LÊ ĐỨC LUẬN

Lê Đức Luận sinh năm 1944 tại Tuy Hòa, Phú Yên. Tốt nghiệp Khóa 1, Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt. Cử nhân Chính trị học, Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn. Trước năm 1975: sĩ quan phục vụ trong ngành CTCT/ QLVNCH. Đơn vị sau cùng: Ủy Ban Binh Thư thuộc Tổng Cục/ CTCT. Sau 1975, ở tù 7 năm. Sang Mỹ định cư tại Virginia vào năm 1986.
* Nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ năm 2023 và 2025.
 Sách xuất bản:
1. Người Mẹ Tìm Con(Truyện ký, 2022)
Các tác phẩm Văn Xuôi của  Lê Đức Luận– The prose works of Lê Đức Luận
Vui lòng bấm vào các tiêu đề các bài văn xuôi dưới đây để thưởng thức
Please press these below links for reading
1. Làm “Lơ” Xe Bus-Lê Đức Luận
2. Nỗi Lòng Chưa Tỏ-Lê Đức Luận
3.Khai Bút Đầu Năm-Lê Đức Luận
4. Thằng Sâm-Lê Đức Luận
5. Người Lau Kính Xe-Lê Đức Luận
Trên Tám Mươi Tuổi Đi Máy Bay Khỏi Trả Tiền
Năm nay ông Tư đã qua tuổi tám mươi, nhưng trông ông khỏe mạnh và trí tuệ còn minh mẫn – so với những ông lão cùng lứa tuổi, ông được xếp hạng trên trung bình.
 
Những buổi họp mặt ở Hội Cao Niên, các cụ thường ngồi lại với nhau uống trà, tán gẫu chuyện đời. Có ông kể chuyện buồn bị con cháu bỏ bê; có ông than thở chuyện ốm đau; có ông nuối tiếc chưa trả được mối thù vong quốc đầu đã bạc, bèn ngâm mấy câu thơ của Đặng Dung:
 
“… Thời lai đồ điếu thành công dị/Vận khứ anh hùng ẩm hận đa…
“Quốc thù vị báo đầu tiên bạch/ Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma” (1)
 
Khác với mấy ông bạn già, ông Tư không buồn phiền, không than thở, không nuối tiếc điều gì. Nhưng ông hay nói về tình đời và tình người. Ông thường tâm sự với bạn bè: “Tám mươi năm cuộc đời đã đong đầy những nỗi vui, buồn, sướng, khổ trong cõi ta bà này; qua tám mươi tuổi đáng lẽ phải đi “chỗ khác chơi…” nhường chỗ cho các thế hệ kế tiếp. Nhưng nếu “số trời” chưa gọi, thì ta phải sống sao cho phải đạo làm người – tìm nguồn vui cho mình và chớ gây phiền muộn trong chốn nhân gian.”
 
Khi luận về cái khổ, ông Tư bảo:
 
“Sự sướng, khổ là vô cùng – không có rạch ròi biên giới – chỉ do suy nghĩ, tưởng tượng và cảm nhận của mỗi người mà ra cả. Về già mắt ta mờ, chân ta yếu… Ta than khổ! Nhưng khi nghĩ đến những người mù, họ ước mơ có được giây lát để nhìn ánh sáng mặt trời; hay nhìn những kẻ khuyết tật không có đôi chân để đi đứng, phải chống gậy hay di chuyển bằng xe lăn, ta sẽ thấy mình còn may mắn biết bao! Khi túng bấn, vợ con chỉ làm được những bữa cơm chiều đạm bạc… Ta nhớ lại những bữa ăn trong các trại “tập trung cải tạo” của Việt cộng hay nghĩ về những người đang bới thùng rác kiếm thức ăn hằng ngày, sẽ thấy đời còn ưu đãi cho ta có được một mái ấm gia đình…”       
 
Thuyết thêm về cái khổ trong cõi nhân gian, ông Tư nói:
 
“Vạn vật trên vũ trụ này không thoát khỏi quy luật: “Sinh, Trụ, Hoại, Diệt”; nhân loại không thoát được tiến trình: “Sinh, Lão, Bệnh, Tử”. Tôi tin cái quy luật và tiến trình đó phải do một đấng tối cao có quyền năng tuyệt đối điều khiển và chi phối. Người đời thường gọi đó là Đấng Tạo Hóa, Thượng Đế hay Ông Trời.
 
“Chỉ bàn về tiến trình của “Sinh, Lão, Bệnh, Tử” mà con ngưởi thường cho là ‘bốn cái khổ’ trong cuộc đời. Nhưng suy nghĩ cho cùng và quán chiếu, ta sẽ thấy sự huyền diệu của Ông Trời khi tạo dựng muôn loài trên vũ trụ. Ông Trời cho con người có trí thông minh hơn cả, nhưng biết trước con người “lắm chuyện” nên Ông Trời chủ động hai cái: Sinh và Tử, nếu không thì sẽ loạn…
 
“Này nhé! Con người không ai lựa chọn được thời gian và nơi chốn để được sinh ra. Nếu được lựa chọn thì đứa nào cũng đòi sinh ra trên vùng dầu mỏ Trung Đông, cứ lấy dầu dưới lòng đất lên bán, rủng rỉnh thu tiền. Vậy thì trái đất này nhiều nơi sẽ trống vắng. Có đứa đòi sinh ra trong những gia đình quyền quý cao sang – ngồi mát ăn bát vàng thì lấy đâu ra kẻ làm lụng vất vả tạo ra lương thực và sản phẩm tiêu dùng? Có đứa đòi sinh ra được da trắng, tóc vàng thì nhân loại sẽ đơn điệu như một vườn hoa chỉ có hoa hồng – vườn hoa đẹp phải có muôn màu, nhân loại phải có da đen, da trắng, da đỏ, da vàng mới hấp dẫn… Cho nên Ông Trời đã chủ động trong việc Sinh – con người cho là định mệnh.
 
“Sang cái ‘Tử’ thì Ông Trời giữ bí mật tuyệt đối. Nếu con người biết được ngày chết của mình thì trước lúc ra đi sẽ thanh toán cho xong mọi mối “ân oán giang hồ” chất chứa trong lòng nhưng không dám hành động khi còn sống vì sợ tù đày, nên Ông Trời không cho con người biết trước ngày chết, nếu không sẽ đầy rẫy chuyện bạo hành.
 
“Cũng vì không biết trước ngày chết của mình, nhiều nguời già vẫn tằn tiện chắt chiu vì sợ cái cơ khổ: “sống hoài không chết, lấy gì mà tiêu?” Và vì không biết đích xác ngày chết, nên ít ai dám vung tay quá trán – ăn chơi trác táng mà phải sống chừng mực và lo cho tương lai.  Nhờ vậy xã hội loài người mới được bình an.”
 
Bàn thêm “cái Tử” ông Tư nói:
 
“Hiện nay có khoảng tám tỷ người sinh sống trên địa cầu này và hằng năm sinh sản thêm ra. Nếu con người cứ sống mãi thì trái đất không còn chỗ chứa. Vậy chết là điều tất yếu nằm trong quy luật “Sinh, Trụ, Hoại, Diệt” của vũ trụ do Ông Trời định đoạt.”
 
Khi nói về “cái Lão” ông Tư phát biểu:
 
“Những gì hiện hữu trên hành tinh này một thời gian (trụ) cũng phải thoái hóa (hoại) – chiếc xe chạy lâu ngày, máy móc phải hao mòn; lục phủ ngũ tạng trong con người cũng thế. Đó là quy luật của “Sinh, Trụ, Hoại, Diệt”. Nhưng Ông Trời đã tinh tế cho con người được hưởng những ưu ái trong việc lão hóa. Này nhé! Về già mắt ta mờ để bớt nhìn thấy cái trần trụi của cuộc đời; tai ta điếc để bớt nghe những lời thị phi cho thân tâm được an lạc! Còn chuyện ‘nhớ nhớ… quên quên…’ là một ân sủng. Nếu sống đến tám mươi mà chuyện gì cũng nhớ vanh vách thì hận thù chồng chất và đầy ắp yêu thương! Vậy làm sao chịu thấu?
 
“Bỏ qua chuyện hận thù, chỉ nói chuyện yêu đương thôi. Cứ tưởng tượng: đêm đêm nhớ đến những người yêu thưở trước, rồi sáng ra với tuổi đời trên tám mươi – đau nhức toàn thân mà chống gậy đi tìm người yêu cho thỏa lòng mong nhớ thì quá khổ!?”
 
Sau cùng ông Tư bàn về “cái Bệnh”:
 
“Bệnh là điều con người sợ nhất, nhưng xem ra từ con người gây ra nhiều hơn là do Ông Trời. Ông Trời tạo dựng muôn loài, nên lo toan mọi thứ – vật nào thức ấy… Tạo dựng con trâu, con bò, Ông cho đồng cỏ; con chim, con sóc có hạt đậu, hạt mè; con ong có hoa để hút mật; con cá có rong rêu để ăn; con người có ngũ cốc để sinh sống…  Nói chung Ông Trời lo trước mọi thứ cho muôn loài – cứ sống thuận theo ý Trời thì muôn loài sẽ có cuộc sống thoải mái. Trong dân gian có câu “Trời sinh voi thì Trời sẽ sinh cỏ” và trong sách thánh hiền cũng khuyên nhủ: ‘Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong.’ Thế mà con người cứ mãi bon chen, đèo bồng món nọ, thức kia – làm những điều trái với thiên nhiên do Ông Trời tạo dựng. Rồi trách Ông Trời gây ra bệnh tật!?”
                 
Về già Ông Tư tìm được hai nguồn vui là đọc sách và du lịch, nên  ông góp nhặt nhiều chuyện lạ bốn phương – khó tin nhưng có thật để kể lại cho các bạn già nghe chơi…
 
Ông kể chuyện về những ngôi làng dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn, thuộc nước Bhutan: Ở đây con người hòa nhịp cuộc sống với thiên nhiên, với núi rừng bát ngát xanh tươi, với không khí trong lành; họ ăn uống những thổ sản sẵn có ở địa phương, không du nhập các thực phẩm chế biến bên ngoài; họ có cuộc sống nhẹ nhàng, thoải mái…không chú trọng nhiều về những nhu cầu vật chất như những người ở các thành phố gọi là “văn minh hiện đại”. Có lẽ nhờ vậy họ không mắc những bệnh ngặt nghèo như ung thư, đột quỵ hay cao mỡ, cao đường…Tuổi thọ của họ rất cao (trên chín mươi trông còn khỏe mạnh). Những người ở các nước được cho là văn minh hiện đại du lịch đến nơi này đã ngưỡng mộ, nói rằng: “Đây là Thiên đàng hạ giới – cuộc sống của người dân nước Bhutan được đánh giá là hạnh phúc nhất trên hành tinh này.”
 
Vậy xem ra chẳng biết đâu là bến bờ hạnh phúc… Ông Tư kết luận như thế.
       
      Cuộc họp mặt vui chơi kéo dài hơn ba tiếng, đến mười hai giờ các cụ móc ví đóng hai đô la cho bữa ăn trưa. Nhờ có quỹ xã hội yểm trợ, nên thực đơn khá hấp dẫn: cháo cá, phở, hủ tiếu, bún bò, chả giò, bánh hỏi thịt nướng…v…v… Các cụ tha hồ lựa chọn và thưởng thức.
 
Trong bữa ăn có người vui miệng hỏi: “Cùng lãnh tiền già như mình, nhưng không hiểu ông Tư đào đâu ra tiền mà đi du lịch đó đây liên tục?”
 
Ông Tư cười dễ dãi đáp: “Trên tám mươi tuổi đi máy bay khỏi trả tiền…lo gì!?” Câu trả lời của Ông Tư chẳng mấy ai tin – coi như nói vui cho qua câu chuyện, chỉ có ông Ba Râu để bụng, nhưng bán tín bán nghi, nên cố tìm cho ra sự thật.
 
Ông Ba Râu được con gái bão lãnh qua Mỹ trên bảy năm nay. Lúc mới sang, ông làm những việc phất phơ – tiền kiếm được chỉ đủ cà phê, thuốc lá, vui chơi với bạn bè…Từ ngày thi đậu quốc tịch, ông được lãnh tiền già – mỗi tháng hơn tám trăm đô la – ông dự tính mỗi tháng để dành một ít để thực hiện một chuyến về thăm quê hương mà không phải ngửa tay xin con cái.
 
Nhưng ông Ba Râu là người quảng giao và hào phóng. Cứ vài tháng “góp tiền lộ phí” cho một ông bạn già đi về Nước Chúa hay về miền Tây Phương Cực Lạc… Rồi các Hội Đoàn, Hội Ái Hữu mời tham dự tiệc gây quỹ yểm trợ chỗ nọ, nơi kia; rồi các đứa cháu ở bên nhà gởi thư sang xin tiền chữa bịnh hay sửa chữa nhà cửa do bão lụt làm hư hại… Chúng mô tả hoàn cảnh rất bi đát, thương tâm – ông không nỡ từ chối!
 
Khoản tiền già tám trăm đô la mỗi tháng đôi khi không đủ cho các chi phí linh tinh nói trên – trương mục (account) ngân hàng của ông ít khi lên đến ngàn rưỡi – không đủ để mua một vé máy bay về Việt Nam. Vậy thì chuyện về thăm quê hương coi như “ngàn trùng xa cách…” Nay nghe ông Tư nói: “Trên tám mươi tuổi, đi máy bay khỏi trả tiền” – “Được lời như cởi tấm lòng (ND)” nên ông Ba Râu nuôi hy vọng.
 
Ngoài cái tính hào phóng, Ba Râu còn thích le lói với đời. Ông muốn khi về thăm quê hương phải huy hoàng: có tiệc tùng chiêu đãi, có quà cáp cho bà con, bạn bè và có ít tiền cho người nghèo khó trong làng – nhẩm tính cũng hơn vài ngàn đô. Nếu không phải trả tiền máy bay thì ông rút hết tiền trong ngân hàng và hy vọng thế nào con gái cũng cho thêm ít tiền lộ phí. Như vậy là dư sức thực hiện chuyến về thăm quê hương huy hoàng…
 
Một ngày đẹp trời, trong lòng tràn trề hy vọng, ông Ba Râu đến văn phòng chuyên bán vé máy bay về Việt Nam nằm trong Thương xá EDEN, nơi có cô thư ký là bạn thân với con gái của ông để lấy một vé máy bay không phải trả tiền.

Bước vào văn phòng, ông Ba Râu được cô thư ký chào hỏi ân cần và lễ phép:
 
– Dạ, chào bác! Hôm nay bác đến để mua vé máy bay về Việt Nam? Vé đang on sale (bán hạ giá) đó bác – chỉ có ngàn rưỡi thôi.
 
– Ừ! Nhớ quê hương quá, muốn về thăm một chuyến, nhưng lâu nay chưa có cơ hội. Con gái của bác, như cháu đã biết: nó không dư gỉả gì – nợ tiền nhà, tiền xe và đủ thứ chi tiêu… nó phải lo toan, nên bác không dám xin tiền của nó để mua vé máy bay. Bây giờ nghe nói: Những người trên tám mươi tuổi, đi máy bay khỏi trả tiền, nên đến nhờ cháu lấy cho bác một vé.
 
Cô thư ký ngạc nhiên hỏi lại:
 
– Bác bảo sao? “Người già trên tám mươi tuổi đi máy bay không phải trả tiền?” Ai nói với bác như thế? Chuyện này nghe lạ quá!
 
– Ừ! Ông bạn của bác nói thế! Ông này đi du lịch khắp nơi – ông thường kể những chuyện khó tin, nhưng mà có thật.
 
Vì là bố của đứa bạn thân, nên cô thư ký nói nhỏ nhẹ như để an ủi:
 
– Bác về hỏi lại ông bạn của bác cách thức làm thế nào – nếu được cháu sẽ giúp bác.
 
Sáng hôm sau ông Ba Râu đến nhà ông Tư rất sớm. Hai ông già gặp nhau vui vẻ – thường là trà, rượu – tán hươu, tán vượn… cả buổi mới chia tay, nhưng lần này ông Ba Râu đặt ngay vấn đề “lấy vé máy bay khỏi trả tiền.” Ông kể cho ông Tư nghe chuyện gặp cô thư ký ở văn phòng bán vé máy bay hôm qua.
 
Ông Tư cười cười, bảo:
 
– Ông nói với cô ta ghi vào: “đứa con có hiếu” ngay sau số điện thoại của người thân khi cần báo tin thì ông mới không phải trả tiền.
 
