HOA ĐỊNH MỆNH–  Đăng Nguyên

Tùy bút
                 HOA ĐỊNH MỆNH–  Đăng Nguyên
     Sáu mươi năm đi xa Huế.Bước đầu một cuộc hành trình thay đổi đời tôi.Như một định mệnh.
     Được sinh ra và lớn lên từ một làng quê cách Huế trên hai mươi cây số.Nơi có núi Truồi cao ngất mây xanh và sông Hưng Bình (còn gọi là sông Truồi) dòng nước xanh thơ mộng.
     Thời đó, ở quê muốn tiếp tục học lên Tú Tài thì phải lên Huế.Tôi được vào trường Quốc Học.May mắn hơn nữa, tôi được một vị giáo sư nổi tiếng giới thiệu về làm gia sư cho gia đình  người chị gái của thầy ở đường Bạch Đằng, Huế.Những ngày tháng đó,là một thời học sinh đầy hoa mộng.Tôi có bốn em học trò rất ngoan rất giỏi rất thông minh nên việc dậy kèm không quá vất vả, các em luôn được điểm cao trong lớp nên tôi rất yên lòng.Vừa đi học vừa làm thơ.
    Con đường Bạch Đằng từ cầu Gia Hội chạy dọc theo bờ sông Đông Ba qua chùa Diệu Đế về tới đình Thế Lại . Có những bến sông thuyền bè đậu san sát đông vui.Đó là con đường kỷ niệm mấy năm đèn sách, sáng đi chiều về với đám bạn bè thân thương không thể nào quên.Nhà tôi ở đối diện với bên kia sông là cầu Thanh Long.Có bến sông xây bằng đá.Trên bến có cây phượng già che rợp bóng mát. Những trưa hè nắng nóng bức tôi thường đem ghế ra ngồi dưới gốc phượng để học bài hay đọc sách. Cũng để nhìn người em gái giặc áo nơi bến sông,đẹp lạ thường.Dường như Nàng lấy cớ giặt áo để xuống bến sông cùng tôi trò chuyện.Lòng tôi xao xuyến.Cái xao xuyến của tuổi học trò lãng mạng kiểu hiện sinh .Tên nàng là một loài hoa đẹp như thơ Nguyên Sa:
      “Áo nàng vàng tôi về yêu hoa Cúc,
      Áo nàng xanh tôi mến lá sân tường”
      .Nàng có nét chữ rất đẹp.Nàng chép cho tôi bản thảo những bài thơ mới viết.Tập thơ Dòng Sông Đen tôi mới sáng tác để gửi dự thị thơ của trường Quốc Học và tôi đã được giải thưởng cùng với Xuân Thy( chết Tết Mậu Thân),đều do Nàng chép tay và trình bày rất đẹp.
     Cái bến sông ấy với cây phượng già tôi không bao giờ quên.Hình ảnh của Huế sâu đậm trong lòng tôi .Chiều chiều ngồi nhìn qua bên kia sông, những tà áo dài đi xe đạp lượn qua cầu Thanh Long xuôi về Bao Vinh như một đàn bướm trắng.Tôi yêu cảnh vật ấy.Tôi yêu con người ấy. Tôi yêu những câu ca dao mà người O của tôi hát ru em mỗi buổi trưa hè:
    “ Đất Thừa Thiên dân hiền cảnh lịch
     Nước biếc non xanh điện ngọc đền rồng
     Tháp bảy tầng Thánh Miếu, Chùa Ông
     Chuông khua Diệu Đế trống rung Tam Tòa
     Cầu Trường Tiền sáu nhịp bắc qua
    Tả Thanh Long hữu Bạch Hổ đợi khách âu ca thái bình.
Điệu hát ru em của Huế làm mê hoặc lòng người là một gia tài văn học bình dân hiếm có.
     Cuộc sống êm đềm như thế trôi qua.Huế thuở đó rất thanh bình.
    Rồi một chuyện buồn xảy ra khiến tôi quyết định đi xa Huế.Chuyện buồn dấu kín trong tim. Chuyện buồn rất riêng tư.Nàng không hề hay biết.Tôi ra đi mang theo một nỗi buồn.Từ giã gia đình anh chị thân thương.Từ giã bốn đứa em học trò mà tôi không nỡ rời xa.Các em quyến luyến tiễn tôi đi trong nước mắt.Để có lý do phải ra đi, tôi nhờ cậu tôi ở Sài Gòn gửi ra cho tôi một điện tín :”Cháu phải vào Sài Gòn gấp”.Anh chị Tr,Kh đành phải để cho tôi đi kèm theo những lời trách móc.Tôi đành chịu.Có một chuyện buồn giấu kín không thể nói ra.
    Trong căn phòng nhỏ ở căn nhà ngói cổ ,vị giáo sư tôi kính mến ngạc nhiên trước quyết định đi xa Huế của tôi. Thầy rất tiếc nuối.Thầy nhìn lên kệ đầy sách và nói :”nhắm mắt lấy một cuốn tặng Toa làm kỷ niệm ngày xa Huế nhé! Và thầy đã bốc xuống cuốn LES FLUERS DU MAL của Baudelaire.Hoa Đau Khổ.Thầy đề Tặng Lam Kiều ngày xa Huế”. Tôi mang theo món quà kỷ niệm quý giá này suốt những ngày phiêu bạt trên chiến trường Vùng Ba Chiến Thuật cho đến ngày 30 tháng Tư ,cuốn sách bị mất trong căn phòng của Cư Xá Sĩ Quan Sư Đoàn 18 ở Long Bình.
