Mất Một Người Đàn Ông-TT-Thái An

Mất Một Người Đàn Ông
TT-Thái An
Ông Châu sinh trưởng tại miền Trung, trong một gia đình trung lưu, nề nếp gia phong tốt.  Châu là con trai út, trên có hai chị gái và một anh trai. Là con út và học giỏi nhất nhà nên cha mẹ cưng quý lắm. 
Năm 1950, Châu được 19 tuổi, thị đậu tú tài toàn phần và được cha mẹ gửi ra Hà Nội học ở Đại học Đông Dương, ban Văn Khoa. 
Mỗi năm đến tết hay nghỉ hè Châu lại về quê thăm gia đình và bạn bè.  Có những người bạn đậu xong trung học thì đi làm vì cần giúp đỡ cha mẹ.  Lần nào về Châu vẫn theo gia đình đi nhà thờ vào mỗi Chủ Nhật, Châu vẫn còn quyến luyến các bạn từ thời học chung lớp nhi đồng, giờ đã lớn, có đứa đã có vợ, có chồng.
Riêng cô Thảo, con gái ông bà Để mà Châu để ý từ thời trung học nhưng chưa dám ngỏ lời.  Hình như cô Thảo cũng để ý đến Châu.  Thấy Châu đến hỏi thăm, cô có vẻ vui lắm.  Cha mẹ Châu thấy thế hỏi dò ý con:
-Con có để ý cô nào trong nhà thờ thì cho cha má hay.  Nếu thấy được thì cha má đi hỏi cho.  Khi nào con ra trường thì làm đám cưới.
Chờ có thế, Châu thưa ngay:
-Thưa cha má, cha má thấy cô Thảo thế nào?
Má vui mừng nói ngay:
-Má thấy cô đó được lắm, vừa xinh xắn vừa yêu mến Chúa, cũng đậu xong bằng thành chung.  Con gái học vậy cũng đủ rồi.  Ông bà Để cũng là người tốt.  Con có mắt nhìn lắm đó.
Cha cười, nói thêm vào:
-Vậy để cha má đem chút lễ vật qua nhà ông bà Để làm lễ chạm ngõ.  Kỳ hè sau con về thì làm đám hỏi.  Khi con tốt nghiệp thì về làm đám cưới.  Vậy là nhị hỉ, vừa đỗ trạng nguyên, vừa cưới vợ.
Ông Cường, cha của Châu vừa nói xong thì cả hai vợ chồng cùng cười vang, ra chiều hoan hỉ lắm.  Châu cũng cười theo, rồi nói:
-Con cám ơn cha má nhiều. 
Thế là mùa hè đầu tiên về thăm nhà, Châu đã được cha mẹ dẫn qua nhà cô Thảo để làm lễ chạm ngõ.  Hai bên gia đình đều hài lòng với sự kết hợp của Châu và Thảo.
Đến năm 1954, đất nước chia đôi.  Cũng may, Châu ra trường vào mùa hè năm này.  Chàng trở về quê nhưng chưa muốn lấy vợ ngay vì chưa có việc làm.  Chàng nói với cha mẹ:
-Cha mẹ cho con vào Sài Gòn kiếm việc làm.  Khi nào ổn định con sẽ về cưới Thảo.
Ông bà Cường thấy con trai biết suy nghĩ nên vui lòng đồng ý.
Châu nộp đơn xin việc làm tại lãnh sự quán Anh và được gọi phỏng vấn, được cho việc làm.  Châu cho họ hay phải về quê cưới vợ, hai tuần sau sẽ chánh thức nhận việc làm.
Gọi là tam hỷ mới đúng, vừa tốt nghiệp, vừa có việc làm tốt, vừa cưới vợ.  Ôi! Có ai hạnh phúc như Châu không nào? Châu thơi thới về quê chuẩn bị cưới vợ. 
Cả hai bên nhà trai, nhà gái đều đồng ý nhà trai sẽ đến nhà gái rước cô dâu ra nhà thờ làm đám cưới.  Làm lễ cưới xong thì ra sau nhà tiếp tân của nhà thờ làm tiệc trà, mời cả hội thánh ở lại chung vui.  Như thế vừa đơn giản, vừa được mọi người trong hội thánh đến tham dự.  Mấy em thanh niên, thiếu niên trong nhà thờ cũng lo giúp mọi thứ, bày bàn, dọn tiệc, dọn dẹp v v.
