Hoa Một Mùa – Nguyễn Nhược Pháp Toàn Tập-Bài của Phạm Trọng Lệ

  Hoa Một Mùa – Nguyễn Nhược Pháp Toàn Tập
                                                             Bài của Phạm Trọng Lệ
83 năm kể từ ngày tập thơ “Ngày Xưa” ra mắt tại Hà-Nội (1935, sau in lại tại Saigon, bìa do Thái Tuấn) với 10 bài thơ trong đó “Chùa Hương” được độc giả nồng nhiệt đón nhận và được nhạc sư Trần Văn Khê phổ nhạc, một thời gian dài và phải chăng vì vậy mà người yêu thơ chỉ nghĩ đến Nguyễn Nhược Pháp như một nhà thơ? Nay một người cháu ruột của học gỉả Nguyễn Văn Vĩnh, ông Nguyễn Lân Bình, đã biên soạn cuốn Hoa Một Mùa trong đó, ngoài 10 bài thơ trong “Ngày Xưa” còn 3 truyện ngắn, 6 vở kịch, 10 bài phê bình, của Nguyễn Nhược Pháp, và một số bài của những văn thi sĩ viết về ông như Hoài Thanh, Bàng Bá Lân, Nguyễn Vỹ, và phần Phụ Lục gồm năm bức hình đen trắng về gia đình nhà thơ.
Đây là một tài liệu cho người đọc thưởng thức và biết thêm tài viết truyện ngắn, viết kịch, cùng phê bình của nhà thơ mệnh yểu này (ông sinh 12/12/1914 – mất 19/11/1938, thọ 24 tuổi).  Ngoài những người yêu thơ, văn, kịch, sinh viên ban văn chương có thể dùng sách này làm tài liệu để viết một tiểu luận về cách viết truyện ngắn, cách dựng các vở kịch, phép đối thoại của các nhân vật, cách giải quyết mâu thuẫn ở cuối vở kịch (tỉ như  vở “Người Học Vẽ” là vở kịch khi còn sinh tiền NNP ước mong tác phẩm này được được trình diễn). Sinh viên ngữ học có thể dùng các mẩu đối thoại để thấy tiếng Việt ở Hà-Nội thay đổi thế nào từ 1936 đển 2020 so với tiếng Việt bây giờ (thí du: chè/trà; “ô-tô Delage của nhân vật Phán Tự, làm bằng 15, 16 con ngựa” (p. 158); Văn: Không ạ, con định bảo thầy nhầm, không phải ô-tô làm bằng 16 con ngựa, 16 mã lực chỉ là sức mạnh của máy (p. 188);
Cụ Bá (nói với anh Xe, người lái xe của Phán Tự).
Cụ Bá: -Ờ nhỉ! Thôi được, anh cứ cầm lấy tiền mua diêm thuốc.
Xe: (cầm tiền) -Cảm ơn cụ. Con không ăn thuốc lào, con chỉ ăn thuốc lá. (p. 189)   
Trong hai phần về truyện ngắn và kịch, độc giả biết thêm về cách nhận xét tế nhị của tác giả. Trong truyện “Tình Trẻ Thơ,” Tân, môt cậu học trò 13 tuổi, theo mẹ lên Đồng Đăng (Lạng Sơn) chơi nhân thể bà đi lễ, gặp lại Thu cô con gái bà chủ, và trong vài ngày ngắn ngủi nhen nhúm một tình cảm nhẹ nhàng khi cô Thu con gái bà chủ săn sóc Tân.
“Cô dắt Tân đến một cây hồng, hái đóa hoa xinh nhất mà rằng:
-Để chị gài vào khuy áo cho.
Cô phải cúi xuống để gài nên hơi thở của cô thoáng trên mặt Tân. Tân thấy có một cảm giác êm đềm chưa bao giờ được biết.” (p. 17)
Ở Phần 4.  Phê bình (dịch từ nguyên bản tiếng Pháp):
-Trong 10 bài phê bình, bài “Mấy Vần Thơ” và bài “Ông Thế Lữ và con hổ trong vườn bách thảo,” như một nhà phê bình đã nhận xét, NNP tỏ ra có thiên kiến về phong cách thơ Thế Lữ. Ông chỉ trích vài chỗ trong bài Nhớ Rừng. Con hổ “cái biểu tượng kia chỉ là thứ vớ vẩn đáng thương. (p. 253)…Trong bài thơ Nhớ Rừng “thật sự có những câu thơ tuyệt đẹp, nhưng ý và tứ thì rỗng và thật sự buồn tẻ, chẳng toát ra điều gì mới lạ.” (p. 254)     
           -Trong phần dịch này liệt kê người dịch là Nguyễn Kỳ, Nguyễn Như Phong và hiệu đính: Nguyễn Như Phong, Nguyễn Lân Bình.
Phần dịch từ nguyên bản tiếng Pháp của NNP sang tiếng Việt đọc khá thông suốt, tuy đôi chỗ tôi muốn có bản tiếng Pháp để so sánh. Thí dụ ở trang 270 có câu: “Thứ nhất loại thơ bẩy âm là thứ thơ của ta. Loại này do chính những người phương đông tạo ra.”