Ông Ba Râu vội vã chào ông Tư và đến văn phòng bán vé máy bay ngay buổi sáng hôm ấy. Ông Ba Râu bước vào văn phòng với phong cách rất tự tin. Cô thư ký niềm nở, ân cần hỏi:
 
– Dạ! Bác đã hỏi kỹ cách làm thế nào đề lấy được một vé không phải trả tiền chưa?
 
– Ông bạn của bác bảo: Phải ghi ngay sau số điện thoại của người thân khi cần báo tin mấy chữ “đứa con có hiếu” thì mới được.
 
Cô thư ký tinh ý hiểu ngay vấn đề, cô ôn tồn nói:
 
– Bác ngồi đây chờ cháu một chút nghen.
 
Ra trước cửa văn phòng, cô ta lấy cell phone gọi… Ông Ba Râu không nghe rõ lời nói, chỉ nghe tiếng cười dòn của cô thư ký. Mấy phút sau cô ta trở lại, vui vẻ:
 
– Xong rồi! Bác không phải móc ví trả tiền máy bay… nhưng chờ ít hôm khi có người đến mua vé cùng về quê với bác, cháu sẽ nhờ họ giúp bác các thủ tục ở phi trường và lên xuống máy bay… như thế sẽ tiện lợi cho bác.
 
– Ồ! Được như thế thì may quá! Già rồi, ít khi đi máy bay mà có người giúp đỡ, hướng dẫn các thủ tục ở phi trường thì bác đỡ bận tâm lo lắng.
 
Ông Ba Râu chào cô thư ký ra về, chan chứa niềm vui… Nhưng một nỗi thương cảm tuổi già dâng lên trong lòng cô thư ký khi đưa ông Ba Râu ra cửa văn phòng. Cô ta cười như mếu!
      
Ngày lên đường, con gái ông Ba Râu đưa bố ra phi trường – lòng nó vui như bố đang vui… Vài tuần trước đó, nó sắm cho bố mấy bộ đồ mới, mua nhiều món quà để bố về biếu bà con bên nhà – đầy ắp hai thùng. Khi vào phi trường, con gái ông tìm người cùng quê để gởi gắm bố già. Xong xuôi nó đưa bố bao thư trong đó có hai ngàn đô – ông Ba Râu ngần ngừ không muốn nhận vì sợ con gái thiếu tiền tiêu, nhưng nó dí vào tay ông, bắt ông phải nhận và thì thầm: “bố cất kỹ vào túi trong, kẻo rơi mất.” Ông Ba Râu cảm động rưng rưng chia tay con gái, xếp hàng nối đuôi đến nơi gởi hành lý.
Con gái đứng chờ cho đến khi bố đến cuối hành lang, đi vào phòng khám an ninh. Hai bố con vẫy tay chào tạm biệt.
 
Trên đường lái xe về nhà, con gái ông Ba Râu nhớ lại những lời của người bạn thân bán vé máy bay nói qua cell phone hôm trước: “Bác bảo: Nhớ quê hương quá, mà không dám xin tiền mua vé máy bay, vì sợ mày phải đi vay mượn… Bây giờ nghe người ta nói chơi, nhưng bác tin là thật: “Trên tám mươi tuổi đi máy bay khỏi trả tiền” nên bác đến nhờ tao lấy một vé. Tao không nỡ nói thẳng cho bác biết sự thật – sợ làm bác thất vọng – tội nghiệp! Nên phone hỏi ý kiến của mày – mày tính làm sao?”
 
Mặc dù đã âm thầm đưa tiền mua vé máy bay cùng dặn dò đứa bạn thân tìm nguời cùng chuyến bay gởi gắm bố già và lo mọi thứ chu đáo… nhưng những lời nói qua điện thoại hôm ấy như còn vang vọng bên tai: “Nhớ quê hương quá, mà không dám xin tiền mua vé máy bay…” làm nó xúc động – nuớc mắt cứ ứa ra…
 
Rồi bao ký ức thời thơ ấu hiện về như cuốn phim quay chậm: Mẹ nó qua đời lúc nó vừa tròn bảy tuổi, bố con côi cút bên nhau, bố dành hết mọi tình yêu thương cho đứa con gái. Bố hay nói: Con ơi! “Mấy đời bánh đúc có xương/Mấy đời dì ghẻ mà thương con chồng!” Cho nên bố nhất định ở vậy trong cảnh “gà trống nuôi con” cho đến ngày con khôn lớn.
 
Ngày con gái theo chồng sang Mỹ, bố ở lại một mình trong cảnh cô đơn, nhưng bố nói: “Tương lai đời con và mấy đứa cháu ngoại quan trọng hơn nỗi cô đơn của bố – nếu trời thương cho bố khỏe mạnh năm bảy năm nữa thì bố con ta sẽ gặp lại nhau – không phải buồn lo cho bố…” Vậy là suốt cả cuộc đời, bố đã quên mình, hy sinh cho con.
Về đến nhà đậu xe vào ga ra, nước mắt còn đọng ven mi, nó lên bàn thờ mẹ đốt nén nhang, thì thầm khấn vái: “Mẹ ơi! Hôm nay bố về thăm quê hương. Mẹ phù hộ cho bố được bình an và có những ngày vui trọn vẹn ở quê nhà.” Nó mường tượng như có lời mẹ thì thầm: “Con à! Bố con là người tử tế, thủy chung đã nhớ lời trăn trối của mẹ trước lúc lâm chung nên bố đã ở vậy để bảo bọc cho con đến ngày khôn lớn.  Mẹ đã ở bên bố và con và phù hộ cho hai bố con trên mỗi chặng đường đời. Con nhớ chăm sóc tuổi già cho bố.”
 
Nó nghẹn ngào úp mặt vào di ảnh của mẹ – khóc nức nở!
 
Sau gần một tháng ở Việt Nam, ông Ba Râu trở lại Mỹ, kể những chuyện vui buồn ở quê nhà cho các bạn già trong Hội Cao Niên nghe chơi. Và chuyện đó đến tai Bà Sáu, làm bà suy nghĩ ngẩn ngơ…
     Từ ngày được thằng Tuấn, con trai của bà bão lãnh sang Mỹ, bà Sáu cảm thấy hạnh phúc vì thằng con hiếu thảo lo cho bà chu đáo – nó hiểu lòng mẹ nhớ thương bà chị và mấy đứa cháu ngoại còn sống khổ cực ở bên nhà, nên thỉnh thoảng nó đưa tiền cho mẹ gởi về cho chị và mua cho bà cái Smartphone (điện thoại thông minh) để bà nói chuyện và xem hình (Face Time) mấy đứa cháu ngoại cho đỡ nhớ. Như thế là bà mãn nguyện và an phận tuổi già…
 
Nhưng khi nghe ông Ba Râu về thăm quê hương mà khỏi trả tiền máy bay làm bà rạo rực và ước mơ…
 
Có những buổi chiều đi làm về thấy mẹ ngồi bên cửa nhìn trời hiu quạnh với vẻ mặt thật buồn, thằng con trai hiểu lòng mẹ nhớ quê – nó đến an ủi và hỏi: “Chắc mẹ đang nhớ chị Hai và mấy đứa cháu?” “Ừ! Mẹ nhớ, nhưng biết một chuyến về Việt Nam rất tốn kém, nên mẹ không dám nghĩ tới, nay nghe ông Ba Râu nói: trên tám mươi tuổi đi máy bay không phải trả tiền, nên mẹ thèm…”
 
Thằng Tuấn và con gái ông Ba Râu làm chung sở, nên thường kể những chuyện lẩm cẩm dễ thương của cha mẹ già. Nó hiểu hết chuyện con gái ông Ba Râu sắp xếp chuyến về thăm quê hương cho bố như thế nào, nên nó dịu dàng, bảo mẹ: “Mẹ hỏi bác Ba kinh nghiệm lấy vé máy bay và chuyện đi đứng ra làm sao? Rồi tính…”
 
“Được lời như cởi tấm lòng (Nguyễn Du)” Bà Sáu hỏi con: “Vậy mẹ đi được?” “Được! Mẹ nhờ Bác Ba dẫn đến chỗ mua vé máy bay, họ sẽ sắp xếp chuyến bay, đến ngày con đưa mẹ ra phi trường, bay về Việt Nam dễ dàng như Bác Ba đã đi.”
 
Bà Sáu nhìn con cảm động, nói: “Cảm ơn con – như thế thì mẹ thỏa lòng mong nhớ, chứ vài ba năm nữa mẹ yếu, chưa chắc về thăm chúng nó được.”
 Sau ba tuần về thăm con gái, bà Sáu trở lại Mỹ an toàn. Và chuyện Bà Sáu về Việt Nam khỏi trả tiền vé máy bay được lan truyền đến các cụ trong vùng VA, MD.
 
Một ông già đang nằm trong Viện Duỡng Lão, buồn hiu hắt suốt mấy năm nay, nghe nói thế, ông mò mẫm đến văn phòng bán vé máy bay trong thương xá EDEN, hy vọng lấy được một vé máy bay miễn phí về Việt Nam để gởi nắm xương tàn trên quê hương của mình.
 
Nhưng khi cô thư ký hỏi: “Bác cho cháu số điện thoại của người con hiếu thảo.” Ông trả lời: “Thằng con trai gởi tôi vào Viện Dưỡng Lão, rồi đi mất biệt từ mấy năm nay, bây giờ không biết nó ở phương nào và tôi không có số điện thoại của nó.”
 
Cô thư ký nhìn ông già hom hem, lòng đầy thương hại, rưng rưng cô nói: “Vậy thì cháu đành chịu, không giúp cho bác được.”
 
Ông già im lặng, đứng dậy, xiêu xiêu chống gậy bước ra khỏi văn phòng. Nắng chiều xuyên qua những đám mây trôi lờ lững chiếu ánh vàng lung linh trên khuôn mặt già nua đầy thất vọng của ông già… Một chiếc Uber trờ tới, ông già leo lên, chiếc xe lao đi… Những chiếc lá vàng tung bay theo gió, rồi rơi xuống nằm yên bên vệ đường. 
Ông già trở về Viện Duỡng Lão – khép lại ước mơ: “gởi nắm xương tàn trên quê hương yêu dấu!” Không ai biết cuộc đời ông lão rồi sẽ ra sao và cũng không ai lưu tâm đến. Chỉ có cô thư ký cảm thấy ngậm ngùi và thầm trách ai đã phao ra tin đồn thất thiệt!?
 
Mọi việc xảy ra đều đến tai Ông Tư. Một buổi sáng Chú Nhật, ông Tư đến gặp các bạn già trong Hội Cao Niên nói rõ ngọn ngành: “Chuyện thật là thế này: Khi qua tuổi tám mươi, mỗi lần đi du lịch, tôi nhờ đứa con gái hay con dâu mua vé máy bay vì tụi nó giỏi máy vi tính hơn mình – tìm được giá rẻ… Nhưng khi tôi trả tiền lại, tụi nó nhất định không nhận và bảo biếu bố đi chơi. Cho nên có ai hỏi: ‘Đào đâu ra tiền mà đi du lịch nơi nọ, chỗ kia?’ Tôi nói đùa: ‘Trên tám mươi tuổi đi máy khỏi trả tiền…’ là vậy! Nhưng đã làm nhiều người hiểu lầm và gây thất vọng cho một ông bạn già trong Viện Dưỡng Lão. Tôi ân hận!”
 
Ông Tư nhấp ngụm nước trà, định nói tiếp điều gì, nhưng ông Ba Râu xúc động… lẩm bẩm: – Thì ra thế! – Ôi! Đứa con hiếu thảo! Ôi, những đứa con hiếu thảo! Thằng Tuấn con bà Sáu cũng là đứa con hiếu thảo…
Qua cặp kính lão, người ta thấy mắt ông Ba Râu đỏ hoe… Ông Tư vỗ vai Ba Râu: Rồi ông sẽ còn nghe nhiều chuyện người đời “Nói dzậy mà không phải dzậy!?”
Lê Đức Luận
Tháng 10 /2024
Chú thích: (1) Phan Kế Bính dịch:
       Bần tiện gặp thời lên cũng dễ/ Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay…
      Thù trả chưa xong đầu đã bạc/ Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.
Chuyện Dài Di Dân Gốc “Mễ”
        
Từ khi chuyển sang ngôi nhà mới, có khu vườn rộng hơn và nhiều cây cối – việc cắt cỏ, tỉa cây, hốt lá… không còn là công việc nhẹ nhàng – coi như thú vui cuối tuần khi bước qua tuổi trên bảy mươi lăm, nên tôi phải thuê người đến giúp. Những công việc này không ai làm tốt hơn là các anh chàng người “Mễ” – làm khỏe và chu đáo lại lấy tiền công rất phải chăng.
 
Cư dân trong vùng phụ cận Thủ đô Hoa Thịnh Đốn, kiếm một vài anh “Mễ” về giúp các việc như thế rất dễ dàng mà tiết kiệm được nhiều tiền. Những công việc như sơn lại cái “deck”, cái cửa sổ tróc sơn, sửa cái máng xối, thay sàn nhà hay dọn vườn, tỉa cây, trồng cây… nếu gọi một tay chuyên nghiệp người Mỹ trả công ít nhất cũng trên 25 đô/một giờ; còn gọi các nơi chuyên sửa chữa nhà cửa, trồng cây đăng quảng cáo trên các báo, họ tính đến bạc ngàn. Trong khi kiếm vài anh “Mễ” về làm – trả khoảng 15 đô/ một giờ – xong công việc chỉ tốn chưa quá năm trăm.
 
Mặc dù có luật cấm thuê mướn những di dân bất hợp pháp, nhưng chỉ những người có địa vị hay có ý định tranh cử một chức vụ nào đó, họ mới tuân thủ vì sợ bị kiện thưa; còn người dân bình thường cứ phớt lờ – thuê anh “Mễ”, chị “Xì” về giúp các việc lặt vặt trong nhà thoải mái vì không ai để ý hay thưa gởi gì.
 
Các anh “Mễ” tụ năm, tụ bảy ở trước cửa các tiệm Seven-Eleven, Mc Donald, cây xăng, tay cầm ly cà phê, môi phì phèo điếu thuốc lá… chờ người đến gọi đi làm. Cảnh sát biết họ là di dân bất hợp pháp, nhưng làm ngơ, vì bắt về chỗ đâu mà chứa, cơm đâu mà nuôi!?
 
Lướt qua một vài tờ báo cho thấy: chi phí cho một tù nhân ở Mỹ trung bình là 15,000 đô la/ một năm; có một số tiểu bang lên đến 32,000 đô la – gồm các chi phí ăn ở, dịch vụ y tế cho tù nhân và trả lương cho cai tù…v…v… Cho nên có kẻ ví von: “Ngồi tù ở Mỹ, coi như đi nghỉ dưỡng một thời gian…”
 
Có lẽ biết được con bài “tẩy” của nước Mỹ, các anh “Mễ” cứ nhởn nhơ… ngày ngày đứng đợi khách đến đón đi làm, chẳng lo bị cảnh sát tóm. Chiều về ghé vào tiệm tạp hóa – anh này mua két bia, anh kia mua túi thực phẩm cùng về khu chung cư có đông người Mễ cư ngụ. Họ nấu nướng, ăn uống thoải mái – “cụng” nhau vài lon bia cảm thấy lâng lâng ngây ngất… rồi lăn ra ngủ. Họ rất dễ dãi trong việc ngủ – nằm trên sofa, lăn lóc trên sàn nhà, ngồi tựa lưng vào vách… ngủ! Chẳng biết trời trăng.
 
Khi một người “Mễ” có giấy tờ hợp pháp thuê được một căn chung cư, theo quy định: căn chung cư một phòng ngủ, chỉ cho hai người ở. Anh ta biết thế, nhưng cứ âm thầm cho cả chín, mười người vào ở, coi như một cách giúp đỡ đồng hương mới sang và họ cũng góp một phần trả tiền thuê nhà. “Manager” của khu chung cư biết điều đó, nhưng làm ngơ, vì các anh “Mễ” “ở chui” chờ tối mịt mới âm thầm từng người chui vô căn chung cư, không gây náo động gì và hôm sau, khi trời chưa sáng, họ đã biến khỏi nơi này.
 
Ngày tháng trôi qua, cuộc sống dân “Mễ” trên đất Mỹ cũng trôi qua như nước chảy qua cầu. Người Mỹ tỏ ra có cảm tình với di dân người “Mễ” hơn các các sắc dân Trung Đông hay Phi Châu theo đạo Hồi, nên chẳng mấy ai rạch ròi anh “Mễ” này, chị “Xì” kia là di dân hợp pháp hay bất hợp pháp.
 
