HÀ NGUYÊN DU

Tiểu sử:
Hà Nguyên Du nguyên quán Tây Ninh. Sang Hoa kỳ H.O.5, năm 1990.

“Tôi làm thơ, sống với thơ hơn hai phần ba tuổi đời, tính đến nay có trên ba mươi năm.
Lúc tuổi vừa mới lên trung học đệ nhất cấp với những sinh hoạt hăng hái trong vài bút nhóm, thi văn đoàn, cho đến khi làm thơ biệt lập, một mình. Có nhiều thơ đăng trên một số báo và tạp chí ở Sàigòn, với mốc thời gian không bao giờ quên … đó là năm Mậu Thân (1968) ngập tràn máu lửa. Tiếp đến, người làm thơ tôi phải đi vào đời và nhập cuộc, để phải trải qua muôn vàn nghiệt ngã và thử thách. May mà còn nguyên vẹn trong cuộc chiến đấu bảo vệ tự do trước kia… và may mà còn sống sót trở về từ các địa ngục tù đày, tưởng như bỏ mạng của sau 1975 dưới chế độ CSVN” (tác giả tự thuật).

Hà Nguyên Du viết từ trước năm 1975. Thơ anh, nhất là giai đoạn đầu, trong nước và hải ngoại, để lại ấn tượng sâu đậm của ký ức chiến tranh, những suy nghĩ của người lính về đất nước. Về hình thức, anh viết theo thể có vần cổ điển với những phá cách, chuyển dần sang tự do. Sau này khi tham gia phong trào Tân hình thức, dấu ấn của vần điệu cổ điển trong thơ anh vẫn còn.
Bên cạnh công việc mưu sinh, anh sinh hoạt sôi nổi trên văn đàn, phụ tá chủ bút của tạp chí Chủ đề của nhà văn Nguyễn Trung Hối, sinh hoạt với tạp chí Thơ ở Cali, với nhóm Tân hình thức hiện nay. Anh phổ nhạc nhiều bài thơ Tân hình thức, như của Khế Iêm, Biển Bắc.
Cuộc sống bận rộn, tính ham công việc, cũng thể hiện trong nhịp điệu của thơ: giàu âm nhạc, linh động, đôi khi rộn ràng. Tuy thấm đẫm suy nghĩ về thời cuộc, thơ anh không có sự chán nản mà giàu không khí cảm thông, chia sẻ, có khi mời gọi. Thơ tự do dựa trên những ý tưởng đặc sắc, một vài hình ảnh giản dị nhưng sáng rõ, giữa những mô tả dày đặc vẫn có khoảng lặng cho tính chất trầm tư. Hà Nguyên Du ít quan tâm đến các khía cạnh siêu hình, mà quan tâm nhiều hơn đến việc thiết lập các mối quan hệ giữa quá khứ và hiện tại, các vấn nạn đương thời. Những đề tài bình dị ngày thường tuy không phải mới, trong thơ anh, chúng vẫn hiện ra một cách tự nhiên.
Thơ Tân hình thức là đóng góp đặc biệt của Hà Nguyên Du. Trong thể thơ này, thói quen chọn chữ, thói quen ngắt câu xuống dòng của Hà Nguyên Du giúp anh nhiều về thi pháp. Những bài thơ thành công của anh là nơi tính phức tạp và tính giản dị được pha trộn tinh tế, ngược lại, chúng trở thành sự lặp lại đơn điệu, không mục đích. Sức tưởng tượng phong phú của anh được khởi động dễ dàng bởi một số sự vật hay đề tài nhất định, và trong những trường hợp ấy, anh có thể triển khai các mê đạo của ký ức, có thể đi xuyên qua giữa một bên là hiện thực một bên là phi hiện thực.
Nhà thơ Khế Iêm nói về anh: “Nhà thơ Hà Nguyên Du làm thơ đã rất lâu. Anh làm nhiều thể loại, từ vần điệu, thơ tự do, và bây giờ là Tân hình thức. Anh còn là người hát vọng cổ và tân nhạc rất hay. Tất cả những điều đó nói lên được cá tính của một người nhạy bén và đam mê sáng tác.”
Văn Việt trân trọng giới thiệu.
Tác phẩm đã xuất bản

-Trong Mùa Lá Xanh (thơ) in chung 1970
– Lối Khác (thơ) 1998 Tân Thư xuất bản – 2018 Văn Học Mới tái bản
– Anh Biết, Em Yêu Dấu (thơ) 2001- Tự Lực xuất bản – 2018 Văn Học Mới tái bản
– Gene Đại Dương (thơ THT) 2003 – Tc Thơ xuất bản – 2018 Văn Học Mới tái bản
– 45 Bài Ca Tân Cổ Giao Duyên 2005 (bút hiệu Trường Khanh) – 2018 Văn Học Mới tái bản
– Vầng Thơ Trên Đóa Quỳ Vàng 2018 (Văn Học Mới xuất bản và phát hành)
– Phát hành CD Hà Nguyên Du phổ thơ Tân Hình Thức 2013
– Mở Kênh Youtube phát hành gần 100 ca khúc do Hà Nguyên Du sáng tác

oOo

Có mặt trong: Thơ Không Vần – Tuyển tập thơ Tân Hình Thức 2006

– Tuyển tập thơ Tân Hình Thức 2016
– Tác Giả Việt Nam 2005 – 2017 do Lê Bảo Hoàng Sưu tập
– Tuyển tập 33 Nhà Văn Nhà Thơ Hả iNgoại (Tuyển tập nhận định văn học,
do Nhà Biên Khảo và Phê Bình Văn Học Nguyễn Vy Khanh biên soạn. NXB Nhân Ảnh 2016

– Nhà Văn Việt Nam Hải Ngoại (Tuyển tập nhận định văn học, do Nhà Biên Khảo và Phê Bình Văn Học Nguyễn Vy Khanh biên soạn. NXB Nhân Ảnh 2020
– Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại – Nhà Thơ Nguyễn Đức Tùng biên soạn.
– 44 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại (do KT, LH & NVK thực hiện)
– Trăm Cây Nghìn Cành (PV Văn Học) do Nhà thơ Triều Hoa Đại – NXB Văn Học Mới 2020
– Tuyển tập thơ Tình Cha Nghĩa Mẹ, do LH, LH & NT thực hiện
– Tuyển Tập Thơ Nhiều Tác Giả: “Tình Thơ Mùa Thu”, do NXB Nhân Ảnh ấn hành-2020
– 108 Nhà Thơ Nhà Văn Việt Giữa Thế Kỷ 20 (Q- thượng). Nhà thơ Ngô Nguyên Nghiễm soạn
– Phụ tá Chủ bút tạp chí Giai Phẩm Chủ Đề của Nhà Văn Nguyễn Trung Hối
– Điều hành tạp chí Văn Học Mới & Nhà Xuất Bản Văn Học Mới – 2018

Tác phẩm sẽ xuất bản

– Tuyển tập nhạc: Cho Em Bài Sonnet, do các Nhạc sĩ nổi tiếng phổ thơ Hà Nguyên Du
– Tuyển tập nhạc do Hà Nguyên Du sáng tác
– Chuẩn bị không thời hạn CD Nhạc Hà Nguyên Du sáng tác.
– Gene Đại Dương 2 (sẽ in tậpt hơ THT tiếp theo tập 1)
– Thán Ca Giống Người Đi Một Chân- Thơ Haiku vắt dòng như thơ Tân Hình Thức (nhẹ thiền tính)
Thơ Hà Nguyên Du- Nguyễn Vy Khanh

Từ khi nhân tố H.O. thêm vào cho cộng đồng người Việt hải ngoại, thi ca Việt Nam vốn ngày càng dày dặc củi rừng bỗng trổi lên những tiếng thơ con chữ của hy vọng. Hà Nguyên Du nằm trong số đó, anh rời quê hương mười năm; sau nhiều mất mát, hệ lụy, hai năm nay anh đã cho ra đời hai tập thơ, Lối Khác (Garden Grove CA: Tân Thư, 1998) và tập (anh biết, em yêu dấu) (Westminster CA: Tự Lực, 2001) đây.

Người đi tìm thi tính, bước trên những lối lạ lẫm của Hà Nguyên Du sẽ không thất vọng. Những vần thơ cho cảm tưởng tay thợ sành rốt cùng đầy chất nghệ thuật, đầy ẩn dụ và tiềm tàng hứa hẹn. Dọc suốt tập thơ, một chất nghệ khi âm ỉ khi hiển nhiên, người thơ tỏ một tâm hồn nhạy cảm nhưng cũng cương quyết theo tình huống của phút giây, của hoàn cảnh ngoại vi chung đòi hỏi. Đây là một người thơ sống, thở để sáng tác, sống vì thi ca, sống mạnh với những tinh tế của nghệ thuật, với ý chí nỗ lực mở những con đường mới!

Hà Nguyên Du có vẻ làm khó người thưởng thức thơ với chữ dùng hiếm, bất ngờ, những cung
nhạc đứt đoạn, những tình ý bỏ ngang,… nhưng cũng chính đó là nét đặc biệt của Hà Nguyên Dụ Anh như cút bắt với thơ, thơ xuôi mà không xuôi, thơ mà như nói thường, phẫn nộ, đối thoại, giao tiếp…. Những vần thơ nhịp nhàng hay trắc trở , tỏ tình hay oán trách. Ở hình thức, xuống hàng, vần bằng trắc, thanh bình thượng, cách ngắt câu, chơi chữ như tự điển xếp nhầm bộ, thanh. Ở sử-dụng dấu chấm than (Thơ Xuân Nhiều Dấu Chấm Than!!), ở hình thức xếp chữ lên trang – bài Bố Cục Mới viết thành chữ B, bài Hữu Dũng có dáng chữ S,… Bào Thai Cảm Xúc chữ C mà như E hoa hay chỉ là mũi tên bào thai gây xúc cảm? Bài Hào Quang chữ hẹp dần sau khi đã rộng mở – có thể cốt bày tỏ cho người đời những tâm tình phản kháng, nhức nhối, tư duy, chán chường,… của một hồn thơ từng đã phải sống trong những hoàn cảnh không lựa chọn, xác hồn bị đọa đày, nhưng tâm hồn luôn thao thức, luôn hướng về đẹp, thật,… Những vần thơ có cái vỏ cay đắng, bạo động,… nhưng được bọc với cái ngọt ngào của mía hấp chín tới của tình người!

