| NGƯỜI THIẾU PHỤ BẤT HẠNH Mặc dù hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, Việt Nam Cộng Hoà không còn nữa. Nhưng di sản và tinh thần của một chính thể tự do dân chủ pháp trị VNCH vẫn tồn tại ở hải ngoại, thông qua các tổ chức cộng đồng người Việt tị nạn. Hàng năm các cựu quân nhân và cộng đồng người Việt vẫn trang trọng tổ chức kỷ niệm ngày 19/6 là ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Để tưởng niệm và vinh danh sự hy sinh của các chiến sĩ đã chiến đấu để bảo vệ tự do, dân chủ cho miền Nam Việt Nam. Ngày 30 tháng 4 /1975 cộng sản Bắc Việt tràn vào trấn lột hết tài sản, nhà cửa, đất đai của đồng bào miền Nam, mà còn miệt thị là “Dân nguỵ”. Để rồi hàng trăm ngàn quân ,dân, cán, chính, VNCH bị Việt cộng hành hạ, bức tử trong các trại tù “Tập trung cải tạo”. Trong khi cha mẹ, vợ con ở ngoài xã hội bị bạc đãi, bị phân biệt và đối xử tệ hại. Nhân đây xin ghi lại vài hình ảnh của cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, của dân chúng vào cái ngày “Hấp hối” ấy. Người ngược người xuôi hoang mang, hoảng loạn. Trong ngôi biệt thự tại đường Hoàng Hoa Thám Gia Định, ba má Ngọc Hân chuẩn bị thoát khỏi Saigon. Ông bà nhắn tin từ trước để con gái về nhà, kịp ngày di tản, nhưng cô còn chần chừ đợi chồng, để rồi số phận đã tách cô ra khỏi cha mẹ. Từ cư xá Lữ Gia đến nhà cha mẹ không xa lắm, nhưng Ngọc Hân cứ loay hoay với đứa con gái chưa đầy năm tuổi, và đợi tin chồng đang đóng tại căn cứ Biên Hoà Sư Đoàn 3 không quân. Anh vắng nhà triền miên, ngày đêm cô luôn dõi mắt về phương trời xa xăm, hồi hộp khi nghe tiếng súng vọng về, hay những chiếc trực thăng tải thương hạ cánh dưới ánh hoả châu sáng rực một góc trời. Tình hình chiến sự sôi sục khắp nơi, tin mất miền Trung, rồi đến các tỉnh miền Nam liên tiếp, trên màn hình TV chiếu cảnh những xác chết tràn ngập trên tỉnh lộ rồi quốc lộ. Ngọc Hân lo lắng rồi đây miền Nam sẽ thế nào? Chồng cô sẽ ra sao? Nên không thiết tha đến lời nhắn gọi của cha mẹ. Thế rồi cái ngày biến cố kinh hoàng qua đi, sự chờ đợi của cô được tính từng giờ từng khắc mà chồng vẫn chưa về. Ngọc Hân không thiết ăn, thiết ngủ, nhưng khoảng nửa đêm hôm ấy cô đang nằm khóc thì nghe tiếng gõ cửa, chạy vội ra mở, Hùng đứng sững trước mặt, hai người ôm chầm lấy nhau mà nước mắt đong đầy. Hùng nắm lấy bàn tay đang run rẩy của vợ, anh thương cảm nói: “Đừng sợ! Dù sau này có thế nào, anh vẫn ở bên em”. Hùng dìu cô vào trong đỡ vợ ngồi xuống anh từ từ kể cho cô nghe, lý do là vì anh quá mải mê thi hành nhiệm vụ, không kịp về đón vợ con để rồi giờ phút cuối cùng không còn phương tiện ra đi, nên bị kẹt lại. Dù đã lỡ chuyến tàu, nhưng hai người