Đám cưới xong, sau một tuần trăng mật, Châu để vợ ở tạm lại nhà cha mẹ.  Chàng trở lại Sài Gòn đi thuê căn nhà ở Tân Định, rồi biên thư nhắn vợ vào. 
Sau hai năm làm việc ở lãnh sự quán Anh, ông Châu mua được một căn nhà hai tầng gần căn nhà thuê.  Thảo thấy mình có phước quá, lấy được người chồng trí thức, hiền lành.  Lúc nào cũng nhỏ nhẹ và yêu thương vợ hết lòng.  Đời sống kinh tế lại được bảo đảm, không lo thiếu trước hụt sau. 
Chủ Nhật nào hai vợ chồng cũng đi nhà với nhau.  Người trong nhà thờ gọi họ là ông bà Châu.  Khi đi nhà thờ, ông luôn mặc côm lê, thắt cà vạt. Bà thì lúc nào cũng mặc áo dài.
Bà Châu sanh ba năm hai đứa.  Sau mỗi lần sanh lại lên cân một chút.  Sau bốn lần sanh thì bà Châu đã đẫy đà, nặng cân hơn thời con gái khá nhiều.  Riêng ông Châu vẫn mảnh dẽ, dáng dấp thư sinh như ngày mới ra trường.  
Hai vợ chồng ông bà Châu có vẻ hạnh phúc lắm.  Có lẽ vì đời sống hôn nhân của họ viên mãn, chẳng có gì ưu phiền, nên bà Châu ăn uống vô tư, chẳng sợ chồng chê sồ sề, ụt ịt.  Tánh nết bà cũng xuề xòa, nhưng xốc vác như đàn ông.  Lại chăm lo cho chồng con chu đáo. 
Ông Châu lại có máu thi sỹ, thỉnh thoảng ông làm thơ ca tụng Chúa lên đọc cho hội thánh nghe.  Khi đọc, ông sửa giọng thật điệu, chưa hẳn là ngâm thơ, nhưng đọc kéo dài và lên xuống giọng từng câu.  Có người nói đùa hai vợ chồng ông Châu đổi tánh của nhau: Ông yểu điệu, dịu dàng như đàn bà; còn bà thì to con, xốc vác như đàn ông.
Đến cuối năm 1972, tối hôm đó có hai người đàn ông lạ đến nhà ông Châu gõ cửa.  Vợ ông ra mở cửa, họ bước vào yêu cầu bà gọi ông Châu ra.  Ông vừa bước ra, họ còng ngay tay ông dẫn đi vì bảo rằng có đủ bằng chứng ông liên lạc với Việt cộng.  Họ bước vào kiếm ngay cái túi xách vải ka ki mà một người đàn ông vừa đem đến gửi nhờ tối nay. Họ dắt ông đi trước mặt vợ con.  Bà hoang mang lo sợ và khóc lóc kêu van.  Bà bảo rằng:
-Các ông bắt nhầm người rồi.  Chồng tôi đời nào theo cộng sản.  Ổng lãng mạn làm thơ làm văn mà sao ưa cộng sản được.
Mặc kệ bà kêu la, họ thản nhiên dắt ông đi.  Bà hỏi chồng:
-Sao anh không nói gì hết vậy?  Anh có làm gì không mà họ bắt anh?
Ông Châu chỉ yên lặng cúi đầu.  Ông không có lời gì để nói với vợ.
Năm mẹ con bà đứng trông theo khóc lóc và sợ hãi.  Ngày mai sẽ ra sao?  Ông Châu bị bắt đi đến bao giờ?  Dù vợ chồng bà cũng dành dụm được một ít để sống một năm không có lương của ông.  Nhưng bà hoang mang lo sợ, bỗng chốc bà và các con phải xa chồng, xa cha.  Bà lo  hơn nữa là sinh mạng của ông sẽ ra sao?
Bà ở nhà chạy chọt, nhờ người này người kia tìm kiếm ông.  Sau vài tuần, bà được biết họ giam ông ở khám Chí Hòa.  Bà kiếm cách đi thăm nuôi ông mỗi tháng.  Bà hỏi gì ông cũng bảo họ bắt oan, vì bạn ông để nhờ cái túi, đựng gì ở trong ông không biết.
