MỘT THỜI MÊ THƠ THẤT NGÔN BÁT CÚ ĐƯỜNG LUẬT-Y Thy Võ Phú

MỘT THỜI MÊ THƠ THẤT NGÔN BÁT CÚ ĐƯỜNG LUẬT
Có lẽ trong các thể thơ của người Việt, ít có thể thơ nào vừa được yêu, vừa bị “ghét” như thất ngôn bát cú Đường luật. Người không thích nó có rất nhiều lý do. Nào là niêm luật quá gò bó, nào là câu chữ quá ít, đang lúc cảm xúc tuôn trào thì đã phải lo đối, vần, bằng trắc. Rồi còn phải nhớ đây là một thể thơ có nguồn gốc từ đời Đường bên Trung Hoa, với một hệ thống quy tắc đã được hình thành và hoàn chỉnh qua nhiều thế kỷ, trước khi được cha ông ta tiếp nhận, vận dụng và dần dần Việt hóa.
Đối với những người yêu sự phóng khoáng của thơ ca hiện đại, thất ngôn bát cú quả thật dễ tạo cảm giác như một chiếc áo quá chật.  Thơ mới mở tung cánh cửa câu chữ. Nhà thơ có thể tự do hơn với số câu, số chữ, nhịp điệu, hình ảnh và cách diễn đạt. Còn thất ngôn bát cú thì chỉ có tám câu, mỗi câu bảy chữ. Tất cả chỉ vỏn vẹn năm mươi sáu chữ.
Năm mươi sáu chữ mà muốn nói chuyện trời đất, nhân tình, thế sự, tình yêu, quê hương, bè bạn, nỗi nhớ, nỗi buồn… thì quả thật chẳng khác nào bắt một người mang cả một chiếc vali cảm xúc đi qua một cánh cửa chỉ vừa đủ cho một người lọt qua.  Vậy mà lạ thay, cái thể thơ tưởng như chật chội ấy lại có những người mê nó đến mất ăn mất ngủ.
Thoạt nghe, thất ngôn bát cú thật đơn giản: tám câu, mỗi câu bảy chữ. Nhưng chỉ cần bước một chân vào bên trong cái khuôn tám câu bảy chữ ấy, người ta mới biết mình vừa bước vào một thế giới hoàn toàn khác. Không phải cứ viết đủ tám câu, mỗi câu đủ bảy chữ là thành thơ Đường luật. Còn phải niêm, phải luật, phải vần, hải đối…
Hai câu thực phải đối nhau, hai câu luận cũng phải đối nhau. Câu nào niêm với câu nào, chữ nào phải bằng, chữ nào phải trắc, vần nằm ở đâu, vận sử dụng thế nào… tất cả đều có những quy tắc nhất định.  danh từ đối với danh từ, tính từ với tính từ, ….vv…vv…
Đã vậy, những người mê thơ Đường luật còn không chịu dừng ở những luật căn bản. Họ còn “khám bệnh” cho thơ. Nghe chữ “bệnh” đã thấy đáng sợ.  Làm thơ mà cứ như đi khám sức khỏe.  Viết xong một bài, chưa kịp hỏi nó có hay không, đã phải lo xem nó có mắc bệnh gì không!
 
Trong những luật lệ được lưu truyền trong giới chơi thơ Đường luật, người ta nhắc đến cả một danh sách dài những lỗi, những “bệnh” của thơ: trùng vận, trùng từ, trùng ý, điệp điệu, điệp thanh, điệp âm, đại vận, tiểu vận, phong yêu, hạc tất, chánh nữu, bàng nữu… Rồi lại có thất niêm, thất luật, thất đối, thất vận, bình đầu, thượng vỹ, mạ đề, khổ độc…
Tất cả khoảng… hai mươi thứ bệnh!
Chỉ nghe tên thôi cũng đủ làm một người mới tập làm thơ chóng mặt. Người ngoài nhìn vào chắc sẽ hỏi:
– Làm thơ mà sao cực vậy? Viết vài câu cho vui không được sao?
