| NGƯỜI ĐÀN BÀ MẠNH MẼ TT-Thái An Đó là năm 1946, khi Kim được gần 13 tuổi, gia đình có sự thay đổi lớn. Đó là cha sắp bỏ đi Pháp vĩnh viễn. Cha mẹ có bàn tán với nhau thật nhiều nhưng không cho con cái biết. Cho đến khi cha hỏi: -Đứa nào muốn đi theo bố thì bố dắt đi? Mấy chị em nhìn nhau, rồi em gái của Kim, cái Thoa, dơ tay lên nói: -Con muốn đi theo bố. Thế là em Thoa được bố lo giấy tờ dắt theo sang Pháp. Từ đó thỉnh thoảng bố biên thư về thăm hỏi. Nhưng bố chẳng trở về Sài Gòn thăm vợ con bao giờ. Ngoài tiếng Việt Nam, bố nói được 6 thứ tiếng khác: Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Nhật, Quảng Đông và tiếng Quan Thoại của Tàu. Bố làm cho mấy hãng buôn của Pháp, Nhật, Hồng Kong. Bố mua được ba căn nhà lớn cỡ biệt thự ở Sài Gòn, một căn để ở, hai căn cho thuê. Đang làm ăn phát đạt, bỗng dưng bố bỏ đi. Chỉ có mẹ biêt lý do. Bố để lại hết cho mẹ ba căn nhà, một số tiền Đông Dương thời đó, và một số vàng lá để nuôi con cái gồm Kim là con gái lớn và 4 đứa em nữa. Quê bố ở tận Thanh Hóa, bố di chuyển vào Trung, gặp mẹ ở Đà Nẵng rồi cưới mẹ. Sau đó dắt vợ lên Đà Lạt sinh Kim và mấy đứa em ở đó rồi lại di chuyển xuống Sài Gòn. Mẹ con Kim chẳng biết bên nội, vì bố chưa có dịp dắt vợ con về chào ông bà nội và họ hàng mà đã bỏ đi Pháp. Mẹ buồn lằm nhưng ráng nuôi con ăn học theo như bố đã dặn dò. Chị em Kim được học trường Pháp từ khi ở Đà Lạt nên về Sai Gòn cũng tiếp tục chương trình Pháp. Mẹ chẳng biết làm ăn gì nên khi xài hết tiền, thì bán vàng, hết vàng thì bán đến nhà. Bán xong một căn, xài hết tiền thì bán đến căn thứ hai. Lúc này mẹ quýnh lên nhờ người này người kia chỉ cách kiếm tiền. May phước có người chỉ cho làm nghề môi giới bán nhà để ăn tiền cò. Nhưng thời đó ít có nhà để bán, lâu lắm mới có người bán nhà đi xa. Vì thế, mẹ phải cho thuê bớt một căn phòng. Vì nhà có 5 phòng, mẹ dồn 5 chị em và mẹ vào 4 phòng. Còn một phòng cho thuê. Hết người này dọn ra, rồi người khác dọn vào. Năm 15 tuổi, Kim bắt đầu có chút hiểu biết và cảm thấy chán ngán cảnh gia thế xuống dốc, nàng tự nhủ “Tao ghét nhất là nghèo, tao phải trừ khử mày”. Nhờ căn nhà có mảnh vườn khá rộng phía sau nên Kim nghĩ ra việc nuôi chục con gà tây con cho lớn để bán. Sau đó mua heo con nuôi cho lớn rồi bán. Trong vườn có vài chục cây chuối, mẹ chặt thân cây chuối thái mỏng rồi nấu cho heo ăn. Năm 17 tuổi, đậu xong bằng thành chung (trung học đệ nhất cấp), nàng nộp đơn xin làm thư ký ở phi trường Tân Sơn Nhất và may mắn được chọn. Số lương thư ký chỉ giúp mẹ được tiền chợ và mua sắm chút đỉnh cho cả nhà và cho các em. Một hôm, có người quen dắt đến một người thanh niên xin thuê phòng. Người thanh niên được giới thiệu là dòng hoàng tộc, họ Nguyễn Phúc, tên Vĩnh, con vua Thành Thái. Gia đình vua Thành Thái mới được Pháp cho hồi hương về Việt Nam năm 1947, sau thời gian bị lưu đày 31 năm trên đảo Réunion, Phi Châu. Trông chàng thanh niên này khá đẹp trai, lại cao ráo và dòng dõi Hoàng Tộc nên Kim chú ý ngay. Chàng có vẻ ít nói, nhưng khi hỏi đến thì trả