Thơ Hà Nguyên Du làm người đọc văn chương choáng ngợp vì nặng nề những tương phản của tình ý và của đời sống hiện thực. Thơ ở đây là tận cùng cảm xúc, cái còn lại sau những đam mê, những sống thật. “tôi sinh tôi / sinh nhiều thơ / lắm con chữ rặn / như phờ phạc ra / một bào mang nặng / trên ta / một khối u uất,…” (Tôi Sinh Tôi). Hà Nguyên Du định nghĩa thơ “như hơi thở / một sinh lý cập nhật” sau khi “không còn gì để cho / khánh tiệt” vẫn hãy “còn thơ còn thơ”(Không Còn Gì). Thơ như một cứu rỗi thiết thực:
“… và riêng em riêng em
dụ ngôn ta thấm mật bông quỳ
lúc đời là mùa đông ngã âm
mùa đông đóa hồng hết rộ
le the cúc héo vô thường
chút ráng em pha vòm cây cuối ngõ
núi đứng u tình sợ bóng đi qua
thơ cứu rỗi trên từng nhịp đập
như thiền sư tiếp ngộ phút giây”
(Dụ Ngôn Mùa Đông)
vì thơ có thể soi tối ám:

“… thơ huyết tự
bật đèn
soi bóng tối
phàm tha nhân
chính hệ
xác thân này!”
(Thuần Điệu).

“Biển đời dâng cuồng nộ” thành phải “để con chữ / ru hời cơn thống khổ / thương con thơ mong thoát chỗ lưu đày” (Thương Con). Thi ca trở thành ánh sáng hay hy vọng cuối: “xoáy trôn ốc / đi vào vũ trụ /quây hướng tâm / thâu đủ chuyện đời / ta là ta / của trăng vơi / của con nước cạn / của mồi hư vô / em là em / của ta thơ / của miên viễn / của bến bờ chân, như” (Chân, Như).

Cũng có khi người thơ hổ thẹn, muốn Đóng Đinh Chữ, có khi khứu giác không làm đủ bổn phận “khiến chữ thông tim / thơ phù sa đất cằn / chả đếm xỉa đến mùi lai riêng hoa” (Viết Ở Ficomp, Santa Ana). Người thơ có cái tâm sâu, nhạy cảm, với những sinh vật rất thường:
Sinh học

“anh biết, em yêu dấu
khi dòng sông trôi
sông cuộn mình cuốn đi muôn chất thải
nước giảm xanh
rong rêu ám màu lây vạ
sóng nẩy tâm sinh sát bọt bèo…”
(Anh Biết, Em Yêu Dấu 1)

Thơ Hà Nguyên Du có nội dung, chuyên tải tâm tình, tâm sự hay thông điệp, kinh nghiệm để lại. Những vần khi nhẹ, thơ mộng âm hưởng:

“… chồng thư cũ với lời em ước hẹn
ôi giờ đây! con nước xoáy quay cuồng
ta thương quá, nhớ hôm là quen nọ
lúc hôn nhau, em sẽ nói xa trường…”
(Chồng Thư Cũ)

“… rừng xác xơ thu, lá dấu lối mòn
tình yêu ngày cũ
rừng lá di quân, ngày nao có kẻ…
ngọc ngà tình nồng
lộng chí phiêu bồng, ta vẫn yêu em
một lòng, một lòng…”
(…Còn Đậu Nhánh Tình)

“… hè đang đến, em nói gì với nắng?
tiếc thương không lá rụng trống cành khô?
con ve cũ còn ngân muồi nhã
nhạc
em nhớ gì đóa phượng ép trong thơ?…“
(Hè Và Em)

Làm thơ, sống thơ, là “mở toang hoác, từng ngăn ký ức / tình khai nguyên, hốt tỉnh, diện hình / em ẩn náu thần kinh, thớ thịt / dẫu lặng im mà chẳng lặng thinh…” (Ẩn, Hiện Một Đời), vì thinh làm sao được khi dấu vết quê hương đầy ký ức, thịt da, Tha La xóm đạo của Hà Nguyên Du là Mary, là “ngọc”.
“Mary em, ngày xưa khó quên
đang cùm gông mà em ngoan hiền!
em cho ta một trời nghị lực, một trời thơ mạch
chảy vô biên
…Mary em, người em Tha La
ngăn muôn trùng mà ta không xa
mai ta về lại tìm em, ngọc, mai ta về thăm tìm
em, hoa…”
(Em, Tha La)
Cái nền quá khứ khổ hận có thể để lại dấu vết:
“keo tử sinh
chỉ linh với Thượng đế
phố mọc lên rừng
mảnh mảnh đấu đá
mắt mắt trợn ngược
thấu tận bốn ngàn năm
oan hồn xiết rên đâu đây
thời chờ minh quân
hỗn quân”
(Hỗn Quân)
Quá vãng là tối đen Rụi Đời “trại a / trại b / a 1, b 4 / còng 8 / còng U /chủ nghĩa, chủ mưu / rụi hết đời trẻ”.

“Tôi con chim gãy cánh lúc tan bầy
tôi con ngựa què chân khi bão nổi…”
(Em Và Lối Thoát)
cho nên
“một khi ta đi khập khểnh
mà trên vai lại quằn!
với những con đường chưa đến
với bao nỗi sầu miên man
với trăm ngàn căn bệnh…
đến từ ngả oan khiên
dẫu thế nào cũng là cuộc đuổi bắt…”
(Dẫu Thế Nào)

Vì đâu mà oan khiên? Phải chăng “bốn ngàn năm hiến / bốn ngàn năm chia / ung cả hạt bí / chết cả dây bầu / bực chiếc thùng rỗng / kêu rách nhỉ / tức tay hèn / đấm vỡ mấy hệ” (Vỡ Hệ).
Nhà thơ cũng có lúc phẫn nộ, dễ hiểu, vì
Thơ ca

“hơn nửa vòng trái đất xa xôi
ta luôn thấy gần như gan tấc
bởi nguồn cội vẫn nằm trong tim chặt
bởi tình yêu như máu thịt xương dạ.. “
(Vẫn Nhớ).

Và nhớ nhiềụ Vì ở chốn nữ thần tự do tình đời thế thái vẫn là thường, mà phường tuồng thì không tìm vẫn phải nhìn thấy:

“… thúng úp voi
đao phủ giảng đạo
… phường dở hóa trang
lại sắm tuồng
ấm ớ kịch bản
mê đón gió
tợ múa rốị..”
(Không Còn Gì).

“Tha hương, ta khách trú bơ phờ” (Nguyệt Lữ), đành thôi Chải Tóc Đi Em, để còn lo cho mẹ và em ở quê nhà, ai nói tha hương là nói mẹ cha mà ký ức buổi nào Dưới Nắng Xế, Ba Ngồi Sàng Gạo thế mà “nay nắng xế ai ngồi sàng gạỏ / chắc thay bóng Má ngồi mong con! / thằng con phóng lãng xa nghìn dặm / sống kiếp tha hương, nhớ mỏi mòn”. Cùng cực bi quan, có khi muốn buông xuôi trần thế để lại Lời Trối … Về Một Dự Đoán. Bởi sống có một mình ên là một kinh nghiệm nhiều khi chết người:”đoạn cầu, cầu đoạn chênh vênh / thất thơ thất thổ mình ên cõi này!” (Bước Thải). Buồn nhưng không tuyệt vọng, vì còn có những hoài vọng (Trần Tình Khúc), thao thức: “tiếng vỗ cạn bầu hay tiếng chuông?!” (TVCB).

“đất hiếm lên trúc
tìm mai đâu trong ngàn cây tạp xanh?
truyền thông điệp sương
mầm xanh thấm không qua giọt lời cổ thụ?
thơ hành trình
lãnh nhiệm phép mầu tiên dược…”
(Hé Nụ)
Thì ra thế, và đó là chủ quan của nhà thơ!

