| Ngưỡng Cửa Khó Quên Cung Thị Lan ![]() Trong suốt cuộc đời, tôi đã trải qua khá nhiều ngưỡng cửa vào các trường công lập ở Việt Nam và Hoa Kỳ, nhưng ngưỡng cửa vào trường công lập Nữ Trung Học Nha Trang là ngưỡng cửa ghi lại trong ký ức tôi nhiều kỷ niệm đáng nhớ nhất. Để được nhận vào trường Nữ Trung Học Nha Trang, các nữ sinh từ các trường Nữ Tiểu Học Nha Trang và các trường công, tư thục khác phải trải qua một kỳ thi rất khó gồm Tập Làm Văn, Toán và Câu Hỏi Thường Thức. Kỳ thi này được gọi nôm na là kỳ thi vào lớp đệ thất (tương đương lớp 6 sau này). Đậu kỳ thi Đệ Thất để được học trong trường Nữ Trung Học Nha Trang là niềm vui lớn đối với chúng tôi và là niềm hãnh diện của cha mẹ chúng tôi, bởi vì khi được nhận vào trường, phụ huynh học sinh không phải trả học phí, còn chúng tôi được học ở một trong những ngôi trường nổi tiếng nhất của thành phố biển Nha Trang. Do giới hạn số học sinh thâu nhận vào lớp Đệ Thất của trường Nữ Trung Học Nha Trang, phụ huynh của các gia đình nghèo, không có điều kiện cho con học kèm, ít có hy vọng con của họ có thể thi đậu. Bác cả của tôi, bác Cung Giũ Nguyên, có lẽ cũng có cùng ý nghĩ này, nói với má tôi nên cho tôi ghi danh vào học lớp Đệ Thất của trường Lê Quý Đôn, một trường bán công khá tốt, trong khi chờ kết quả thi của trường Nữ Trung Học Nha Trang. Bác muốn phòng trường hợp tôi thi rớt, nhập học trễ trong trường tư thục sẽ bị mất bài hay có thể mất một năm học. Má tôi nghe có lý, đồng ý ngay. Thế là má đặt may cho tôi hai cái áo đầm bông hoa rất sặc sỡ. Tôi không quen đi học với áo bông hoa màu mè, đoán rằng má muốn tôi có vẻ “sang trọng” xứng đáng là cháu của một hiệu trưởng trường bán công trung học Lê Quý Đôn. Năm 1968, mái tóc dày và dài đến lưng của tôi thường được tôi thắt bím thành hai con rết gọn gàng. Hai bím tóc con rết này tạo cho tôi một khuôn mặt có vẻ hơi quê mùa kém tươi tắn. Bác cả của tôi, người mà tôi thường gọi “bác trai”, có lẽ cũng nghĩ mái tóc của tôi ảnh hưởng đến dáng vẻ bề ngoài của tôi nên trước khi cho tôi nhập học vào trường Lê Quý Đôn, bác gọi tôi vào phòng sách của bác để bác cắt tóc cho. Tôi rất kinh ngạc vì tôi chưa hề thấy bác cắt tóc cho ai, nhưng không thắc mắc gì, ngoan ngoãn nghe theo lời. Sau khi bảo tôi ngồi trên một cái ghế gỗ, bác choàng quanh cổ tôi một miếng vải trắng rồi lấy kéo, lược và tỉ mỉ cắt tóc cho tôi với nét mặt hết sức chăm chú. Đây là lần đầu tiên tôi được cắt tóc như ở trong tiệm cắt tóc. Chỉ khác là xung quanh tôi không phải là bàn gương của tiệm hớt tóc mà kính phản chiếu của tủ đựng sách và cái bàn có nhiều cuốn sách và máy đánh chữ ở trên. Tôi không hình dung mái tóc mới của mình như thế nào và cũng không quan tâm lắm vì tôi đang thú vị với lần đầu tiên được ngồi trong phòng đọc sách của bác trai. Đây là