Một năm sau, nhân ngày lễ Giáng Sinh, chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa khoan hồng những tù nhân hạng nhẹ như ông.  Ông trở về nhà trong sự ngạc nhiên và mừng rỡ của vợ con.  Tối hôm lễ Giáng Sinh, ông theo vợ con đi nhà thờ.  Khi ông bước vào bên trong nhà thờ, mọi người trông thấy ông đều chạy lại chúc mừng, hoan hỉ đón ông trở lại.  Nhưng trông ông gầy hơn trước và xanh xao quá.
Bà Châu vui ra mặt vì chồng được thả tù.  Việc làm cũ đã mất vì ông đi tù cả năm.  Nhưng ông Châu nộp đơn xin việc ở tòa đại sứ Nhật, lại được họ cho việc làm.  Đời sống gia đình trở lại bình yên hạnh phúc như ngày nào.  Sau vài tháng ra khỏi tù, ông phục hồi nhanh nhờ được vợ săn sóc chu đáo.
Ông Châu làm cho tòa đại sứ Nhật được hơn một năm thì Ba mươi tháng Tư, 1975 đến.  Nhiều người trong nhà thờ di tản hay vượt biên ra nước ngoài.  Ông có cơ hội đi mà lại chọn ở lại. 
Nhưng từ đó ông không đi nhà thờ nữa.  Ông cũng không cho vợ con đi nhà thờ.  Thì ra, bây giờ ông mới công khai ra mặt là Việt cộng nằm vùng.  Ông hoan hỉ đón mừng đoàn quân cộng sản Bắc Việt tiến vào Sài Gòn, ông vỗ tay khi xe tăng Việt cộng ủi xập cổng dinh Độc Lập mà vào tiếp thu cái tòa nhà to tướng đó.
Được vài năm sau, ông lại đau đớn khi thấy nhan nhãn cảnh nghèo đói, túng quẫn của dân chúng miền Nam, nhất là trong Sài Gòn.  Và đau đớn hơn khi thấy cán bộ lớn nhỏ thi nhau tranh dành nhà cửa, của cải của dân chúng.  Cảnh đòi tiền đút lót công khai lộ liễu.  Cảnh cán bộ bỏ vợ già ngoài Bắc, lấy vợ bé trong Nam và tham ô vơ vét để có tiền bao bồ nhí, bao vợ lẽ con thêm hoặc để xây cất biệt thự, tậu xe hơi.
Ngày trước, thấy cảnh tham ô của một số người trong chánh phủ miền Nam, ông ghê tởm và nghĩ rằng cộng sản liêm khiết hơn nhiều.  Cộng sản theo một chính thể khác, nhưng ít ra họ không tham nhũng, hối lộ, ăn chơi đàng điếm như những người nắm quyền hành trong Nam.  Đó là ông mơ mộng nghĩ thế.  Nhưng bây giờ thì trắng đen đã rõ ràng.  Những con người cộng sản còn ham mê tiền bạc vật chất, loại tiền dơ, tiền bẩn, tiền máu xương của người khác hơn bất cứ loại người nào trên trái đất này. 
Ông Châu thất vọng với chế độ cộng sản, với những lãnh đạo cộng sản, với những cán bộ cộng sản, và với giáo điều cộng sản.  Ông không muốn các con ông phải bị nhồi nhét mớ lý thuyết giả dối, gian ác và hoang tưởng này vào đầu. Thế này thì ông phải ra đi, chẳng còn gì để tiếc.  Ông nộp đơn lên tòa đại sứ Anh xin đi tị nạn chính trị. 
Nước Anh quả thật rất nhân đạo vời ông, tuy ông chỉ là cựu nhân viên của lãnh sự quán của họ và mất việc vào cuối năm 1972, trước khi miền Nam thất thủ thắng Tư , 1975.  Đơn xi đi tị nạn chính trị của ông được chánh phủ Anh chấp nhận.  Thế là sau bảy năm ở lại với cộng sản, ông đau lòng dẫn vợ con bỏ nước ra đi.  Nhưng ông cảm thấy mình còn may mắn hơn vạn người khác, có biết mình sai lạc cũng ngậm bồ hòn làm ngọt, phải khép nép sống qua ngày vì họ không có phương tiện để ra đi.
Qua nước Anh, cái gì cũng mới lạ.  Dù Anh văn của ông rất vững, nói năng dễ dàng, nhưng vợ ông thì không biết gì cả.  Các con ông thì như cá gặp nước vì chúng đã học Anh văn từ nhỏ.  Bây giờ chúng được tiếp tục lên đại học ở Anh là điều ông an tâm nhất.