Có thể nói nét riêng của thơ Hà Nguyên Du nếu phải so sánh, là ở nhiều hình ảnh lạ, cố tình, nhiều và lạ, thân quen với nhà thơ nhưng có thể lạ với người đọc thơ. Anh như người nhiều tâm sự muốn chia xẻ, nhiều kinh qua muốn ghi lại, gửi gấm, nhiều tâm niệm muốn ghi lại kẻo mất. Em, tình yêu, là vòng nhật nguyệt”, vừa luân hồi vừa thường hằng, trong cõi âm dương, như trong tâm cảm,

“đóa hoa nầy trong cõi buồn sinh, diệt
nhân gian nầy đâu thoát được tử sinh?
em chính là em là vòng nhật nguyệt
cho ta hơi thở, cho nhục cho vinh…”
(Em Là Vòng Nhật Nguyệt)

Hay khúc ly tao xưa nào đó mà Hà Nguyên Du vọng nghe thấy trong những vật của hiện thực trần trụi:
“tình còn xanh lá còn kết hoa không?
sao như ve ru trên cành ngô đồng
sao như sống xưa ròng đi ngọn nước
em mắt môi buồn khép kín chờ mong
… mình còn mơ ước còn ngóng trông nhau
mây mưa tan hoang mây lại giăng sầu
em như ăn năn khi tình lạc bước
anh sống lưu đày hát khúc ly tao …”
(Khúc Ly Tao).
Hình ảnh đẹp buồn Tình Rơi Theo Ánh Tà Huy:

«mặt trời nghiêng, mặt trời xế bóng
em nghe chăng kiếp người mau chóng?…”.
Sinh học
Thơ hôm nay với hình ảnh quen khói thuốc bay:

“… ta nhớ người vương khói thuốc bay
nhớ héo cành xuân, nhớ trắng canh chầy
tâm ta rung mãi theo triều sóng
em hỡi! em nào đâu có hay?…”
(Nhớ Người Vương Khói Thuốc Bay)

Tiềm thức ca dao nơi những dòng thơ thời Rap:
“qua sông nhớ những nhịp cầu
qua truông còn thấm nỗi đau nghiệt đời
qua đêm càng quí mặt trời, qua nhân gian thấy
tình người nổi bênh, qua đâu mà chẳng qua em?
qua muôn thách đố qua phiền lụy vây, qua ai qua
chùm vạ lây, qua non nước khốn qua đày khắc
lao, qua sông nhớ những nhịp cầu, qua
thơ qua
với tầm dâu ngặt nghèọ..”
(Ca Dao Tôi)
Rõ thơ là chốn giải tỏa cuồng độ và lượng số của cuộc sống. Trong tình yêu nhục cảm tận cùng mọi ngõ ngách bản năng:

“cứ hôn anh / hỡi đôi môi thần hỏa / chạy theo đôi tay thủy triều / cứ mặc tình mặc tình / tưởng như con hổ / xé gọn nai tơ / lúc đang đói / thân em như trái chín / tuyệt mộng / anh lữ khách đường trưa / hổn hển trống bụng / chắc hẳn không sợ phạm giới luật như thầy tu! / không nhịn trong cơn đói ngất!
Cứ quấn anh đi / quấn như trăn / bằng những đường cong giết người / mùi trái cấm như xạ hương ngộp
lạc cả hồn phách / đã mở cửa sinh… / cũng chính là cửa tử!…”
(Hành Trình Điên, Mê)

Thơ sáng tạo từ con chữ, với ngôn ngữ, với một khả năng giao đối, với những tiềm ẩn, vô ngôn. Tại sao không đùa nghịch với con chữ?
“ký ức ký niệm
trí nhớ trí tri
lửa lòng lửa bỏng
tử sinh tử quỉ…”
(Ký Ức)
“… quấn ta vòng lắm nuộc
?__trặc trẹo ơi chi là …
trệch đường xe lửa chạy
trĩu trĩu cánh thê noa!”
(Thê Noa)
nghe tình sao trục trặc không trơn tru tí nào!

“dụng tâm
trác những thỏi nhám
ngón đảm ngón lược
rực tia tình yêu trên vách tối ngục
át tiếng trêu ngươi
nở hoa trên nhánh cành nhân ngãi
tích phật lũy chúa
ngã không ngã”
(Ngã Không Ngã)

Nghịch con chữ như từ đó có thể tìm ra tinh túy cuộc đời, tìm ra chất tinh tuyền của sinh, tình,… Như niệm con số để tìm sinh thoát trong bài Niệm Bất Khả! Hay nhưng con dấu toán học áp dụng vào cái tôi hay cuộc đời nhiều toan tính:
Giáo dục
“tôi không phải là tôi khi tôi tôi chưa tới
tôi chỉ là tôi khi tôi tôi tới tôi và khi tôi
tới tới tôi là tôi tôi phải xa rời tôi để
nhập cùng với những cái tôi quanh tôi
… thành toi khi thiếu dâu ^ và hiểu rằng
dấu ^ là như một chiếc cầu nối chữ
không đơn thuần là một dấu mũ một…”
(Phải Thế Không Em?)

Và cứ thế mà đi tiếp với những con dấu ‘ ` + = , v.v.
Đặc điểm đáng kể khác của thơ Hà Nguyên Du là lối hài hòa văn tự xưa cũ-hôm nay, tử ngữ-sinh ngữ, tiếng tự điển – tiếng lóng ngoài đường,… Đây phải chăng cốt để diễn tả cái sống đây mà phần nào đã quá vãng, cái sống mòn, sống thừa, hay sống đây mà tưởng đã chết, còn đây mà đã đầy mầm suy thoái như mạ lúa sau cơn lũ dài hơn thông lệ, bởi những tàn độc phá phách của thời gian, thiên nhiên và
con người.

Hà Nguyên Du làm chủ cách sử-dụng từ, vang vọng văn ngôn nhiều khi lạ lẫm bên cạnh “bạch thoại” của những tiếng rao, nói, những tiếng gọi, chào, tỏ tình, ngây thơ có, xúc tích có,… của thường ngày:

“…chờ ai đêm hạ? nước mắt nhung huyền, lỡ trách
tơ duyên, nằm trong nghiệt ngã, lời ru ve hạ, khóc…”
(Đêm Hạ Huyền)

“lại hớt hãi với những không đâu
em vẫn trành tròn như nhật nguyệt thực
phàm cõi ấy là tròng…”
(Lại Hớt Hãi)

“… em khuyết dần tôi viên ngọc quý
phận đá đời rong ngày dã hoang…”
(Khi Bước Tình Đi Qua).

“…nguyệt tà, dương xế, mây buông
ta, em hát mãi, khúc buồn thiên thụ..”
(Đã Rồi Một Cánh Chim Bay).

Người không quen theo phong cách Hà Nguyên Du sẽ lẫn thành “tà dương”, hay như “thôi” cũng hơn một cách, một nghĩa:

“…lối ra nào ta tránh đời mai một
hoang đường thôi! thôi cách biệt nhân sinh…”
(Em Là Vòng Nhật Nguyệt).

Hoặc ba câu “nhớ mới đó / giờ xuân ly / nhớ tức tưởi …”, xuân ly chứ không phải phân ly, mà hình như muốn nói phân ly, chắc có vậy cái nhớ mới thành
thơ chăng?
Thơ ca
Qua lối xuống hàng, chấm câu, kỷ niệm rời rã theo con chữ:

” tiếng ca học trò
hướng lên mặt trời
tiếng ca tình người
tiếng yêu nào vơi
bước đi học trò
lá me đường thơ
mắt xanh vào đời sáng chân trời mơ”
(Trái Tim Học Trò).

Hoặc dài như nỗi nhớ đọa đày: “em đã khóc một chiều em đã khóc, mưa ngoài kia như thẹn hạt sa mù / gió ngoài kia như dừng bước phiêu du, kìa nước mắt em là trời bão tố…” (Nhan Sắc).

Rõ là thơ tám chữ đặt cạnh nhau. Xa hơn là dài dòng kiểu Tân Hình Thức, như lời tỏ không dứt, hay muốn ngừng dứt đâu thì cứ dứt ngừng kiểu mệt nghỉ hay khỏi nghỉ theo
nhạc Rap! Hãy “đọc” Hạ Nguyên, Gene Đại Dương, Anh Biết, Em Yêu Dấu 2,… thơ như một lối thở dưỡng sinh! Câu có thể 8 chữ nhưng vắt dòng bất kể; vần không ngừng ở các dấu ngừng hay xuống hàng mà vắt dòng, muốn ngừng thì ngừng trong tâm thức, giữa câu, giữa đàng!

Nhà thơ còn dùng nhiều thể loại trong cùng một bài bản, thay đổi chăng theo tình tự?
“…chờ ai đêm hạ? nước mắt nhung huyền, lỡ trách
tơ duyên, nằm trong nghiệt ngã, lời ru ve hạ, khóc
ánh trăng nguyền, thức trắng đêm đen, tàn phái
bướm hoa
hạ huyền ơi hỡi!
nắng thêu ngàn vây
héo khô cành ta
em lá rơi đầỵ…”
(Đêm Hạ Huyền)
Hà Nguyên Du thử nghiệm nhiều thể loại thi ca, làm mới, khác thơ mới, tự do hóa thơ đã tự do, và ở mỗi thể loại nhà thơ lại thử nghiệm cung cách mới, vận dụng khác con chữ, thế chữ thường dùng ,… Nhạc tính luôn hiện diện, lúc nhịp nhàng như ca dao, khi dài hơi như bà ca vọng cổ, lúc lại đầy điệu lòng thời đai … Thơ Hà Nguyên Du phải đọc lên mới thấy cái hay, cái thú, cái thơ, cái tiềm ẩn của âm lời, chữ nghĩa! Những bài như Cho Tôi Bài Tango, Cho Em Bài Sonnet, Đêm Hạ Huyền,… phải ngân vang mới cảm được những tiềm ẩn của một nỗi lòng, của những gạch chữ, nốt chấm!

Như Hà Nguyên Du từng tâm sự ở đầu tập thơ, sau ba mươi năm ít nhiều vui với thơ, nay anh trở lại tận tình. Và tận tình làm mới, khác. Như một tổng hợp. Với một hình thức “hội nhập” với xã hội châu Mỹ của Tân Hình Thức. Từ khi có con người, vẫn có những người luôn tìm kiếm ý nghĩa của ngôn từ, khoác cho chúng nét riêng mỗi thời. Khuynh hướng, trường phái từ đó nảy sinh! Trường phái, tìm kiếm nào rồi cũng chỉ là phương tiện của thi ca, tệ cũng là bài bản gia chánh, thêm thắt vị mới cho món thường dùng. Nhưng nét thơ và nét riêng của một nhà thơ không thể chỉ là gia chánh, mà phải vượt lên chạm đến thi tính, nguồn thơ! Ở lắng đọng, nằm ở chiều sâu, ở con chữ tình cờ gợi đến, ở ẩn dụ khéo tay!