     Bạn bè thân thích đưa tiễn tôi rất cảm động.Cùng nhau chạy xe suốt những con đường kỷ niệm Huế.Cùng thức suốt đêm trong căn nhà thường họp mặt thơ văn ở đường Nguyễn Hiệu trong Thành Nội.Sáng hôm sau  tôi lên Ga Huế.Đi vào Nam bằng  chuyến Tàu Suốt Huế- Sài Gòn.
     Tôi xa Huế kể từ ngày đó.Cậu tôi đón tôi ở ga xe lửa Lê Lai và đưa tôi về Trại Lê Văn Duyệt.Tôi bắt đầu làm quen với Sài Gòn cho đến ngày đi Thủ Đức.
    Sáu mươi năm sau ngày xa Huế, ngồi ngẫm lại cuộc đời mới thấy định mệnh là có thật.Ngày ấy nếu tôi không ra đi một cách bồng bột như thế thì chỉ mấy tháng sau, Huế đã nổi lên trận cuồng phong tranh đấu chắc là tôi bị cuốn hút vào cùng với nhóm bạn thân lúc đó,người bị chết, người bị tù đày,người chạy theo phía bên kia và sau năm bảy lăm dở cười dở khóc.
    Tôi ra đi mang theo Les Fleurs Du Mal nhưng vẫn bình yên.
   Hồi nhỏ tôi tò mò về một bản Tử Vi dấu kín một nơi trang trọng,trong đó có câu :”Số đi về phương nam lập nghiệp…Số có quý nhân phò trợ…”.Như ứng nghiệm vào đời tôi.Tôi  ở mãi trong Nam và sống sót tới bây giờ.
   Một lần đơn vị nhận đươc lệnh hành quân, theo danh sách đã lập sẵn thì đến phiên Trung Úy Quán,nhưng sáng hôm đó gia đình của Trung Úy Q lên để gặp mặt gia đình nhà gái, là con của chủ nhà hàng Kiêng Giang ở Xuân Lộc.Trung Úy Q được phép nghỉ để làm Đám Hỏi .Hôm đó tôi là Sĩ quan Trực .Tôi có nhiệm vụ đi hành quân thay Trung Úy Q.Cuộc hành quân phối hợp của Sư Đoàn 18 Bộ Binh và Lữ Đoàn 11 Thiết Kỵ của Hoa Kỳ.Tới giờ lên đường. tôi đã sẵn sàng áo giáp, nón sắt, súng đạn, tay cầm bản đồ, xe đã rồ máy, cả đoàn xe chờ lệnh xuất phát.Tự nhiên Trung Úy Q lù lù chạy vào,giọng nói hơi say xỉn :
   -“Để tao đi…nhiệm vụ của tao để tao đi…
   – Tôi nói: hôm nay anh được nghỉ,anh vắng mặt hợp pháp, để cho Sĩ quan trực đi…
     – Không đươc,không đươc,vui chơi không quên nhiệm vụ,để tao đi’’.
   Tôi đành phải trao lại bản đồ hành quân cho anh ấy và trở lại làm nhiệm vụ Sĩ quan trực.
    Bốn giờ chiều hôm đó, Trung Úy Quán đã tử trận ở Cua C Đèo La Ngà trên QL 20.
    Tôi vô cùng bàng hoàng.Hai chữ Số Mệnh thật oan nghiệt.Đó là cái số của Trung Úy Q.Nếu để tôi đi thì chưa chắc tôi đã chết.
   Trung úy Quán tốt nghiệp khóa 20 Đà Lạt là một sĩ quan trẻ tuổi đẹp trai nhất đơn vị.
   Đêm đó tôi đã ôm súng ngồi canh xác Trung Úy Q suốt đêm, chờ sáng mai mẹ và em gái từ Hố Nai lên mới liệm.
   Chứng kiến mẹ và em gái Trung Úy Q vật vã khóc than, lòng tôi như trăm ngàn mũi dao cắt.Tội nghiệp nhất là người con gái mới làm đám hỏi buổi sáng,buổi chiều mất đi người yêu.Chiến tranh thật tàn ác.
    Hai chữ Định Mệnh tôi còn chứng nghiệm  qua đời lính nhiều lắm.Không kể hết được.Tùy bút này chỉ để đánh dấu sáu mươi năm ngày xa Huế.
   Trong một lần về thăm quê hương, tôi đã gặp lại Nàng.Người con gái trên bến sông xưa.Con cháu đầy đàn.  Giáng đẹp ngày xưa vẫn còn phảng phất.Trong một buổi tiệc hội ngộ cùng bằng hữu ở Đà Nẵng, Nàng cầm lấy tay tôi, cầm hoài không buông ngay trước mặt người chồng  đáng kính.Tôi ngại quá.Nhưng trong lòng tự nhiên ấm lên.Tôi hiểu Nàng muốn nói gì.
   Có một đêm mưa buồn nơi phố cũ chợ Tân Định. Trong một nhà hàng có tên Đất Phương Nam. Có mấy người bạn gốc Quốc Học Huế,đều là những nhà văn thành danh(CTB,CHS) hội ngộ cùng nhau ôn chuyện cũ.Mỗi người môt hướng đi nhưng chung cuộc đều do Định Mệnh an bài.Cùng nhau thông cảm.LES FLEURS DU MAL, Hoa Đau Khổ hay Hoa Định Mệnh chỉ có Trời biết.
                                                                            Maryland, Mùa Hè 2022
                                                                              Đăng Nguyên