lời chậm rải, từ tốn. Chàng phát âm khó nghe quá, có lẽ ở đảo ít có người Việt Nam để nói chuyện mỗi ngày nên tiếng Việt của chàng rất cứng, rất nặng, lại nói giọng Huế cổ điển nữa, nên cả hai mẹ con Kim chỉ đoán mò. Mọi sự đều do người dắt đến nói giúp, thông dịch lại. Lý do người kia dắt chàng Nguyễn Phúc đến thuê phòng vì nhà Kim ở gần phi trường, cũng gần căn cứ quân sự của chàng. Kim tò mò hỏi chàng đang làm gì. Hóa ra chàng được đeo lon “Thiếu Úy”. Thế là chàng Nguyễn Phúc dọn vào. Ít lâu sau thì cảnh “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén” phải xẩy ra. Càng gần gũi với chàng, Kim càng kinh ngạc khi khám phá ra chàng không biết đọc, biết viết gì cả, chữ Việt cũng như chữ Pháp. Kim hỡi ôi, nàng nhận ra mình ghét thêm một thứ nữa, đó là: “Tao ghét thứ nhì là ngu dốt”. Nhưng khi Kim biết ra chàng “dốt” thì đã lỡ có bầu. Kim bực bội nghĩ thầm chàng về nước đã hơn 6 năm mà sao không chú tâm học chữ quốc ngữ? Nếu quyết tâm học thì 6 tháng là có thể biết đọc biết viết rồi. Kim buộc lòng phải thú thật với mẹ sự lỡ lầm của mình. Mẹ buồn thẫn thờ, nói: -Sau con ngu vậy? Con thất thân với nó rồi nó không lấy thì ai sẽ lấy con sau này nữa? -Con xin mẹ tha tội, chắc con phải cáo bệnh xin nghỉ làm một thời gian, con ra nhà ông bà ngoại ở Đà Nẵng chờ sinh đẻ xong rồi cho nó vào cô nhi viện hay ai xin thì cho. Mẹ nói: -Con đã nói với hắn chưa? Hỏi xem ý hắn thế nào, có muốn cưới con không cái đã. -Con nói với hắn rồi. Hắn nói nếu có con thì hai đứa dọn ra kiếm chỗ khác thuê nhà rồi nuôi con chung cho có gia đình đàng hoàng. Nhưng hắn quá lăng nhăng, vì có hôm có cô gái đến nhà kiếm hắn nói là lỡ có thai với hắn rồi. Có lần con đang đi đường với hắn, lại gặp một cô khác chạy theo hắn hẹn hò đủ điều. Con đã quyết định dứt khoát, không liên hệ vời hắn nữa. Xin mẹ và ông bà ngoại giúp con lúc này. Bà mẹ của Kim chỉ còn biết thở dài và nói: -Thôi! Con đã quyết như thế thì mẹ cũng chịu theo ý con. Thân gái “khôn ba năm, dại một giờ”. Mẹ cầu xin Chúa tha thứ cho con và cho con sự khôn ngoan để sống. Thế là Kim gói ghém hành lý, lên xe lửa ra Đà Nẵng trú ngụ nhà ông bà ngoại cho đến khi sanh con. Đứa con gái ra đời, cô mụ đem con để nằm cạnh Kim. Trông thấy con đẹp và vô tư như thiên thần, tự dưng tình mẫu tử dâng lên rạt rào. Kim không nỡ cho con nên giữ lại. Hắn có ra Đã Nẵng thăm Kim và thăm con, nhưng đi tay không, chẳng có quà cáp gì cho hai mẹ con nàng. Kim chán cái nghèo của hắn, lãnh lương ra là đi đánh bài, chẳng còn tiền đóng tiền phòng cho mẹ Kim. Hắn vừa nghèo, vừa dốt, vừa máu me cờ bạc, vừa dê gái hạng nặng. Nghĩa là hắn có đầy đủ những yếu tố mà Kim ghét cay ghét đắng. Kim chẳng còn lý do gì để lưu luyến hắn. Kim cho hắn biết nàng đã quyết dứt khoat, chàng phải dọn ra khỏi nhà của mẹ nàng. Cậu của Kim đến thăm cháu, khuyên Kim rằng: -Thôi kệ nó con, có lẽ hắn dòng hoàng tộc, quen cảnh nhiều vợ, nhiều tì thiếp trong gia tộc nó nên nó cũng như thế. Miễn nó chịu lấy con thì thôi, nó đi với cô nào nữa cũng kệ nó. Con cứ yên tâm