Được chứ. Nhưng một khi đã mê thì đâu còn nghĩ như người ngoài nữa. Người mê thơ Đường luật bắt đầu có cái thú rất lạ.  Săn tìm một chữ, cân nhắc một từ, đổi một câu, sửa một thanh, rồi đọc đi đọc lại xem câu thơ đã “chuẩn mực, tuyệt vời” chưa. Có khi chỉ vì một chữ mà mất cả buổi tối.
Một câu tưởng như đã hoàn chỉnh, đến khi đem đối với câu kia mới phát hiện một chữ không ổn. Thế là sửa. Sửa xong lại đọc. Đọc xong lại sửa. Cứ thế mà mê.
Cách đây không lâu, tôi có dịp giúp một nhà thơ trình bày một tập thơ xướng họa. Cả ngàn bài thơ, tưởng rằng công việc chỉ còn là sắp xếp, dàn trang, chỉnh sửa cho ngay ngắn rồi hoàn tất. Vậy mà khi tập thơ gần như đã xong, tác giả đọc lại từng bài và bắt đầu phát hiện chỗ này cần đổi một chữ, chỗ kia cần sửa một chữ. Có khi chỉ một chữ rất nhỏ, tưởng như chẳng đáng để bận tâm, nhưng lại phải sửa cho bằng được.
Nếu là một người không từng mê thơ Đường luật, có lẽ tôi đã bỏ cuộc giữa chừng. Bởi cứ sửa đi sửa lại một vài chữ trong hàng ngàn bài thơ quả thật là một công việc dễ làm người ta… bở hơi tai. Có những chữ đã thay rồi lại đổi lại. Có câu tưởng đã “okay”, đọc thêm vài lần lại thấy chưa vừa ý. Rồi lại tìm một chữ khác. Thử vào câu. Đọc lên. Cân nhắc. Sửa tiếp….Nhưng tôi hiểu.  Tôi từng có một thời là một “con nghiện” thơ Đường luật, từng mất hàng giờ chỉ để tìm một chữ cho đúng vần, đúng luật, đúng thanh, đúng ý và quan trọng hơn hết là phải nghe cho “đã”. Vì vậy, tôi hiểu cái cảm giác khó chịu của người làm thơ khi nhìn thấy một chữ nằm không đúng chỗ trong bài của mình. Nó giống như một cái gai rất nhỏ nhưng cứ cộm mãi trong mắt. Người ngoài có thể bảo: “Chỉ một chữ thôi mà, có gì quan trọng đâu?” Nhưng với người làm thơ, đôi khi chính một chữ ấy lại làm hỏng cả câu thơ. Nhất là với thơ Đường luật, nơi mỗi chữ đều phải gánh trên vai nhiều thứ: ý nghĩa, âm thanh, bằng trắc, vần điệu, đối ngẫu và sự hài hòa với những chữ đứng bên cạnh. Một chữ thay đổi, đôi khi không chỉ thay đổi nghĩa của câu mà còn làm thay đổi cả nhịp điệu và cái thần của bài thơ. Cho nên tôi không thấy phiền khi tác giả cứ muốn sửa. Trái lại, tôi hiểu và thông cảm.
Có lẽ bởi tôi đã từng đi qua cái thời mà một câu thơ chưa vừa ý có thể khiến mình nằm trằn trọc cả đêm. Một chữ chưa tìm được có thể khiến đang ăn cơm cũng phải nghĩ. Một câu đã viết xong nhưng đọc lên vẫn thấy “cấn” thì nhất định phải tìm cách sửa, dù chỉ sửa một chữ.