Trong tập thơ thứ hai này của Hà Nguyên Du, phần thử nghiệm theo thi ca thời Hậu hiện-đại, thời Tân hình-thức, hypertext,… hãy còn sớm để đánh giá, nhưng người đọc khó tính không quen vẫn có thể cảm được qua một số hình ảnh, vần điệu và nội dung thơ. Ở những bài thật “mới” có thể “chấp nhận”(!), Hà Nguyên Du đã để lại cái gì khác hơn là một thể loại chủ trì hình thức. Hai hay ba phần còn lại, Hà Nguyên Du đã không làm thất vọng người sính thơ với những đặc sắc của riêng anh. Nghịch thường thay, ở những trúc trắc chữ dùng, bất ngờ hình ảnh hay nhịp trật, không đợi chờ,… lại là những nét riêng thành công, như một loại “nhạc tính”, “âm điệu” rất thơ, rất Hà Nguyên Du!
Thơ ca
Đây đó có những lời nhẹ như ca dao, đam mê như tình đầu,… nhưng thơ Hà Nguyên Du không phải là lối mòn đã quen, mà chính là những con đường xa lộ đã mở, cứ mãi xuôi chảy, không ngừng, dù phải trục trặc tâm hồn, bối rối của đời hội nhập! Thi ca đối đầu với ngôn từ và thực tại!
7-11-2000
Nguyễn Vy Khanh
Giải Nobel Văn chương năm 2024 đã được trao cho nhà văn Hàn Quốc Han Kang, nhờ tác phẩm của bà thể hiện sâu sắc các chấn thương lịch sử và sự mỏng manh của kiếp người. Văn phong của Han Kang, được biết đến với tính thơ mộng và đầy xúc cảm, giúp bà khai thác những vấn đề sâu xa về cuộc sống con người, đặc biệt trong bối cảnh những biến cố lịch sử đầy đau thương.
Trong số các tác phẩm nổi tiếng của bà, *The Vegetarian* (Người Ăn Chay) xuất bản năm 2007, kể câu chuyện về một người phụ nữ quyết định không ăn thịt, tạo ra cuộc đối đầu giữa cá nhân và xã hội, từ đó mở ra những chủ đề về bản sắc và sự kiểm soát. Cuốn tiểu thuyết *Human Acts* (Những Hành Động Nhân Sinh) xuất bản năm 2014 lại tái hiện hậu quả của cuộc nổi dậy Gwangju năm 1980, một biến cố đẫm máu trong lịch sử Hàn Quốc, thông qua những nỗi đau và ký ức còn đọng lại trong tâm hồn con người.
Tác phẩm của Han Kang kết hợp hài hòa giữa những câu chuyện cá nhân với các chủ đề xã hội và chính trị rộng lớn, mang đến một giọng văn độc đáo và sâu sắc, chạm tới trái tim người đọc trên toàn thế giới. Sự thừa nhận của giải Nobel càng củng cố thêm tầm ảnh hưởng văn chương quốc tế của bà [oai_citation:1,South Korean Writer Han Kang Wins Nobel Prize in Literature – GreekReporter.com](https://greekreporter.com/…/south-korean-writer-wins…/) [oai_citation:2,Korean author Han Kang awarded 2024 Nobel in Literature | ummid.com](https://ummid.com/…/korean-author-han-kang-awarded-2024…).
HÀ NGUYÊN DU. (ghi chép)
**“Người Ăn Chay” của Han Kang – Cuộc Khám Phá Tâm Lý và Sự Từ Chối Bạo Lực: Một Hành Trình Nội Tâm Sâu Thẳm Của Con Người**
**Phân tích sâu sắc về tác phẩm “Người Ăn Chay” của Han Kang.
**Han Kang, tác giả người Hàn Quốc, đã gây tiếng vang trên toàn cầu với tiểu thuyết *“The Vegetarian”*
(*Người Ăn Chay*), một tác phẩm đặc sắc giúp bà giành giải Man Booker International Prize năm 2016 và nay trở thành tác phẩm đoạt giải Nobel Văn học 2024. Trong *Người Ăn Chay*, Han Kang không chỉ khám phá những đề tài xã hội và tâm lý phức tạp mà còn đi sâu vào những tầng sâu tiềm thức, đưa người đọc vào một hành trình nội tâm đầy căng thẳng và ám ảnh.
**Tóm tắt nội dung và ý nghĩa cốt lõi**
Câu chuyện xoay quanh Yeong-hye, một người phụ nữ Hàn Quốc bình thường quyết định từ bỏ ăn thịt sau một giấc mơ khủng khiếp về sự bạo lực và giết chóc. Quyết định ăn chay của cô dần dần biến thành sự từ chối toàn bộ xã hội và cuối cùng dẫn đến việc cô cố gắng từ bỏ cả cơ thể mình, tìm cách thoát khỏi mọi kết nối với thực tại. Hành trình tâm lý này được kể qua ba phần từ ba góc nhìn khác nhau: người chồng, người anh rể và người chị của Yeong-hye.
**Những chủ đề chính trong “Người Ăn Chay”**
1. **Sự nổi loạn thầm lặng và việc thoát ly khỏi xã hội**
*Người Ăn Chay* mở đầu bằng một hành động tưởng chừng như đơn giản: từ bỏ ăn thịt. Tuy nhiên, quyết định này là biểu tượng cho một sự nổi loạn thầm lặng, từ chối những mong đợi và áp lực mà xã hội và gia đình áp đặt lên phụ nữ. Yeong-hye không nói nhiều, không tranh cãi hay thể hiện sự phản kháng một cách trực diện, mà cô chọn cách tự rút lui khỏi những cấu trúc quyền lực. Qua nhân vật Yeong-hye, Han Kang cho thấy sự bức bách, kiềm hãm của xã hội truyền thống Hàn Quốc, đặc biệt là đối với phụ nữ.
2. **Bạo lực và cơ thể
Một trong những thông điệp chính trong *Người Ăn Chay* là mối liên hệ giữa bạo lực và cơ thể. Han Kang sử dụng cơ thể như một không gian vật lý để thể hiện sự bạo hành, cả về mặt tâm lý và thể chất. Yeong-hye, qua hành trình từ chối ăn thịt, thực chất đang tìm cách loại bỏ bạo lực và sự kiểm soát mà cơ thể cô đang chịu đựng. Giấc mơ về máu và bạo lực chính là những biểu tượng ám chỉ cho trạng thái vô thức của sự tổn thương mà cô phải chịu. Cơ thể không còn là biểu tượng của sức sống, mà là gánh nặng cô muốn từ bỏ để tìm kiếm sự thanh thoát.
3. **Tự do cá nhân và sự điên loạn.
Tác phẩm không chỉ đặt ra câu hỏi về quyền tự do cá nhân mà còn khiến người đọc tự hỏi: tự do đến mức nào là chấp nhận được? Khi Yeong-hye từ chối ăn thịt, gia đình và xã hội coi đó là sự bất thường, thậm chí là bệnh lý. Tuy nhiên, đối với Yeong-hye, đó là một cách để thoát khỏi sự kiểm soát và cưỡng bức của thế giới xung quanh. Việc tự giải phóng mình khỏi những ràng buộc xã hội, dù dẫn đến sự tự hủy hoại bản thân, là một hành động tìm kiếm ý nghĩa cho cuộc sống theo cách riêng của cô.
4. **Thiên nhiên và sự hòa hợp với vũ trụ.
Han Kang tạo nên một cảm giác siêu thực trong cách Yeong-hye dần trở thành một phần của tự nhiên. Cô không chỉ từ chối ăn thịt mà còn từ bỏ cả việc ăn uống để cuối cùng muốn biến thành cây cối – một sự chuyển hóa biểu tượng cho việc thoát khỏi bản chất con người và hòa làm một với thiên nhiên. Tác phẩm đặt câu hỏi về ý nghĩa của sự tồn tại con người và sự gắn kết giữa con người và tự nhiên.
**Văn phong và cấu trúc nghệ thuật.
Một trong những điểm mạnh của *Người Ăn Chay* là cách mà Han Kang sử dụng văn phong tỉnh lặng, tĩnh tại để miêu tả một câu chuyện đầy căng thẳng nội tâm. Cấu trúc ba phần với ba người kể chuyện khác nhau giúp người đọc có một góc nhìn toàn diện hơn về Yeong-hye, một nhân vật khó hiểu và phức tạp. Han Kang không bao giờ trực tiếp giải thích hành động của nhân vật chính, mà để lại rất nhiều khoảng trống để người đọc tự suy nghĩ và lý giải.
**Kết luận.
*Người Ăn Chay* không chỉ là một câu chuyện về sự từ chối bạo lực hay hệ lụy tâm lý, mà còn là một cuộc cách tân nghệ thuật trong văn chương hiện đại. Han Kang, với sự sáng tạo sâu sắc, đã đưa ra một cái nhìn mới mẻ về sự giải thoát cá nhân, bạo lực, và tự do qua một lối viết vừa ám ảnh, vừa tĩnh lặng.
HÀ NGUYÊN DU (ghi chép )
XÓT CƠN NHỚ MẸ – Thi Ca Bật Nguồn ..!!