mà nuôi con. Đứa trẻ có cha có mẹ vẫn hơn con ạ! Kim vẫn không lay chuyển ý định của mình, nhất quyết bỏ chàng và nuôi con một mình. Bởi vì, những giây phút bồng đã qua rồi, giờ thì chẳng còn chút tình cảm nào dành cho chàng nữa. Đem con về Sài Gòn, mẹ giúp nuôi cháu để Kim đi làm lại. Nhìn thấy xếp hân hoan chào đón sự trở lại của Kim khiến Kim nao lòng. Nàng tự nghĩ phải chi lúc trước nàng đừng nhìn bề ngoài lùn tịt mà chê, cứ nhìn cái đầu óc thông minh của chàng thì giờ này đã khác. Nhưng thôi, số phận cả! Chàng vừa cưới vợ. Chàng không phải của mình. Khi con gái đã 4 tuổi, bà dì đến nói với Kim: -Để dì giới thiệu với con ông này, dì thấy được lắm. -Được là được chỗ nào? -ổng làm Đại Úy cảnh sát, vừa góa vợ chừng một năm nay. Nhiều cô theo ổng lắm đó. -Nhưng ổng bao nhiêu tuổi? Có con cái gì không? -Ổng 33 hay 34 tuổi rồi, hơn con chừng 9-10 tuổi chứ mấy. Có hai đứa con gái. Từ hồi vợ chết, ổng gửi con cho chị gái nuôi giùm để ổng rảnh rang đi làm. Con cũng đã có một đứa con rồi. Kén chọn gì nữa? -vậy, dì cho con gặ̣p ổng thử. Thế là cuộc gặp đầu tiên do dì Kết sắp xếp. Ông Mẫn đã đến nhà hàng trước giờ hẹn để ngồi chờ hai dì cháu Kim. Kim mặc cái áo dài lụa Hà Đông màu ngà. Nàng trang điểm lại, dồi phấn, thoa son màu hồng nhạt. Ông Mẫn đem theo một bó hoa tặng nàng. Kim cảm động về phép lịch sự của ông. Nàng ngầm chấm điểm bộ quần áo veston mầu kem ông đang mặc, có vẻ lịch sự của dân trí thức Sài Gòn. Sau khi xong bữa, Kim nói với ông một câu tiếng Pháp ngụ ý cám ơn buổi cơm tối vui vẻ này. Ông đáp lại bằng tiếng Pháp. Thế là Kim hài lòng vì biết ông là người mà Kim có thể làm bạn được. Sau hôm đó, ông Mẫn thường đến phi trường vào buổi trưa đưa Kim đi ăn. Chỉ 6 tháng sau, ông xin cưới Kim. Hai mẹ con dọn vào ở với ông và bắt đầu một gia đình mới. Kim sinh cho ông Mẫn 2 đứa con gái. Kim không còn đi làm thư ký ở phi trường nữa. Kim đã là bà Mẫn. Nhờ khôn ngoan và có khả năng buôn bán, nàng vào Chợ Lớn mua đồ cổ, đem về bán lại cho các sỹ quan Mỹ. Họ thích mua đồ cổ trước khi về nước, phần là làm quà cho gia đình, phần là giữ lại như đồ sưu tầm. Nhờ có tiền, Kim xây nhà cho Mỹ thuê. Khi con riêng của Kim là Yến được 15 tuồi, Kim kiếm trường trung học tư thục bên Mỹ để gửi con đi học nội trú. Hai đứa con gái với ông Mẫn vẫn tiếp tục học trường Tây ờ Sài Gòn. Một ngày nọ, vợ của ông Nguyễn Phúc đến kiếm Kim. Kim ngạc nhiên không hiểu bà đến gặp Kim làm gì. Bà tự giới thiệu tên Loan. Nhờ ông Vĩnh chồng bà cho địa chỉ nhà mẹ Kim; rồi mẹ Kim cho địa chỉ mà kiếm ra. Kim hỏi bà Loan lý do tại sao muốn kiếm mình. Loan than thở ngay: -Em khổ lắm, em có 5 đứa con với ảnh rồi. Mà em phải nuôi con một mình, ảnh không biết làm ăn gì hết á. Lãnh lương Thiếu Úy không có bao nhiêu, hễ có lương là đi đánh bài. Em mở hết tiệm cơm đến tiệm may. Mà hở ra là có gái. Em mới xoay lưng là ảnh đã ôm đứa khác ngủ rồi. Ảnh ngủ với bạn của con gái mới ác chứ! -Bởi vậy tôi mới bỏ ổng. Người đâu mà có đủ mọi thói hư tật xấu! Bởi vì tôi bỏ ổng, mới tới lượt cô