẽ tính sao với Thống? Nếu giao cho Thống chức vị không xứng nữa e Thống bực tức, bỏ đi. Thế là lại càng hỏng bét!
Càng nghĩ Gia Cát càng nôn nóng, càng thúc hối mọi người đi mau mau…
***
Gia Cát Lượng về tới. Vừa xuống xe ông đến ngay dinh Lưu Bị.
Thấy Gia Cát, Lưu Bị vui mừng:
– Lượng đó à?
– Thưa vâng!
Sau khi vẫy tay cho tả hữu ra ngoài, Lưu Bị đưa tay đỡ Gia Cát đứng lên.
–  Ngươi vừa về tới đã vội vào đây, chắc vì chuyện Bàng Thống?
–  Thưa phải.
–  Cũng đã nghe chuyện Thống và Trương đầu đà?
(Lưu Bị vẫn gọi Trương Phi như thế với những người thân cận).
– Thưa vâng.
–  Người nghĩ sao về chuyện đó?
–  Lượng nghĩ chủ công tất có ý.
Lưu Bị liếc nhìn Gia Cát và mỉm cười:
– Hắn ta thật xấu trai so với ngươi…
Gia Cát cũng mỉm cười:
– Thần không dám nghĩ mình đẹp trai.
Lưu Bị nói nhanh:
– Xấu trai không thành vấn đề. Vấn đề là người trẻ mà “máu” quá. Không tốt!
– Chủ công thấy Bàng Thống có tính nóng nảy?
Lưu Bị lắc đầu:
– Nóng nảy thì nói làm gì, đây là tính tự phụ háo thắng. Nắm trong tay sinh mạng ngàn người đâu thể vì cái muốn của riêng mình để định việc.
Sau một thoáng im lặng Gia Cát nói:
– Tôi trước đây cũng háo thắng, tự ví mình là con rồng nằm ẩn, lại chẳng muốn giao du với loại người tầm thường, chỉ bầu bạn với đám Từ Nguyên Trực, Bàng Sĩ Nguyên… (1)
Lưu Bị nhìn người đàn ông trẻ:
– Cái lúc đó ta cần sự ngạo mạn của ngươi để dằn mặt đám người của ta. Họ ở lâu thành lão làng, ngông ngông nghênh nghênh, chính ta cũng không cách gì cải sửa được họ. Nên khi có được ngươi, vừa trẻ, vừa tự tin, khiến cho trên dưới xanh mặt. Cũng may ngươi có tài thật nên được mọi người kính nể.
Gia Cát thở nhẹ ra:
– Lượng này may mắn được chủ công dạy bảo mới được như ngày nay.
Khổng Minh nói thật với lòng. Nhớ những ngày đầu binh tướng của Lưu Bị khi thấy Gia Cát được đặc biệt ưu đãi đã không ngớt xầm xì. Quả thực Gia Cát chỉ là một gã thư sinh cày ruộng, suốt ngày chỉ biết đọc sách, lại chưa từng xông pha trận mạc. Một người như thế lại được đưa ngay lên làm quân sư, bảo sao thiên hạ không phục. Thế nhưng, sau những thành công liên tiếp của Tây Thục, nhất là sau khi cùng Ngô Quyền đại thắng Tào Tháo ở Xích Bích và chiếm được Kinh Châu thì ai ai cũng ca ngợi Ngọa Long tài trí hơn người.