nơi bọn trẻ chúng tôi không bao giờ được phép bước chân vào. Bác trai tôi có thói quen làm việc trong yên tĩnh. Bác thường đánh máy hay đọc sách với sự tập trung cao độ. Hiểu ý bác, những đứa trẻ trong nhà hiếm khi đi ngang, nói lớn hay gây tiếng động gần nơi phòng đọc sách. Nhìn những tủ kính cao nghệu với những gáy sách dày mỏng xung quanh, tôi cảm thấy như đang ở trong một hàn lâm viện trang nghiêm. Một lúc sau, tôi bỗng giật mình khi thấy một khuôn mặt “ngô ngố” trong chiếc kính của tủ sách gần đó. Hết hồn, tôi định lấy tay sờ mái tóc mình nhưng gượm lại bởi đôi mắt ngắm nghía đầy căng thẳng của bác. Cúi xuống nhìn dưới chân mình, tôi thấy vô số mớ tóc đen nhánh đang nằm chồng chất, ngổn ngang. Trời ạ! Thì ra bác trai tôi đã cắt xén toàn bộ mái tóc dài của tôi với ý định cho tôi có mái tóc Tây phương tên Đơ-mi gác-xông hay Bum-bê gì đó nhưng bây giờ kiểu gì không ra kiểu gì. Trước đó, tôi đinh ninh bác cắt tóc tôi ngắn đến ngang vai như kiểu tóc thề của mấy chị điệu đà thục nữ của các trường trung học là đã quá “khả năng” của bác rồi chứ có ngờ đâu bác cắt “quá đà” đến nỗi mái tóc của tôi trở thành ngắn ngủn cả đến tôi cũng không nhận ra tôi! Buồn quá mà tôi không biết nói sao ngoài ba chữ “Cảm ơn bác.” trước khi ra về. Về nhà, thấy hai cái áo đầm “hoa hòe, hoa sói” của má đặt may cho tôi, tôi càng buồn hơn. Tôi đâu có dè sau khi học hết bậc tiểu học, tôi bị “đổi đời” một cách kinh khủng như vậy. Dù sao, ngày khai giảng của trường Lê Quý Đôn đã đến, tôi đành phải theo ý của người lớn, chứ không thể làm gì khác hơn. Bác trai chở tôi đến trường bằng xe ô tô của bác. Bác thường đến trường sớm rồi vào phòng hiệu trưởng làm việc gì đó nên tôi thường ngồi trong văn phòng chờ đến khi vào lớp. Văn phòng trường chỉ có cô Long Ái cũng hay đi làm sớm nên chỉ có cô và tôi. Cô rất thương tôi. Mỗi khi cô cần về nhà sát cạnh trường, để lấy gì đó, cô thường dắt tôi theo và giới thiệu tôi với gia đình. Tôi cũng được nhiều thầy cô trong trường quan tâm, để ý; cho nên, tôi thường mạnh dạn phát biểu ý kiến và hầu hết các bài kiểm tra của tôi đều đạt điểm cao. Tôi còn được bạn bè trong lớp Đệ Thất Một yêu mến, nên tôi cảm thấy an vui với trường bán công trung học Lê Quý Đôn mà mình đang học. Dù là thế, thỉnh thoảng, tôi vẫn nghĩ đến chuyện được thi đậu. Tôi mong ước được vào trường Nữ Trung Học để được học với bạn chỉ toàn là nữ, và được mặc đồng phục áo đầm trắng như thời học trong trường Nữ Tiểu Học Nha Trang.Tuy nhiên, tôi lại cảm thấy đó chỉ là chút hy vọng xa vời. Làm sao tôi có thể “địch lại” bao nhiêu đứa con gái lớp Năm học giỏi trong toàn thành phố Nha Trang để được vào ngôi trường nổi tiếng này. Tôi nhớ như in ngày thi vào lớp Đệ Thất. Tối hôm trước ngày thi, tôi nôn nao chuẩn bị cẩn thận giấy nháp, viết mực, viết