Nhìn tác giả cẩn thận đọc lại từng bài, tôi chợt nhớ đến chính mình của một thời xa trước. Hóa ra cái “bệnh” mê thơ Đường luật ấy, dù đã lâu không còn nặng như trước, vẫn chưa hoàn toàn biến mất. Nó chỉ nằm đâu đó trong ký ức, để rồi khi gặp một người cũng khó tính với từng chữ như mình ngày xưa, nó lại thức dậy. Và tôi nghĩ, có lẽ chỉ những người từng mê thơ mới hiểu được tại sao một chữ lại có thể quan trọng đến như vậy. Một chữ đúng chỗ, câu thơ có thể nhẹ đi. Một chữ sai chỗ, cả câu thơ có thể trở nên nặng nề. Có khi chỉ thay một chữ mà câu thơ bỗng có hồn. Thế nên, giữa hàng ngàn bài thơ xướng họa, việc tác giả cứ muốn sửa đi sửa lại từng chữ không còn làm tôi sốt ruột nữa. Tôi ngồi làm cùng ông, chậm rãi sửa từng chỗ một, bởi tôi biết phía sau sự khó tính ấy không phải là chuyện cầu kỳ vô cớ, mà là tình yêu đối với những câu thơ của chính mình. Và cũng có thể, đó là một thứ “bệnh” mà những người từng mê thơ Đường luật rất khó chữa. Mà thật ra… có những thứ bệnh, mình cũng chẳng muốn chữa làm gì.
Nhưng có lẽ cái đáng nể nhất của những người mê thơ Đường luật là họ không chỉ bằng lòng với cái khuôn vốn đã chật chội ấy. Họ còn tìm cách làm cho nó khó hơn! Nếu chỉ có niêm, luật, vần, đối mà đã đủ đau đầu thì họ lại nghĩ thêm những trò chơi mới với chữ, với âm, với vần, với cách đọc và cả cách sắp xếp bài thơ.  Thế là xuất hiện cả một thế giới biến thể phong phú đến mức người ngoài nghe tên đã muốn… bỏ chạy.
Có Bình đầu, Thủ nhất thanh, Thủ nhất tự, trong đó các câu được ràng buộc bởi chữ hoặc âm ở đầu câu. Có Khoáng thủ, lại chia thành những lối như Dĩ đề vi thủ, Chiết tự khoán thủ, Chiết tự khoáng tâm, đưa chữ của nhan đề vào đầu hoặc vào những vị trí nhất định của bài. Có Vĩ tam thanh, Độc vận, Hạn vận, Dĩ đề vi vận, Bát vĩ đồng âm… những biến thể tiếp tục đưa cái khó từ đầu câu xuống cuối câu. Rồi có Hườn cú, với những cách chuyển vĩ, hồi văn, tuần hoàn, nghịch hườn cú. Nghe thôi đã thấy thơ chẳng khác gì một bàn cờ chữ.
Mỗi chữ được đặt xuống không chỉ vì ý nghĩa của nó mà còn vì thanh, vì vần, vì vị trí và vì mối quan hệ của nó với những chữ chung quanh. Đã vậy, người ta còn nghĩ ra Phá lục: trong một bài thất ngôn mà câu đầu chỉ có sáu chữ. Rồi Trốn vận, trong đó câu đầu không gieo vần, vần bắt đầu từ câu thứ hai và câu đầu phải đối với câu thứ hai theo quy luật riêng. Có Cô nhạn nhập quần, khi câu đầu mang một vần khác với hệ thống vần còn lại. Có Cô nhạn xuất quần, khi sự khác biệt ấy nằm ở câu cuối. Có Yết hậu, câu cuối được rút ngắn chỉ còn một hoặc hai chữ vận. Rồi Thủ vĩ ngâm, câu đầu và câu cuối lặp lại nhau; Thủ vĩ điệp vận, vận ở đầu lại quay về ở cuối. Chưa hết, có cả Tung hoành trục khoán, dùng một cặp câu đối làm chủ đề rồi phân bố các chữ theo một quy luật nhất định trong toàn bài.
Đến đây thì người bình thường có lẽ đã đủ lý do để hỏi:
– Làm thơ hay giải toán vậy?