Dân ta ở các tiểu bang miền Tây như Cali, Texas… gọi họ là dân “Mễ” vì họ vào nước Mỹ từ xứ Mexico; các tiểu bang miền Đông như Maryland, Virginia… gọi là dân “Xì”, vì nghe họ nói tiếng Spanish – tiếng gọi khác nhau, nhưng “Mễ” hay “Xì” cũng là di dân từ các nước Trung hay Nam Mỹ. Người Mỹ gọi họ là dân Hispanic hay Latino.
 
“Chuyện dài di dân gốc Mễ”: từ nhà ra phố đến chuyện quốc gia đại sự đều có mặt dân “Xì”; vui buồn, thương cảm hay giận đến căm gan đều có bóng dáng anh “Mễ”.
 
Chuyện mấy anh “Mễ” lái xe gây tai nạn xảy ra hà rầm. Xui cho ai đó lái xe ra đường mà bị anh Mễ lái xe ẩu tông vào – thường thì anh ta tìm cách “dzọt” lẹ, thoát thân… nếu bị chận lại thì cũng “trớt quớt” vì anh ta đâu có giấy tờ bảo hiểm. Người bị anh “Mễ” tông mà mua bảo hiểm xe một chiều thì coi như lãnh đủ cái xui – hãng bảo hiểm không bồi thường, anh “Mễ” thì trên răng dưới dép, có kiện cáo cũng chẳng được gì. Chỉ còn ôm cái giận căm gan và tự móc tiền túi ra sửa xe.
 
Chuyện các anh “Mễ” được chữa răng không tốn tiền, tưởng là do lòng lành của những ông Nha sĩ, hay chị “Xì” lãnh việc “đẻ thuê”, tưởng chỉ liên quan đến cặp vợ chồng hiếm muộn và các Bác sĩ sản khoa, nhưng khi nghe các nhà làm chính trị than phiền sự nhập cư ồ ạt của người “Mễ” gây thêm gánh nặng cho nhân dân Hoa Kỳ, người ta mới vỡ lẽ…
 
Các anh “Mễ” đau răng, không có tiền đến nha sĩ, họ mách nhau cái mánh “chữa răng không tốn tiền” như thế này: Khi đau răng, “nốc”mấy lon bia, giả bộ say ngất ngưởng trước mặt mấy ông cảnh sát. Thế nào cũng bị “điệu” về bót. Ở đây cứ rên la thảm thiết chỉ vào cái răng đang đau, các ông cảnh sát thương tình đưa đến bệnh viện cho Nha sĩ nhổ cái răng đau, trám cái răng mẻ. Hết đau răng và hết say rượu, anh “Mễ” lại được thả ra vì cái tội say rượu ngoài đường làm mất trật tự công cộng chỉ bị phạt tiền và vài ba ngày tù giam – các anh “Mễ” thì trên răng dưới dép, đồn Cảnh sát xét thấy nhốt lâu không tiện… đành phải thả!
 
Anh “Mễ” chữa răng đau không tốn tiền, không phải ông nha sĩ có lòng bác ái – chữa răng miễn phí cho người nghèo; chuyện chị “Xì” “đẻ thuê” đến ngày “khai hoa nở nhụy” chị ta vào bệnh viện được hưởng phúc lợi miễn phí như những bà mẹ đơn thân (single mom) không phải là “nhà thương chùa – bỏ qua chi phí”. Ông nha sĩ và bệnh viện sẽ lấy lại tiền từ ngân sách Dịch Vụ Nhân Sinh và Y Tế của chính phủ.
 
Ngân sách dành cho Dịch Vụ Nhân Sinh và Y Tế trong tài khóa 2022 là 133,7 tỷ USD. Đây là tiền đóng thuế của nhân dân Hoa Kỳ. Cho nên có lời phàn nàn: “Dân Mễ vào càng đông, dân Hoa Kỳ càng khổ vì đóng thuế càng cao…”
 
Nhưng ai đã xem qua phim “A Day Without A Mexican” (Một Ngày Không Có Người Mễ) của đạo diễn Sergio Arau, phát hành năm 2004, sẽ có cái nhìn và suy nghĩ khác hơn về di dân người “Mễ”. Sự khôi hài, châm biếm sâu sắc trong bộ phim cho thấy: “Chuyện gì sẽ xảy ra vào một buổi sáng người “Mễ” biến mất ở tiểu bang California?”
 
Bàn ghế, sàn nhà trong nhà hàng không ai lau chùi, chén bát không ai rửa, thực phẩm không ai giao; ngoài phố rác rưởi, cầu đường không ai sửa sang và dân cư địa phương biết gọi ai tỉa cây, cắt cỏ, dọn vườn… với tiền công rất rẻ? Ôi! “Một ngày không có người Mễ”- thành phố sẽ tiêu điều!?
 
Nếu chưa xem phim mà thấy những anh “Mễ” cặm cụi trong công việc sửa sang đường sá, cầu cống hay đang chăm chỉ làm việc trong các nông trại dưới cái nóng trên 100 độ F vào mùa hè và dưới 0 độ F vào mùa đông, ta không khỏi chạnh lòng thương cảm.
 
Ấy vậy mà có lắm lời thị phi về di dân “Mễ”, nhất là vào năm có bầu cử Tổng Thống Mỹ – các anh “Mễ”, chị “Xì” đang ở nấc thang cuối cùng trong xã hội – ngày ngày chỉ mong có công việc làm dù là nặng nhọc, khổ cực với đồng lương rẻ mạt… Bỗng một ngày đẹp trời trong mùa bầu cử tổng thống, họ được bốc lên “tới Trời!”- liên quan đến chuyện “quốc gia đại sự.”
 
Các ông trong đảng Dân Chủ thì o bế, mua chuộc di dân gốc “Mễ” và nhắc đến họ như một cộng đồng hữu ích cho nền kinh tế Hoa Kỳ, rồi Tổng Thống ký lệnh “ân xá” cho dân “Mễ” nhập cư bất hợp pháp sớm trở thành công dân Mỹ để được đi bầu.
 
Các ông Cộng Hòa bảo thủ chủ trương: Không thể mở cửa biên giới cho dân “Mễ” ồ ạt đi vào nước Mỹ mà không thanh lọc sẽ gây bất an cho xã hội. Nhưng khi xét thấy người Mỹ gốc Latinh lên đến trên 62 triệu – chiếm khoảng 18% tổng số dân số Hoa Kỳ (theo Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ năm 2020) thì các ông nghĩ đến số lượng cử tri đáng kể của di dân gốc “Mễ”. Cho nên các chính khách Cộng Hòa “vừa đấm vừa thoa” khiến người ta thấy rõ tính cách “mị dân” của cả hai đảng Dân chủ và Công hòa.
 
Đa số dân Mễ nhận ra cái trò “bá đạo” trong sinh hoạt chính trị, nên họ không mấy “mặn mà” với những lời hứa hẹn của các chính trị gia. Họ nhận ra các ông ấy chỉ là những tay “lấy của người làm phúc ta – mượn hoa cúng Phật.” Họ hiểu những người thực sự cưu mang họ chính là những công dân Hoa Kỳ bình thường đã đóng thuế để cho họ được hưởng những phúc lợi xã hội, và giúp họ có công ăn việc làm.          
 
Bởi vậy, ta thấy dân “Mễ” sống rất hồn nhiên, thoải mái – đa số không quan tâm nhiều đến chính trị. Những lời thị phi về dân Mễ chỉ là do “mưu đồ” chính trị, chứ xem ra chính bản thân người “Mễ” không có “âm mưu”.
 
Người ta quen gọi di dân từ các nước Trung hay Nam Mỹ là “Xì” hay “Mễ” cho gọn, vì thấy họ có vóc dáng, màu da gần giống nhau và nói tiếng Spanish, nhưng thực sự là dân ở nhiều quốc gia khác nhau, như: Honduras, Guatemala, El Salvador, Nicaragua, Belize, Panama, Costa Rica thuộc Trung Mỹ và các nước Nam Mỹ như Brazil, Venezuela, Colombia…
 
Một anh bạn người El Salvador tâm sự: “Sau khi giành được độc lập từ bọn thực dân Tây Ban Nha, những nhà lãnh đạo chính trị ở các nước vùng Trung Mỹ và Nam Mỹ bất tài – không tạo được một nền kinh tế phát triển và bất lực trong việc ổn định xã hội – nghèo đói và băng đảng hoành hành, khiến dân chúng phải ‘tha phương cầu thực’- chịu nhiều thiệt thòi và khổ nhục! Bỏ xứ sang đây, chúng tôi chỉ mong kiếm được tiền gởi về nuôi cha mẹ, vợ con, anh em  hay gởi về mua nhà, mua đất, cơ sở thương mại… rồi một mai, khi tuổi già sức yếu, chúng tôi sẽ trở về sống với quê hương – không nơi nào đẹp hơn quê hương của mình ông ạ. Cho nên được ‘ân xá’ để trở thành công dân Hoa Kỳ hay bị coi là ‘di dân lậu’ không quan trọng – vấn đề dân “Mễ” chúng tôi quan tâm là kiếm tiền.”
 
Anh ta tỏ vẻ bất mãn và nói tiếp: “Theo báo chí cho biết: hiện nay ước tính có trên 13 triệu di dân bất hợp pháp sống rải rác khắp nơi trên nước Mỹ gồm nhiều sắc dân, chứ không phải chỉ có dân “Mễ” và họ đã gây ra một số tội phạm. Nhưng mọi sự xấu xa đều đổ lên đầu dân “Mễ”. Trong khi hầu hết người “Mễ” chúng tôi vào Hoa Kỳ vì lý do kinh tế. Chúng tôi đã cần cù, chăm chỉ làm việc cực nhọc với đồng lương rẻ mạt so với dân bản xứ, nhưng chúng tôi chấp nhận vì dầu sao vẫn hơn ở nước tôi không có việc làm – vừa nghèo đói lại bị băng đảng trấn lột! Bởi vậy, chúng tôi cam phận – chỉ mong có cuộc sống no đủ và bình an ở nơi này, nhưng đôi khi phải nghe tiếng ‘bấc’ tiếng “chì’… với bao nỗi buồn thế sự trong mùa bầu cử tổng thống.”
 
Những lời tâm sự trên đây, cho ta thấy sinh hoạt chính trị ở Hoa Kỳ còn nhiều “bất cập” trong vấn đề di dân. Tuy người dân Mỹ được thể hiện nguyện vọng của mình qua lá phiếu trong các cuộc bầu cử – cứ bốn năm bầu cử tổng thống một lần, nhưng ông này lên làm Tổng Thống muốn lấy lòng một số dân Mỹ bảo thủ thì ra lệnh trục xuất; khi ông khác lên muốn nuôi dưỡng đám dân “Xì” để kiếm phiếu sau này thì ân xá. Trục xuất hay ân xá chỉ là trò chơi chính trị, chứ ai cũng biết nước Mỹ cần nhân công, dân “Mễ” cần tiền.
 
Xem lại lịch sử, người ta sẽ thấy: Sau cuộc tranh giành biên giới với Hoa Kỳ vào giai đọan 1846-1848, Mexico bị thua phải ký Hiệp ước Guadalupe Hidalgo (ký ngày 2-2-1848 tại Villa de Guadalupe Hidalgo) – đồng ý bán lại một phần lãnh thổ cho Hoa Kỳ vào năm 1848. Một phần hay toàn bộ lãnh thổ của các tiểu bang: California, Texas, New Mexico, Arizona, Nevada ngày nay là đất của Mexico trước kia.
 
Cũng theo Hiệp ước này cho phép công dân Mexico tại các lãnh thổ bị bán được chọn ở lại và trở thành công dân Mỹ với đầy đủ quyền lợi như công dân Hoa Kỳ. Từ đầu Thế kỷ 20, sau các cuộc chiến tranh, di dân người “Mễ” vào Hoa Kỳ với các lý do kinh tế và sum họp gia đình. Họ tham gia vào nền chính trị Hoa Kỳ rất sớm – từ năm 1877 đã có Dân biểu và Thượng Nghị sĩ gốc “Mễ” trong Quốc Hội Hoa Kỳ và đã đóng góp vào sự phát triển kinh tế cho Hoa Kỳ qua sản xuất và tiêu dùng.
 
Bây giờ, thế sự khác xưa. di dân ào ạt vào Hoa Kỳ, không phải chỉ là dân Trung, Nam Mỹ. Sự mở cửa biên giới không thanh lọc kỹ lưỡng, khiến những thành phần bất hảo như các băng đảng, mua bán ma túy, buôn người, khủng bố quốc tế, gián điệp… ở nhiều nước trên thế giới lợi dụng thời cơ tràn vào, gây ra nhiều tội phạm trong xã hội và nền an ninh của Hoa Kỳ,      
 
Qua lời tâm sự của anh bạn người El Salvador, tôi nghĩ đến thân phận của dân ta – cũng là di dân đến Hoa Kỳ – nhưng khác nhau vài điểm: Người Việt đến Hoa Kỳ để tìm tự do; người Mễ đến Hoa Kỳ để tìm cơm áo. Ta lìa bỏ quê hương vì chính trị; họ lìa bỏ quê hương vì kinh tế và xã hội. Ta quyết tâm xây dựng lại cuộc đời và tha thiết với đất nước Hoa Kỳ như quê hương thứ hai; người “Mễ” coi Hoa Kỳ như nơi đất lành chim đậu – khi vui thì đỗ, khi buồn thì bay…
 
Người “Mễ” là dân nhập cư đông thứ nhì ở Hoa Kỳ (chỉ sau người Âu châu di cư lập quốc) và là cộng đồng có mặt lâu đời nhất so với các sắc dân khác. Tiếng Spanish được sử dụng phổ biến sau tiếng Anh. Do vậy, dân “Mễ” có một chỗ đứng đáng kể trong hoạt động kinh tế, chính trị và văn hóa ở Hoa Kỳ.


 
Trước đây, người “Mễ” ra vào Hoa Kỳ như về “quê ngoại”. Nhưng trong vài thập niên trở lại đây, trà trộn vào những di dân người Mễ lương thiện, cần cù là bọn buôn lậu ma túy, buôn người, cùng bọn khủng bố quốc tế và gián điệp của các quốc gia thù địch xâm nhập vào Hoa kỳ, tạo ra những bất ổn trong xã hội và sẽ làm cho Hoa Kỳ suy yếu.
 
Một ông Tổng Thống thấy trước nguy cơ, nên có biện pháp gắt gao với đám di dân đang tập trung đông đảo ở biên giới phía nam.  Ông cho xây hàng rào ngăn chặn và tuyên bố sẽ trục xuất hết những di dân bất hợp pháp. Nhưng có làm không? Đó là một câu hỏi gây nhiều tranh cãi.
 
Trong khi các doanh nghiệp Hoa Kỳ đang khao khát nguồn nhân lực – cần một lực lượng “lao động phổ thông” ở các nông trại, trại chăn nuôi, các doanh nghiệp chế biến thực phẩm…v…v…Người Mỹ chê công việc nặng nhọc mà lương thấp không làm hoặc không đủ người làm. Vậy chỉ có di dân lao động mới đáp ứng được nhu cầu và nhờ đó di dân bất hợp pháp mới có chốn dung thân…
 
Khi nào các doanh nghiệp ở Hoa Kỳ “sập tiệm”, các nông trại ngưng gieo trồng, thu hoạch; các trại chăn nuôi đóng cổng… đám di dân vào Hoa Kỳ không có việc làm – đói vêu ra… hay khi Hoa Kỳ biến thành một nước “xã hội chủ nghĩa”- mọi người đều cùng khổ như nhau thì “bố bảo” họ cũng chẳng vào.
 
Ngược lại các nông trại, hãng xưởng còn hoạt động, Hoa Kỳ còn phồn thịnh thì dù có “kín cổng cao tường” cũng không ngăn được đám di dân đi tìm nguồn sống. Đó là định luật cung cầu – từ ngàn xưa cho đến bây gìờ và mãi ngàn sau. Vấn đề di dân không bao giờ chấm dứt.
 
Ông Tổng Thống kế nhiệm nghe lời bàn chí lý và cũng muốn xóa sạch những di sản của người tiền nhiệm nên ngưng xây tường rào và thiếu biện pháp ngăn ngừa hữu hiệu những thành phần xấu xâm nhập vào Hoa Kỳ. Vì thế, phe đối thủ rêu rao cho rằng dân buôn bán ma tuý, buôn người, dân khủng bố và gián điệp quốc tế tập trung ở biên giới phía nam Hoa Kỳ đông như kiến để chuẩn bị “cuộc hành hương vào đất thánh – không phải làm việc vất vả mà được hưởng nhiều phúc lợi.”
 
Lúc này, ông Tổng Thống kế nhiệm “tỉnh ngủ”, thấy rằng đây là một vấn đề bất lợi trong mùa bầu cử, nên ngày 4-10 vừa qua ông ta ra lịnh: Tiếp tục cho xây tường ngăn cản bớt đám di dân, mặc dù trong cuộc tranh cử năm năm 2020, ông đã từng tuyên bố: “Sẽ không xây thêm bức tường biên giới nào dưới thời chính quyền của tôi.”
 