chì, đồ gọt, gôm và thước kẻ, nhưng trằn trọc mãi không chợp mắt được. Rồi tôi ngủ thiếp đi lúc nào không biết… Tờ mờ sáng hôm sau, tôi đã thức dậy. Vệ sinh, ăn sáng do má tôi làm xong, tôi ngồi chờ chị Thanh Hải chở đến trường Nữ Trung Học. Chị Thanh Hải tuân theo lời bác trai giúp đưa tôi đi thi. Chị Thanh Hải là con của chú họ tôi, chú Thang, sống ở Pleiku. Mặc dù trong quan hệ bà con, chị Thanh Hải vai em nhưng vì chị lớn tuổi hơn tôi nên tôi quen miệng gọi chị và chị cũng xưng chị với tôi luôn. Sau biến cố Tết Mậu Thân năm 1968, chú Thang gửi gắm hai đứa con gái trong số bảy người con gái của chú là chị Thanh Thuỷ và chị Thanh Hải xuống Nha Trang nhờ hai bác cả tôi nuôi dạy và đưa vào trường Lê Quý Đôn học. Trong thời gian đầu, khi mới chuyển trường từ Pleiku xuống Nha Trang, chị Thanh Hải học tạm thời trong trường bán công trung học Lê Quý Đôn, sau đó chị nhất quyết tham dự các cuộc thi tuyển để được vào học trường Nữ Trung Học Nha Trang. Khác với sự an phận của chị Thanh Thuỷ, chị Thanh Hải luôn lưu tâm đến chuyện vào trường nữ nổi tiếng này. Chị nói với tôi là: “Nếu mình chú tâm học và có ý chí thì dù kỳ thi có khó đến mấy cũng có thể đậu được!” Từ câu nói này, tôi thần tượng chị lắm. Tôi nghĩ chị Thanh Hải có tinh thần cầu tiến, thích những điều mới mẻ biểu hiện ở cách ăn mặc đẹp đẽ và hợp mốt thời trang của chị. Khác với lối trang phục quần Tây ống pát, áo thun dài tay, cổ chìa khóa của chị Thanh Thuỷ, chị Thanh Hải thích mặc áo sơ mi hay áo cánh tóm gọn vào váy ngắn, rất ngắn. Những chiếc váy ngắn luôn khoe đôi chân thon và trắng nõn của chị. Thân hình thanh mảnh với đôi chân trắng nõn nà luôn thoăn thoắt tạo cho chị một vẻ đẹp ưa nhìn của cô gái phương Tây, ăn mặc đúng mốt và hợp thời trang. Hơn thế nữa, chị nói năng nhẹ nhàng với phong cách điềm nhiên và trầm tĩnh của người hoàng phái, xứng đáng với họ Tôn Nữ của chị; thế mà, đến ngày chị đưa tôi đi thi, tôi mới biết chị mê tín chẳng khác gì những người lớn cổ hủ theo lối xưa. Sau khi cài khoen của chiếc cổng gỗ trước nhà bác Cả, chị Thanh Hải đẩy chiếc xe đạp xuống đường rồi bảo tôi ngồi lên để chị chở đi. Chị chở tôi thẳng đến góc đường Hoàng Tử Cảnh và Đào Duy Từ, rồi quẹo thẳng đến góc đường Đào Duy Từ với Phan Chu Trinh xong thẳng đến ngã Sáu nơi rạp hát Tân Quang, vòng sang đường Quang Trung và quẹo sang đường Bá Đa Lộc. Khi quẹo sang đường Đinh Tiên Hoàng, đi ngang trường Nữ Trung Học, nơi có vài học sinh lác đác đứng với phụ huynh trước cổng, chị nói: “Giờ còn sớm, họ chưa cho vào thi đâu! Em còn nhiều thời gian lắm, để chị chở em sang quán chè trường Lê Quý Đôn ăn chè đậu xanh, lấy hên để đậu.” Vừa nói, chị vừa đạp xe rất nhanh, chở tôi băng qua con đường lớn Lê Thánh Tôn đến quán chè cạnh trường Lê Quý Đôn. Hai chị em tôi là người mở