Mà thật ra… cũng gần gần như thế! Nếu những biến thể trên chưa đủ, người làm thơ Đường luật còn chơi với sự lặp lại của chữ. Có Bát điệp: một từ được lặp lại trong cả tám câu. Có Bát điệp song ngữ, Bát điệp song ngữ độc vận. Có Điệp từ, Điệp từ láy, Điệp từ kép, hay Song điệp. Rồi đến Lưỡng đầu xà, nghe cái tên đã thấy hình ảnh một con rắn có hai đầu: hai cụm từ ở đầu và cuối câu được đảo vị trí cho nhau. Lại còn Lưỡng đầu xà nghịch thiệt, kết hợp với phép nói lái. Những người không quen với thế giới này có thể nghĩ đây là những trò chơi cầu kỳ. Nhưng đối với người mê, chính cái cầu kỳ ấy lại là cái thú. Bởi mỗi khi tìm được một cách đặt chữ vừa đúng luật, vừa có nghĩa, vừa nghe thuận tai, người viết có một cảm giác rất khó tả. Giống như vừa giải được một câu đố. Một câu đố chỉ có bảy chữ.
Rồi đến âm thanh. Có Song thanh, trong mỗi câu xuất hiện những cặp chữ tạo thành các mối liên hệ về vần. Có Tam song thanh, hay Song thanh điệp vận, đẩy sự ràng buộc ấy lên cao hơn. Có Liên thanh, chú ý đến những chữ cùng thanh được đặt cạnh nhau. Có Ngũ độ thanh, đòi hỏi sự phối hợp nhiều thanh dấu trong cùng một câu theo quy luật. Rồi Bát cú phân minh, Độc nữu, Bát nữu, chú trọng đến phụ âm đầu của các chữ. Đặc biệt còn có Điệp tự hồi văn, nơi một số lượng chữ hạn chế được dùng đi dùng lại để tạo nên một bài thơ có khả năng đọc thuận hoặc đọc nghịch.
Đến đây thì tôi thật sự khâm phục những người đã nghĩ ra những biến thể ấy. Bởi họ không chỉ làm thơ. Họ đang khám phá khả năng của tiếng Việt. Họ thử xem năm mươi sáu chữ có thể được sắp xếp đến đâu, âm thanh có thể biến hóa thế nào, một chữ có thể đảm nhiệm bao nhiêu vai trò, một câu có thể vừa có nghĩa lại vừa tuân thủ bao nhiêu lớp quy tắc.
Nhưng đó vẫn chưa phải là tận cùng. Những người mê thơ Đường luật còn nghĩ đến chuyện lấy một bài thơ làm thành nhiều bài thơ. Có Hoán vận, thay đổi vị trí các chữ vần để tạo thành bài khác. Có Thuận nghịch độc: đọc xuôi là một bài, đọc ngược lại vẫn thành một bài khác có nghĩa. Có những dạng mà đọc ngược từ cuối bài lên sẽ thành bài mới; có dạng đổi vần; có dạng đọc ngược mà vẫn trở lại bài cũ; có dạng đảo thứ tự chữ trong từng câu. Một bài thơ mà đọc xuôi được, đọc ngược cũng được. Đối với người bình thường, chỉ cần đọc xuôi một bài thơ cho hết đã là xong. Còn người mê Đường luật lại nghĩ:
– Hay là đọc ngược thử sao?
 
Thế rồi từ một bài thơ lại chuyển hồi văn. Một bài có thể chuyển thành bốn bài: nguyên bản, nghịch bản, rồi từ đó tạo thêm những bài ngũ ngôn bằng cách bỏ hai chữ đầu mỗi câu. Cao hơn nữa là Ngũ chuyển hồi văn, rồi Lục chuyển hồi văn, từ một bài thơ mà biến hóa thành năm, rồi sáu bài. Tới đây thì tôi không biết nên gọi đó là làm thơ hay là… làm toán bằng chữ.