thật hạnh phúc khi còn có nhau trong cơn biến loạn. * Tháng 6/1975 theo thông cáo của Đảng cộng sản, bắt buộc các sĩ quan và viên chức hành chánh thuộc chính phủ VNCH, phải ra trình diện để đi “học tập cải tạo”. Hùng mang theo đồ dùng cá nhân và đóng tiền ăn, tưởng là một tháng, nhưng đã qua mấy tháng rồi Ngọc Hân cũng chẳng thấy chồng về. Cha mẹ ruột sống chết ra sao, không nhận được tin tức gì. Mẹ và anh em chồng ở xa, cuộc sống của họ cũng khó khăn thiếu thốn lắm. Ngọc Hân thấy mình đơn độc, nhỏ bé trước cuộc đời, lúc nào cũng nơm nớp sợ hãi trước áp lực và sự hằn thù của xã hội mới, cô chỉ biết ôm con ngồi khóc, cô không hiểu tại sao những người chế độ mới, lại dối trá lừa gạt người ta như vậy. Ngày tháng mong chờ dài lê thê, một hôm Ngọc Hân nhận được thư chồng cô mừng lắm rồi đến bưu điện gửi những gói quà năm ký theo lời anh dặn dò. Từ nhỏ cô sống trong sự bảo bọc của cha mẹ không làm gì đụng đến móng tay, nên giờ đây chẳng biết xoay xở cách nào để kiếm tiền sinh sống, đồ đạc trong nhà cứ âm thầm ra đi, từ chiếc xe Honda, đến tủ đứng, tủ chè, có người đến tận nhà mua. Nhìn thấy bạn bè giỏi giang, xốc vác, buôn hàng chuyến bán hàng chui, thấy mà nể. Cuối cùng nhìn quanh không còn gì để bán cô phải bán căn nhà ngoài mặt đường, mua nhà nhỏ trong ngõ hẻm. Có lẽ vì vậy mà sau này cha mẹ cô mất địa chỉ không liên lạc được. * Ngọc Hân buồn bã hồi tưởng lại thời thơ ấu, gia đình cô sống trong xứ đạo tại Ban- Mê-Thuột, là vùng rừng thiêng nước độc, người Thượng đông hơn người kinh. Nhưng không hiểu sao lòng cô cứ xao xuyến, thổn thức mỗi khi nhớ về vùng quê hương xa xôi đó. Có lẽ nó đã lưu lại trong cô những kỷ niệm của tuổi thơ bên cha mẹ, anh em và một tình yêu đầu đời. Thành phố Ban Mê Thuột là một thị xã nhỏ, nằm trên đỉnh đồi bằng phẳng. Cô nhớ nhất là những cơn mưa dầm lầy lội, mỗi khi đi bộ trên con đường đất đỏ dẻo quẹo, dính vào guốc, dép cao cả tấc, phải dừng lại đập mạnh, đất văng ra mới bước nổi. Ai đến đó cũng than buồn, nên còn gọi là xứ “Buồn Muôn Thuở”. Dọc theo đường Nguyễn Du, những hàng phượng vĩ cổ thụ, vào mùa hè nở hoa đỏ rực mang sức sinh động cho vùng đất sương mù. Chung quanh thị xã có nhiều con dốc ngắn dẫn xuống những dòng suối trong mát. Bên cạnh cánh rừng nguyên thuỷ là các làng Thượng sống quây quần trên những dãy nhà sàn đơn sơ. Có nhiều sắc dân, nhưng người Rhade’ chiếm đa số và ảnh hưởng thời Pháp thuộc xa xưa, khi người Pháp mở đồn điền tại đây. Nay đã trở về cố quốc, nhưng còn để lại những đứa con lai có sống mũi cao và đôi mắt sâu trong sáng, thông minh đầy mê hoặc, họ văn minh nhất trong các dân tộc thiểu số vùng cao nguyên Trung phần. Hùng và