đó. -Chị can đảm quá! Em không được như chị. Với lại tự vì em ở quê, đàn ông ở quê em cũng say sưa tối ngày, đàn bà phải làm lụng nuôi chồng nuôi con nên em cũng chấp nhận số phận mình; miễn là chồng không lăng nhăng, không đánh dập mình thì được. Nhưng ảnh lăng nhăng chẳng chừa ai. -Làm sao cô quen với ổng? -Anh của em làm việc chung đơn vị với ảnh, dắt ảnh về quê chơi. Trông thấy em ảnh khen đẹp nên anh của em hỏi: “Thích em tôi không? Thích thì gã cho”. Ổng chịu liền. Ba má em nghe nói ổng là con vua nên ưng liền chị ơi. Kim cười ngất vì câu chuyện của Loan. Loan hỏi tới: -Em nghe anh Vĩnh nói chị có 1 đứa con gái với ảnh. Cháu có nhà không chị? -À! Tôi lo cho nó đi Mỹ học rồi. Để tôi cho cô xem hình của nó. Nói rồi bà Mẫn đem hình của Yến, con gái của ông Vĩnh cho Loan xem. Loan trầm trồ: -Đẹp quá, giống anh Vĩnh nữa. Chị lo cho cháu ăn học tốt quá. Em sẽ kể lại cho anh Vĩnh nghe để ảnh mừng. Bà Mẫn vỡ lẽ ra Loan đến kiếm mình cốt là hỏi thăm tin tức của con ông Vĩnh. Cũng tốt thôi! Hắn còn bâng khuâng nhớ đến con thì còn tốt đấy. Chợt nhớ ra một điều, bà Mẫn hỏi Loan: -Quê cô ở đâu? -Dạ, Bến Tre. -Thời cô còn nhỏ, dưới đó có trường tiểu học không? -Có. Nhưng nhà em xa phố nên hồi nhỏ em không được đi học. Xóm em chỉ có mấy thằng con trai được cha mẹ gửi đi học. Bà Mẫn thầm nghĩ hèn gì Loan thấy ông Vĩnh cũng giống Loan và mọi người trong làng xóm nên chuyện không biết chữ của ông Vĩnh không làm Loan khó chịu. Có lẽ Tây cố ý không xây trường lớp cho con cháu vua Thành Thái đi học ở đảo, để họ không thể nào trở thành người lãnh đạo được. Những ngày cuối tháng Tư, 1975 diễn ra tại Sài Gòn như bãi chiến trường, mặc dù bom đạn chưa rót xuống đây nhưng người di tản từ ngoài Trung vào nằm ngồi la liết các phố phường. Dân Sài Gòn nhốn nháo kiếm đường tháo chạy. Kẻ về quê, người ra bến cảng, ra phi trường, ra vùng ven biển, kẻ nóng lòng chờ tin chồng, con từ xa chưa về đến nhà. Trong số đó có bà Mẫn. Bà lên văn phòng của chồng để gặp cố vấn Mỹ, đe dọa nếu không lo cho mẹ con bà đi thì bà sẽ ném lựu đạn tự tử chết hết mấy mẹ con. Ông cố vấn trấn an bà về nhà chờ xe đến rước. Thế là bà về nhà chờ xe đến rước. Bà đã đem được mẹ già và hai con gái theo. Ông Mẫn ở lại đến phút chót rồi chạy ra bến Bạch Đằng kịp thời leo lên chuyến tàu chót. Nhờ có 2 người em vợ gọi đi gấp ra bến tàu. Khi ông đến nơi, tàu đang nhổ neo, em vợ ông đưa tay ra nắm lấy ông đeo theo, xém rớt xuống sông. Sau thời gian ở trại tị nan bên Guam vài tháng, Qua đến Mỹ vào cuối hè 1975. Bà Mẫn gặp lại con gái Yến, lúc này nó đã học xong trung học, chẳng đăng ký lên đại học, mà dọn vào ở chung với một thằng hơn nó vài tuổi, cả hai cùng đi bưng bàn ở một nhà hàng cao cấp, dân nhà giàu California hay đến đó. Bà Mẫn hối hận đã gửi con đi học trước đó vài năm. Nếu bà biết trước miền Nam sẽ thất thủ sớm thế này thì bà đã không gửi nó sang đây trước làm gì. Bà gọi nó đến nói chuyện riêng, bà hỏi nó: -Nếu con có bầu không đi bưng bàn được nữa, thằng kia có lo cho hai mẹ con con được