Người mê thơ Đường luật còn không chịu để một bài thơ đứng riêng. Họ nối bài này với bài kia. Có Xa luân ngũ bộ, trong đó các vần được luân chuyển giữa năm bài như bánh xe quay vòng. Có Lộc lư ngũ bộ, một câu hoặc một vần chủ đề được di chuyển qua những vị trí khác nhau trong năm bài. Rồi Thủ vĩ liên hoàn: câu kết bài trước trở thành câu mở đầu bài sau. Bài nọ kéo bài kia đi. Cuối cùng thành cả một chuỗi. Nếu vòng lại được với nhau thì thành Thủ vĩ tương lân, tạo nên một vòng tròn khép kín. Có Liên hoàn thuận nghịch vận, Thủ vĩ quán châu, rồi Liên hoàn, Ô Thước Kiều, nơi một hoặc nhiều chữ cuối bài trước được đưa sang đầu bài sau.
Một bài thơ lúc này không còn là một bài thơ nữa. Nó trở thành một mắt xích. Rồi nhiều mắt xích nối lại thành một chuỗi.
Nhưng có lẽ điều làm tôi nhớ nhất về thời mê thơ Đường luật không phải những cái tên kỳ lạ ấy. Mà là xướng họa. Một người xướng. Một người họa. Rồi người khác họa tiếp. Người xướng đưa ra một bài thơ. Người họa không chỉ phải hiểu cái ý của bài xướng mà còn phải dùng những vận đã có để đáp lại. Thế là những người chưa từng gặp nhau ngoài đời có thể ngồi bên những chiếc máy tính, mỗi người một nơi, cùng đối ẩm bằng chữ.
Không cần rượu, cũng chẳng cần trà, chỉ cần một bài xướng, một người đưa ra câu thơ rồi người kia tìm cách đáp lại, cứ thế thơ nối thơ, câu nối câu. Có khi một bài xướng kéo theo năm, bảy, mười bài họa, có khi chỉ một câu thơ cũng đủ khiến cả diễn đàn thức khuya, người thì tìm chữ, người tìm ý, người cân nhắc vần, người săm soi luật, có người phát hiện chỗ thất niêm, có người bắt gặp một chữ trùng, có người xuýt xoa vì một câu đối thật hay, rồi cũng có khi tranh luận đến tận khuya chỉ vì một chữ nên giữ hay nên đổi. Thế nhưng sáng hôm sau, tất cả lại gặp nhau trong một bài xướng mới, tiếp tục xướng, họa, đùa vui và đối đáp bằng những câu thơ. Có lẽ đó chính là cái tình rất riêng của những người cùng mê chữ: không cần quen biết ngoài đời, không cần chung một ly rượu, chỉ cần cùng yêu thơ là đã có thể ngồi với nhau hàng giờ, đối ẩm bằng câu chữ và kết thành những người bạn văn chương. 
Tôi nghĩ cũng chẳng có gì đáng trách khi một nhà thơ không thích thất ngôn bát cú Đường luật, bởi mỗi người đều có một cái tạng riêng với thơ. Có người yêu lục bát, có người thích thơ tự do, có người say mê những câu thơ ngắn gọn, có người lại thích những bài thơ dài như một dòng sông, và cũng có người tìm thấy niềm vui trong cái khuôn phép nghiêm ngặt của Đường luật. Thơ vốn là chuyện của cảm xúc, mà cảm xúc thì mỗi người mỗi khác, cho nên chuyện người này yêu một thể thơ, trong khi người khác lại không tìm thấy sự rung động nơi thể thơ ấy, cũng là điều hết sức tự nhiên.
Trong số những nhà thơ đương thời mà tôi biết, những tên tuổi như Xuân Diệu, Thế Lữ, Chế Lan Viên, Du Tử Lê, Trần Trung Đạo, Luân Hoán, Lê Hân, Hoa Văn… không gắn tên tuổi của mình với những sáng tác thất ngôn bát cú Đường luật. Riêng với nhà thơ Luân Hoán, tôi từng biết rằng khi ông khởi xướng tờ Ngôn Ngữ, ông cũng không chủ trương đăng những bài thơ thuộc thể loại này. Có lẽ đó cũng chỉ là một cách lựa chọn, một quan niệm riêng về thơ và về con đường sáng tác của mỗi người. Thơ mà, có ai bắt người ta phải yêu một thể thơ nào đâu.