Điều khiến ông sung sướng nhất là hít thở cái không khí tự do mà ông đã mất từ bảy năm qua.  Các con ông không đến trường để bị nhồi sọ tuyên truyền cho một mớ giáo điều cộng sản nữa.  Ở đây, trẻ con được học tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng mọi người và được mọi người tôn trọng.  Chúng không bị học tập ca tụng một chủ tịch nào, không bị học tập đề cao một đảng phái nào.
Khi ra đường ông lại thấy nhiều chuyện lạ, những chuyện mà ở các xứ Á Châu như Việt Nam chưa bao giờ thấy.  Đó là hai người đàn ông hay hai người đàn bà âu yếm nhau công khai ở nơi công cộng.  Ông lại cảm thấy ở đây thật sự tự do, tuyệt vời quá!  Và ông bắt đầu mơ mộng trở lại.  Những ước mơ thầm kín của ông lại ùa về.
Thời gian đầu gia đình ông được chánh phủ Anh cấp nhà cho ở và cấp tiền an sinh xã hội mỗi tháng.  Ông cũng được cơ quan xã hội giúp kiếm việc làm.  Ông đi làm cho một hãng buôn lo giấy tờ mậu dịch với các nước Á châu. 
Từ khi đi làm ở hãng mậu dịch, ông quen biết rộng.  Thỉnh thoảng được đi tiệc tùng với hãng hoặc đãi tiệc khách hàng. 
Dần dà ông quen George, một người đàn ông lớn hơn ông năm hay sáu tuổi.  George mời ông đi ăn thường xuyên.  Lúc đầu chỉ là việc làm ăn, nhưng sau vài lần thì George có vẻ săn sóc ông như một người tình, luôn dịu dàng, ngọt ngào và vuốt ve ông.  Ông Châu cảm nhận được điều này, ông hồi hộp đón chờ từng cử chỉ săn sóc của người kia.  Ông cảm thấy hạnh phúc khi được người đàn ông này săn sóc ân cần.  Thế rồi, khi George mời ông về nhà nghe nhạc, ông đồng ý ngay.  Tối hôm đó, ông đã rơi vào tay George dễ dàng.  Ông chẳng còn thiết về nhà với vợ. 
Bà Châu chờ cửa mãi tới khuya chả thấy chồng về, bà phải đi ngủ trước.  Sáng ra vẫn chẳng thấy chồng ở nhà. Bà lo lắng không biết hỏi ai, vì hôm nay là sáng thứ Bảy, sở đóng cửa nên không gọi vào sở của chồng được.  Bà phải chờ đến trưa mới thấy ông Châu về.  Bà hỏi ngay:
-Tối qua anh ở đâu sao không gọi cho em hay?  Em lo cho anh quá.
Ông Châu giả vờ:
-Tối qua anh hơi say nên ngủ lại nhà bạn.
Bà Châu ngạc nhiên hết sức.  Từ ngày lấy ông, có bao giờ ông uống rượu đâu.  Bà hỏi ngay:
-Ủa, anh tập uống rượu hồi nào vậy?
Ông Châu nói ngay:
-Anh có tập gì đâu, người ta mời mãi thì mình cũng thử xem sao.  Ai ngờ say thật.
Bà Châu tin chồng từ bao nhiêu năm nay nên không hỏi nữa.
Thế rồi, “ăn quen biết mùi ăn mãi”.  Lúc đầu, hễ tối thứ Sáu thì ông đi luôn tới trưa thứ Bảy.  Từ từ, ông ở nhà George từ tối thứ Sáu đến sáng Chủ Nhật mới về nhà.  Bà Châu lại hỏi, ông lại nói quanh co.  Nhưng bà Châu vẫn không hề nghi ngờ chồng đang có tình nhân bên ngoài.  Và tình nhân của chồng lại là một người đàn ông. 
Nhưng George không chịu đứng lại tại điểm đó.  George đề nghị thẳng với ông Châu phải tiến đến hôn nhân.  Hắn không muốn ông Châu đi đi về về giữa hai bên. 
Bây giờ ông Châu phải cân nhắc xem bên nào nặng cân hơn.  Rốt cuộc, ông chọn đi với George.  Vì ông lý luận rằng mình đã sống cho vợ con hơn nửa đời người rồi.  Mình chỉ còn sống độ hai chục năm nữa thôi thì phải sống cho mình và cho người mình yêu.