1.
Lũng, đồi sương vẫn phủ
Nắng không màng bỏng rát
Bão vẫn là bi kịch thương tâm

2.
Chờ nhau cuối năm
Đồng nghĩa trắng kiếp bạc
Hoa tình em ngát suốt vườn tim anh…

3.
Thời khắc trôi
Nhịp tim thổn thức hương vị môi nàng
Bài nhạc la thứ nhớ ngất.

4.
Tám tiếng cày bừa
Vẫn nhớ Mẹ thấu xanh
Em vẫn len vào rung nhịp cảm xúc

5.
Bóp cò một thuở
Bị bóp nghẹt một đời
Ngưng điêu đứng Bởi ông trời nhỏ ân!!

6.
Lẫn lộn nhiều giống bò
An nhiên nằm dưới bóng mát cổ thụ
Nhai nhai lại cỏ

7.
La đà mây bay
Tưởng khói bếp quê nhà
Xót cơn nhớ Mẹ Thi ca bật nguồn.!!

8.
Không gì lớn hơn nỗi buồn
Như biến thành đại bàng
Với tiếng thét động tiền kiếp.!!

9.
Thu đến rồi ư??
Hồn thơ bắt đầu vàng
Mưa ngôn ngữ rớt Mưa loang khóe tình…

10.
Cao nguyên em
Xõa tóc buồn…
Chim thiên di Hót vang động cả thác nguồn tâm linh.!!

11.
Hồn hòa bàn phím nhỏ
Bay bốn phương trời
Trăng thi ca tỏ ru hời trái tim??

 Hà Nguyên Du
Hạnh phúc đến từng phút giây (*1&2)
 
Ðể tưởng niệm thi sĩ Trần Hồng Châu
(Giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch) nhân ngày giỗ đầu
.


Anh biết, em yêu dấu … anh như đứng
dưới trời đổ nát mà tưởng như qua
mấy trời sương mưa nghe chạnh lòng kẻ
lạc dấu quê nên mùa tình xin kịp

gặt còn vẳng tiếng kêu nào bên kia
thời tiết, tội nghiệp ông H.O mòng
quay trong cơn lốc mà không dám chú
thích cho những ngày câm nín với vết

hằn trên lưng ngựa hoang buốt theo điệu
ru nước mắt vì những cây gậy làm
mưa để solo đau từng dấu chân
cát xóa ngồi khóc trong im lặng hố

thẵm nhìn ngàn thu rớt hột mà xót
thương màu hoa trên ngàn. Mình như sa
mạc phát tiết đành thắp tạ thơ nên
khúc hát dâng tình, như thắp tình đi

về hướng mặt trời lặn cho nỗi buồn
thắp sáng làm câu thơ về người mong
cảm ơn đất đá trổ thơ lòng ta
hạt bụi vu vơ bám hoài, lời thơ

lời viết hai tay dòng sông định mệnh
mình soi lại mình. Ơi đôi dòng chữ
tâm tình trong mê cung ngỡ như mình
thiên tai, đôi bờ … âm vọng lắt lay

ông hóa thân cảnh trong quan tài buồn
thiu. Vực sâu hạnh phúc tiêu điều cho
ông giấc ngủ chân đèo tử sinh. Tiếng
gào trong đêm, gọi bình minh…ông mơ

viễn phố thanh xuân bừng bừng…
Thương em ngày tháng bềnh bồng,
giữa hai mùa mưa nắng má hồng lao đao,
con đường vô định xanh xao, như ta đá mục lẽ

nào em mong … Với ta sàigòn ở
phố lưu vong, sao như hột muối bỏ
sông ngày ngày, trong ta như mùa biển
động hoài, tưởng vỡ mật đắng vì áo

mơ phai nhạt rồi … Tháng ba gãy súng
trời ơi ! cho ta lần cuối, saigòn
thôi ! giã từ … khiến mấy sông cũng lội
chết người, để bên trời mài kiếm dưới

mặt trời lưu vong, để ngày N+
hoài mong, với bài hai mươi đó, em
còn lòng sắc son ? Ta… ngoài giấc ngủ
vẫn héo hon, đi giữa bầy thú dữ

biết còn hồn trai ? Huế buồn chi biển
thuở chờ ai ? Con đường tình nhân mãi
nhiều ray rứt tình ? Yêu em, Hà Nội
chênh vênh… mà nghe như nắng rớt vườn

xuân buổi nào. Hỏi đường cùng mây trắng
phau, là đường lên trời, đường ở nơi
đâu chỉ giùm ! Ta hỏi Thượng đế chuyện
lỗi lầm, sai ta làm Thiên sứ là

sai nhầm đấy cơ !! Sai ta xuống thế
làm thơ, ( và thơ, v.v… và v.v… )
mà thơ cõi thế … lững lơ con cá vàng.
Nàng thơ trong mắt hoang mang, kẻ tà

đạo cứ xiên quàng liu điu, thơ rồng
rắn lắm confused, như bụi và rác
lều bều cõi không. Nhìn phía mặt trời
mọc ta mong …thơ như hoa đăng rực

trên vòm trời thơ, ơi thơ không như
người cô độc… khóc vầng trăng trong mưa,
hay như trăng góa đẩy đưa điệu hời…
Mà thơ làm lớn dậy con người, cho

tháp ký ức sáng ngời như Eiffel.
Thơ ở đâu xa mà dìu, dẫu nằm
nghiêng cũng thấy diễm kiều nàng thi ca.
Nơi tình yêu ẩn náu, ta.
Ấy nơi ấy
Một … Nơi Gọi Là Việt Nam …
Một
nơi của thuở ra đời, nơi dường như
tôi ngại thốt lời yêu em. Cho câu
nam ai thất lạc thêm, cho triền miên

ngâm khúc nỗi niềm bôn chôn. Mắt say
xem lá hoa cồn, cho cỏ và tuyết
cũng dậy hồn thi ca. Và kìa lối
khác, nở hoa … với gene đại dương

hòa đại dương. Như liên, đêm mặt trời
tìm thấy gương, những gương hiển lộng văn
chương cõi người. Cõi người hay địa ngục
có thật ơi !? Qua mùa chuộc tội cuối

trời hôn mê !! Một mình một ngựa nhiêu
khê, khung trời bỏ lại não nề âm
u. Khác chi một tướng về hưu, thềm
hoang trăng mộng nát nhầu danh xưa. Thôi rồi bạc áo hào hoa, những nhánh sông mất biển đâu là tương lai. Bên trời
lận đận ai hay, đành cam định mệnh
đã an bày thế thôi ! Nhớ gì Hà
Nội trong mắt tôi? Dựa lưng nỗi chết …
với thằng người có đuôi.

Chân trời mộng đẹp, rã rời! Ruột đau chín khúc ơi đời long đong. Mắt màu nâu, ‘ em có yêu anh không ?’ sao chân cầu sóng vỗ phập phồng cơn đau. Vòng đai xanh, đỏ thay màu, cho mùi hương quế em hết ngào ngạt xưa. Giữa hai mùa gió nghịch xua, em chim quyên lạc ngàn … mưa bão bùng! Tiếc thay những dấu bụi hồng, ngàn âm bản cũ khóc ròng fake house. Ðêm không cùng, kìa, ngôi sao…Một đời đuổi

bắt lạc xiêu một đời. Hoa phượng ơi
đừng đỏ … nữa ơi! Kia trời đa giác
một trời tai ương. Những thiên đàng mù
cả khoa trương, những đại nguyện của đá,

những đoạn trường vô thanh. Ta giờ lối
cũ chẳng sao quên … bức phù điêu khắc
cạn tên một thời. Buồn lên đôi vai
khoảng chơi vơi, đêm ta nguyệt thực đất

trời sinh sôi. Dốc xuân hồng, vực pha
phôi, ta như cát bụi mệt mỏi rồi,
tang thương. Ơi người để tưởng nhớ mùi
hương, mùi hương và bóng tối vương nỗi
niềm. Nhớ ngây ngất khoảng trời riêng, nhớ ơi thuở làm thơ yêu em miệt mài !
Ta ngồi cầu nguyện ban mai, để nghe
hạnh phúc đến từng phút giây … xuất thần.
Hà Nguyên Du
HÀ NGUYÊN DU
tôi yêu em như dòng
sông yêu mưa nguồn
“tặng hạt sương phiêu bồng trên lá”
oOo
Tôi nói với em bằng
ngôn ngữ loài ong…Tôi không thích
dùng lời của cánh bướm,
Tôi chào em bằng bàn
tay trăng. Và tôi nhìn em qua
đôi mắt loài chim én…
Tôi vẽ em bằng màu
xanh của biển sâu và Tôi ôm em
bằng vòng tay của gió…
Tôi mơ về em dưới
ánh nắng lững lờ qua song cửa
mùa thu, thu thơ ca…
Tôi nhớ em như hạt
sương nhớ ban mai. Nghe tiếng em
như tiếng sóng thì thầm,
Tôi cảm nhận em qua
từng nhịp đập của trái tim, một
kho đầy linh hồn chữ
Tôi bước theo em
qua những con đường lá vàng rơi, khóc
cây mùa thu oan khiên!
Và tôi yêu em bằng
từng nhịp thở vũ trụ bằng sấm
chớp bão bùng đau thương
Tôi viết tên em lên
bầu trời đêm và thắp sáng ngàn
sao tưởng ánh mắt em
Tôi hát về em
trong bản giao hưởng
của đêm tối,
Và tôi đợi em
như dòng sông đợi
biển lớn.
Tôi gửi lời yêu
qua làn gió chiều
mát rượi,
Tôi thấy em
trong hương hoa
đẫm sắc hoàng hôn,
Tôi dõi theo em như
cánh diều bay cao và tôi chờ
em hoa chờ nắng sớm.
Tôi dệt mộng với em bằng tơ của thời gian,
Tôi viết lên trời xanh những ước nguyện ngàn năm,
Tôi chạm vào em như sóng chạm bờ cát trắng,
Và tôi nhớ em như biển nhớ ánh trăng vàng.
Tôi khắc em trong tim như vết cắt của mùa đông,
Tôi thấy em qua từng giọt mưa rơi trên cửa sổ,
Tôi gọi tên em trong những giấc mơ dài bất tận,
Và tôi tìm em như kẻ lữ hành tìm về chốn bình yên.
Tôi nghe tiếng em trong từng khúc nhạc ngân nga,
Tôi bước cùng em qua những cánh đồng hoa trắng,
Tôi nắm tay em trong những khoảnh khắc bất diệt,
Và tôi yêu em như dòng sông yêu mưa nguồn
HÀ NGUYÊN DU
Thông điệp mây đen