Chỉ riêng Gia Cát hiểu được nhờ đâu ông có được những thành công ấy. Lưu Bị tuy là chủ tướng, lại lớn tuổi hơn Gia Cát nhưng không bao giờ tỏ vẻ ta đây, vẫn luôn lắng nghe và bàn bạc tỉ mỉ chuyện quân cơ với ông. Tuy nhiên, Lưu Bị thẳng thắn chỉnh sửa Gia Cát những điều ông còn non kém, như những thực tế của chiến trường, của đời sống. Không những thế, Lưu Bị còn bỏ thì giờ ra nói chuyện  về những chiến hữu của mình, từng người một, nhờ thế Gia Cát hiểu được tính tình, khả năng, sở đoản, sở trường của họ, từ đó có thể tùy người tùy việc mà hành xử một cách hợp tình, hợp lý. Mọi người cứ nghĩ Khổng Minh cái gì cũng giỏi, họ đâu biết rằng nếu không có Lưu Bị chỉ vẽ cho thì ông chỉ là một gã hủ nho mọt sách mà thôi.
Gia Cát học được một điều quan trọng: Phải thực sự quan tâm tới những người đang làm việc chung với mình và phải biết học hỏi những người ấy. Ông đã thực hiện được đúng như thế. Khi mọi người thấy Gia Cát tuy có tài nhưng không phách lối, nên từ xa cách đố kị, họ dần cảm mến người quân sư trẻ tuổi.
–  Vậy ra Bàng Thống đã bị “huấn nhục”?
Gia Cát hỏi.
–  Hắn ta cứ huyên huyên hoang hoang thì mau chết. Đưa hắn vào chức quan hèn ít lâu cho hắn bớt kiêu ngạo đi.
Gia Cát mỉm cười:
– Từ nay thiên hạ sẽ bảo chủ công không có “con mắt xanh.” (2)
Lưu Bị lắc đầu:
– Thiên hạ thường vẫn như thế. Ai có tâm thì thức, ai có trí thì tuệ. Hơi đâu lo!
Ngưng một lúc khá lâu, Lưu Bị bỗng cất tiếng:
– Ta sẽ phong cho Bàng Thống làm Tả Quân Sư, còn ngươi là Hữu Quân Sư.
Gia Cát không trả lời.
Lưu Bị nhìn xoáy vào mắt Khổng Minh:
– Ngươi không bực chứ?
– Thần nghĩ chủ công đã có ý.
Lưu Bị trầm ngâm:
– So về “tầm” hắn ngang ngươi, so về “tâm” hắn thua ngươi. Thế nhưng thiên hạ vẫn có câu ca ngợi “Ngọa Long Khổng Minh – Phụng Sồ Bàng Thống”, nếu bây giờ ta để cho hắn dưới ngươi thì đúng là làm hắn mất mặt, thế thì hắn còn làm tướng chỉ huy được với ai.
– Thần chưa bao giờ nghĩ Bàng Thống không đáng mặt quân sư.
Lưu Bị than:
– Gia Cát Lượng ơi Gia Cát Lượng, ngày trước ngươi vin vào câu thơ của Tào Thực vịnh Đồng Tước Đài nên mới khích tướng được vua quan Đông Ngô, thành ra ngươi được nổi danh. Nay cũng vì lời đồng dao mà ngươi đành chịu thiệt thòi. (3)