Ngọc Hân ở chung xóm, học cùng trường, cô dưới anh hai lớp. Nhưng gia đình Ngọc Hân thuộc tầng lớp khá giả, nên đi học cô có xe đưa, xe đón, còn Hùng chạy “lô ca chân” nhưng hai đứa chơi rất thân. Nhờ anh chỉ bài, và bênh vực mỗi khi bị lũ nhóc trong xóm bắt nạt vì tánh tình cô hiền lành thuỳ mị. Cha mẹ cô sinh được năm người con, bốn trai, một gái. Ngọc Hân là con gái út nên được cưng nhất nhà, ngoài sự cưng chiều nâng niu cô còn bị giám sát chặt chẽ, không cho ra ngoài tự do bay nhảy với các bạn, sợ con hiền quá sẽ bị bắt nạt vì thế đã làm cô trở thành nhút nhát, để rồi những khuyết điểm đó đã theo cô suốt đời. Hùng và Ngọc Hân cùng nhau lớn lên trong chiến tranh, hợp rồi lại tan. Năm lên đệ thất thì gia đình cô đổi lên Kontum. Viết thơ trả lời Hùng, cô kể về con sông Dăkbla bao quanh thành phố nhỏ bé của miền cao nguyên, nằm dưới thung lũng núi Trường Sơn. Thác Yaly cao gần bốn mươi mét, mây trắng bay lững lờ trên đỉnh ngọn Ngọc Lĩnh, đẹp như một bức tranh. Nhưng vì không có Hùng chỉ bài nên cô học yếu lắm, phải ở lại lớp hoài. Những nét mực tím nắn nót trên trang giấy trắng, bay đến bay đi như cánh chim non. Nhớ thương ở “tuổi ô mai” như giọt sương long lanh trên cành lá. Đến năm Ngọc Hân lên đệ tứ thì gia đình cô trở lại Ban Mê Thuột phố cũ đường xưa. Năm đó Hùng đang sửa soạn thi tú tài. Gặp lại nhau lần này, hai đứa nhìn nhau ngượng ngùng, Ngọc Hân đang bước vào tuổi dậy thì, khuôn mặt trái soan, đôi mắt to mầu hạt dẻ, mái tóc dài phủ kín bờ vai thật xinh xắn. Thời bấy giờ bạn bè cùng trang lứa với Ngọc Hân, đã lần lượt lên xe hoa theo chồng, cô cũng không ngoại lệ, rất nhiều đám mai mối dạm hỏi. Còn Hùng trở thành một thanh niên cao lớn bảnh bao, nhưng vẫn hai bàn tay trắng, không dám mơ mộng gì ngoài nợ sách đèn. Rồi Hùng bắt đầu để ý đến một điều mà trước kia anh chưa bận tâm, đó là sự khác biệt giầu nghèo giữa hai gia đình. Mẹ Ngọc Hân là người đàn bà đảm đang, buôn bán giỏi giang. Sau này không còn ở xóm cũ, mà bà mua căn nhà hai tầng ngay mặt đường Quang Trung trên phố, để mở tiệm buôn bán. Nhìn lại cảnh nhà nghèo đông em của mình, Hùng mới thấm thía sự khác biệt và ngăn cách giai cấp xã hội. Nhưng Hùng luôn tự tin vì anh là một học sinh xuất sắc, thường được lãnh giải danh dự vào mỗi kỳ phát thưởng cuối năm. Ở tỉnh lẻ, một cậu học sinh giỏi, đậu tú tài toàn phần chuẩn bị lên đại học, đó là một vinh dự được nhiều người biết đến. Dịp may đến với Hùng, ba Ngọc Hân cần tìm người giỏi toán để dạy kèm cho cô, Hùng đã được chọn. Kỷ niệm đẹp và nhớ nhất là những buổi dạy cô học, từ bài giải phương trình đại số, đến chứng minh hình học, anh luôn đem hết kinh nghiệm hiểu biết