Tôi từng có dịp nói chuyện với cố thi sĩ Hoa Văn khi ông còn sinh thời và nhớ ông kể rằng ông yêu thơ lục bát nhất. Ông từng thử làm một bài thất ngôn bát cú Đường luật, nhưng không thấy “cảm” được với thể loại ấy, cuối cùng ông xé bỏ bài thơ và từ đó không bao giờ đụng tới nó nữa. Tôi rất thích câu chuyện ấy, bởi nó cho thấy sự gắn bó của một nhà thơ với thể thơ mình yêu đôi khi không đến từ lý trí hay sự lựa chọn có tính toán, mà đơn giản chỉ là một thứ duyên.
Một thể thơ có thể rất hay, rất đẹp đối với người này nhưng lại hoàn toàn không chạm được vào tâm hồn người khác. Hoa Văn yêu lục bát, còn tôi đã từng mê thất ngôn bát cú; ông tìm thấy mình trong những câu sáu tám mềm mại, còn tôi đã từng say mê cái khuôn phép tưởng như chật chội của tám câu bảy chữ. Mỗi người một duyên, một cánh cửa riêng để bước vào thế giới thi ca, và có lẽ chính sự khác biệt ấy mới làm cho thế giới của thơ trở nên phong phú và đáng yêu hơn.
Càng về sau, tôi càng nghĩ rằng cái người ta gọi là “gò bó” đôi khi lại chính là cái thú của thơ Đường luật. Một người thích vẽ có thể thích một tấm canvas thật lớn, muốn đưa nét cọ đi đâu cũng được, muốn vẽ gì cũng không bị giới hạn, nhưng cũng có người lại thích vẽ trong một khung tranh nhỏ, bởi khung càng nhỏ thì người vẽ càng phải cân nhắc từng nét, từng mảng màu, từng khoảng trống để làm sao cho bức tranh vẫn có hồn. Thơ Đường luật cũng vậy, chỉ tám câu, năm mươi sáu chữ, nhưng chính vì ít chữ nên người làm thơ càng phải biết chọn chữ, chính vì có luật nên phải tìm cách diễn đạt sao cho vừa tự nhiên vừa đúng khuôn phép, chính vì có phép đối nên phải suy nghĩ kỹ về từng cặp ý, từng hình ảnh, từng chữ tương xứng, và chính vì có vần nên phải tìm được một chữ vừa đúng nghĩa, vừa đúng âm, vừa giữ được cái thần của câu thơ. Nói cách khác, những luật lệ tưởng như trói buộc ấy lại buộc người làm thơ phải động não, phải tìm tòi, phải cân nhắc và phải sáng tạo nhiều hơn, mà động não, suy nghĩ và tìm tòi thì đâu phải lúc nào cũng là chuyện xấu; đôi khi chính những giới hạn ấy lại mở ra một cách chơi chữ rất thú vị, khiến người ta càng làm càng say, càng sửa càng mê, và càng bị khuôn phép ràng buộc lại càng muốn tìm cách vượt qua nó bằng chính sự tài hoa của mình. 
Có khi cái thú của thơ Đường luật không nằm ở bài thơ, mà lại nằm ngay trong quá trình người làm thơ vật lộn với từng câu, từng chữ để tìm cho ra một cách diễn đạt vừa ý. Một chữ tìm được sau cả giờ suy nghĩ, cân nhắc, thử đi thử lại đôi khi lại đem đến niềm vui lớn hơn cả một bài thơ viết trong vài phút, bởi người làm thơ biết rằng mình vừa tìm được đúng mảnh ghép còn thiếu. Chỉ một chữ thôi, tưởng như nhỏ bé và chẳng có gì đáng kể, nhưng nếu đặt đúng chỗ, đúng nghĩa, đúng thanh, đúng vần, nó có thể làm cả câu thơ bừng sáng, khiến ý thơ trở nên nhẹ nhàng hơn, âm điệu trở nên hài hòa hơn và cái thần của câu thơ cũng từ đó mà hiện ra rõ ràng hơn. Có lẽ chính những khoảnh khắc rất nhỏ như vậy đã làm cho người mê thơ Đường luật cứ tiếp tục say mê, bởi niềm vui đôi khi không phải là làm xong một bài thơ, mà là sau bao nhiêu lần tìm kiếm, cuối cùng cũng bắt gặp được một chữ tưởng như đã đứng đó từ lâu, chỉ chờ mình tìm ra. 