Thông điệp mây đen
lời xám ngắt
ngón tay chớp bể
bàn chân mưa nguồn
mặt nạ khua reng
cầu chứng mà mắt
thức tỉnh hết khái niệm
hẳn là dòng sông
luôn đầy ngư phủ

2.
những khắc biểu tím
đầy nốt nhiễu
có lẫn máu tim
cả mồ hôi biển
với điểm xuyết em
ta vẫn cô đơn
như lạc vào sahara
thơ trở thành giọt cứu rỗi

3.

thông điệp mây đen
lời rớt hạt
bay tóc oan khiên
tỏa hương ngã nghiệt
với đuổi bắt cuồng điên
với săn lùng tha thiết
em bên những thứ ấy
tách dần ta nhân, duyên

Hà Nguyên Du
viết ở ficomp, santa ana
viết ở ficomp, santa anaHà Nguyên Du
với phạm hải, nguyễn quý, dương tuấn

hụt đỏi
đến chỗ gỡ cái mắc mứu
lại vướng thế mắc miếng
quặn thắt xuống vực âm
cáng đáng hụt đỏi
như muốn úng cả nụ chưa mớm
mùi lai

đứng mũi chịu sào
lúa hết vốn liếng
chắc chi có được cỗ ván
đa hồng vứt xuống đi khi còn lơ là
khiến chữ thông tim
thơ phù sa đất cằn
chả đếm xỉa đến mi lai riêng hoa
Hà Nguyên Du
Wislawa szymborska

wislawa szymborska
trong cô tịch
vẫn
không nhòa
bước đi
nụ trào lộng,
nở từ bi
khung cửa hẹp
chứa…
tư bề giang sơn
thơ người
động
khắp
nguồn
cơn
wislawa
sáng
linh hồn…
Ba lan
* Nhà thơ nữ Ba lan đoạt giải Nobel 96
NHƯ TÊN NGÔNG, SAY
 
Bóng em còn hiện lên trang giấy
Ta vẫn còn như tên ngông, say
Còn nghe tiếng nấc đêm bùng dậy
Còn thả đôi dòng theo gió mây.
 
BI KHÚC TỰ TÌNH

 
sân si

dẫu lành lặn nhưng vẫn là vết tích
khơi lên chi bi kịch của riêng mình
vết lỡ độ, chấm dầu loang rả rích
cây khô, trơ, không khỏi gió phi hành
đá cũng dây oan vì cơn thác lũ
thịt da nào kham nổi nhát gươm đi?
hư vô chảy ngập tràn bờ nhân thế!
em tín đồ, không thoát khỏi sân si
đêm câm
mầm đã úng qua bao mùa mưa lũ
nhân sinh nào cũng phế cả, thương tâm!
ta tận số bởi mưu đồ nô dịch
em hay gì, trăng – chạy trốn đêm câm!

ta và em

ngày hốc hác, mắt gầy phô ngơ ngệch
đêm khô queo, co quắp xác ve nằm
nỗi cắc cớ mãi chơi trò sống chết
em chân chùn, lả bước, lối trăm năm
ta nụ búp đã èo không khí thở
ta rạch con chợt nghẽn lối ra nguồn
em môi mắt, hề như kề địa ngục?
em thân hoa, nào cận với thiên đường?

sóng

sóng đã nổi trên khắp bàn khắp ghế
sóng đã len tận giường nệm chiếu chăn
ngọn sóng đánh không chừa riêng một nẻo
sóng ngàn năm ngọn sóng vẫn căm hằn
ai đã sống mỗi ngày không thấy sóng??
ai sinh sôi mà sóng để yên nhàn?
Hà Nguyên Du
NHƯ TÊN NGÔNG, SAY
 
Bóng em còn hiện lên trang giấy
Ta vẫn còn như tên ngông, say
Còn nghe tiếng nấc đêm bùng dậy
Còn thả đôi dòng theo gió mây.
 
 
BI KHÚC TỰ TÌNH

 
sân si

dẫu lành lặn nhưng vẫn là vết tích
khơi lên chi bi kịch của riêng mình
vết lỡ độ, chấm dầu loang rả rích
cây khô, trơ, không khỏi gió phi hành
đá cũng dây oan vì cơn thác lũ
thịt da nào kham nổi nhát gươm đi?
hư vô chảy ngập tràn bờ nhân thế!
em tín đồ, không thoát khỏi sân si
đêm câm
mầm đã úng qua bao mùa mưa lũ
nhân sinh nào cũng phế cả, thương tâm!
ta tận số bởi mưu đồ nô dịch
em hay gì, trăng – chạy trốn đêm câm!

ta và em

ngày hốc hác, mắt gầy phô ngơ ngệch
đêm khô queo, co quắp xác ve nằm
nỗi cắc cớ mãi chơi trò sống chết
em chân chùn, lả bước, lối trăm năm
ta nụ búp đã èo không khí thở
ta rạch con chợt nghẽn lối ra nguồn
em môi mắt, hề như kề địa ngục?
em thân hoa, nào cận với thiên đường?

sóng

sóng đã nổi trên khắp bàn khắp ghế
sóng đã len tận giường nệm chiếu chăn
ngọn sóng đánh không chừa riêng một nẻo
sóng ngàn năm ngọn sóng vẫn căm hằn
ai đã sống mỗi ngày không thấy sóng??
ai sinh sôi mà sóng để yên nhàn?
Hà Nguyên Du
ANH BIẾT, EM YÊU DẤU 
1.
anh biết, em yêu dấu
khi dòng sông trôi
sông cuộn mình cuốn đi muôn chất thải
nước giảm xanh
rong rêu ám màu lây vạ
sóng nẩy tâm sinh sát bọt bèo
con chim nào kia như chim bói cá
con chim nào kia như chim “họa” đen ?
ơi! những hàng cây bên bờ
lá cảm buồn say sóng
lá rơi
cây động lòng
cây xiêu
mưa nắng vô tình như môi em để khô
gió trốt vô tình như tay em bận bịu
 
một ngày tâm không thả rong
một ngày tâm sốt
một ngày hoa không thụ tinh
một ngày hoa rụng
một ngày không thai nghén thơ
một ngày tâm loạn
một ngày em quên hôn anh
một ngày như thế tận
 
2.
 
anh biết, em yêu dấu
khi ngọn núi đứng sững
núi cuộn mình biến đi bao chất thải
núi giảm xanh
đất đá nứt rêm nguồn hỗn mang
cỏ cây như vương màu ảm đạm
con thú nào thất thanh gọi bầy?
con thú nào rú gầm răn đe?
dưới lũng suối lững lờ
suối muốn kiệt mạch
lũ ốc thèm tia mặt trời
quên chui vào vỏ
 
một ngày hồn không phiêu bồng
một ngày hồn ngẩn ngơ
một ngày ong không lấy mật
ong quyên sinh
một ngày bướm không có hoa
bướm tự vẫn
một ngày em không yêu anh
một ngày như thế tận
 Hà Nguyên Du
Hà Nguyên Du

1. để nhường chiêm bao
Nhìn mây Nhớ khói bếp Em…
Nhìn trời lại nhớ…
Nỗi niềm Ly hương
Nhìn đâu cũng ám…
Đoạn trường.!!
Thôi đành nhắm mắt
Để nhường Chiêm bao.!!

2. Ai ơi…Ai biết
Sông anh Đón rước
Thuyền em…
Những cơn Sóng nhỏ
Đưa êm cuộc tình
Nhạc lòng trỗi…
Khúc cung nghinh
Biển reo mở cửa
Đợi tình Ra khơi…
Ai ơi… Ai biết
Chuyện đời.??
Biển reo thuở trước
Dập dùi thuyền xưa.!!

3. Vô nghĩa
Ngón tay là
Ngón tay Nào.??
Xưa anh Mua nhẫn
Đeo vào Tay em
Nghĩa là Nghĩa nhẫn
nghĩa Kiên…
Mà nay Vô nghĩa…
Bởi liên miên Sầu.!!

4. Đâu rồi mộ xanh.!?
Đưa tang Mắt lệ…
Vì người.!!
Nghĩ ta Phận bạc
Cũng rồi Như nhau.!!
Thứ gì Còn lại…
Mai sau.?!
Chất Văn Nghệ Sĩ…
Có màu Bạc vôi.!??
Ô hay!! Mớ thuyết…
Luân hồi.!!
Cỏ cây Giống hạt
Đâu rồi Mộ xanh.!?