để truyền đạt cho cô, Hùng giảng bài say sưa như một nhà giáo tận tâm. Nhưng khi anh hỏi Ngọc Hân có hiểu không? với ánh mắt ươn ướt buồn cô lắc đầu. Chẳng những không nản anh lại tiếp tục tìm mọi cách, dùng mọi thí dụ dẫn chứng để cô học trò cưng hiểu được mới thôi. Hùng kèm cho Ngọc Hân thêm môn sinh ngữ và năm đó cô đậu Trung Học Đệ Nhất Cấp, ba má cô ăn mừng lớn, và trả công hậu hĩnh cho “ông thầy”, nhưng anh từ chối. Anh nhớ mùa hè năm đó thật tuyệt vời, hai trái tim đã có chung nhịp đập, nhưng vẫn kín đáo dịu dàng, phảng phất một chút hương vị ngọt ngào của tình yêu đầu đời: “Tình trong như đã mặt ngoài còn e” (ND). Rồi cuối năm đó ba Ngọc Hân đươc lệnh chuyển vào Saigon để nhậm chức mới. Mấy tháng đầu Hùng còn nhận được thư trả lời của cô, sau thưa dần rồi mất liên lạc. Từ đó Hùng đâm ra thất tình, anh nhớ nhung, anh đau khổ, cứ thơ thẩn ôm cây đàn, gảy lên những điệu nhạc buồn. Chán rồi anh lại mang sáo ra thổi, tiếng sáo trầm bổng ai oán trong đêm khuya của miền cao nguyên giá lạnh. Những người hàng xóm quen dần với chàng “Trương Chi thời mới”. Bố mẹ anh thương con nhưng không biết làm gì giúp con, hơn là những lời an ủi mộc mạc, như ủi an chính mình. Thời gian lặng lẽ trôi, tình hình chiến sự ngày càng khốc liệt. Theo tiếng gọi non sông, Hùng tình nguyện gia nhập trường Bộ Binh Thủ Đức. Khi tốt nghiệp được tuyển sang Không Quân, sau thời gian hai năm học Anh Ngữ và học bay, rồi trở thành phi công. Giữa lúc quê hương đang tràn ngập khói lửa. Hùng đã âm thầm bay trong đêm tối, không quản ngại trước mũi súng phòng không của quân thù, để thi hành những phi vụ yểm trợ cho các đơn vị bạn, mỗi khi căn cứ bị áp lực nặng nề của địch quân phong toả. Nhưng không gì buồn hơn phải chứng kiến những cánh chim bằng gãy cánh hoặc nổ tung khi chưa kịp vào bãi đáp, một số hoa tiêu đã vĩnh viễn ra đi không trở lại. Chiến tranh đồng nghĩa với đau thương và mất mát. Đôi lúc Hùng cảm thấy chán chường. Nhờ cơn say đã đưa anh vào giấc ngủ để quên hình bóng Ngọc Hân. Nhưng ông Trời không phụ người có lòng thành. Một hôm Hùng gặp anh Hai của Ngọc Hân trong tiệc cưới người bạn, anh Hai đã cho Hùng địa chỉ nhà. Đó là một cửa tiệm khang trang nằm đối diện chợ Bà Chiểu, bán đồ điện gia dụng, Tủ lạnh, TV.… Nên tìm không khó. Vừa bước vào tiệm, Hùng gặp mẹ của Ngọc Hân, bà tiếp anh không niềm nở chỉ hỏi thăm qua loa. Ở trên lầu nghe nói chuyện lao xao, tưởng có khách mua hàng Ngọc Hân xuống phụ mẹ. Nhưng khi nhìn thấy Hùng, cô đứng sững, chân tay bủn rủn gần té xỉu, anh xúc động khi nhìn thấy người yêu xanh xao. Anh khẽ gọi tên cô, Ngọc Hân để hai dòng nước mắt thi nhau chảy rồi trách nhẹ: “Sao bây