Tôi đã từng có một thời mê loại thơ này đến độ thức khuya dậy sớm chỉ để tìm câu, tìm chữ họa thơ. Đang ăn cũng nghĩ đến thơ, đang làm việc cũng lẩn quẩn trong đầu một chữ chưa tìm được, nằm xuống rồi lại chợt nhớ ra một câu còn dang dở, có khi đang lim dim ngủ bỗng bật dậy vì bất ngờ tìm được một chữ thích hợp, vội vàng ghi xuống rồi đọc đi đọc lại, thấy chưa hay lại sửa, sửa xong vẫn thấy thiếu một chút gì đó lại tiếp tục nghĩ, có khi cả một buổi tối chỉ để cuối cùng tìm cho được một câu bảy chữ vừa ý. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy mình ngày ấy thiệt… “khùng”, nhưng đó là một cái “khùng” dễ thương, bởi nó không làm mình say, không khiến mình gây gổ, không làm mình phá phách, mà chỉ khiến mình ngồi yên một chỗ và suy nghĩ mãi về mấy con chữ. Có lẽ đó là một trong những thứ “nghiện” hiền lành nhất mà một người yêu chữ có thể mắc phải. Ngày nay, chỉ cần gõ vài chữ vào máy tính là có thể tìm ra hàng ngàn kết quả, thậm chí có những công cụ còn có thể giúp chúng ta viết cả một bài thơ, nghĩ lại cái thời phải tự mình lục tìm từng chữ, cân nhắc từng câu, sửa đi sửa lại từng vần, tôi càng thấy thương cái thời mê thơ ấy hơn, bởi khi đó niềm vui không đến từ việc có ngay một bài thơ trong tay, mà đến từ chính những giờ phút mình kiên nhẫn vật lộn với câu chữ để tự mình tìm ra nó. 
Tôi không dám nói làm thơ Đường luật có thể ngăn ngừa hay làm giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer, bởi đó là vấn đề thuộc về y khoa và phải có những nghiên cứu nghiêm túc mới có thể đưa ra một kết luận tin cậy. Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng việc thường xuyên đọc, ghi nhớ, tìm kiếm, so sánh, lựa chọn và sáng tạo bằng ngôn ngữ là một hình thức vận động trí óc rất đáng quý. Muốn làm một bài thơ Đường luật, người ta phải nhớ luật, nhớ vần, tìm chữ, cân nhắc ý nghĩa, đối chiếu từng câu, sửa từng chữ rồi lại đọc đi đọc lại để xem câu thơ đã thật sự “hay” chưa. Có khi chỉ vì một chữ chưa vừa ý mà phải suy nghĩ hàng giờ, rồi từ chữ ấy lại kéo theo cả một câu, một vế đối phải thay đổi. Cứ thế, bộ óc gần như không có lúc được phép nằm yên, lúc nào cũng phải hoạt động, phải nhớ, phải tìm tòi và phải sáng tạo. Có lẽ đó cũng là một cái thú rất riêng của người mê thơ Đường luật: vừa làm thơ, vừa bắt bộ óc mình làm việc, và trong những năm tháng mà tuổi tác ngày càng cao, tôi càng thấy những hoạt động khiến con người phải suy nghĩ, phải nhớ và phải sáng tạo như thế càng đáng được trân trọng. 