Ôi! “Đường về quê ngoại” của dân Mễ xem ra như tắc nghẽn. Nhưng chớ vội bi quan! Đất nước Hoa Kỳ được hình thành bởi di dân và phồn thịnh cũng nhờ di dân. Điều đó đã trở thành truyền thống và là di sản của nền Cộng Hòa Mỹ Quốc. Những cái “bát nháo” trước mùa bầu cử sẽ lu mờ và đi vào quên lãng.
 
Và rồi đâu sẽ vào đó sau ngày bầu cử: việc nước, việc nhà, việc di dân, việc ổn định xã hội và phát triển kinh tế sẽ tiếp tục làm cho nước Mỹ giàu mạnh – giữ vững vị trí hàng đầu thế giới, nếu đất nước này được lãnh đạo bởi một vị Tổng Thống có chính sách đối ngoại mạnh mẽ, cứng rắn với Trung Cộng, chứ cái gì cũng “cười” khiến cho ông Tổng Thống Putin khoái chí thì không bao lâu nữa phe Xã Hội Chủ Nghĩa (không Tàu thì Nga) sẽ thống trị thế giới.      
 
Cầu mong “đường về quê ngoại” của anh “Mễ”, chị “Xì” sẽ được hanh thông để đón nhận những con người lương thiện, cần cù muốn vào Hoa Kỳ tìm cuộc sống ấm no, hạnh phúc trong vòng trật tự.  Người Mỹ sẽ ‘Welcome’ và dân Việt cũng đón mừng…     
Lê Đức Luận
(Tháng 9 – 2024)      
Chó Tây, Chó Ta
Những con vật được nuôi trong nhà, gọi chung là gia cầm thì con chó được loài người thuần hóa sớm nhất từ loài sói xám và được nhắc đến nhiều trong văn học từ cổ chí kim, từ đông sang tây với những từ ngữ ngọt ngào: trung thành, tình nghĩa, khôn ngoan, thân thiện… Nhưng không hiểu tại sao người Việt mình khi giận hờn nhau thường đem con chó ra chửi: “đồ chó,” “cái mặt chó,” “cái đồ chó đẻ!”.  Lúc bực bội những chuyện ngoài đường, về nhà con chó chạy ra ngoắc đuôi mừng rỡ, ông chủ lại cho nó một đá cho hả giận… mặc dù nó chẳng có tội tình gì – nó cúp đuôi, tiu nghỉu chạy trốn – chẳng hiểu tại sao (?). Trong nhà vợ chồng cãi nhau, chó là con vật đầu tiên bị mang tai họa. Vì không biết làm sao cho bớt ấm ức, bèn đá con chó, chửi con mèo… Bởi thế, mới có thành ngữ “mắng chó chửi mèo” hay “chỉ chó mắng mèo” là vậy. Thật khốn khổ cho cuộc đời con chó!
 
Trời sinh ra con chó có được cái tính bẩm sinh: thính tai, thính mũi, khôn ngoan, thân thiện, gắn bó, thủy chung với chủ.  Người ta nuôi chó coi như một bạn đồng hành giúp ích được nhiều việc như: giữ nhà, săn bắt, dẫn dắt người mù… ở Bắc Cực còn bắt chó kéo xe. Ngày nay, một số người nuôi con chó nhỏ để làm cảnh, coi như thú cưng trong nhà vì nó luôn luôn quấn quít, thân thiện, trung thành giúp họ bớt cô đơn và có được những giây phút mơn trớn, vuốt ve, dịu dàng làm bớt đi  những căng thẳng.
 
Mỗi con chó sinh ra đều có một phần số: “chó Tây” có đời sống khác với “chó ta” – “chó ta” được nuôi ở miền Bắc khác con “chó ta” nuôi ở miền Nam.
 
Đọc những truyện ngắn của nhà văn Nam Cao, mô tả “cậu Vàng” của Lão Hạc, “Cái Chết Của Con Mực”… hay Kim Lân kể về “Con Chó Xấu Xí”, ta cảm thấy số phận con “chó ta” sao mà thê lương đến não lòng – dù hết lòng trung thành với chủ, cuối cùng vẫn bị bạc đãi – người ta bán đi hay giết thịt. Thật khốn nạn cho cuộc đời con “chó ta”.
 
Trong văn học cổ Việt Nam còn lưu lại bằng chữ Nôm câu chuyện “Lục Súc Tranh Công” (1): trâu, chó, ngựa, dê, gà, và lợn – viết theo thể “nói lối”. Con chó tranh công với trâu và kể lể với chủ:


Trời đã sinh các hữu kỳ tài/ Lớn việc nặng, bé thì việc nhẹ…
Vốn như đây ốm yếu chân tay/ Cũng hết sức gia trung xem xét …
Kẻ đầu kia, người việc nọ/ Đứa coi ngoài, có đứa giữ trong.
Đêm năm canh con mắt như chong/ Đứa đạo tặc, nép oai khủng động
Ngày sáu khắc, lỗ tai bằng trống/ Đứa gian tham thấy bóng cũng kinh…
Lại đến ngày kỵ lạp tiên sinh/ Cũng ra sức săn chồn, đuổi sóc
Bao quản chui gai, lước góc/ Chi này múa mỏ, lòn hang.
Anh trâu sao chẳng biết thương/ Nỡ lại ra lời sanh nạnh…
Ăn thì cơm thừa, canh cặn, môn sượng, khoai sùng
Tới bữa ăn chẳng luận ít nhiều/ Có cũng rằng, không cũng chớ…
Vốn như đây gia tài ủy ký/ Mà chủ không tốn kém đồng nào
Nên không muông coi trước, giữ sau/ Thì của ấy về tay kẻ trộm…”


Con “chó ta” bị hắt hủi, nó phải kể lể như trên. Con “chó Tây” cũng đi vào văn học Âu – Mỹ từ xa xưa, nhưng lại được ca ngợi và tôn vinh qua câu chuyện rất cảm động và thâm thúy sau đây:
 
Năm 1870, Luật sư George Graham West (1830 – 1904) đã đọc một bài bào chữa chỉ có 375 chữ ca ngợi con chó trong vụ kiện của người thợ săn kiện người chăn cừu đã giết con chó của mình. Bài bào chữa có tên “A Tribute to The Dog” đã thuyết phục toàn thể Bồi Thẩm Đoàn và thân chủ ông đã thắng kiện. Sau đó, bài bào chữa này được lưu truyền trong văn học Mỹ và được tờ New York Times bình chọn là bài diễn văn hay nhất thế kỷ. Ngày nay, trước tòa án Warrensburg, bang Missouri người ta dựng tượng đài con chó Old Drum với bài “A Tribute to the Dog” để ghi nhớ một sự kiện lịch sử. George Graham West nổi tiếng trong văn học Mỹ nhờ bài diễn văn này. 

Đọc một đoạn trong bài diễn văn (đã dịch ra Việt ngữ) làm ta suy ngẫm và ngậm ngùi…

… Trên thế gian vụ lợi ích kỷ này, con người chỉ có thể có được một người bạn vô tư không điều kiện, một người bạn không bao giờ rời bỏ ta, không bao giờ vô ơn bạc nghĩa, không bao giờ phản bội, đó là con chó của ta.

Con chó của ta luôn ở bên cạnh ta, dù ta giàu sang hay ta nghèo khó, dù ta khỏe mạnh hay ta ốm đau bệnh tật. Nó ngủ dưới nền đất lạnh, bất chấp giá rét mùa đông hay bão tuyết, miễn sao được ở gần ta. Nó vẫn hôn vào bàn tay ta dù ta không còn thức ăn gì cho nó. Nó liếm vào những vết thương và những chỗ ta đau đớn khi va chạm với sự tàn bạo của cuộc đời. Nó canh giấc ngủ cho ta khi ta là kẻ khốn cùng cũng giống như khi ta là một ông hoàng.
.
Khi tất cả bạn bè đều rời xa ta, riêng con chó thì ở lại.
.
Khi ta mất hết của cải, thân bại danh liệt, thì tình yêu thủy chung của con chó đối với ta vẫn ngời sáng như ánh mặt trời xuyên thấu chín tầng mây.
.
Nếu chẳng may ta bị cuộc đời ruồng bỏ, rơi vào cảnh không bạn bè không nhà cửa, thì đối với con chó trung thành, không có một đặc ân nào cao cả hơn là được ở bên cạnh ta, để bảo vệ ta chống lại những hiểm nguy, chống lại kẻ thù.
.
Và đến lúc cuộc đời ta kết thúc, thần chết rước ta đi và thân xác ta nằm dưới lòng đất lạnh, khi người thân bạn bè đưa tiễn đã quay về để tiếp tục bận rộn với cuộc sống của họ, thì con chó cao quý vẫn còn nằm bên nấm mồ ta, đầu gục xuống giữa hai chân, đôi mắt đau buồn nhưng vẫn mở to cảnh giác, trung thành và chân thực ngay cả khi ta đã chết.”
 
Đọc những truyện kể về con chó, tôi nhớ đến “con Đớm” nhà tôi. 
 
Năm đó bà chị dâu của tôi có bầu trên năm tháng, anh tôi xin một con chó con của nhà ông Lý Bản về nuôi, gọi nó là “con cún”, trông nó mũm mĩm rất dễ thương, nhưng lại làm nhiệm vụ “dọn bãi” cho đứa con sơ sinh của anh chị – mỗi lần bà chị dâu gọi: “cún… cún… chậc…chậc…” Nó  lăng xăng chạy đến ngoắc đuôi lia lịa “dọn bãi” một cách cần mẫn, tận tình – tôi thấy nó hèn hạ và dơ dáy! Cho nên mỗi lần nó đến gần, tôi cho nó một đá – đuổi đi… Nhiều lần như thế, nó biết phận, đứng xa xa, nhìn tôi với ánh mắt lấm lét, nhưng cái đuôi vẫn ve vẩy hững hờ. Hình như nó mong đợi tiếng tôi gọi nó. Nhưng chưa bao giờ! Rồi nó lặng lẽ bỏ đi…        
 
Khi đứa con của bà chị dâu lên hai, con “cún” không còn làm nhiệm vụ “dọn bãi” nữa. Lúc này thân hình nó tròn trịa, cao to, hai tai vểnh lên, hai đớm trắng trên mi mắt rõ nét, trông rất ngộ. Anh tôi đặt tên cho nó “con Đớm” và bắt đầu huấn luyện cho nó săn chuột, canh giữ chuồng gà, không để chồn, cáo vào bắt gà ban đêm. Ban ngày, khi trải lúa ra sân phơi, “con Đớm” nằm đuổi bọn gà đến ăn lúa. Có mặt “con Đớm”, bọn gà không dám bén mảng. Khi nó lang thang đâu đó mà anh tôi gọi: “Đớm… ô… ô! Đớm… ô… là nó chạy đến ngoắc đuôi – chờ lịnh. Nó hiểu và làm được những việc anh tôi sai bảo.      
 Anh tôi thương và quý “con Đớm”, nhưng tôi vẫn còn mặc cảm với nó. Nhưng có một lần con Đớm làm tôi cảm động và thích thú. Chuyện thế này: 
 
Thằng Thương ở trong xóm, nuôi một con chó Vện – con chó này nổi tiếng khôn ngoan và hung dữ – thấy ai lạ là nó nhe răng gầm gừ, như muốn xông đến cắn người ta, nhưng khi thằng Thương tỏ vẻ niềm nở với khách thì nó liền tỏ ra thân thiện, ngoắc đuôi, mừng! Thằng Thương hãnh diện về con Vện của mình, đi đâu cũng dẫn con Vện theo cùng. Một hôm tôi gặp thằng Thương ở đầu ngõ, con Vện vừa trông thấy tôi, nó gầm gừ … Con Đớm từ trong nhà chạy ra đứng cạnh tôi, sủa vang và nghênh con Vện. Thương là thằng ngổ ngáo, chẳng những nó không la con Vện mà còn “sịt… sịt…” chỉ tay cho con Vện xông vào con Đớm. Hai con chó cắn nhau dữ dội. Thằng Thương vỗ tay reo… 
 
Nhưng sau một hồi cắn đấu kịch liệt, con Vện của thằng Thương cúp đuôi bỏ chạy. Thằng Thương tiu nghỉu bỏ đi. Con Đớm chạy lại bên tôi, tôi cúi xuống vuốt ve nó – lông nó ướt đẫm, trên mũi và chân trước bị cắn chảy máu. Tôi vào nhà giã củ nghệ, kêu nó lại, lấy nghệ đắp lên vết thương, nó ngoan ngoãn nằm yên. Từ đó tôi thương con Đớm – đi đâu tôi cũng cho nó đi theo. Và cũng từ đây con Đớm là bạn thân thiết nhất của tôi thời thơ ấu ở làng quê Vĩnh Phú. 
 
Đến một ngày có lệnh diệt chó để ngừa bệnh “chó dại”. Hằng ngày có một toán đi diệt chó, họ rảo quanh làng rình rập, bắt chó… Họ mang theo gậy, búa, và dây thòng lọng. Anh tôi thương con Đớm, anh tỉ tê với nó thế nào mà nó hiểu – mỗi khi nghe tiếng người, nó chạy vào gầm giường trốn biệt. Nó cũng không theo tôi ra khỏi nhà. Nó thoát nạn một thời gian. Nhưng sau đó Ủy Ban Hành Chánh xã ra thông báo: “Nhà nào còn lén lút nuôi chó mà không khai báo, coi như có hành vi phản động.” Hồi đó, ở trong vùng Việt Minh kiểm soát, ai cũng sợ bị ghép vào thành phần phản động hay Việt gian – bị ghép vào hai thành phần này, sớm muộn gì cũng bị cho đi “mò tôm” (2). Bởi vậy, anh tôi đành chỉ chỗ con Đớm trốn cho toán diệt chó. Sáng hôm ấy anh tôi đem đến cho con Đớm đĩa cơm có chan nước thịt và mấy lát thịt heo. Anh tôi vuốt ve nó, nhìn nó ăn, anh tôi khóc! Rồi anh ra khỏi nhà trước khi toán diệt chó đến. Anh tôi không muốn thấy cảnh đau lòng…       
 
Khi toán diệt chó đến, con Đớm chạy trốn dưới gẩm giường, họ xông ngay vào chỗ nó đang trốn. Nó hết đường tẩu thoát… Lúc ấy ở nhà chỉ có mình tôi, tôi nhìn họ hung bạo như quân cướp. Tôi sợ họ như con Đớm đang sợ – nó co dúm lại, run run, không kháng cự. Họ lấy cây gậy dài đè vào cổ, một tên khác đưa dây thòng lọng vào cổ, kéo nó ra… Hai chân trước con Đớm cố bám vào sàn nhà, miệng kêu ẳng ẳng, mắt nhìn tôi như cầu cứu… Tên bắt chó chẳng chút xót thương, hắn lôi xệch con Đớm ra cửa. Khi cái dây thòng lọng siết chặt cổ, lưỡi con Đớm thè ra, không còn kêu được nữa, nhưng mắt nó hướng về phía tôi, ướt đẫm… Nước mắt tôi cứ tuôn ra, tôi khóc nức nở… cho đến lúc bọn họ lôi con Đớm ra khỏi ngõ, tôi kêu lên Đớm ơi trong tiếng khóc nghẹn ngào. 
 
Vào thời đó, ở làng tôi chưa biết ăn thịt chó. Họ giết con Đớm và đem chôn nó bằng cách nào, tôi không được chứng kiến, nhưng cách họ bắt con Đớm lôi đi quá tàn nhẫn. Hình ảnh đó ám ảnh tôi trong một thời gian dài.  Sau này nghe anh tôi kể: – Họ ra lịnh diệt chó để ngừa bệnh dại chỉ là cái cớ – mục đích chính là để ban đêm cán bộ rình rập các nhà địa chủ, phú nông nghe ngóng tin tức, không bị lộ (lúc đó chính sách cải cách ruộng đất bắt đầu ló dạng ở Liên Khu 5). 

Năm 1954, Hiệp Định Genève chia đôi đất nước, Chính quyền Quốc Gia tiếp quản Liên Khu 5. Bấy giờ tôi đã qua thời thơ ấu – tôi rời làng quê ra tỉnh theo việc học hành. Chuyện tiếc thương con Đớm rồi cũng phôi pha theo năm tháng.         
 
Tiếp theo, đời tôi nổi trôi theo vận nước với bao thăng trầm, khổ nhục, vì cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn. Cho đến một ngày, thời cuộc đẩy đưa, tôi được định cư trên nước Mỹ.      
 