Vì thế, ông về nhà nghiêm chỉnh thú thật mọi sự với vợ.  Bà Châu đau điếng nhìn chồng như một người xa lạ chưa từng quen biết.  Bà tự hỏi “Ông này là chồng tôi đây sao?” Sau đó bà bật khóc tức tưởi.  Khóc không cầm giữ được nỗi đau quặn thắt lòng.  Ông Châu nhìn vợ khóc, lòng cũng áy náy không yên.  Ông chỉ biết xin lỗi vợ, xin vợ tha thứ cho ông để ông yên tâm dọn ra.
Thế là sau 35 năm chung sống với Thảo, ông Châu đã ly dị vợ để đi lấy chồng khác lúc tuổi đã gần 60.
Các con xúm lại an ủi bà Châu.  Không gì đau lòng bằng bị chồng bỏ để đi theo một người đàn ông khác. Nhất là nơi đây xứ lạ, tiếng tăm bà không rành, trăm sự đều nhờ đến ông.  Ông như tảng đá cho bà che nắng đụt mưa.  Mỗi ngày bà chờ chồng đi làm về để chuyện trò hủ hỉ như đôi bạn đời gắn bó bên nhau.  Vậy mà bây giờ, nơi xứ lạ, ông bỏ bà ngang xương chẳng khác nào đem con đi bỏ chợ.  Bà cảm thấy bơ vơ, trơ trọi và chới với.
Tháng ngày qua mau, con trai lớn di cư qua Canada, con gái lớn theo chồng qua Mỹ.  Chỉ còn bà và hai đứa nhỏ ở lại Anh.  Nhưng chúng nó cũng lớn lên, lập gia đình và ở riêng.  Bà phải dọn vào nhà già ở với mấy ông già bà lão người Anh.  Nhưng lúc này niềm đau mất chồng đã nguôi ngoai.  Bà bình thản chờ ngày về với Chúa.  Thỉnh thoảng mua được cái thẻ gọi điện thoại viễn liên, bà lại gọi qua Mỹ nói chuyện với bạn cũ ngày xưa.  Người ta có hỏi thăm về ông Châu, bà bình thản trả lời “Ông ấy vẫn ở với ông chồng mới.”
Hơn mười năm sau, một hôm, George gọi cho bà Châu báo tin ông Châu đau nặng đang nằm ở nhà thương, có lẽ không qua khỏi.  Bà Châu vội gọi qua Mỹ và Canada báo tin cho hai con. 
Bản thân bà cũng vào nhà thương thăm ông Châu.  Bà nhìn ông chồng cũ của mình nằm liệt trên giường, mặt mày xám kịt, chẳng còn chút sự sống trên khuôn mặt.  Nhưng ông Châu còn tỉnh táo nhận ra vợ cũ, ông cười chào bà.  Bà hỏi thăm ông:
-Ông đau bao lâu rồi, sao không báo sớm cho tôi hay để tôi báo cho mấy đứa nhỏ đến thăm ông.
Ông Châu thều thào:
-Báo làm gì chớ.
Bà Châu thương hại ông, có lẽ ông sợ các con còn giận ông nên không muốn nói cho các con hay.  Bà Châu lại hỏi:
-Ông bệnh gì vậy?
Ông Châu trả lời:
-Viêm gan B.
Bà Châu muốn nói với ông rằng ông hãy ăn năn với Chúa đi, vẫn còn kịp để ăn năn.  Nhưng bà không nói nên lời.  Bà dặn ông:
-Tôi đã báo tin cho con Huyền và thằng Trí về thăm ông gấp.  Chúng nó sẽ về tới nay mai.  Ông cố gắng chờ nghe ông.
Dặn dò ông Châu thêm đôi lời rồi bà từ giã ra về.  Lòng bà nặng trĩu khi nghĩ đến thần chết đang lởn vởn bên cạnh ông Châu.
Hai hôm sau, Huyền, con gái thứ hai của ông Châu từ Mỹ bay qua Anh, vào ngay nhà thương để gặp cha.  Huyền đến gần giường nhìn thấy cha đang ngủ.  Nó đánh thức cha dậy.  Ông Châu mở mắt ra trông thấy Huyền, nhưng gương mặt ông đã bất động.  Huyền hỏi ngay:
-Ba nhận ra con không?