hàng của quán chè ngày hôm ấy. Con trai ông chủ quán đang lục đục xếp đặt, lau dọn, ngừng tay đem ra hai ly chè đậu xanh như lời yêu cầu của chị Thanh Hải. Tôi không thích ăn ngọt vào lúc sáng sớm nhất là không thích ăn loại chè đậu xanh có vỏ nhưng tin lời chị, tôi ăn thật mau trong tâm trạng vui vẻ và chứa chan hy vọng. Sau ngày ấy, khi học trường Lê Quý Đôn, đến giờ ra chơi, tôi thường ra quán chè của ông cai trường Lê Quý Đôn gọi chè đậu xanh để ăn. Những lần như thế, tôi thường mơ màng nghĩ đến kết quả của kỳ thi Đệ Thất và cảm thấy thời gian chờ đợi thật dài. Rồi ngày trường Nữ Trung Học Nha Trang ra thông báo kết quả kỳ thi Đệ Thất đã đến. Mấy đứa bạn hàng xóm cùng lứa tuổi của tôi xôn xao, rủ nhau đi xem kết quả. Tôi cũng nôn nao, rủ em gái tôi đi theo. Đây là lần đầu tiên tôi đi bộ đến trường Nữ Trung Học. Khi đi trên xe đạp và ô tô tôi đã thấy con đường này dài hơn con đường tôi đi bộ đến trường Nữ Tiểu Học Nha Trang khá nhiều; vậy mà hôm ấy con đường này như dài ra. Chúng tôi càng bước nhanh, con đường như kéo dài xa hơn và thăm thẳm. Có lúc, hai chị em tôi phải chạy thật nhanh mới đuổi kịp mấy đứa bạn trong xóm đến cổng trường. Những tia nắng chiều dịu dàng quét dài từ giữ lối đi của cổng đến tận góc đường Đinh Tiên Hoàng và Lê Thánh Tôn. Nhiều đứa con gái với y phục đủ loại đầm, quần dài, áo ngắn đủ màu đi vào, đi ra trong không khí nặng nề. Nhiều khuôn mặt buồn bã, thất vọng lặng lẽ đi ra khỏi trường khiến tôi đoán là chúng không thấy tên trong bảng thông báo. Tuy nhiên, có những khuôn mặt vui tươi mà bước lặng lẽ không nói, không rằng khiến tôi không tìm được lý giải nào. Một vài nhóm nhỏ tụm năm, tụm bảy bàn tán râm ran. “Thi hỏng năm này thì năm sau thi tiếp, có gì đâu mà lo. Miễn sao mình cố gắng là được.” “Ừa, đúng rồi. Mình thi rồi, biết cách thi ra sao rồi, năm sau thi lại là đậu thôi!” “Có gì mình học tiếp liên ở trường Hóa Khánh! Trường Hóa Khánh dạy Toán giỏi lắm.Ai vô đó học thêm cũng đậu!” “Ồ thì ra mấy đứa này bị rớt hết rồi! Tụi nó đang tính chuyện thi đậu sang năm!”Tôi vừa nghĩ thầm vừa lo lắng bước nhanh đến bảng thông báo. Có khá nhiều đứa đứng trước khung gỗ chữ nhật được đóng chắc vào hai trụ gỗ để đỡ, dán mắt vào những tấm giấy in chi chít những con số thứ tự và tên. Những đứa thấy tên mình reo lên inh ỏi. Tưởng đâu chúng sẽ bước ra để cho người khác len vào xem, nhưng chúng cứ vẫn đứng ỳ dán chặt mắt vào tên của chúng, cứ như thể chúng sợ dòng chữ phai nhạt mất đi.Những đứa không tìm ra tên thì càng tệ hại hơn. Chúng lần theo từng hàng chữ trong mấy tờ giấy, đọc lầm rầm như đọc kinh.Cũng may là khung chứa những trang giấy có danh sách học sinh trúng tuyển được ngăn bằng tấm lưới thép cách xa hơn ngón tay và được khóa kỹ bằng một ổ khóa dưới đáy; nếu không những tờ thông báo