Từ đây, cuộc đời đưa tôi đi vào ngã rẽ mới. Những ngày đầu tiên sống trên đất Mỹ, với tôi không biết bao nhiêu điều lạ lẫm – phải tìm hiểu, học hỏi mới quen dần. Chuyện “con chó ở xứ Mỹ” là một trong những câu chuyện được nghe người ta ví von nhiều nhất: “Xã hội Mỹ xếp hạng đàn bà số một, thứ hai là chó mèo, đàn ông đứng hàng thứ ba.” Chớ có quen tật bạo hành phụ nữ; ngược đãi, hành hạ chó mèo. Loạng quạng phạm vào những điều căn bản đó, cảnh sát còng tay đưa ngay về bót – phải trái: hạ hồi phân giải. Học được điều đó, nên biết thân phận của mình, tôi không dám to tiếng với vợ; tránh xa chó mèo để khỏi mang họa vào thân.
  
Nhưng càng sống lâu trên đất Mỹ, tôi thấy thuơng cho thân phận cho con “chó ta”. Vì thấy con chó Mỹ sướng quá! Con “chó ta” thì: “Ăn cơm thừa, canh cặn, môn sượng, khoai sùng…Tới bữa ăn chẳng luận ít nhiều/ Có cũng rằng, không cũng chớ…” Còn con chó Mỹ được luật pháp bảo vệ. Theo “Texas Penal Code # 420”: Người nuôi súc vật trong nhà phải có bổn phận cho ăn, cho uống, cho chỗ ở. Thiếu một trong các điều nêu trên và cố ý hành hạ, bỏ bê, giết hại chó mèo sẽ bị bỏ tù một năm và số tiền phạt có thể lên tới bốn chục ngàn đô.
  
Thỉnh thoảng báo chí Mỹ đưa tin về những vụ như ông Dennis, ở Tennessee bị bỏ tù 9 tháng vì bỏ đói, bỏ lạnh và xích con chó ngoài vườn cho đến chết. Những tin như thế có làm tôi xúc động, nhưng rồi cũng chỉ thoáng qua vì lúc đó còn nhiều công việc khác phải lo toan, chuyện chó mèo coi như phù phiếm.
  
Đến một hôm, tôi nghe nhiều người “kháo” nhau về chuyện chó – đây là chuyện “chó Mỹ”. Nguồn tin loan truyền rằng: “Một người Việt Nam tỵ nạn, sang Mỹ hơn một năm, chỉ làm công việc dẫn chó đi chơi, đi ị, hốt cứt chó…mà kiếm được tiền mua nhà.”  Ở cái xứ Hiệp Chúng Quốc này, có những chuyện mới nghe rất khó tin, nhưng rồi có thật, nên tôi để ý theo dõi và tìm hiểu… Thì ra chẳng ai xa lạ – thằng Tuất bạn cùng quê với tôi, qua Mỹ theo diện HO3 đã tạo nên câu chuyện này.
        
 Hôm gặp nhau ở Cali, nó mời tôi về nhà chơi, đãi đằng cơm nước chu đáo. Tôi chăm chú nhìn căn nhà, tuy không lớn lắm, nhưng có sân trước, vườn sau, cây trái sum suê, mát mẻ, êm đềm. Tôi biết nó có được cơ ngơi như thế này là nhờ công việc “dẫn chó đi chơi, đi ị…” đúng như người ta đã “kháo”. Nhưng chẳng lẽ hỏi hết ngọn ngành, tôi tế nhị, nói:
 
– Mày giỏi thật!
 
– Giỏi giang gì – trăm chuyện cũng nhờ con chó. Nó trả lời.
 
– Thì tao cũng nghe thiên hạ nói thế, nhưng chưa biết công việc cụ thể thế nào? Mày có thể kể cho nghe, được không?
 
Nó thành thật kể hết đầu đuôi: – “Khi mới sang đây, gia đình tao được hưởng trợ cấp xã hội, lại được cho thêm tiền Food Stamps – đủ sống. Hai đứa con đi học được xe đưa đón, ăn trưa ở trường miễn phí, tao đi học ESL. Vợ tao muốn có thêm chút tiền mua sắm này nọ, nên xin vào làm nhà hàng, mỗi tháng kiếm được năm, sáu trăm. Với tao như thế là Thiên Đàng. Nhớ lại những ngày cơ cực trước đây, tao thầm cảm ơn nước Mỹ đã cưu mang. Nhưng phải tính chuyện tương lai, khi hết được hưởng trợ cấp xã hội, phải lo tìm việc, nên hằng ngày sau giờ học ESL, tao đi tìm việc đó đây, thì vận may đưa đến: chiều hôm ấy trên con đường vắng, tao gặp một bà già Mỹ, một tay chống gậy, một tay cầm dây dắt chó. Con chó của bà to và khoẻ, nó cứ lăng quăng chạy nhảy, cái dây xích đã kéo ra hết cỡ, nó vẫn muốn chạy xa hơn, kéo bà già xiêu xiêu muốn ngã và trông bà có vẻ mệt lắm, tao bèn xổ tiếng Anh mới học được: – May I help you? Bà già vừa thở vừa đưa đầu dây xích cho tao. Lúc này tao muốn kêu con chó trở lại. Tiếng Việt mình thì gọi “ô… ô…” hay “chấc…chấc”, còn tiếng Mỹ không biết nói làm sao, tao bèn dùng thứ ngôn ngữ “ba rọi”- tao lấy tay ngoắc ngoắc, miệng kêu chấc…chấc… rồi nói: – come here. Ấy vậy mà con chó hiểu, nó chạy đến bên tao, ngoắc đuôi, mừng, rồi nhảy cẩng lên người tao. Tao bế nó vuốt ve, nó nằm yên. Bà già Mỹ nói: “Hai ngày mới cho nó ra ngoài chơi một lần, nên mỗi lần được ra khỏi chuồng nó chạy nhảy lung tung – tên nó là Johnny – cứ kêu tên là nó chạy về.”       
 
Thằng Tuất nhấp ngụm nước, tiếp tục kể:
 
– Bà già gọi: “Johnny, go home”. Con chó nhảy ra khỏi tay tao, lon ton chạy trước. Bà già quay sang hỏi tao: “Nhà anh ở đâu?” Tao cho bà ta địa chỉ. Mặt bà ta có vẻ vui, bả nói: “Vậy là rất gần nhà tôi”. Rồi bả hỏi tao đủ thứ chuyện: về gia cảnh, về lý do được định cư ở Hoa Kỳ và cuộc sống hiện tại ra sao? Tao kể hết sự thật. Bà ta tỏ ra xúc động. Bà nói rất nhiều, nhưng tao chỉ hiểu đại ý. Khi về trước cổng nhà, bà mở ví đưa tao hai chục đô, tao không nhận, bà nài nỉ, nhưng tao nhất định không nhận. Tao cúi xuống, đưa bàn tay ra, con Johnny đưa chân trước lên bàn tay tao như kiểu bắt tay từ giã. Tao đứng lên, chào bà với câu vừa học được – “Bye bye, see you tomorrow.” Bà ta nở nụ cười thân thiện, rồi bảo: – “Nếu anh không bận việc, mỗi ngày đến đây dẫn Johnny đi chơi vài giờ, tôi sẽ trả thù lao 20 dollars.” Tao OK liền. Ngày hôm sau tao đến, bà vui mừng, chỉ tao cách dẫn chó đi chơi ở nơi nào và chỉ cách hốt cứt chó khi con Johnny làm xấu. Thế là từ đó tao có cái nghề mới “dẫn chó đi chơi… đi ỉa…” kiếm mỗi tháng gần năm trăm đô.  
 
Thằng Tuất nheo mắt, cười cười, hỏi tôi:
 
– Ở Mỹ có nhiều chuyện “khó tin mà có thật”, đôi khi “làm chơi mà ăn thiệt”. Mày có thấy như vậy không?
 
– Chỉ có mày may mắn, chứ tao cày bở hơi tai mới kiếm được đồng tiền.
 
Nó kể tiếp: – Một hôm dẫn chó đi chơi về, tao thấy vườn cỏ nhà bà cao, tao ngõ ý cắt giùm cho bả. Bà ta bảo: “Trước đây có thằng Xì, cứ hai tuần đến cắt cỏ một lần, mỗi lần nó lấy 30 đô, nhưng cả tháng nay không thấy nó trở lại, có lẽ nó về xứ. Bây giờ anh muốn giúp tôi thì lấy máy cắt cỏ trong kho ra cắt, tôi sẽ trả tiền công như thằng Xì. Tao Ok liền! Tao cắt cỏ xong còn dọn dẹp, tỉa cây gọn gàng, sạch sẽ. Tao làm việc cần mẫn, bà ta thích lắm, khi ra về bả đem cho tao lon coca với 40 đô, nhưng tao chỉ lấy 25 đô. Tuần sau, bả giới thiệu cho tao cắt cỏ hai nhà bên cạnh, cứ thế tiến lên… thêm mấy nhà. Thế là bây giờ tao có hai nghề: “cắt cỏ và dẫn chó đi chơi”, mỗi tháng kiếm trên ngàn đô. Tao dành dụm gần một năm, có được số tiền kha khá, gặp lúc nhà hạ giá, điều kiện dễ dàng, chỉ cần “down” 10% là có thể mua được nhà. Thế là tao liều mua căn nhà này với giá dưới trăm ngàn.
 
Ngồi nghe nó kể mà thấy thèm, lúc đó tôi ở tiểu bang Maryland, xin được việc làm trong tiệm 7- Eleven, lương 6 đô/ một giờ, chuyện mua nhà chỉ là giấc mơ – chắc phải chờ đến kiếp sau. Nhưng trong lòng vẫn có cái ước mơ và hy vọng – biết đâu cũng có được cái may mắn như nó, nên tôi hỏi:
 
– Hai cái việc này có dễ tìm không?
 
– Tìm việc cắt cỏ không khó lắm, nhưng cái việc “dẫn chó đi chơi…” phải tùy cái duyên, cái nghiệp. Nó trả lời như thế, rồi kể tiếp:
 
– Mấy ngày đầu tao dẫn chó đi chơi, dân ta nhìn tao với con mắt thiếu thiện cảm. Họ bảo tao “học làm sang”. Nhưng khi biết tao “dẫn chó thuê”, họ thông cảm. Nhưng khổ nỗi, con Johnny, thấy người Việt là nó sủa vang trời. Tao chửi thầm trong bụng: “bố khỉ, chó mà cũng kỳ thị chủng tộc…” Nhưng không phải thế, một vài người nó lại tỏ ra thân thiện, như hôm gặp thằng Hóa, một Phật tử thuần thành, nó ngoắc đuôi, mừng! Cũng hôm ấy, đi một đoạn đường gặp thằng Phong, dân Bắc kỳ, mới đi lễ nhà thờ ra, con Johnny lại sủa vang, tao lại chửi thầm: “con chó này kỳ thị tôn giáo” Nhưng cũng không phải thế. Có người nó thân thịện, có người nó sủa vang. Cuối cùng tao khám phá một điều kỳ diệu nơi con chó: hễ người nào không ăn thịt chó thì con Johnny tỏ ra thân thiện; ngược lại những người đã ăn thịt chó thì con Johnny tỏ ra căm thù, tránh né và sủa không ngừng.
  
Về lại Maryland, tôi cố lân la với mấy ông bà già dẫn chó đi chơi, may ra tìm được cái “Job thơm” như thằng Tuất, nhưng khi tôi đến gần, mấy con chó nhảy dựng lên, sủa vang trời. Nhớ lại chuyện thằng Tuất kể: “con chó căm thù những nguời đã ăn thịt đồng loại của nó.” Thế là tôi không còn hy vọng gì với cái nghề “dẫn chó đi chơi…” Vì trước đây, đã mấy lần theo bạn bè xuống Ngã Ba Ông Tạ nhậu thịt chó. Bấy giờ tôi nghiệm ra cái nhân duyên và nghiệp quả trong kiếp nhân sinh. Tôi an phận với công việc hiện tại của mình.
  
Rồi ngày tháng trôi qua, tôi đến tuổi về hưu, các bạn già đồng hương rủ nhau họp mặt ở nhà thằng Tuất. Bây giờ thằng Tuất giàu sụ, mua nhà mới, rộng rãi thênh thang. Bạn bè gặp nhau, mừng vui kể lại những thăng trầm trong cuộc sống và rồi “chuyện chó” được nhắc đến. Một ông bạn kể về con chó của đứa cháu ngoại. Ông bảo: “con chó Mỹ, nó sung sướng đến độ tôi phải ganh. Này nhé: nó được đưa đi tỉa lông, cắt móng, khám bịnh định kỷ; ăn toàn đồ organic, ngủ thì chiếu hoa nệm gấm… Khi con cháu đi du lịch xa gởi chó vào khách sạn chó (animal shelter), bịnh thì vào nhà thương chó (Animal Hospital), có bác sĩ thú y chăm sóc. Tính ra tiền chi phí nuôi con chó còn nhiều hơn tiền già của tôi” Rồi ông ta kết luận: “Sau khi chết, nếu có sự đầu thai, tôi sẽ xin đầu thai làm con chó.”
  
Một ông già ngồi cạnh, cười khẩy và nhắc nhở:
 
– Ông cẩn thận khi xin đầu thai. Phải xin ghi vào sổ là “chó tây” ở trên nước Mỹ mới được. Chứ để lọt vào danh sách “chó ta” mà ở Việt Nam thì bỏ mẹ cuộc đời!
LÊ ĐỨC LUẬN 
(1) Khuyết danh)
(2) Bỏ vào bao bố rồi nhận chìm xuống sông, rạch.
Đi Tìm Cơ May Hạnh PhúcLê Đức Luận
Hạnh phúc là chữ được viết nhiều trong văn học và được ngườì đời thường xuyên nhắc đến. Nhưng khi hỏi: hạnh phúc là gì và do đâu mà có thì chẳng biết trả lời làm sao cho trọn vẹn. Từ xưa đến nay chưa thấy có một định nghĩa phổ quát nào về chữ hạnh phúc được mọi người đồng thuận.
 
Có người bảo: hạnh phúc là sự mãn nguyện một ước mơ, an vui trong cuộc sống;  làngười khác nói: hạnh phúc không có tiêu chuẩn, không do ban phát, không mua bán hay đổi chác mà có. Nó là một trạng thái cảm xúc từ con tim của mỗi cá nhân trong khoảnh khắc làm người ta hài lòng với những gì hiện hữu – nó rất riêng tư và phát sinh từ sự tỉnh thức của tâm hồn… Vậy, xem ra: đi tìm hạnh phúc ở tương lai với những mơ ước hay quay về quá khứ mà quên những giây phút hiện tại thì con người khó lòng bắt gặp hạnh phúc đích thực.
 
Nhớ lại những ngày đầu mới đến Hoa Kỳ, gia đình tôi được văn phòng An sinh Xã hội quận Fairfax, tiểu bang Virginia tìm cho chỗ ở trong khu chung cư đa số là người Mễ, Ấn Độ và dân Phi châu, trong đó có thêm hai gia đình người Việt Nam nữa là gia đình ông Năm Đại Lãnh và gia đình ông giáo Lộc.
 
Trong môi trường có sự khác biệt về ngôn ngữ và tập quán, ba gia đình người Việt chúng tôi tìm đến với nhau trong tình đồng hương – chia sẻ vui buồn và hết lòng giúp đỡ lẫn nhau như anh em ruột thịt. Thời đó, cách nay trên bốn mươi năm, những người Việt Nam tỵ nạn cộng sản đến Mỹ được hưởng những phúc lợi an sinh xã hội khá dồi dào, cộng với tấm lòng bác ái và hào sảng của người dân Hoa Kỳ giúp những người tỵ nạn sớm ổn định đời sống và nhìn thấy tương lai tốt đẹp trên đất nước có nhiểu cơ hội để thực hiện những ước mơ.
 
Ông giáo Lộc nhờ khá tiếng Anh, sau ba tháng định cư, tìm được một chân bán hàng cho tiệm 7-Eleven – làm việc từ 6:00 giờ sáng  đến 2:00 chiều. Sau đó ông vào Đại học Cộng đồng (Community College) học ngành kế toán (accounting). Hai vợ chồng chỉ có một đứa con trai duy nhất, trên bảy tuổi. Khi thằng con được xe buýt đón vào trường, bà Lộc đến làm phụ bếp cho một nhà hàng Việt Nam gần đó – kiếm thêm thu nhập. Sau giờ làm phụ bếp, bà đi học Anh văn (lớp ESL) để chuẩn bị xin học ngành y tá. Trước năm 1975, bà đã là một cán sự y tế điều dưỡng làm việc ở Quân y viện Nguyễn Huệ, Nha Trang, nay sang Hoa Kỳ bà mong muốn được làm công việc mà bà yêu thích. Ở Mỹ học ra nghề y tá không dễ – bà biết, nhưng vẫn nuôi hy vọng.
 