5. Có nhiều thứ nổi trên đời
Nổi đình Nổi đám
Nổi trôi.!!
Nỗi đau Nỗi khổ…
Nỗi đời Nổi điên.!!
Nổi danh Nổi tiết…
Nỗi ghiền.!!
Nỗi điêu linh cũ
Nỗi phiền phức xưa.!!
Jan 06, 2018 10h34′
Hà Nguyên Du
TÂN HÌNH THỨC VÀ THI CA TÂN CỔ CHÂN TRỜI MỚI
riêng nhà thơ Đỗ Kh
 
lối: tôi, bao giờ biết tương tư? đêm dài
không ngủ, lệ như… mưa hồng, những đêm
chờ sáng, sầu đông, thương hình bóng cũ,
nỗi lòng người đi…
1. em ơi mộng dưới hoa nay nhạt nhòa
trong cát bụi, buồn diễm xưa theo dấu
tình sầu gian dối, tôi đi giữa hoàng
hôn khóc một cõi đi về… mười năm
yêu em, ôi! định mệnh lắm ê chề…
biển nhớ mênh mông hoài trông con bướm
trắng, mùa thu chết lặng cho yêu dấu
tan theo…! riêng một góc trời tôi buồn
hẩm buồn hiu, nghe lá đổ muôn chiều
ru phút cuối… thu hát cho người bài
sang ngang trăn trối, ta như hai vì
sao lạc cuối trời, gọi người yêu dấu..!
2. nghe những tàn phai, ru ta ngậm ngùi
khôn thấu, hương xưa, hạ trắng, trên ngọn
tình sầu… ngày đá đơm bông mà trăng
rụng xuống cầu… em bỏ quên dòng sông
cho nụ tầm xuân — sầu lẻ bóng, nhìn
những mùa thu đi, thương hận, phôi pha…!
khúc thụy du buồn, tình nhớ, tình xa,
gởi về em, bài căn nhà mộng ước…
tôi xa người, nên ơi rừng xưa đã
khép, tuổi đá buồn, máu chảy về tim…
ngâm: tiếng trống sang canh, nhớ bụi mờ ải
nhạn, hai mùa thu lạnh thương vó ngựa
đêm trăng, nửa bản tình ca ôi lỡ
bước sang ngang, đôi mắt người xưa như
khóc như than cho hai chiều ly biệt…
5. lá của rừng xanh, long lanh trăng sương
cầu trúc, tình như kiếp hoa tàn giây
phút, thương mắt em là bể oan cừu…
nửa đời hương phấn đã… nhạt dần màu…
dưới ánh trăng xuân rưng rưng sầu vương
ý nhạc, tôi như Võ Đông Sơ buồn
tan tác cảnh trường sa…! tấm ảnh ngày
xưa theo kẻ ở miền xa, đành vĩnh
viễn Bạch Thu Hà ơi hỡi… Lương Sơn Bá
Chúc Anh Đài như tình tôi hai lối,
đêm lạnh chùa hoang, nước mắt kẻ sang Tần…
6. hồn thả hồn theo thuyền ra cửa biển,
thương manh áo quê nghèo, em phận gái
thuyền quyên…! cây trứng cá sau vườn kỷ
niệm chẳng hề quên, nên nhớ mãi thuở
hoa cài lên mái tóc… ai lên xứ
hoa đào ai vào rừng lá thấp, ai
nhớ tuồng xưa với máu nhuộm sân chùa…
tôi ước mơ tôi dựng chân trời mới,
xây vạn lý trường thành để hạnh phúc
cùng em… đẹp duyên chùa tháp ơi duyên
mang về… Người Mẹ Việt Nam, nụ cười…
nov 13/ 04
 Hà Nguyên Du
Trên sợi tình

treo đời nhau trên sợi tình
dâng đời nhau qua niềm tin
em nghĩ gì trong mong manh
anh lo gì trên chơng chênh
ta mong gì thân chưa yên

cam đời hoa trong lọ buồn
giam đời chim nơi lồng son
hương sắc nào phơi phai mau
phong lưu nào đang phong sương
mai trơi về đâu vơ biên

về đâu em chốn hư không
về đâu anh cõi vô thường
tìm đâu ra chốn niết bàn
tìm đâu ra cõi thiên đàng

chung đời nhau trong lạc loài
xây tình nhau cho ngày mai
em nhớ gì trăng quê ai
anh mơ gì non sông phai
trong muôn trùng xa chim bay
HÀ NGUYÊN DU
Bài này còn có tựa Trên sợi tình mong manh , khi NS Trần Duy Đức phổ nhạc và ra CD
vỡ hệ

A
1.
thế kỷ mới
phóng nước đại
rối
muốn tối mặt
tiếc què chân và hổ ngươi
vỡ lỡ mặc khách
chắc thấm sương mấn.. .
cái nhiễu quanh đục ngầu con nước đứng
bến đổ đâu rồi?
em nên nương tay.. .
như đã rách vải buồm!

2.

trời âu trời tây
đã riêng trời mình
nhắm mắt suốt độ
để ngộ
đậy tai mấy thuở
để thở
khắc chế giác quan
để cất giọng khàn

3.

bốn ngàn năm hiến
bốn ngàn năm chia
ung cả hạt bí
chết cả dây bầu
bực chiếc thùng rỗng
kêu rách nhỉ
tức tay hèn
đấm vỡ mấy hệ
Hà Nguyên Du
TUẦN LƯU HOẠT
(thơ Hà Nguyên Du – Translated by Khoe Bach)

A LIFE IN A WEEK’

thứ hai

còn như người vãn bên tai
còn như hương đọng trên vai hẹn hò
em hồng nhan chấp âu lo
ta nhen nhúm lại ước mơ đầu tuần
ba mươi năm bước phù vân
những vinh nhục, những lần khân, nực cười

Monday

as if you were still next to me
I can still feel and smell your perfume on my shoulder
You are beautiful and full of worries
I rekindled a dream of the first day of the week
Thirty years of life is like a free drifting cloud
There are honors, humiliation, happiness, stress, and laughter

thứ ba

con chim nào hót sáng nay?
miệng ta bỗng huýt sáo dài như chim!
cơn mơ nào ủ ngăn tim?
nỗi xưa niềm cũ luân phiên dày vò!
đã rồi hóa giải nên thơ?
cho ta sống thản bên bờ vực đen?

Tuesday

Which bird is singing this morning?
I suddenly make a long whistle like the bird!
Which dreams are brewing in my heart?
Old, tormented things, aged memories echoing the sting of remorse
Then, then I transform them into poems
So that I can live a simple life beside the deep, dark edge

thứ tư

rướn lên nửa đoạn đường gai
ruộng thiên địa mấy mà cày quanh năm?
ai như kiếp bạc dâu tằm?
còn nghe thác đổ sóng gầm liên tu
mặc công vận đến khinh phù!
vẫn chiêu bá đạo dìm từ thôi nôi!!

Wednesday

Trying to live–halfway in this difficult life
How many holy fields to plow year round?
Still listening to the waterfall roaring intermittently
Working hard these years just to despise!
Still using badass acts from the cradle year!!

thứ năm

ửng lên rồi, tia hừng đông
thân chim di trú ấm lòng giạt xiêu
mong đâu vóc hạc hương kiều
chờ đâu tố nữ ta dìu, weekend
bao giờ gió đưa diều lên?
để lo sợi chỉ đứt trên lưng trời!

Thursday

Oh, dawn, the rays of sunshine
This body of migratory birds–warmness in a drifting heart.
Looking forward to the crane scent of a pretty mate
A beautiful date on the weekend
When will the wind lift the kite?
Still worrying over a broken thread in the back of the sky!


thứ sáu

trông như hoa nở vườn xanh
ngỡ như bướm trắng vờn quanh nụ hồng
ô hay! ngày quang mây trong
gác qua gánh nghiệt đang còng lưng đau
gọi người, đến tận chim bao…
giai nhân, bằng hữu hẹn nhau bởi vì.. ?

Friday

Ah, the flowers are blooming in the green garden
Looking at a white butterfly playing around the rose bud
Oh! A beautiful, clear day
Letting go of the heavy duties on my shoulder
Call my dear, calling dreams and hopes
Loves, families and friends, we are here for what…?

thứ bảy

beautiful, saturday
I have loved it, I say…her… and…
em còn ngây ngấy hương, men
ta tâm thức ngộ, từ then cửa lòng
hướng về mưa bão bên sông!
hướng về châu chấu càn xông mùa màng!
hẹn em, hoa ngát địa đàng
cũng vui cho cánh chim ngàn, lối bay

Saturday

Beautiful Saturday
I have loved it, I say… her… and…
She is still found in the moment of ecstasy, of happiness
And my mind awakens–a reality, from the heart hasp
Thinking of the storm ahead, besides the still river!
Thinking about the grasshoppers destroying the crops!
While dating her, a heavenly flower blossoms
The happiness of a migratory bird, still finding its paths

chủ nhật

ngày mưa, ngày nắng cho cây
ngày hoa kết trái , ngày gây chút tình
ngày xua đêm, khơi bình minh
ngày soi gương tụ, ngày mình với tha
ngày cho nhau, ngày thăng hoa
ngày lên tiếng gọi, ngày qua tiếc ngày
Sunday
Rainy day, sunny day for trees and all
A day of fruition, a day of love
Day chases night, and dawn rises
A day of reunion, a day of togetherness
A day for each other–giving and loving, a day of success
A calling to live each day fully, a day that passes is an unforgivable day.

HÀ NGUYÊN DU
(trích trong tập Anh Biết, Em Yệu Dấu – in 2001)
Khoe Bach – Translated (Nov 30/19)
XUÂN THIÊN NHIÊN
 
Hãy nở trong lòng ta mấy nụ
Cho xuân không ngại bước len vào
Ðêm ta người hãy thêm tinh tú
Cho bờ bến mộng bớt nghiêng, chao
 
Khai lối ta về gieo hạt lệ
Nắng em còn rực như hôm qua?
Mưa ta sẽ tắm thêm ngàn nội
Lộc biếc mai này thơm mấy hoa?
 
Vẫn tạ ơn em ngày mưa, nắng
Cho cánh chim dài thêm lối bay
Giữa cõi thâm trầm, sâu, tịnh vắng
Én có năng về nâng cốc say?
 