giờ anh mới đến”. Mẹ cô thấy tình cảnh ấy cũng không cầm lòng được, đành mời Hùng ở lại dùng cơm với gia đình, rồi nói ngọn ngành cho Hùng hiểu, sở dĩ bà không muốn cho Ngọc Hân tiếp tục quen biết anh, vì sức khoẻ rất yếu, Bác sĩ nói cô không thể lập gia đình và sinh con, vì bệnh tim. Qua câu chuyện Hùng được biết, từ khi vào Saigon cô học thêm hai năm rồi nghỉ luôn ở nhà phụ mẹ bán hàng, vì chẳng đậu thêm được bằng gì nữa khi không có Hùng dạy kèm. Anh đã hiểu và thương Ngọc Hân vô cùng, Hùng xin phép ba má cô cho anh được ở bên cô suốt đời để yêu thương và chăm sóc cho cô. Vì anh tin vào tình yêu chân thành của hai người sẽ giúp trái tim cô mạnh mẽ hơn. Ba của Ngọc Hân đã quý mến Hùng từ trước, nay thêm dáng vẻ hào hoa phong nhã của chàng pilot, lại thấy con gái “rượu” vui vẻ, nên ông sẵn lòng chấp nhận. Trong khoảnh khắc, anh đã có người yêu đợi chờ, đã có chốn để về mỗi khi hết phi vụ. Hùng âu yếm nắm gọn bàn tay Ngọc Hân, những ngón tay thon dài, nồng ấm, mềm mại trong lòng tay anh, như có sức hút cột chân anh lại. Mối tình si từ hồi hai đứa cùng chung một mái trường giờ sống lại, vẫn còn cái ngây ngất thời xa xưa, lẫn với cái nóng bỏng hiện tại. Ngọc Hân cũng tươi tỉnh khoẻ mạnh hơn. Thật ra bệnh “tâm lý” đã làm cô suy sụp! Nhưng khi Hùng về Ban Mê Thuột để xin mẹ cưới Ngọc Hân, vì lúc đó cha anh mất rồi. Mẹ anh phản đối vì tự ái, bà nói: “Giấy rách phải giữ lấy lề. Người ta cao sang như vậy, khó ăn nói lắm con ạ!”. Nhưng anh đã nhất định, vì ký ức anh đầy ắp hình ảnh Ngọc Hân từ lúc còn là cô bé nhút nhát. Tình yêu đã lớn dần theo thời gian, cuộc đời anh sẽ không còn ý nghĩa gì khi thiếu vắng Ngọc Hân. Chuẩn định lệch lạc của cha mẹ đôi bên, không thể quyết định cho cuộc tình hai người nữa. Hai mảnh đời phải bù đắp cho nhau, bờ vai anh luôn là chỗ dựa, hơi thở anh sẽ sưởi ấm cho trái tim yếu đuối của Ngọc Hân. Rồi một đám cưới gửi rể có một không hai, ba má Ngọc Hân thông cảm cho hoàn cảnh xa xôi của mẹ Hùng. Một buồng cau mươi lá trầu, cũng đủ để nên duyên chồng vợ, đôi bên đồng lòng giảm bớt lễ nghi rườm rà “thương con thì ngon mọi sự” là vậy. Hùng thương người vợ yếu đuối mong manh, vì bác sĩ cho biết, phải tuyệt đối tránh không để nàng xúc động, cả tinh thần lẫn thể chất. Sau những ngày tháng hạnh phúc, khi biết mình có thai cô vừa mừng vừa lo, còn Hùng thì băn khoăn vì vợ không nghe lời khuyên của Bác sĩ, mà cố giữ đứa con trong bụng. Nhưng Thiên Chúa đã nhận lời khẩn xin chân thành của hai người yêu nhau tha thiết, ngài đã phù hộ cho Ngọc Hân. Lần vượt cạn “thập tử nhất sinh” duy nhất ấy, để hai người có được đứa con gái thật kháu khỉnh dễ thương. Hai người như uyên