Vậy là vợ chồng ông giáo Lộc đang đi tìm hạnh phúc ở tương lai.
 
Ngược lại, ông Năm Đại Lãnh luôn luôn có vẻ ưu tư.  Những buổi chiều, ngồi trên ban công (balcony) của căn apartment, ở tầng ba, ông nhìn mông lung với ánh mắt đăm chiêu… thật buồn! Ông nhớ về những ngày hạnh phúc ở xóm chài Đại Lãnh. Ông nhớ biển!
 
Mùi xăng nhớt thoát ra từ những chiếc xe vội vã ra vào ở chỗ đậu xe dưới sân khu chung cư – khét lẹt! Làm ông khó chịu! Ông Năm nhớ mùi biển mặn quê ông – sao mà đậm đà! Hít căng buồng phổi vẫn còn thèm cái mặn mòi của hơi nước biển. Ông Năm thường bảo: Ở trong căn chung cư hai phòng này, như chui vào cái hộp, ông cảm thấy tù túng! Ông nhớ căn nhà lộng gió ở làng chài Đại Lãnh. Ôi! Nó mát mẻ làm sao!
 
Cái máy quạt trần, hệ thống điều hoà không khí trong căn chung cư này làm sao sánh được với cái mát mẻ của ngọn gió nam non mỗi sáng thổi về từ núi cao Đèo Cả. Và ngọn gió nồm dìu dịu phảng phất mùi rong biển, thổi nhẹ qua khu rừng dương tạo nên âm thanh vi vút như tiếng sáo diều, có lúc du dương như bản nhạc êm dịu của thiên nhiên ru ngon giấc ngủ vào những buổi trưa hè… Nhiều lần ông Năm tự thán:  Trên đất Mỹ này, khó lòng bắt gặp được ngọn gió nam non hay ngọn gió nồm như ở làng chài Đại Lãnh quê ta!

Ông Năm còn bảo, cái máy truyền hình (TV) ở đây vô dụng đối với ông. Tin tức phát ra tiếng Anh, ông không hiểu! Còn chương trình giải trí với những bản nhạc disco làm ông nhức óc. Đôi khi xem mấy cuốn băng Paris By Night với những bài hát điệu bolero rất “mùi”, ông vẫn thấy không hay bằng nghe giọng hò kéo lưới – mộc mạc nhưng rộn rã  như tiếng lòng ngư phủ kéo lên món quà của biển – những mẻ lưới đầy cá …
 
Nhìn cái tủ lạnh, bên trong chứa thịt cá đông lạnh, ông nhớ đến nồi canh cá liệt – những con cá liệt vừa vớt lên từ biển nấu với cà chua – chỉ  nêm chút muối, mắm và thêm vài cọng hành, ngò… Thế mà ngon tuyệt! Ông cũng thường nói: Cái hamburger không ngon bằng món cá nục kho mặn ăn với cháo trắng vào buổi sáng. Ông nhắc đến những buổi chiều cả nhà quây quần bên lò than hồng, nướng những con cá ồ tươi rói quấn lá chuối, rồi xé ra cuốn với bánh tráng, rau sống chấm nước mắm nhĩ pha ớt, tỏi… Ôi! Nó ăn đứt món gà rán KFC (Kentucky Fried Chicken). 
 
Xem ra, ông Năm đang nhớ về quá khứ và tiếc nuối cái hạnh phúc của những ngày trước năm 1975 ở quê nhà. Hiện tại tất cả thính giác, xúc giác, khứu giác, vị giác của ông chưa quen với phong thổ trên đất lạ quê người. Chỉ còn cái thị giác giúp ông thấy được sự tự do trên đất khách. Tuy vậy, ông luôn tư lự và đôi khi muốn quay về với làng chài Đại Lãnh.
 
Một hôm, tôi nghe ông Năm tâm sự:
 
– Nếu như không có cái ngày “Giải phóng 30-4-1975” thì tôi đâu có sang đây làm gì để đêm đêm đi rửa chén cho nhà hàng, một công việc tôi không thích tí nào; còn bà vợ phải ngồi may những lố áo thun thâu đêm suốt sáng… Tôi muốn trở về với biển, với làng chài Đại Lãnh quê tôi. Nhưng về, chắc gì mấy ông “cách mạng” để tôi sống yên thân với biển. Họ sẽ kết tội những người bỏ nước ra đi như tôi là thành phần phản quốc, sẽ bắt vào tù. Nhớ lại những ngày lên núi chăn dê trong trại cải tạo sau ngày gọi là “giải phóng” mà tởn đến già! Thôi đành sống kiếp tha hương… ông ạ!
 
Tôi hỏi ông Năm:
 
– Nghe kể hồi đó ông chỉ làm nghề chài lưới, không tham gia chính quyền hay quân đội trong chế độ cũ. Tại sao lại bị bắt vào trại trại cải tạo?
 
– Chỉ làm dân mà bị bắt đi cải tạo mới tức chớ! Tréo ngoe như chuyện Phong Thần chỉ xảy ra dưới chế độ Cộng sản. Ông Năm trả lời, rồi kể tiếp:
 
– Trước năm 1975, tôi nhận thằng Báo, con bà hàng xóm nghèo khổ làm con nuôi. Nó mồ côi cha từ lúc lên năm, mẹ con nó đùm bọc nuôi nhau. Khi thằng Báo vừa tròn mười tám tuổi, sợ thằng con bị bắt lính, bà mẹ mới đến tha thiết năn nỉ tôi cho nó theo ghe ra biển để trốn đi quân dịch. Thương tình mẹ góa, con côi, tôi nhận nó làm con nuôi, nhưng trả tiền công đầy đủ như những người bạn chài khác để nó nuôi mẹ già.
 
Khi ghe rời bãi, lênh đênh trên biển cả, không lo bị bắt lính. Khi ghe vào bãi, nếu có bố ráp, nó trốn trong hầm ghe. Thời gian trôi qua, thằng Báo sống bình an bên mẹ già và vui với nghề chài lưới.
 
Bỗng ngày 30-4-1975 ập đến – thằng Báo đổi đời! Sáng hôm đó, nó mang băng đỏ trên cánh tay trái, tay phải cầm loa, hướng dẫn một đám người, đầu đội nón tai bèo, cổ quấn khăn rằn, chân mang dép râu, vai mang súng AK, đi khắp làng chài kêu gọi dân chúng bỏ bãi đến miếu thờ Cá Ông dự lễ “Mừng Ngày Giải Phóng” và nghe chỉ chỉ thị của chính quyền mới.
 
Từ hôm ấy, thằng Báo trở thành “ông quan cách mạng” ngang xương. Nó không còn phải xuống ghe lo chuyện kéo lưới, chở xăng dầu … Công việc của nó bây giờ không còn dùng đến chân tay mà chỉ xử dụng cái tai và cái miệng – cái tai để nghe các chỉ thị, còn cái miệng để loan truyền các chỉ thị của “cách mạng” để dân chúng chấp hành.
 
Một hôm, thằng Báo ghé qua nhà, nói với tôi: “Bây giờ nước nhà được giải phóng, nhân dân ta không còn bị Mỹ, Ngụy kềm kẹp, bóc lột nữa. Nước ta sẽ tiến nhanh, tiến mạnh lên Chủ nghĩa Xã hội, một xã  hội công bằng, không còn cảnh người bóc lột người. Tài sản, vật tư chủ yếu thuộc sở hữu chung của toàn dân, nhân dân sẽ làm chủ đất nước. Trước tiên là phải cải tạo công thương nghiệp, đánh tư sản mại bản, chuyển các tư liệu sản xuất của tư nhân về cho nhân dân và nhà nước quản lý…”
 
Tôi nghe nó nói những tiếng lạ hoắc, không hiểu, nên hỏi: “Tư sản mại bản, tư liệu sản xuất…. là gì vậy mậy?” Nó trả lời: “Trên nói sao, tui nói lại vậy thôi… chứ rạch ròi chữ nghĩa làm chi thêm rắc rối! Cấp trên chỉ thị thế nào thì thi hành thế ấy thôi.  Cụ thể là nay mai các ghe tàu, giàn lưới sẽ sung công đưa vào Hợp Tác Xã, làm ăn tập thể. Cấp trên ra chỉ thị cho các cán bộ địa phương bình chọn và chuẩn bị kiểm kê tài sản của các chủ ghe lớn. Ở xóm chài này, có ba gia đình bị xếp vào hạng tư sản mại bản, chiếm giữ tư liệu sản xuất và bóc lột sức lao động của dân chài. Tía biết ba gia đình đó là ai không?” – “Làm sao tao biết được!” Nó ghé vào tai tôi nói nhỏ: “Tía là một, ông Ba Râu là hai, thứ ba ông Út Trọc. Đây là chuyện bí mật, tui chỉ cho tía biết, tía chớ nói lại với ai, nguy hiểm lắm.”
 
Tôi nghe mà rụng rời tay chân, nhưng cũng cố lấy giọng bình tĩnh nói với nó: “Giỡn chơi sao mầy? Tao đánh lưới hơn mười năm, không dám ăn, dám tiêu mới dành dụm mua được chiếc ghe bầu, bây giờ sung công ngang xương coi sao được mậy? Mầy nhớ lại xem: những bạn ghe, ngay cả với mày, tao có bóc lột ai không? Tao cũng đổ mồ hôi, sôi nước mắt, ra biển kéo lưới như mọi người, mẻ được, mẻ không… Nhưng làm chủ ghe tao phải lo trả tiền công trả cho bạn chài, lúc lời, lúc lỗ… Mày biết quá mà! Có lúc tao sai mày đi vay tiền bên ngoại trả lương cho bạn chài khi biển động lâu ngày để họ có cái ăn. Làm chủ ghe, nếu trời cho thì khấm khá, nếu mất mùa cá, coi như sạt nghiệp, đói cả đám! Chứ bóc lột nỗi gì?”
 
Thằng Báo có vẻ suy tư, hình như nó đang nhớ về quá khứ, nó nói với giọng buồn buồn: “Thì biết vậy, nhưng bây giờ thời kỳ cách mạng, phải đổi mới tư duy. Tài nguyên thiên nhiên phải thuộc về sở hữu của toàn dân. Cá trên biển bây giờ cũng là của nhân dân đó. Cấp trên giải thích rằng: Các chủ ghe, có tư liệu sản xuất, lợi dụng sức lao động của dân chài, ra biển bắt cá về bán làm giàu cho riêng mình. Bây giờ bắt họ phải hợp tác với nhân dân làm ăn tập thể, làm theo năng suất, hưởng theo nhu cầu! Như thế mọi người mới tìm được hạnh phúc dưới chế độ xã hội chủ nghĩa…”
 
Nghe nó nói mà ứa gan, tôi bảo: “Chim trời, cá nước là của nhân dân, vậy nhân dân ra biển hốt về, làm giàu… tại sao bắt các chủ ghe phải hợp tác với nhân dân, mà cái ghe đâu phải từ trên trời rơi xuống hay của nhân dân đóng góp. Nó là mồ hôi, nước mắt, là sự chắt chiu, cần kiệm bao năm mới mua được chiếc ghe. Bây giờ, bắt vào hợp tác xã, ăn đều chia đủ, là nghĩa lý làm sao vậy mầy?
 
Thằng Báo im lặng một lúc, rồi nói: “Cấp trên bảo tui về đả thông tư tưởng, vận động để tía xung phong tự nguyện hiến ghe cho Hợp Tác Xã, như thế là giác ngộ cách mạng sẽ được tuyên dương và ưu đãi…”
 
Tôi trả lời thẳng thừng: “Tao chẳng cần ai tuyên dương, ưu đãi. Tao chỉ mong yên phận làm ăn với nghề chài lưới như tao với mày đã làm ăn lúc trước.”
 
Thằng Báo nói câu cuối cùng trước khi ra về: “Lúc này: khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống! Tùy tía suy nghĩ…”
 
Cái thằng ngày nào có vẻ khờ câm, ít nói. Bây giờ, mới theo “cách mạng” có mấy tháng mà nó nói những câu dạy đời y chang mấy ông cán bộ Việt Minh lão luyện đã dạy tôi cách sống dưới thời “chín năm kháng chiến” ở vùng Liên khu 5.
 
Ngẫm ra “cái nghề làm cách mạng” cũng dễ học, mà sướng tấm thân. Bao nhiêu năm nay, các cán bộ cộng sản chỉ cần học thuộc năm, bảy câu căn bản, rồi đi truyền bá, vận động cho dân chúng làm, cán bộ cách mạng chỉ huy, nhà nước quản lý. Thế là trong ấm, ngoài êm… Ai chống đối thì chụp cho cái mũ “phản động” cho vào tù. Thế là hết cãi…
 
Ông Năm nhấp ngụm trà, rồi kể tiếp cuộc “đổi đời” của dân xóm chài sau ngày “giải phóng”:  
– Hai ngày sau khi thằng Báo đến nhà vận động tôi xung phong đem ghe hiến cho Hợp Tác Xã, tôi nghe tin ông Tư Râu nhảy lầu tự tử.
 
Trong xóm chài này, chỉ có nhà ông Tư Râu xây gạch hai tầng. Ông ở nhà mới này hơn một năm, thì quân “giải phóng” vào. Họ “mượn” tạm căn nhà hai tầng – tầng trên dành cho bộ chỉ huy bộ đội biên phòng; tầng dưới làm trụ sở Ủy ban Nhân dân xã. Họ cho vợ chồng ông ta ở căn chái sau bếp. Còn hai chiếc ghe bầu và vựa cá của ông, họ kiểm kê và tịch thu tất. Họ bảo: ông Tư Râu là thành phần tư sản mại bản gộc, ác ôn, bóc lột, ức hiếp dân chài! Nhưng qua chính sách khoan hồng của đảng và nhà nước, chỉ tịch thu tài sản, không bắt vào tù!


Có lẽ ông Tư Râu chưa được ai “đả thông tư tưởng…” nên ức quá! Đêm khuya vắng vẻ, ông lẻn lên lầu hai, nhảy xuống tự tử. 
 
Thằng Út Trọc, hay tin ông Tư Râu tự tử, tối hôm đó nó lén lấy ghe ra khơi, dông luôn…
 
Thế là “thằng khôn” đã tự tử, “thằng biết” đã dông ra nước ngoài, còn lại “thằng dại” là tôi bị bắt vào trại tù cải tạo một cách lãng xẹt. Chưa chết là may.
 
Tôi kể ông nghe chuyện họ bắt tôi vào tù như thế này có oan không:
 
– Sau cái chết của ông Tư Râu và thằng Út Trọc biến mất, chỉ mình tôi là chủ ghe lớn còn bám trụ, nên dân xóm chài xôn xao bàn tán, rồi đến hỏi ý kiến của tôi. Chính quyền nghi tôi có âm mưu sách động dân chài chống lại chủ trương, đường lối của “cách mạng”, nên họ mời tôi ra trụ sở Ủy ban Nhân dân xã, hạch hỏi đủ điều. Cuối cùng họ bảo tôi ký giấy hiến chiếc ghe bầu và vào Hợp Tác Xã. Tôi không chịu ký. Thế là, họ không cho tôi về nhà, đưa thẳng vào trại cải tạo.
 
Trại này có khoảng ba trăm sĩ quan và viên chức của chế độ cũ. Ngày đầu tiên vào trại, một tên cán bộ dẫn tôi đến gặp tên trưởng trại. Tên này có vẻ hòa nhã với tôi. Mở đầu hắn bảo: “Tôi biết anh không phải là thành phần có nợ máu với nhân dân, cũng không thuộc phần tử phản động, nhưng anh chưa thông suốt đường lối, chính sách của cách mạng, nên chính quyền địa phương gởi anh vào đây để học tập cải tạo tư tưởng, khi nào tiến bộ và thông suốt đường lối chính sách của cách mạng thì chúng tôi cho anh về sum họp với gia đình, làm ăn bình thường và giúp ích cho xã hội.” Tôi hỏi lại hắn: “Vậy, tôi là người tù không có tội?” – “Đừng nói thế, đây là Trại Cải Tạo.”
 