Ong nhớ ngàn năm đường lấy mật
Ta bao giờ lãng lối chung, riêng
Em vạn thuở quên gì ngõ trúc
Em có hay gì xuân thiên nhiên?
 Hà Nguyên Du
ĐÔI MẮT MƯA
 

đôi mắt mưa buồn từng hạt long lanh
đôi mắt mưa buồn thường hay rơi nhanh
đêm đưa nhau về sao em chẳng nói
con sông yêu đương nổi sóng xô mau
mưa gió mang về từng hạt thương đau
cây lá như buồn tự lìa xa nhau
tay khô vỗ về, tim đau quặn nhói
anh yêu em như càng thiết tha nhiều
đôi mắt mưa buồn, đôi môi chợt tím
xa cách ai ngờ nước mắt đầy vơi
anh mơ ước thành loài chim bay đến
bay đến bên em lau lệ sầu rơi
đôi mắt mưa buồn biền biệt xa khơi
đôi mắt mưa buồn còn đâu chung đôi
hoa yêu muôn đời trong ta đẹp mãi
em ơi! em ơi! thương nhớ nào nguôi

SÀI GÒN TRONG MƠ,  SÀI GÒN TRONG THƠ

Sài gòn trong mơ, Sài Gòn trong thơ
Ngày về xa không, ngày về có gần
nước mắt em sa, nụ cười anh lịm
dấu chấm than như cột cờ không chân!
Sài gòn trong mơ, Sài Gòn trong thơ
rừng tàn theo cây, rừng buồn thú l ạc
núi tiếc thương sông, mạch nguồn vẫn đục
dấu chấm than như lệ hờn em rơi
Sài gòn trong mơ, Sài Gòn trong thơ
máu anh rơi xuống, ruột em cũng mềm
ái ân tan tác, cơn thác nào xui?
ta sẽ điên lên, khi hoài trong đêm
Sài gòn trong mơ, Sài Gòn trong thơ
người về bao lâu, đời mẹ có còn
tóc rói em rơi, bạc đầu anh rụng
dấu chấm than như lệ hờn anh rơi
 
SÓNG
 
sóng đã nổi trên khắp bàn khắp ghế
sóng đã len tận giường nệm chiếu chăn
ngọn sóng đánh không chừa riêng một nẻo
sóng ngàn năm ngọn sóng vẫn căm hằn
ai đã sống mỗi ngày không thấy sóng??
ai sinh sôi mà sóng để yên nhàn?
 
TA VÀ EM
 
ngày hốc hác, mắt gầy phô ngơ ngệch
đêm khô queo, co quắp xác ve nằm
nỗi cắc cớ mãi chơi trò sống chết
em chân chùn, lả bước, lối trăm năm
ta nụ búp đã èo không khí thở
ta rạch con chợt nghẽn lối ra nguồn
em môi mắt, hề như kề địa ngục?
em thân hoa, nào cận với thiên đường?
 Hà Nguyên Du
CHIẾC LỌ KHÔNG HOA
mãi nhìn chiếc lọ không hoa bụi
bám nghe xót đến tấm thân thiếu
hạnh phúc giữa cõi ô trược may
mà chiếc lọ tâm hồn không vắng
đóa thi ca ngát hương nhụy ngôn
ngữ tình mang mang trên đời oái
oăm bởi nên hư là tính hai
mặt của cả đất trời và vạn
vật tợ sinh diệt có không của
tự nhiên càn khôn của thế giới
thực ảo như hôm nao mình gặp
nhau cũng từ đôi môi ban nụ
hôn và từ đôi môi ta trút
hận rồi như chiếc lọ không hoa…
Hà Nguyên Du
 
MƠ
 
mơ bữa ăn có thêm chút rau và
miếng bột ngọt cho con bớt lòi xương
mông bớt lộ con mắt đời bác nông vẫn
mòn mỏi không thấy chi ngày hai buổi
mang trên vai như ách trâu cày và
mụ vợ buôn mủng bán thúng cứ mãi
miết với nắng gió rách tơi áo đầy
mảnh vá lạnh buốt đông về tội chi
mà thê lương oan khiên kẻ bị khinh
miệt bần hèn nhưng ơi hắn chính là
một cơ phận cần có trong một bộ
máy xã hội một bộ máy cỗ lỗ
mong vứt đi để có cơ hội thay
một cái máy mới vận hành tối tân
Hà Nguyên Du
ĐÓA PHÙ DUNG
 
Chết dần từng phút từng giây sống
Sao ta không yêu đến tận cùng?
Nghịch lý quây quần — quanh nghịch lý
Vườn hư nở mãi đóa phù dung.
 
NGẬM NGÙI
 
Những vật, những đồ bày la liệt
Tình tự nào riêng cho bao ngươi
Nghìn năm mọi vật đều câm nín
Ta nói ra chi để ngậm ngùi?
 
THÔI VỀ
 
Một khối tơ vò phơi trước mặt
Nhiều quả mù tung tỏa khắp đời
Ta điên chắc sẽ ta điên mất!
Thôi! về làm nốt mấy thơ rơi.
 
MƠ HẠT BỤI
 
mơ cột ngựa vào cây tuế nguyệt
ta làm bằng hữu với sông xanh
tường mây vách gió trăng nào khuyết
về ơi gác mái chèo hư danh
mơ một đời về bên mái nhà
tha hồ mình tắm nước quê thơm
tình như huyết thống cây và lá
ngàn năm thắm thiết mầm xanh đơm
kiếm cung hoa bướm đầy ly rượu
ai rót mời ai khóc cuộc buồn
ta, em tình đã hòa dâu bể
kiếp mỏng manh còn như lá tuôn
mơ hạt bụii nằm trong lắng tịnh
thôi đời đừng khuấy nước sân si
này em có nhớ chân tình cũ?
về thôi hãy cố mà quên đi!
 Hà Nguyên Du
Sài gòn trong mơ, sài gòn trong thơ

Sài gòn trong mơ, Sài Gòn trong thơ
Ngày về xa không, ngày về có gần
nước mắt em sa, nụ cười anh lịm
dấu chấm than như cột cờ không chân!

Sài gòn trong mơ, Sài Gòn trong thơ
rừng tàn theo cây, rừng buồn thú l ạc
núi tiếc thương sông, mạch nguồn vẫn đục
dấu chấm than như lệ hờn em rơi

Sài gòn trong mơ, Sài Gòn trong thơ
máu anh rơi xuống, ruột em cũng mềm
ái ân tan tác, cơn thác nào xui?
ta sẽ điên lên, khi hoài trong đêm

Sài gòn trong mơ, Sài Gòn trong thơ
người về bao lâu, đời mẹ có còn
tóc rói em rơi, bạc đầu anh rụng
dấu chấm than như lệ hờn anh rơi 
Hà Nguyên Du
EM CÓ VỀ NHƯ NHỮNG CƠN MƯA 🌧️♫♪♩♬
(Thơ: Hà Nguyên Du – Nhạc: Trần Duy Đức)
Tiếng hát: Đặng Ánh Nguyệt – Hòa âm: Quang Phúc
Từ cuối thập niên 90, tôi đã phổ nhạc hơn một chục bài thơ của nhà thơ Hà Nguyên Du để làm thành những phụ bản nhạc in kèm trong hai tập thơ “Lối Khác” và “Anh Biết, Em Yêu Dấu”. Suốt hơn 25 năm, những giai điệu ấy nằm im lìm, như đang ngủ yên giữa những trang giấy.
Hôm nay, khi chính tác giả của những vần thơ ấy cũng đã trở thành người viết nhạc, anh và tôi cùng nhau “đánh thức” lại những giai điệu xưa – như một lời tri ân dành cho ký ức, cho thơ, cho nhạc, và cho tình bằng hữu.
Xin hân hạnh gửi đến quý thân hữu ca khúc “Em Có Về Như Những Cơn Mưa”, qua tiếng hát nồng ấm và đầy xúc cảm của Đặng Ánh Nguyệt, cùng phần hòa âm phong phú, mượt mà của Quang Phúc. Chân thành cảm ơn hai người bạn trẻ thân quý đã hết lòng đồng hành trong lần thực hiện audio nhạc này.
Một tiếng vọng dịu dàng từ miền xưa cũ, như mưa về trên miền ký ức…
EM CÓ VỀ NHƯ NHỮNG CƠN MƯA
PK 1
Em có về như những cơn mưa?
Cho cành khô chờ tiết giao mùa
Ta yêu em sánh như đời lá
Như chim ngàn xoải cánh xuôi đưa
Như cung tơ phím loan chùng xuống
Nốt thăng trầm lạnh dấu mưa xưa.
PK 2
Em có về như những cơn mưa?
Cho nụ hoa nở ngát theo mùa
Nghe trong mơ tiếng ca tràn ấm
Em yêu kiều ngời nét môi đưa
Như câu thơ sáng trong lòng giấy
Em đâu rồi còn nhớ hương xưa
Em có về như những cơn mưa?
Điệp khúc 1
Em hãy nhìn hàng cây trút lá
Ta như chim thôi hót bao giờ?
Cô liêu nào hằn thêm vết nhớ
Tim xanh còn gõ nhịp cho thơ?
Điệp khúc 2
Sông núi buồn chìm trong buốt giá
Ta yêu em vương vấn câu thề
Xa nhau rồi từng đêm luyến nhớ
Ta bao giờ tát cạn đam mê
Em có về như những cơn mưa?
PK 3
Em có về như những cơn mưa?
Cho rừng xanh rộn tiếng chim đùa
Ta ru nhau khúc ly tình đó
Trên con thuyền thuận gió trôi đưa
Trong cơn mê nắng thiêu hạ úa
Nghe mơ hồ từng bước chân mưa
Em có về như những cơn mưa?
Những cơn mưa trong ca từ không chỉ là dấu hiệu của mùa, mà còn là biểu tượng của tình yêu:
Mưa đánh thức sự sống: “cho cành khô chờ tiết giao mùa”, “cho nụ hoa nở ngát theo mùa” – như tình yêu mang lại hồi sinh cho tâm hồn.
Mưa của nỗi nhớ: từng câu hỏi “Em có về…?” vang lên như tiếng vọng từ quá khứ, tha thiết nhưng cũng đầy nghi hoặc.
Mời quý bạn cùng lắng nghe và chia sẻ.
Thân ái,
Trần Duy Đức