ương chấp cánh hạnh phúc cho đến ngày đổi đời…. *** Lại nói về Hùng. Sau khi trình diện nhà cầm quyền mới, anh bị đưa lên Tây Ninh rồi chuyển về trại Long Giao. Thực phẩm mang theo đã hết, nhiều ngày trôi qua, chẳng thấy đả động đến học với tập. Có người thắc mắc, thì tên quản giáo nhìn mọi người cười nửa miệng: “Chúng tôi bảo các anh mang theo đồ dùng mười ngày, chứ có bảo tập trung cải tạo mười ngày đâu?!?… Tất cả đã chui vào bẫy tình ơ quên “bẫy tù” ít thì ba năm, trung bình năm, sáu năm hoặc mười năn trở lên. Có người đi “mút chỉ cà tha” không ngày về. Thế rồi Hùng cùng các bạn từ trại tập trung miền Nam bị đày ra trại tù khổ sai miền Bắc, nơi rừng sâu nước độc không quen với chướng khí lạ, lại ăn đói uống khát, sức lực tích lũy trong người cũng teo tóp theo thời gian. Suy yếu từ thể xác đến tinh thần, sức đề kháng xuống thấp, nên dễ nhiễm bệnh, đau ốm không thuốc men, chỉ một cơn gió độc cũng đủ làm người tù liệt giường. Chính sách của Việt Cộng lúc đó hành xử với người tù miền Nam là không bắn ngay, mà để chết dần chết mòn. Quan thầy Cộng Sản là Nga và Tàu, đã dậy Việt cộng bỏ tù đồng loại một cách tinh vi, xảo quyệt mà họ tự nhận là khoan hồng, là quan tâm giáo dục. Đến lúc tận dụng cạn kiệt xương máu của tù nhân, cũng không thả về, chỉ cho phép được viết thơ về nhà xin quà. Tác giả Nhược Thu đã bùi ngùi: “Gói quà năm ký, mở run run Không khóc mà nghe lệ đẫm tròng Em chốn quê nhà bao khổ nhọc Nuôi chồng nuôi cả mảnh tình chung”. Từ năm 1976 đến 1979 trong trại anh em tù chết quá nhiều, ban đầu mỗi ngày một người, dần dần tăng lên 2 hoặc 3 người, ai cũng rùng mình nghĩ, nay mai rồi cũng đến phiên mình. Nhìn những người bạn từ giã cõi đời, không một lời cầu kinh, không thân nhân bên cạnh. Chỉ có bốn người tù làm một công việc đau lòng là chôn bạn. Người mới chết, nằm cạnh người bạn mình vừa chôn trước mấy ngày. Mãi đầu năm 1979 Đảng mới cho phép gia đình các cải tạo viên từ Nam ra Bắc nuôi thay cho họ. Nhờ thế những người tù sống sót, có sức mà lao động khổ sai tiếp. * Thế nên một hôm Ngọc Hân nhận được thư Hùng, ngoài những câu thăm hỏi bình thường, còn lại anh hướng dẫn cô liên lạc với các chị bạn có địa chỉ gần nhà, mà chồng đang “học tập” cùng trại với anh. Cô nghe lời, đem giấy phép thăm nuôi cùng tờ hộ khẩu, mang lên phường để xin xác nhận. Rồi phường giới thiệu lên quận, lúc đó trên quận mới cấp giấy chính thức được phép ra Bắc tiếp tế cho chồng. Sau đó cô tìm gặp được các chị đi thăm chồng có cùng địa chỉ, để theo họ cho có bạn đường xa. Đọc lại dòng thơ qua nước mắt/Cùng nhau chung ngắm một vầng trăng/Vì ai ngăn cấm trời Nam Bắc/Còn buồn nào hơn hơn sống chẳng