Hắn trả lời, rồi nói tiếp: “Tạm thời, tôi bố trí cho anh ở cái chòi, gần chuồng dê, tự do đi lại trong khuôn viên của trại. Công việc của anh là chăn mấy chục con dê. Sáng mở cổng cho chúng nó ra ngoài kiếm ăn, chiều lùa chúng vào chuồng. Tối anh ngủ luôn ngoài chòi, không phải vào buồng giam như đám ngụy quân, ngụy quyền. Loài dê khôn lắm, chúng nó sống theo bầy đàn – sáng ra rừng kiếm ăn, tối tự động trở về chuồng – anh chỉ trông chừng, theo dõi con “dê chúa” là con dê đầu đàn, đang ở đâu thì bầy dê ở đó, chứ không phải chăn dắt từng con.”
 
Chấm dứt cuộc gặp gỡ, hắn nhìn tôi cười đểu: “Mong anh tìm được ‘cái thú’ chăn dê mà an tâm học tập cải tạo.”  Hắn bấm chuông gọi tên vệ binh dẫn tôi ra ngoài. Từ hôm đó, tôi bắt đầu nếm trải cuộc sống của người tù cải tạo mà Việt Cộng gọi là “trại viên”.
 
Chúng nó bắt tôi chăn dê gần ba năm thì thả. Không phải do học tập tiến bộ đâu – có học tập cái khỉ khô gì đâu mà tiến bộ, suốt ngày chỉ có chăn dê! Nhưng nhờ hai cây vàng của bà xã tôi “cúng” cho thằng trưởng trại, qua sự móc nối của thằng Báo.
Tôi được về nhà thì mọi việc đã an bài- coi như mất trắng! Nhớ lời thằng Báo: “Thời buổi này khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống”. Cái “biết” ở đây là “biết không sống nổi” với đám “cô hồn Việt Cộng,” Thế là, tôi tìm cách đưa vợ con “dông” sớm!
 
Ông Năm ngưng một chút, rồi có vẻ hóm hỉnh, nhìn tôi, nói tiếp:
 
– Chuyện đói khổ trong tù, chuyện vượt biên nguy hiểm, ông đã trải qua và rành sáu câu… hơn nữa đã có nhiều người nói đến rồi, khỏi kể! Nhưng chuyện chăn dê của tôi trong trại cải tạo rất ly kỳ và hấp dẫn. Nếu ông muốn nghe, tôi sẽ kể. Không hay, không lấy tiền…
 
Tôi cười, gật đầu! Chờ đợi lắng nghe… Ông Năm bắt đầu:
 
– Ôi!  Cuộc đời “dê chúa”, nó sướng làm sao! Trông nó vừa uy nghi, vừa  ngộ nghĩnh và có lắm chuyện ly kỳ… 
 
Nói đến đây thì bà Năm xuất hiện, bưng lên hai tô cháo trắng với đĩa cá nục kho mặn, mời chúng tôi ăn sáng. Ông Năm ngưng ngang câu chuyện “dê chúa” và chuyển đề tài. Ông tỏ ra đạo mạo có vẻ gia trưởng, nói với Bà Năm:
 
– Cảm ơn bà, chỉ có bà kho cá nục là tôi chịu…
 
Rồi xoay sang tôi: – Mời ông ăn cháo. Cháo trắng ăn với cá nục kho mặn do bà nhà tôi kho, ông sẽ nhớ đời…
       
Có lẽ được khen, bà Năm khoái chí đem hết chuyện nhà ra kể, hết chuyện này sang chuyện nọ. Tôi thì nóng lòng, mong bà rút lui, để được nghe tiếp chuyện con “dê chúa”. Nhưng bà nói miết, nào là: “Ngày trước ông Năm dụ dỗ bà đẻ nhiều con để khi ra biển ‘đông có mày, tây có tao’. Bây giờ sang đây, người ta chỉ thuê chung cư một phòng là đủ, nhà bà phải thuê đến ba phòng, trả tiền mệt nghỉ!” Rồi bà than: “Ngày trước bà vá lưới dưới gió mát trăng thanh, sướng hơn bây giờ, ngồi may những lố áo thun.” Cuối cùng bà tiết lộ: “Tháng tới, gia đình bà sẽ dọn xuống Louisiana làm công cho thằng Út Trọc. Thằng Út Trọc mới gọi điện thoại… bảo gia đình bà, xuống dưới đó, nó bao ăn, bao ở, trả lương gấp đôi, gấp ba số tiền ổng đi rửa chén và tôi may vá. Bây giờ nó giàu lắm, có đến hai chiếc tàu đánh cá.”
 
Bà Năm vừa dứt câu chuyện, cũng là lúc đến giờ tôi đi làm ca chiều. Tôi chào ra về mà lòng cứ tiếc – chưa nghe hết câu chuyện ly kỳ về con “dê chúa”. Một tháng sau, gia đình tôi và gia đình ông giáo Lộc làm bữa tiệc tiễn đưa gia đình ông Năm Đại Lãnh về với biển Louisiana.
 
Thời gian thấm thoát trôi qua, mười mấy năm sau khi gặp lại, tuy mỗi người một cảnh, nhưng cả ba gia đình chúng tôi đều bằng lòng với cuộc sống hiện tại và cảm thấy hạnh phúc khi những ước mơ đã thành hiện thực.
 
Vợ ông giáo Lộc tốt nghiệp y tá, được vào làm ở bệnh viện Inova Fairfax Hospital, lương cao. Ông giáo Lộc lấy bằng CPA (Certified Public Accoutants) được sở thuế Liên Bang tuyển dụng. Thằng con trai theo gót mẹ học ngành Y, ra bác sĩ. Cuộc sống coi như thuộc vào tầng lớp trung lưu ở Mỹ.
 
Còn tôi, sau một thời gian làm cu li, dành dụm ít tiền mở tiệm giặt ủi – kiếm sống được và đủ tiền nuôi hai đứa con ăn học thành tài.
 
Riêng gia đình ông Năm, có đuợc cơ may, làm ăn khấm khá nhất. Ông Năm thỏa mãn ước mơ trở về với biển và làm giàu rất nhanh. Lúc đầu xuống Louisiana, làm công cho thằng Út Trọc trong hai năm, sau đó ông ra riêng. Nhờ sự giúp đỡ của Út Trọc ông mua được một chiếc tàu đánh cá, hai năm sau mua chiếc thứ hai. Bốn đứa con trai, ngày nào còn là mối âu lo của ông bà Năm, làm sao nuôi nổi bốn đứa con ăn học. Bây giờ, hai đứa con lớn, theo nghề của cha, mỗi đứa trông coi một chiếc tàu đánh cá; thằng con thứ ba tốt nghiệp kỹ sư cơ khí, mở hãng sửa tàu; thằng út học ra bác sĩ.
 
Trông bốn đứa con của ông bà Năm làm nên sự nghiệp, tôi nghĩ đến chuyện “tứ quý”, “ngũ long”. Ông bà mình ngày xưa thường bảo: vợ chồng đứa nào sinh năm đứa con gái liên tiếp – gọi là ngũ long, hay bốn đứa con trai liên tiếp – gọi là tứ quý thì sẽ làm ăn nên nổi. Nay ở Mỹ mà khuyên con cháu như thế, chắc chúng nó sẽ lắc đầu.
 
Mùa hè năm rồi, gia đình tôi và gia đình ông giáo Lộc xuống Louisiana dự lễ mừng thượng thọ tám mươi của ông Năm, do các con ông tổ chức rất xôm tụ. Trong tiệc vui, tôi hỏi ông Năm:
 
– Bây giờ chính quyền Việt Nam không còn coi những người bỏ nước ra là phản quốc nữa mà coi như “khúc ruột ngàn dặm”. Họ còn khuyến khích những người đang ở nước ngoài về thăm quê hương, hoặc đem tiền về đầu tư làm ăn, không làm khó dễ nữa… Vậy ông có tính về thăm quê hương một chuyến “trối già” không?
 
Ông Năm không “gật!” không “lắc!”  Chỉ nói một câu nghe như lạc đề, nhưng ngẫm ra thấy thấm:
 
– “Khúc ruột ngàn dặm” mới nghe thấy “mùi”, nghe lâu thấy “đểu”, nghe hoài thấy “thúi” vì khúc ruột có thơm bao giở? Vậy chớ vội nghe “những gì Cộng sản nói …”
 
Ông Năm nói tiếp:
 
– Bây giờ tôi mới hiểu tại sao trước đây dân ta liều chết bỏ quê hương có “chùm khế ngọt” để tìm đến cái xứ mà mấy ông Việt Cộng thời đó bảo rằng: “cái nước tư bản sắp dãy chết” này.
 
Tôi cảm thấy, ông Năm vẫn còn ấm ức về sự vừa bị mất của vừa phải đi tù cải tạo mấy năm trời, sau ngày “giải phóng”. Bấy lâu nay, có lẽ nó chìm trong ký ức, bây giờ trổi dậy, khiến ông Năm có những lời cay cú trong tiệc vui.
     
Để hạ nhiệt, tôi nhắc cái thú chăn dê trong trại cải tạo mà ông đã từng khoe với tôi là rất ly kỳ và hấp dẫn … Tôi bảo:
 
– Ông còn nợ tôi câu chuyện về con “dê chúa”.
 
Ông Năm cười khì khì:
 
– Chuyện đó sẽ kể, khi nào chỉ có hai ta.
 
Ông Năm vui trở lại với niềm hạnh phúc đang có…
 
 
Lê Đức Luận
(Tháng 4- 2025)    
Kể Chuyện Những Dòng SôngLê Đức Luận 
               
Dòng sông! Nó hiện hữu trong thiên nhiên từ khi khai thiên lập địa như muôn thứ đã có trên quả đất này – tự nó ngàn đời không thay đổi – gom nước từ đầu nguồn rồi khơi dòng chảy ra biển cả. Con người đặt cho nó cái tên là Dòng Sông. Khi thêm vài chữ kèm theo với dòng sông như: dòng sông êm đềm, thơ mộng hay là dòng sông oan nghiệt, ô nhục… Các thi sĩ, văn sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ dựa vào đó mà “thổi vào” dòng sông “cái linh hồn” và làm ra những tác phẩm rung động lòng người.


Nhưng có một chữ đi kèm với dòng sông – chữ “định mệnh”- đã biến dòng sông thành chỗ riêng tư. Dòng Sông định mệnh chính nó đã ấp ủ và nuôi dưỡng con người hay một cơ duyên nào đó đưa đẩy con người đến với nó. “Dòng sông định mệnh”- nơi con người đã từng gắn bó với nó và cho họ những cảm xúc dạt dào. Và chính những con người đó mới nói lên hay tạo được tác phẩm tuyệt vời. Các văn nhân, thi sĩ khó lòng nói thay hay chế tác hư cấu. 


Trong đời, ai cũng có những kỷ niệm về một dòng sông. Có những dòng sông lưu trong ký ức, nhưng rất ít được gọi là “dòng sông định mệnh”. Với tôi, có ba dòng sông lưu trong ký ức và hai dòng sông tôi đã sống chết với nó do định mệnh an bài. Tôi gọi đó là “dòng sông định mệnh”.


Khi thầy, cô giáo dạy tôi tập đọc và học thuộc lòng những bài văn của các nhà văn Thanh Tịnh, Nguyễn Tuân miêu tả dòng sông Hương ở Huế – êm đềm, thơ mộng – dòng nước trong veo, phẳng lặng như tờ… Hỉnh ành đó đã đi vào ký ức của tôi từ thuở đầu đời.


Khi lên Trung học, học sinh phải học hai ngoại ngữ: Pháp văn và Anh văn. Sách giáo khoa thời bấy giờ có Cours de Langues (gồm 4 quyển) cho Pháp văn; English For Today (gồm 4 quyển) cho Anh văn. Nhờ mấy quyển sách này mà tôi biết dòng sông Seine chảy qua thành phố Paris nước Pháp và dòng sông Potomac ôm ấp thủ đô Washington D.C. của nước Mỹ. Thời đó, nhìn trên bản đồ, thấy hai dòng sông này cách xa vạn dặm, tôi như đứa trẻ nhìn trăng, thấy chú Cuội ngồi dưới gốc cây đa và không nghĩ có một ngày mình sẽ đặt chân đến những nơi này. Nhưng hai dòng sông đó đã đi vào ký ức, vì tôi cảm nhận cái nên thơ và lãng mạn của nó qua các bài văn. Mấy mươi năm sau, không ngờ, có một dòng sông đã trở thành “Dòng Sông Định Mệnh” của đời tôi. Đó là dòng sông Potomac. Còn một dòng sông đã đi vào ký ức, khi tôi có ý thức về chính trị. Đó là dòng sông Bến Hải – một dòng sông hiền hòa bỗng trở thành “dòng sông oan nghiệt” – nó chia đôi đất nước tôi và lịch sử Việt Nam ghi thêm một trang ô nhục – khiến tôi ngậm ngùi!


Đã nói về ba dòng sông đã đi vào ký ức. Bây giờ, tôi kể chuyện hai dòng sông định mệnh: Dòng sông Đà Rằng ở quê tôi và dòng sông Potomac trên đất khách. Không biết tự bao giờ, khi tôi được sinh ra đời đã có con sông Đà Rằng. Dân quê ở thượng nguồn gọi nó là con sông Ba, ở hạ lưu người ta gọi là sông Đà Rằng và sách địa lý cũng ghi như thế.


Tôi gắn bó với dòng sông Đà Rằng trên hai mươi năm và có “một trời” kỷ niệm… Kể sao cho hết cái thích thú của những lần tắm sông cùng lũ nhóc trong làng vào những buổi trưa hè… Mùa hè nước cạn, trong veo… phơi ra bờ cát mịn. Lũ trẻ chúng tôi tha hồ bơi lội, có lúc ra giữa lòng sông. Khi nắng lên cao, lũ trẻ men theo bờ cát vào soi (1) nhổ những cây rau đắng mọc dại ven bờ về cho mẹ phơi khô để nấu chè rau đắng – hương vị nồi chè rau đắng rất đặc biệt – chỉ quê tôi mới có. Khi nào có dịp ghé quê tôi, tôi sẽ mời bạn thưởng thức chén chè rau đắng.


Đó là chuyện hiền hòa, dễ thương của dòng sông Đà Rằng vào mùa hạ. Nhưng sang mùa đông nó “cuồng nộ” đến phát sợ – nước đục ngầu từ nguồn đổ về cuồn cuộn, chảy xiết… cuốn trôi mọi thứ ven bờ. Nhưng sau cơn “cuồng nộ”, dòng sông phủ lên những cánh đồng đất mịn phù sa mầu mỡ, giúp cho dân làng có một vụ mùa bội thu năm tới.


Còn tôi có cái thú vui vào mùa bão lũ là theo cha đặt lờ bắt cá. Các loại cá như cá rô, cá trắng, cá tràu (cá lóc) ngược dòng nước lênh láng khắp cánh đồng tìm nơi đẻ trứng. Chúng nó dại khờ chui vào những cái lờ bóng bẩy mà cha tôi đặt chỗ nước chảy. Ca dao có câu: “Cá trong lờ đỏ hoe con mắt/ Cá ngoài lờ ngúc ngoắc muốn vô”. Tôi không biết diễn tả làm sao cho hết cái “khoái” khi đi “giở lờ” (nhấc cái lờ khỏi mặt nước) – năm bảy con cá rô đỏ hoe con mắt – rùng rùng trong lờ! Cha tôi cười, còn tôi reo lên khoái chí, mở nắp giỏ cho cha đổ cá vào. Tôi sống, tôi vui với dòng sông Đà Rằng trong thời niên thiếu.

Năm hai mươi tuổi, tôi xa nó để vào Sài Gòn tiếp tục việc học hành, rồi lên Đà Lạt gia nhập quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Từ đó, đời tôi nổi trôi theo vận nước với bao gian truân và nghiệt ngã – mười năm lính, bảy năm tù cải tạo làm hao gầy trí lực. Dòng sông Đà Rằng chỉ còn trong hoài niệm. Nhưng khi ai hỏi: “Mi ở xứ mô?” – tôi ví von rằng: “Tao dân Núi Nhạn, Sông Đà.” (2)    


Năm 1975, lịch sử sang trang, tưởng rằng: tôi sẽ được trở về với dòng sông cũ, bến đò xưa… Tôi sẽ đứng trên chiếc cầu dài nhất miền Trung, ngắm dòng sông quen thuộc, trông những cồn cát ven sông phủ lên màu xanh của soi dưa, ruộng mía… Xa bờ là xóm làng dân cư đông đúc và tưởng rằng tôi sẽ được sống với hình ảnh êm đềm nơi quê hương yêu dấu. Nhưng than ôi! Tôi đã bị lưu đày nơi rừng sâu, núi thẳm… rồi biệt xứ ở vùng Thượng du rồi Trung du Bắc Việt gần bảy năm trường. Ngày được thả về, đời tôi coi như “tàn trong ngõ hẹp…” Đời chỉ “tàn” chứ chưa “tan” trong ngõ hẹp! Nên giờ đây tôi còn có dịp viết những dòng tâm cảm gởi quí bạn đọc chơi.