Ngoài ra, ở bài “Kịch Bằng Thơ” (đăng trên L’Anmam Nouveau, số 486, năm 1935) có vài lỗi:
Trang 270:
-…những câu thơ mà Corney, Racine, Molière. (soạn giả muốn nói Corneille chăng; in đậm là do người viết)
-Chúng ta biết nhà thơ nổi tiếng Paul Marie Verlaine đã nói:
Trước tiên phải có âm nhạc
Và để có nhạc tôi ưa số lẻ (sic)
(De la musique avant toute chose
Et pour cela préfère l’Impair)    
Trước khi dịch hai câu đầu, dịch giả hẳn phải đọc cả bài “L’Art poétique” để xem toàn ý lời khuyên của Verlaine ra sao.
Hai câu trên có thể tạm tóm lược ý rằng:
“Quan trọng hơn hết, trong thơ phải có nhạc
Và muốn được vậy bạn hãy chọn nhịp thơ trầm bổng.” (Music above all else, and for that choose the Uneven meter)
Để rõ nghĩa thêm chữ “L’Impair”
Bài Art poétique của Verlaine như lời tuyên ngôn của một vị chủ soái trong thi phái Tượng Trưng (symbolisme), theo đó, đại khái, ông bảo “thơ phải có nhạc, và để đạt được mục đích ấy. ông khuyên bạn hãy chọn sự trầm bổng, các âm tiết không đều đặn, chọn âm lẻ, tránh âm tiết đều đặn (như thơ 12 âm tiết alexandrine); thơ phải có sắc thái (nuance) vì nhờ sắc thái đã kết duyên thành đôi giữa mơ và mộng, giữa tiếng kèn cùng tiếng sáo. Ông cũng khuyên nhà thơ tránh xa những sự châm chích, trào phúng, hãy “bẻ cổ” sự hùng biện (Như bài Demain dès l’aube…của Hugo). Ông lập lại lúc nào cũng phải có nhạc, và lúc nào thơ cũng phải có nhạc. Để câu thơ bay bổng như một cuộc phiêu lưu tốt đẹp.”
    Thơ, theo Verlaine, trong phân đoạn 3 của bài thơ, ví như “đôi mắt kiều diễm sau làn khăn mỏng, như ánh sang lung linh giữa trưa, mầu xanh huyền ảo của các vì sao sáng trong bầu trời thu mát…”C’est des beaux yeux derrière des voiles, / C’ést le grand jour tremblant de midi, / C’est, par un ciel d’automne attiédi / Le bleu fouillis des claires étoiles.”  
 
Trở lại phần dịch trên, “préfère” –trong câu Et pour cela préfère l’Impair–là một mệnh lệnh cách, nên không dịch là “tôi” được.
Ngoài vài tiểu tiết trên, trong Phần 5 của cuốn sách có những bài lý thú về Nguyễn Nhược Pháp và đời sống trong gia đình đông anh chị em mà NNP như một huynh trưởng hướng đạo, hướng dẫn các anh chị em trong gia đình hoạt động, bầy trò ganh đua, bơi, đua xe đạp, đóng kịch, quay phim cho toàn thể. Ngoài bài nhiều người biết và trích dẫn như bài của Hoài Thanh (Thi Nhân Việt Nam) còn một số bài viết về kỷ niệm với tác giả NNP khi in tập thơ “Ngày Xưa,” như bài của Bàng Bá Lân, hay như bài của Vũ Bằng, theo đó cụ cử Mai Đăng Đệ trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, là người đầu tiên lớn tiếng khen thơ NNP tại toà báo Trung Bắc Tân Văn và là người đưa NNP “từ chỗ tối ra chỗ sáng, từ một cậu học sinh nhút nhát lên văn đàn rực rỡ hào quang” (p. 304):
“Một hôm cụ cụ đập tay đánh đét một cái xuống bàn, vén ống quần lên, đội lại cái mũ nồi rồi bảo tôi (Vũ Bằng) trong tòa soạn:
-Gớm chết! Thơ hay quá, ông Thiên Tướng ơi (Thiên Tướng là một bút danh của Vũ Bằng). Phải đọc đi! Đọc ngay đi mới được…
Cụ cầm cuốn “Ngày Xưa” giơ lên trời như múa…
-Thơ hay thật. Ra cái cậu Pháp này gớm thật, tưởng là viết đùa một vài câu nào ai có biết đâu bài thơ nào cũng khá nếu không toàn bích thì cũng được vài ba câu…gia dụng!” (pp. 303-304).
…“Sau khi đọc cuốn “Ngày Xưa” cụ Vĩnh một hôm cười ha hả đến giữa tòa soạn nói rằng:
   -Cũng hay, tôi không ngờ lại có con thi sĩ. Nhờ các tiên sinh dìu dắt, cháu sau này chịu khó là nhờ ơn các tiên sinh” (p. 305)
   Tóm lại, ngoài vài khuyết điểm nhỏ trong phần phê bình dịch từ những bài báo viết bằng tiếng Pháp, tập sách in rất mỹ thuật, nội dung trình bầy bằng chữ dễ đọc. Đây là một tác phẩm nên có trong tủ sách gia đình. Ai chưa có cuốn “Ngày Xưa,” nếu có cuốn này thì cũng có thêm các tác phẩm khác về truyện ngắn và kịch và phê bình của nhà thơ trẻ có tài, mà thơ được phổ nhạc phổ biến toàn quốc. Đọc xong không khỏi ngậm ngùi thương tiếc, nền văn học Việt Nam mất đi quá sớm một tài năng hiếm có.  
-Phần Phụ Lục viết xong tại Virginia October 29, 2020 và toàn bài đã đăng ở Việt Học Journal
Phạm Trọng Lệ