gần. Rồi Ngọc Hân đem con gửi nhà người quen. Sáng sớm mới bốn giờ rưỡi cô đến ga Hòa Hưng Saigon, gặp mặt bạn như đã hẹn, có hai chị đi Thanh Hóa, còn lại người thì đi Vĩnh Phú, Vĩnh Quang. Các chị bạn mua vé ở toa chở hàng hóa, không có ghế, phải ngồi chồm hổm, chung với những giỏ nhốt gà, nhốt heo kêu eng éc, mùi xú uế nồng nặc xông lên ngập mũi. Cũng may nhờ một chị bạn nhanh chân chen lên trước kiếm được khoảng trống trong góc toa, mọi người ngồi chung một chỗ, đồ đạc mạnh ai nấy ôm hoặc làm chỗ dựa lưng, rồi bó gối chia nhau ngủ để canh chừng ăn trộm. Giật mình vì tiếng còi hụ báo hiệu sắp vào sân ga, tiếng máy xình xịch, thỉnh thoảng thét lên rờn rợn như tiếng rú của con quái vật bằng sắt. Mọi người hối hả, vội vàng, rời khỏi tàu, khi mặt trời sắp khuất sau rặng núi xa xa. Con đường vào trại, núi rừng chập chùng, cả xe trâu lẫn xe thồ đi mải miết mà cũng không kịp, màn đêm buông xuống rất nhanh. Mọi người đành dừng chân ở một khu chợ quê, đã tan từ trưa chỉ còn trơ những xạp gỗ và vài con chó đói lang thang. Khó khăn lắm mới kiếm được một chỗ trọ tồi tàn để ngả lưng qua đêm. Hôm sau trời chưa sáng hẳn, đã lục đục kéo nhau lên đường. Mãi gần trưa mới thấp thoáng thấy dưới thung lũng xa xa những tù nhân đang canh tác, người cày người cuốc, người gánh nước tưới rau, trong âm thầm lặng lẽ, như một thước phim câm. Tới nơi, mọi người hấp tấp đi nộp giấy thăm nuôi, rồi ngồi chờ. Những người bạn lần lượt được ngồi hàn huyên với chồng, đối diện trên chiếc bàn dài bằng tấm ván xẻ đôi, dưới sự giám sát của quản giáo đứng hai đầu bàn. Người ra kẻ vào, được vài tiếng đồng hồ thì hết giờ thăm nuôi. Quản giáo trại thông báo: “Ai chưa gặp được người nhà, thì ở lại chờ ngày hôm sau”. Trương Ngọc Hân đâu? Nghe gọi tên, giật mình đứng bật dậy, cô nghĩ thầm rồi cũng đến lượt. Nhưng người Cán bộ phụ trách thăm nuôi dẫn cô đi vòng ra phía sau, đến văn phòng để “làm việc” như lời ông ta nói. Ông kéo ghế bảo ngồi chờ, chừng mươi phút sau, một gã quản giáo lớn tuổi cầm giấy tờ đi ra mặt mũi lạnh lùng : -Tôi là Phèn cán bộ chấp pháp trại, có điều muốn hỏi chị, chị đã nhận được thư anh ấy gửi về từ khi nào? Cô trả lời : “Thư nhà tôi viết đề ngày 25 tháng 4 nhưng đầu tháng 9 tôi mới nhận được, có gì không thưa ông?”