Gia Cát lặng thinh một hồi. Rồi đáp:
– Chủ công đừng quá bận tâm. Lượng tôi tuy vẫn chưa học được sự an trầm của chủ công nhưng cũng cố gắng ráng giữ bình tĩnh trong mọi sự.
Lưu Bị không dấu được vẻ vui mừng, ông đưa tay khẽ vỗ vai người bạn trẻ:
– Tốt lắm. Thật ta chẳng nhìn lầm người!
Rồi Lưu Bị nói tiếp:
– Có người vừa đem tới một con ba ba rất lớn, trên lưng nó có nhiều đường vân kỳ lạ. Nghe nói ngươi giỏi về bói Dịch, ra xem thử coi.
Hai người cùng bước ra sân, bỏ lại phía sau ngổn ngang thế sự…
***
Chú thích:
Từ Nguyên Trực tức Từ Thứ , Bàng Sĩ Nguyên tức Bàng Thống, các bạn của Khổng Minh trước khi ông ra phò tá Lưu Bị.
Điển tích “mắt xanh”: Tương truyền Nguyễn Tịch, đời nhà Tấn, khi tiếp khách hễ là hạng quân tử thì ông nhìn bằng tròng mắt xanh; trái lại nếu khách là kẻ tầm thường thì ông nhìn bằng đôi tròng trắng. Trong tác phẩm “Đoạn Trường Tân Thanh” lúc Từ Hải gặp Thúy Kiều ở thanh lâu, Từ Hải đối đáp với Kiều, đã nói với nàng: “Bấy lâu nghe tiếng má đào – Mắt xanh chẳng để ai vào có không? – Một đời được mấy anh hùng – Bõ chi cá chậu chim lồng mà chơi! “, ý nói chưa người đàn ông nào xứng đáng với nàng, chỉ toàn là loại tầm thường (như cá trong chậu, chim trong lồng).
Tào Tháo có xây một cái đài tráng lệ, đặt tên Đồng Tước, rồi tuyển gái đẹp khắp nơi vào đó. Con là Tào Thực làm bài phú “Đồng Tước Đài“, trong có hai câu: “Liên nhị kiều vu đông tây hề – Nhược trường không chi đế đống“, nghĩa là “Bắc hai cầu tây đông nối lại – Như cầu vồng sáng chói không gian“. Nhưng tại Đông Ngô, lại có hai cô gái tuyệt đẹp tên Đại Kiều và Tiểu Kiều là vợ của Tôn Sách và Chu Du. Đến khi Khổng Minh qua Ngô bàn việc hợp tác đánh Ngụy, ông sửa hai câu thơ này thành: “Lãm nhị Kiều ư đông nam hề – Lạc triêu tịch chi dữ cộng“, nghĩa là “Tìm hai Kiều nam phương về sống – Vui cùng nhau giấc mộng hồi xuân“. Đổi chữ “kiều” thành “Kiều”, Khổng Minh chủ ý chọc tức Chu Du (Nhưng Chu Du có thực sự bị mắc lừa? Hoặc có thể, Chu Du cũng vin vào cớ ấy vì biết như thế mới thuyết phục phe “chủ hòa” của Đông Ngô lâm chiến, và như thế mới có dịp thi thố tài năng?)
Loạn Thế Độc Thư
Trịnh Bình An
Hồi nhỏ, tôi nghe được câu “Loạn Thế Độc Thư“. Lúc ấy, chỉ biết lõm bõm nghĩa câu này là: “Thời loạn tốt nhất nên đọc sách“.
Với những ai thích đọc sách, có lẽ sẽ đồng cảm với tôi; “đọc sách” tức là “được trò chuyện với người mình thích.
Theo suy diễn riêng, thời loạn lạc nhiễu nhương, lòng người tráo trở khó lường, tin được ai đây? Riêng chỉ có người trong sách là không thay đổi, được “nói chuyện” với người ấy an tâm lắm chứ.
Thế nhưng, tới khi sống lâu ở Mỹ, tôi chợt nhận ra một điều não lòng: Chẳng có lúc nào là không “Loạn Thế“!
Khoan nói tới những cuộc chiến không ngừng diễn ra trên khắp trái đất này, chỉ riêng Hoa Kỳ cũng đầy tai ương.  Tính riêng kinh tế, cứ 10 năm một lần lại có một cuộc khủng hoảng.
Năm 2008, bong bóng nhà đất bị “nổ” đã gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Là một kỹ sư công trình, tôi cũng bị ảnh hưởng theo, việc làm không còn nhiều như trước, tuy nhiên, cũng nhờ đó mới có thì giờ bắt đầu viết.
Sau đó, nền kinh tế cũng dần dần hồi phục. Tới 2019 được coi là vạm vỡ lắm rồi. Riêng tôi, do kinh nghiệm hai cuộc khủng hoảng 1998 và 2008 lại thấy hồi hộp, tự hỏi “” sẽ lại tới lúc nào và như thế nào?
Thật không ngờ, “” lại tới qua một “con” virus nhỏ bé!