không? Hay là con phài ra bộ xã hội khai nghèo khó để xin tiền trợ cấp? Con muốn làm người nghèo suốt đời hay muốn vươn lên giai cấp trung lưu? Má cho con đi Mỹ học để con lên đại học, có một nghề nghiệp vững chắc tự nuôi được thân mình. Rồi khi lấy chồng cũng lấy được người có ăn học, khi con phải ở nhà nuôi vài đứa con thì nó cũng lo cho con và con cái được. Má thấy con nên ghi danh vào đại học, học cho xong cái chứng chỉ cử nhân. Còn thằng bồ con không chịu đi học lại thì kệ nó, đời nó nó lo, đời con con lo. Nghe mẹ nói xong, Yến có vẻ suy nghĩ, rồi trả lời: -Để con về nói chuyện với nó xem nó có chịu đi học lại không. Bà Mẫn nóng nảy nói: -Má đã nói đời ai nấy lo, con chỉ cần báo cho nó biết con đã nhất định đi học lại. Vì vậy con sẽ dọn đến nơi gần trường học. Phần nó đi học lại hay không con không cần hỏi nó làm gì. Con không nên quản lý đời nó. Và nó cũng không được quản lý đời con. Thế là Yên nghe lời mẹ. Vài năm sau học xong, Yến lấy một người học cùng trường, ai cũng có việc làm tốt. Có với nhau hai đứa con trai. Chồng thường xuyên đi làm ăn xa nhà, mỗi lần đi xa vài ngày hoặc một tuần. Tình cảm vợ chồng cũng lạnh nhạt dần. Yến đi làm nhà bank, có cơ hội quen biết nhiều. Có hôm, một ông khách hàng quen đến mượn chìa khóa xe của Yến để đi đâu một lúc. Vì biết ông này là luật sư nổi tiếng ở đây nên Yến không ngại đưa chìa khóa xe cho ông. Ông đem xe của Yến đi rửa rồi đổ đầy thùng xăng. Ông giao lại chìa khóa cho Yên và bá cáo khiến Yên ngạc nhiên và có cảm tình với ông. Từ đó ông hẹn hò với Yên. Chẳng bao lâu sau Yến ly dị chồng để lấy ông luật sư này. Yến sinh cho ông chồng luật sư hai đứa con, một trai và một gái. Hơn ba mươi năm sau Bà Mẫn nghe tin gia đình ông Vĩnh đang ở Houston , Texas . Vợ chồng ông mời bà đến chơi. Bà có ghé thăm, căn nhà single house khá khang trang. Năm đứa con gồm ba trai, hai gái đều thành đạt. Hai con trai làm bác sỹ, một con trai làm luật sư. Một con gái tốt nghiệp kỹ sư, lấy chồng Pháp và sang Pháp ở, một con gái cũng ra đại học và có việc làm tốt. Bà Mẫn suy gẫm: cha mẹ dốt, không biết chữ mà con cái đều học giỏi và có hiếu với cha mẹ. Âu có lẽ do có cái gen thông minh di truyền nên khi sống trong môi trường tốt, có điều kiện phát triển, có cơ hội ăn học thì cái gen thông minh đó có thể phát triển được. Loan, người vợ của ông Vĩnh tuy không được ăn học bao giờ, nhưng bà có khả năng quán xuyến hàng quán, gánh vác kinh tế lo cho chồng con chứng tỏ bà cũng là người thông minh, sáng dạ. Các con ông bà Vĩnh tiếp đãi bà Mẫn ân cần, gọi bà là “dì”. Chúng tặng hình cho bà Mẫn, hình cá nhân và hình toàn gia trở về Huế làm lễ giỗ cho vua Thành Thái tại ngôi mộ của ông, xếp đầy một album nhỏ. Vài năm sau ông Vĩnh qua đời, con trai ông có gửi email báo tin gấp cho bà Mẫn và con gái bà là chị Yến của chúng. Nhưng bà Mẫn và Yến không đón máy bay di dự. Bà Mẫn không cảm thấy cần phải đi. Riêng Yến thì nói: “Ổng có nuôi con bao giờ đâu, con không thấy có gì liên hệ với ổng nên không muốn đi”. TT-Thái An 8/11/2024 |