Ông Châu vẫn nhìn con, nhưng không còn nói được.  Huyền nói ngay với cha:
-Ba ơi! Ba ăn năn đi ba.  Con muốn ba xin Chúa tha tội cho ba để ba còn cơ hội lên thiên đàng.  Con không muốn ba bị quỷ sứ kéo xuống địa ngục.
Ông Châu vẫn nằm im, mặt ông không lộ một phản ứng nào.  Có lẽ ông chẳng còn nghe được gì.  Hai mắt ông tuy mở, nhưng chúng nhìn vào khoảng không mù mờ.  Huyền thút thít khóc lo lắng cho linh hồn của cha.  Một lúc sau, đôi mắt ông Châu lại nhắm lại.  Huyền biết cha sắp sửa ra đi vĩnh viễn nên càng lo; chỉ còn biết nhắc cha: “Ba ơi! Ba ăn năn đi ba.”
Trí đến kịp để chờ ông Châu trút hơi thở cuối cùng.  Cả hai anh em ngồi cạnh giường cha mà lo lắng cho linh hồn của cha.  Chỉ hơn một giờ sau, ông Châu tắt thở.  Huyền òa lên khóc thảm thiết:
-Ba ơi! Ba ơi!  Sao ba không ăn năn để bây giờ không còn cơ hội nữa.  Ba ơi, cha con mình không bao giờ còn gặp lại nhau nữa.  Ba bị quỷ sứ kéo đi rồi.  Con đau lòng quá ba ơi!
Cứ thế Huyền khóc ngất vì thương xót cho linh hồn cha.  Cha mình mà, làm sao không thương?  Huyền không hề oán trách cha, vì Huyền biết cha chỉ là người phàm, yếu đuối đi theo con đường riêng của mình, xa cách Đức Chúa Trời.
Huyền vẫn trung tín với Chúa dù những năm ở Việt Nam sau 1975 cha không cho đi nhà thờ nữa.  Mấy mẹ con bà Châu vẫn cầu nguyện với Chúa mỗi ngày.  Bà Châu và các con vẫ đọc kinh thánh hằng ngày.  Vì thế Huyền biết rất rõ bản tính của Đức Chúa Trời, Ngài rất yêu tội nhân, nhưng rất ghét tội lỗi.  Và luật pháp của Ngài không bao giờ thay đổi.  Ngài chờ tội nhân ăn năn để Ngài tha thứ.  Nếu không ăn năn thì Ngài không thể tha tội cho họ được. 
Ở nơi có nhiều tự do, luật pháp của loài người thay đổi luôn để đáp ứng với lòng dân, vì chánh phủ là do dân bầu mà.  Cùng là một điều, thời xưa loài người cho là tội, nhưng bây giờ được luật pháp cho phép thì không kể là tội nữa.
Nhưng thôi, hồn ai nấy lo.  Cộng sản hoặc những người vô thần không tin có linh hồn, chết là hết; làm gì có địa ngục hay thiên đàng mà lo việc bị sa địa ngục.  Cũng có người tuy có tín ngưỡng nhưng lại lý sự rằng Đức Chúa Trời nhân từ thì đời nào bỏ ai vào địa ngục!  Đúng vậy, ĐCT không bỏ người ta vào địa ngục, chỉ có quỷ sứ là lính của Satan bỏ người của nó vào đó thôi.
Chỉ có Đức Chúa Trời có quyền xét tội loài người.  Nhưng Ngài nhìn xuống thế gian không tìm thấy một người nào vô tội cả.  Vậy thì, ai cũng là tội nhân trong cái nhìn của Đức Chúa Trời.  Đã là tội nhân, không ai có thể xét đoán tội nhân khác. 
Đức Chúa Trời đã tạo ra loài người và ban cho họ sự tự do chọn lựa một hướng đi cho linh hồn mình.
Bà Châu và các con đến dự tang lễ của ông Châu như những người khách khác.  George, ông chồng của ông Châu lo cho tang lễ của vợ từ đầu đến cuối.  Ông Châu hưởng được những ngày hạnh phúc bên người chồng mới thật ngắn ngủi.  Ở thế giới bên kia, sau cái chết, đời sống của linh hồn mới thực sự vô tận.  Nhưng ông Châu đã chọn lựa nơi không có Đức Chúa Trời.
Bà Châu và các con luôn đau đớn khi nghĩ đến đời sống của ông ở bên kia thế giới.  Vì họ còn thương yêu ông hết lòng.
TT-Thái An
4/20/2019