Trong thời đại hôm nay, khi chỉ cần gõ vài chữ vào máy tính là có thể tìm ra hàng ngàn kết quả, thậm chí có những công cụ AI còn có thể giúp chúng ta viết cả một bài thơ, tôi lại càng nhớ cái thời phải tự mình ngồi hàng giờ để tìm một chữ, cân nhắc một câu, sửa đi sửa lại một vần mà vẫn chưa thấy vừa ý. Ngày ấy, một câu thơ không đến từ một cú nhấp chuột, cũng không có một công cụ AI nào lập tức đưa ra cho mình hàng loạt phương án để lựa chọn, mà nó đến từ sự kiên nhẫn, từ trí nhớ, từ vốn sống, từ những gì mình đã đọc, đã nghe, đã trải qua, và nhất là từ một cái đầu cứ nhất định không chịu đầu hàng trước bảy chữ. Có khi chỉ một câu thơ thôi mà phải mất cả buổi, thậm chí cả một đêm, nhưng chính vì phải tự mình tìm kiếm và vật lộn với từng con chữ nên khi cuối cùng tìm được câu vừa ý, niềm vui cũng trở nên đặc biệt hơn, bởi đó là câu thơ do chính mình kiên nhẫn tìm ra, chứ không phải thứ có sẵn chỉ sau một lần nhấp chuột. 
Bây giờ tôi không còn thức khuya dậy sớm như ngày trước để săn tìm từng câu từng chữ nữa, nhưng thỉnh thoảng nhớ lại, tôi vẫn thấy thương cái thời mình mê thơ đến độ bỏ ăn bỏ ngủ. Có lẽ tuổi trẻ của một người yêu chữ cũng cần những cơn mê như thế, mê một câu thơ, mê một chữ, mê một người, mê một miền quê, mê một tiếng gọi, và đôi khi mê cả một thể thơ mà người khác cho là gò bó, cũ kỹ. Thất ngôn bát cú Đường luật chỉ có tám câu, mỗi câu bảy chữ, một cái khuôn nhỏ bé đến mức tưởng như chẳng chứa được bao nhiêu, vậy mà trong cái khuôn nhỏ bé ấy, biết bao thế hệ đã gửi vào đó tình yêu, nỗi nhớ, niềm vui, nỗi buồn, chí khí, thời thế và những tâm sự riêng tư nhất của con người.
Không những thế, những người mê nó còn tìm cách làm cho cái khuôn ấy trở nên kỳ ảo hơn, chữ lặp chữ, vần nối vần, âm đối âm, câu trước gọi câu sau, bài này kéo bài kia, có những bài đọc xuôi được mà đọc ngược cũng thành một bài khác, một bài có thể biến thành hai, thành bốn, thành năm, thậm chí thành sáu bài. Nghĩ cho cùng, đến lúc ấy, đó không chỉ còn là chuyện làm thơ mà đã trở thành một cuộc chơi đầy thú vị của trí nhớ, của ngôn ngữ, của sự khéo léo và trí tưởng tượng. Có người không thích nó, có người thử một lần rồi xé bỏ, có người cả đời không đụng tới, còn tôi thì đã từng có một thời mê mẩn nó đến “ghiền”, mê đến mức thức khuya dậy sớm chỉ để tìm một chữ, sửa một câu, họa một bài thơ.
Bây giờ nghĩ lại, tôi không còn muốn tranh luận xem thơ Đường luật hay hay dở, cũ hay mới, gò bó hay tự do, bởi thơ vốn không có lỗi, chỉ là mỗi người có một cánh cửa riêng để bước vào thế giới của thơ. Với tôi, đã có một thời cánh cửa ấy mang hình dáng của tám câu thất ngôn, tám câu thôi, năm mươi sáu chữ thôi, nhưng đủ để một người thức khuya dậy sớm, tìm từng chữ, sửa từng câu, xướng rồi họa, và có những đêm tưởng như đang ngồi đối ẩm cùng bạn bè mà trên bàn chẳng có lấy một chung rượu, chỉ có chữ, chỉ có thơ, và một thời mê đến quên cả ngủ.
Y Thy Võ Phú