. Đọc sơ giấy phép thăm nuôi, nhìn vẻ mặt xanh xao của cô, hắn tiếp: “Rất tiếc! Chị không thể gặp tù nhân Lại Thế Hùng được, anh ta đang bị kỷ luật, giam ở cách đây xa lắm”. Cô năn nỉ xin cho gặp chồng nhưng không được. Thất vọng, cô bắt đầu khóc lóc kể lể, lặn lội cả hàng ngàn cây số, khuân vác quà cáp nặng nhọc vất vả, mà giờ đây không được gặp mặt thì biết làm sao mà mang về. Tình hình có vẻ căng thẳng, lão già quản giáo thấy vậy nói: “Thôi chị về đi, cứ để các giỏ thức ăn lại, chúng tôi sẽ đưa cho anh ấy”. Nghe vậy cũng hết cách, cô đến làm thủ tục gửi mấy giỏ đồ xong. Thất thểu đi theo những người bạn đã được gặp chồng ra về. Đến nhà trọ, các chị nói chuyện với nhau, nghe các anh nói mấy tháng trước có vài người trốn trại, hai người bị cai tù bắt lại, có người bỏ chạy không biết có thoát không? Nghe vậy nhưng không biết thực hư ra sao, mà không có người quen ở miền Bắc để ở lại. Vì bản tính nhút nhát, chậm chạp, cô chỉ biết lấy nước mắt trôi đi những nỗi lo âu! Không gặp được chồng lại mấy ngày đêm đi đường xa mệt mỏi, cô cảm thấy người không được khỏe đành phải theo các chị bạn về Saigon cho kịp chuyến xe. Sau này, cô liên lạc được với gia đình bên Mỹ, bố cô đã mất, nhưng mẹ và các anh muốn làm giấy tờ bảo lãnh cho cô, nhưng Ngọc Hân trả lời không đi vì phải ở lại đợi chồng về!. *** Kể từ ngày Hùng đi trình diện để “học tập cải tạo” tính đến nay gần mười năm. Vào một buổi chiều trời u ám như sắp chuyển cơn mưa, có người bạn cùng tù “cải tạo”chung với Hùng đến báo tin: -Chị ơi! Anh Hùng và chúng tôi trốn trại bị thất bại. Tôi và người bạn nữa bị bắt đem về giam trong nhà kho của trại, bị cùm hai chân, hai tay, bị tra tấn và bị bỏ đói, cũng gần chết. Từ lúc tôi được thả về đến giờ, cố hỏi thăm mãi mới tìm được nhà để báo tin buồn này cho chị. Ngọc Hân ngã quỵ xuống trong đau khổ, mất đi người yêu dấu, người chồng là chỗ dựa tinh thần đời cô là nỗi đau tột cùng. Nhà cửa quay cuồng, trước mắt cô mọi vật tối đen. Người bạn đỡ cô ngồi lên, an ủi và khuyên cô hãy bình tĩnh. Chờ một lúc cô hồi tỉnh lại, rồi người bạn kể chi tiết hơn về cuộc trốn trại của ba người. Đã chạy vào trong rừng được hai ngày, nhưng quân vệ binh cộng sản truy lùng gắt gao quá, ba chúng tôi mạnh ai nấy chạy, nên bị lạc mất nhau. Cuối cùng hai đứa bị bắt lại, tưởng là Hùng may mắn chạy thoát, nhưng sau đó nghe tin đã bị bắn chết. “Một đêm gió lạnh mưa gào, được tin anh đã đi vào thiên thu. Chồng en chết giữa ngục tù, khổ sai đói rét, cộng thù giết anh”. (Nguyệt Ánh). Ngọc Hân đau đớn và tuyệt vọng, muốn chết theo chồng. Nhưng tình mẫu tử và trách nhiệm với con thơ đã giữ cô lại với cuộc đời. Ôm con vào lòng tìm chút niềm an ủi. Rồi cô vật vã khóc thương cho người chồng vắn số, cũng là để khóc thương cho số phận bất hạnh của mình: Chiều buồn gió chuyển mưa mau Được tin anh mất quặn đau thắt lòng Đường đời ta chẳng bước chung Từ đây mộng ước tương phùng tiêu tan * Buồn thương số phận long đong Còn gì đâu nữa mà mong mà chờ Giữa đường nhân thế bơ vơ Con thơ vợ dại biết nhờ cậy ai!. NĂNG KHIẾU |