Năm 1986, gia đình tôi được nguời em vợ bảo lãnh sang Canada, sau đó tôi xin qua Mỹ – định cư ở Virginia – tính đến nay đã hơn bốn mươi năm.
Trước khi rời Việt Nam đi Canada, tôi về quê thăm mẹ tôi, và ra nhìn con sông Đà lần cuối. Tôi có già đi, nhưng dòng sông vẫn thế – nó không già đi hay trẻ lại – nước vẫn lững lờ trôi… Không biết nó có buồn khi tôi xa nó? Nhưng lòng tôi cảm thấy ngậm ngùi! Ai cũng biết lý do tại sao, sau năm 1975, nhiều người Miền Nam bất chấp hiểm nguy, liều thân sống chết: vượt biên, vượt biển hay tìm mọi cách thoát ra nước ngoài, mặc dù trong lòng vẫn đau đáu với quê hương.    


Từ ngày được định cư ở Virginia, ngoài việc tìm sinh kế nuôi sống bản thân và gia đình, tôi thường tham gia sinh hoạt cộng đồng để tìm nguồn an ủi và hơi ấm đồng hương. Khi cuộc sống căng thẳng, tôi tìm thư giãn ở những nơi có cảnh đẹp sông, hồ… để chụp ảnh. Và tôi đã bắt gặp dòng sông Potomac.
Khi mới đến Virginia còn nhiều bỡ ngỡ, một người bạn thân đã định cư ở đây từ năm 1975, “đãi” gia đình tôi một chuyến “du ngoạn” trên sông Potomac bằng du thuyền. Du thuyền Spirit khởi hành từ National Harbor (D.C.) ngược dòng sông Potomac đến ngọn đồi thoai thoải Mount Vernon, một khu trang trại rộng lớn, có ngôi nhà trắng, mái ngói đỏ nổi bật ở lưng đồi nhìn xuống dòng sông thơ mộng… hiện tại đã trở thành di tích lịch sử, nhưng trước đây là nhà ở của George Washington, vị Tổng Thống đầu tiên của Hoa Kỳ đã được lịch sử lưu danh là “Cha già dân tộc”.


Du thuyền rời bến khoảng nửa giờ, tôi ngây ngất với cảnh đẹp hai bên bờ sông – những cây hoa anh đào khoe sắc, in bóng lung linh trên dòng nước trong xanh… xa xa là những ngôi nhà cổ kính núp dưới bóng cây cổ thụ cho ta một cái nhìn thoáng đãng và không gian tươi mát. Quay nhìn phía sau là cây cầu vòm đá cổ kính, xa mờ là những tòa kiến trúc đầy kiêu hãnh như Đài tưởng niệm Washington (Tháp Bút Chì), Tòa nhà Quốc Hội… Ôi! Chưa đầy ba trăm năm lập quốc mà Hoa Kỳ đã tạo được những kỳ tích phi thường.


Khi đang say mê nhìn cảnh đẹp ven sông, bỗng trong đầu tôi thoáng qua ý nghĩ về lai lịch của dòng sông Potomac. Nó là một chứng nhân lịch sử – từng in dấu chân của những Tổ Phụ lập quốc Hoa Kỳ. Nước của dòng sông này đã từng hòa với máu của những anh hùng trong cuộc chiến giành độc lập từ đế quốc Anh để đất nước Hoa Kỳ có ngày Độc lập: July 4, 1776. Và nó cũng từng là lằn ranh sinh tử cuả những người lính Bắc- Nam trong cuộc nội chiến (1861- 1865). Thế nhưng giờ đây, dòng sông Potomac hiền hòa ôm ấp mọi cư dân của đất nước, không phân biệt màu da hay chủng tộc. Nó trở thành biểu tượng của sự hòa hợp và là một phần linh hồn tổ quốc Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ. 


Không phải mình tôi khám phá ra cái kỳ diệu của dòng sông Potomac mà còn có những người đồng cảm. Hãy nghe thi sĩ Phạm Cao Hoàng làm thơ:


Khi dừng lại bên dòng Potomac
em bên tôi vẫn rất dịu dàng
gió lồng lộng cả một trời Đông Bắc
tóc em bay trong nắng thu vàng. 

và như thế mình đi và đã đến
mình đã tìm và gặp được dòng sông
tôi ngồi xuống để nghe sông hát
và đứng lên ôm lấy mặt trời hồng. 

và như thế mình đi và đã đến
đã bên nhau thủy tận sơn cùng


tôi nằm xuống để nghe đất thở
tạ ơn đời độ lượng bao dung.
 
khi dừng lại bên dòng Potomac
tôi và em nhìn lại quê nhà
buồn hiu hắt thương về chốn cũ
phía chân trời đã mịt mù xa.


Và đọc một vài đoạn trong bài thơ “Khi qua sông Potomac” của Nguyễn An Bình:


Chiếc cầu nổi hai bên bờ Potomac
Cây vẫn xanh màu lá vẫn dịu dàng
Tôi qua đó nghe dòng sông tự hát
Khúc tình ca gởi tặng kẻ lang thang …


Em ngồi lại cùng tôi bên dòng Potomac
Để cùng nhau nghe sóng kể chuyện lòng
Ôi nước Mỹ đất mênh mông đến vậy
Sao nặng tình thao thức một dòng sông. 


Đấy, dòng sông Potomac đầy tình tự và nên thơ… Nếu bạn ở phương xa, có dịp đến thăm Vùng Hoa Thịnh Đốn (thường được hiểu bao gồm: Thủ đô Washington D.C. và hai Tiểu bang Maryland và Virginia) chớ bỏ qua một chuyến du thuyền trên sông Potomac. Bạn cũng có thể ngắm cảnh đẹp dòng sông từ các bãi “đậu xe vọng cảnh” (outlook) dọc bên đường George Washington Memorial Parkway – một con đường đẹp nhất ở Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn – bắt đầu từ Beltway I- 495, exit 43 chạy đến Mount Vernon, nơi có ngôi nhà của Tổng Thống George Washington.


Vào mùa xuân khoảng đầu tháng Tư, hoa anh đào nở rộ – khoe sắc hồng khắp lối; vào cuối mùa thu lá vàng óng ả suốt dọc con đường. Lái xe trên con đường này, bạn sẽ cảm thấy như mình đang lạc vào chốn thiên thai. Không là thi sĩ, bạn cũng có thể làm vài câu thơ…


Nếu bạn thích bộ môn nhiếp ảnh, hãy chọn bên này bờ sông Potomac, gần cầu Key làm nơi đặt máy – lấy dòng sông làm tiền cảnh, ống kính thu hình hướng về: cầu Key, lăng Tổng Thống Abraham Lincoln, xa hơn là chóp đài tưởng niệm Washington (Tháp bút chì). Thế là bạn sẽ có tấm hình ghi lại được 1/3 phong cảnh biểu tượng cho Thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Nếu bạn đến vào dịp Lễ Độc Lập July 4, chớ quên ra bờ sông chờ chụp cảnh bắn pháo bông. Ôi! Từng chùm pháo hoa phản chiếu trên mặt sông… Bạn sẽ có tấm ảnh nghệ thuật chụp phong cảnh tuyệt vời. 


Tôi vừa viết mấy dòng chấm phá cảnh đẹp của dòng sông Potomac. Bây giờ xin nói thêm những điều kỳ diệu ven sông. Chuyện hình thành và phát triển cộng đồng người Việt vùng Hoa Thịnh Đốn đã được nhà văn Nguyễn Minh Nữu viết khá chi tiết qua bài”Làm báo ở Washington, D.C.” được phổ biến khá rộng rãi trên mạng. Ở đây, tôi chỉ thêm vào cái tình người và sự đóng góp tài năng của cư dân nơi này đã làm “vẻ vang dân tộc Việt”.

Mặc dù dân số đông hàng thứ ba sau California và Texas – khoảng trên một trăm ngàn người – nhưng không thiếu “anh hào – tao nhân – mặc khách” đã được vinh danh như: khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, chính trị gia Hùng Cao; doanh nhân thành đạt chắc có nhiều, nhưng còn ẩn danh – “giả dạng thường dân”. Chỉ có triệu phú Lê Thiệp – chủ tiệm phở 75 lộ diện rõ ràng. Còn văn nhân, thi sĩ thì quá nhiều kể ra không xuể.


Đặc biệt, mới đây – ngày 25 tháng Tư năm 2025, Đại học George Mason ở VA, đã đặt tên hai người gốc Việt cho trường dạy Kỹ Thuật Điện Toán. Đó là vợ chồng ông bà Long Nguyễn và Kimmy Dương. Hai ông bà này đã tài trợ hai chục triệu đô la cho Đại học George Mason.   


Tình người ở đây ôn hòa, đằm thắm… ít có phe đảng chống đối nhau ra mặt như ở Cali. Tệ nạn xã hội có xảy ra nhưng không nhiều như các cộng đồng sắc dân khác. Việc học hành và thành đạt của con em người Việt ở đây đạt tỷ lệ khá cao. Trường Đại học rất nhiều nhưng con em người Việt thường chọn các trường: George Mason University, University of Maryland, Howard University, Virginia Tech, Marymount Unversity, Johns Hopkins University, Georgetown University, George Washington University…


Đặc biệt, tôi không thấy có sự kỳ thị chủng tộc trong học đường. Đó là điều tôi an tâm và vui sống ở vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn suốt bốn mươi năm nay.
Bốn mươi năm được sống trong bình an, tự do và hạnh phúc, nhìn thấy tương lai con cháu rộng mở. Đó là ân huệ của cuộc đời.


Nhưng tôi không thể quên cội nguồn dân tộc. Tôi luôn ray rứt nghĩ về thân phận con người và vận nước nổi trôi. Nếu như không có ngày 30.4.1975 oan nghiệt, chắc chắn tôi đã không có mặt nơi đây, tôi đã sống với quê hương yêu dấu, với truyền thống tốt đẹp và hào hùng của dân tộc Việt Nam.


Nếu như ngày ấy, những người lãnh đạo guồng máy chính trị ở Việt Nam sáng suốt và có tấm lòng nhân đạo thì sẽ không có cảnh gần năm trăm ngàn người chết trên biển cả, trong rừng sâu trên đường vượt biên, vượt biển – tìm sự sống trong cái chết! Và cũng không có trên ba triệu người Việt lìa bỏ quê hương, sống lưu lạc khắp năm châu, trong đó có tôi.


Đôi khi tôi đọc những sử liệu viết về cách giải quyết chiến tranh và các vấn đề hậu chiến trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ (1861-1865) giữa những người quân tử – chỉ vài chi tiết nhỏ nhưng mang tính nhân văn, làm tôi ngưỡng mộ. 

Chuyện rằng: “Khi tướng Robert Edward Lee, Tư lệnh Liên quân miền Nam quyết định đầu hàng, ông viết lá thư riêng gởi cho tướng Ulysses S. Grant, Tư lệnh Liên quân miền Bắc, yêu cầu thu xếp cuộc họp mặt. Tướng Grant nhận được thư hết sức vui mừng và bỗng nhiên thấy hết căn bệnh nhức đầu kinh niên đã hành hạ ông. Trưa ngày 9 tháng 4 năm 1865, tướng Lee cùng một đại tá tùy viên cỡi ngựa vượt qua phòng tuyến đến điểm hẹn tại làng Appomattox Court House, Virginia. Hình ảnh ghi lại – tướng Lee đi qua đoàn quân nhạc của lính miền Bắc thổi kèn chào đón.


Vị Tư lệnh miền Bắc thắng trận đã ra lệnh nghiêm cấm các sĩ quan và binh sĩ trực thuộc không được vô lễ với vị tướng Tư lệnh miền Nam bại trận. Và khi hay tin miền Nam đầu hàng, quân sĩ miền Bắc định bắn đại bác chào mừng. Tướng Grant ra lệnh ngưng ngay và huấn thị: “Chiến tranh đã kết thúc, giờ đây họ là đồng bào của chúng ta, chúng ta không nên reo mừng trên nỗi đau khổ của họ. Hai bên không còn là kẻ thù.”


Khi đắc cử tổng thồng thứ 18 của Hoa Kỳ, tướng Grant tâm sự: “Lúc ấy, tôi rất ngại ngùng và hổ thẹn khi nói đến chữ đầu hàng với tướng Lee.” Câu chuyện được kể tiếp: Khi tướng Grant ngại ngùng mở lời thì tướng Lee hối thúc. Tướng Grant lấy bút viết các điều thỏa ước: “Quân lính miền Nam phải giải giới, tước bỏ khí giới và quân dụng; không bị coi là phản quốc và được trở về nguyên quán sinh sống như ngưòi dân bình thường.”


Tướng Grant trao cho tướng Lee xem điều thỏa ước. Mặt tướng Lee tươi hẳn lên và phát biểu: “Như vậy là tốt cho mọi người, nhưng thêm hai yêu cầu: Cho phép binh lính miền Nam mang lừa, ngựa về để sử dụng trong nông trại vì đây là tài sản riêng của họ đã mang theo khi gia nhập quân đội và xin cung cấp lương thực cho hơn một ngàn tù binh miền Bắc tôi đang giam giữ và các binh sĩ của tôi cũng đang đói.” Tướng Grant đồng ý ngay và ra lệnh xuất 25 ngàn khẩu phần ăn. Tướng Grant hỏi: “Như vậy đủ chưa?” Tướng Lee trả lời: “Thưa Đại tướng, như thế là quá đủ.” Nói xong tướng Lee đứng dậy bắt tay tướng Grant, chào mọi người rồi bước ra khỏi phòng họp. Bên ngoài các sĩ quan, binh sĩ miền Bắc đứng nghiêm đưa tay chào kính cẩn.
Sau này, khi nói đến cuộc nội chiến Hoa Kỳ và bản thỏa ước chấm dứt chiến tranh người ta thường bảo: “Văn bản đầu hàng là một thỏa hiệp của những người quân tử – The Gentlement’s Agreement.” Đây là niềm hãnh diện cho con dân Hoa Kỳ mỗi khi nhắc nhớ đến cách hành xử của cha ông họ trong cuộc nội chiến và là bài học cho hậu thế cách làm người văn minh, quân tử.


Thêm một tấm gương của người quân tử – Thống tướng Douglas MacArthur của Hoa Kỳ. Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh tối cao của lực lượng Đồng minh (SCAP) (3) và trở thành người có quyền lực cao nhất tại Nhật lúc bấy giờ. Với tinh thần thượng võ, MacAthur đã cho binh sĩ các cấp của Nhật Bản về với gia đình – không bị tù tội. Nhật Hoàng Hirohito cũng được miễn tội và thường xuyên được trao đổi ý kiến. Đồng thời ông thúc đẩy Hoa Kỳ cứu đói cho dân Nhật. Douglas MacArthur được người Nhật ghi ơn. Khi MacArthur về lại nước Mỹ, dân Nhật đã xếp hàng tiễn đưa ông lên máy bay với dòng lệ kính yêu. Ông được coi như một trong 12 người có công xây dựng nước Nhật phú cường như ngày nay. 
  
Bây giờ nhìn lại cách hành xử của người cộng sản Việt Nam khi chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn và giải quyết các vấn đề hậu chiến sau khi chiếm được Miền Nam – viết ra quá dài dòng và thêm xấu hổ cho dân tộc tôi, vì có một lớp người thiển cận, độc ác, tham lam, hẹp hòi – không còn nhân tính đã xuất hiện trong một giai đoạn lịch sử đen tối của đất nước. Không biết những thế hệ sau này nghĩ sao khi đọc lại những trang sử Việt Nam trong thời kỳ này? Với tôi, đây là trang sử ô nhục nhất trong mọi thời đại. 


Viết đến đây tôi thấy bùi ngùi cho số phận. Với tuổi đời: “Tương lai ngồi đợi hoàng hôn xuống…” (4) Tôi biết khó lòng gởi nắm xương tàn bên mồ mả cha ông khi về cõi… Nên tôi căn dặn mấy đứa con: Chớ bận tâm đưa hài cốt của cha về với  nghĩa trang gia tộc. Hãy hỏa thiêu và rải tro cốt của cha trên dòng sông Potomac. Hồn của cha sẽ lờ lững trôi theo “dòng sông định mệnh” này.
 
Lê Đức Luận (Tháng 6.2025)


(1) Soi là bãi cát ven sông, người ta trồng dưa hấu, mướp, bí ngô.
(2) Núi Nhạn Tháp và sông Đà Rằng là biểu tượng cho thành phố Tuy Hòa – quê hương của tôi.
(3) SCAP = Supreme Commander for the Allied Powers.
(4) Thơ Tú Kếu.