Thời loạn 2020 này nên được diễn tả ra sao?
Loạn đến mức người ta nháo nhào đi kiếm giấy vệ sinh!
Cái thứ được coi là “bèo” nhất xứ Huê Kỳ nay bỗng dưng trở thành nỗi ám ảnh của mọi nhà. Điều ấy chợt làm tôi thật buồn. Nhiều đề tài muốn viết lướt qua trong óc, nhưng chỉ vài dòng rồi thôi.
Thời này, ai nấy đều chăm chăm vào người chết, người thoát chết, người lao đao công việc,… chẳng ai cần đọc những suy nghĩ cá nhân vụn vặt. Ngay chính tôi, nếu nhận được lời khen cho bài viết chắc không mừng rỡ bằng nhận được một cuộn giấy… vệ sinh.
J’ai vu des enfants mourir de faim. En face d’un enfant qui meurt, La Nausée ne fait pas le poids.” (” Tôi đã thấy những đứa bé chết đói. Trước một đứa trẻ sắp chết, cuốn “Buồn Nôn” thì có đáng gì .)
Cảm thán của Jean-Paul Sartre sao mà đúng với tôi lúc này, khi chẳng ai còn tâm trí cho những thứ bay bổng, cao xa. Cái người ta nghĩ đến lúc này hết sức tầm thường. Nhưng, đó là những thứ tầm thường xứng đáng.
Một lần tôi có dịp trò chuyện với thi sĩ Cung Trầm Tưởng.
Do nghĩ nhà thơ vốn là một kỹ sư nên tôi đưa ra so sánh về thơ và… bãi đậu xe. Theo tôi, được thoải mái de xe vào một chỗ đậu rộng rãi cũng tạo ra cảm giác khoan khoái không kém như khi đọc một câu thơ hay.
Nhà thơ phản đối ngay: Thơ dĩ nhiên phải cao hơn nhiều, cái thứ cảm giác “biểu bì” làm sao sánh bằng.
Có lẽ vì tôi không biết làm thơ, chỉ biết thiết kế bãi đậu xe, nên đành xin lỗi các nhà thơ về so sánh có phần “hạ giá” ấy.
Nhưng đưa ra câu chuyện chỉ để làm sáng tỏ một điều: Con người ngày nay được ban cho quá nhiều “món ăn tinh thần“, bạn có thể thích thú với nhiều thứ hấp dẫn hơn trên YouTube chứ không chỉ qua những cuốn sách. Đọc sách không còn giữ vị trí quan trọng như tổ tiên ta lúc trước nữa.
Thế nhưng, nếu tôi đã chẳng đọc sách, thì làm sao biết tới câu nói của Sartre? Lời triết gia khiến tôi ngậm ngùi chua xót, nhưng cùng lúc, cảm thấy an ủi vô cùng vì biết có người chia sớt nỗi cay đắng với mình.
Cuối cùng, tôi rút ra kết luận: Lúc nào đọc sách được thì ráng đọc. Lúc yên ổn, đọc nhiều một chút. Lúc loạn lạc, rút cái mình đọc ra làm “gậy chống“, nếu không giúp đi được quãng đường xa thì bước chân gần ít nhiều cũng bớt lênh đênh.
Vào thời đại dịch Corona Virus, “đóng cửa đọc sách” là điều thích hợp nhất. Những ai tập được thói quen đọc sách, viết lách là những người cảm thấy thoải mái nhất với sự “tự cách ly” – self quarantine.
Bây giờ đèn sách sớm khuya thế nào?
Chữ rằng “loạn độc thư cao”
Khi nên cũng thế, khác nào người xưa. (*)

Con người thế kỷ 21 được nhiều cái “nên” hơn thời Ức Trai tiên sinh. Chúng ta “nên nhà, nên cửa“, nhất là “nên computer“. Nhờ computer, chúng ta được “nghe, nhìn, đọc” hào hứng hơn nhiều so với đọc sách, để rồi mất dần thói quen một-mình-tĩnh-lặngmột-mình-suy-tưmột- mình-chiêm-nghiệm.
 
Trớ trêu thay, trong thời đại dịch này, con người mới thấm thía với những cái chết rất đỗi… một-mình-trơ-trọi.
 
Hy vọng, nếu chẳng may cái “lúc đó” xảy ra cho bạn hay tôi, chúng ta còn đủ khả năng nhớ tới một vài câu nói của “người bạn sách” nào đó để trái tim mình bớt nỗi cô đơn.
 
Trịnh Bình An
Mùa Đại Dịch
Tháng Năm, 2020

(*) Trích: “Dạy Học Trò – Gia Huấn Ca”, Nguyễn Trãi.https://vbmdhk.org/loan-the-doc-thu-trinh-binh-an/https://vbmdhk.org/le-thi-kim-oanh/

Follow Our Blog

Get new content delivered directly to your inbox.