này sẽ bị xé và lấy mất bởi những đứa đậu hay không đậu. Tôi nôn nóng len lỏi qua đám người đang bu thành hai, ba lớp trước mặt rồi nhón chân, ngóc đầu cố gắng nhìn vào các ô lưới. Những giòng chữ ngang ở các hàng trên cùng không có tên tôi. Khi những đứa đứng trong lần lượt bước ra với những tiếng reo hò, tôi được đứng sát gần tấm lưới để xem kỹ. Tuy nhiên, đảo mắt đọc từng tên một, từng hang một từ trên xuống rồi từ dưới lên, tôi không hề tìm thấy tên mình. Dò thêm một lần nữa vẫn không thấy, tôi thất vọng quá định ra về. Chợt thấy đám bạn hàng xóm đang bu quanh một khung thông báo khác giữa hai rặng dương gần đấy, tôi phân vân không hiểu trường đăng cùng một danh sách học sinh trúng tuyển trong hai khung thông báo ở hai nơi khác nhau nhằm tạo điều kiện cho người xem kết quả dễ dàng và thuận tiện hay có thêm một danh sách tiếp theo. Đang tần ngần trước đám đông dày đặc, bất chợt nhỏ Hòa, con bác Tám gần nhà tôi, reo lên: “Lan ơi! Lan đậu rồi!” Tôi mừng rỡ, cố gắng len lỏi qua đám đông đến chỗ nó, hỏi thật lớn: “Thật không Hòa? Đâu? Đâu?” “Đây nè! Tên Lan chỗ này nè!” Con nhỏ kéo tôi vào tận tấm lưới, chọt tay vào trong lỗ tròn nhỏ của khung, chỉ vào trong: “Cung Thị Lan đây nè! Thấy chưa?” Tôi lắp bắp: “Đúng rồi! Trời ơi! Thật không ngờ!” Tôi lắp bắp mãi hai chữ “Không ngờ! Không ngờ!” trong lúc vẫn dí sát mắt vào tên của mình. Một lúc sau, tôi mới định thần, quay ra ngoài, hỏi mấy đứa bạn hàng xóm: “Mấy đứa đã tìm thấy tên chưa?” “Rớt hết rồi! Nhưng mà rớt cũng không sao, sang năm tụi tao thi tiếp.” Con Hòa chép miệng: “Lan học giỏi thật đó! Đậu Đệ Thất vào trường Nữ Trung Học không dễ đâu.” Mấy đứa khác cũng gật gù đồng tình, hớn hở với tin tôi được thi đậu. Tôi nhìn tụi nó nhưng không nói gì. Tình bạn đầy thương yêu tràn ngập trong lòng tôi. Mấy đứa bạn tôi thi rớt không buồn mà còn chia vui với tôi. Chúng vui như thể chúng là những người được thi đậu chứ không phải là tôi. Nhất là con Hòa, nó cứ trầm trồ hoài về chuyện tôi thi đậu, rồi vẽ ra biết bao nhiêu viễn ảnh huy hoàng khi tôi được vào học trường Nữ Trung Học Nha Trang. Càng nghe nó nói, tôi càng cảm nhận sự quý giá của tình bạn xóm giềng! Giá như trước đây tôi ru rú trong nhà theo kiểu kín cổng cao tường, không ra khỏi bức tường cổ kính của nhà nội tôi, thì có lẽ chẳng bao giờ tôi đón nhận được tình bạn quý giá như lúc này. Tôi nhớ những lần lén bà nội, bác trai và các cô leo ra khỏi bức tường thành để chơi lò cò, nhảy dây, ô làng, giựt cờ, kéo co với tụi trong xóm. Sau khi chơi đùa chán chê, chúng hay nói với tôi về những trái cây xum xuê trong khu vườn của nội tôi và ước ao được ăn thử vài loại trái cây ấy. Để chiều tụi nó và cũng để khoe những trái cây trong vườn nội mình ngon thể nào, tôi thường lén hái vài trái khế ngọt, vài trái sa bu chê, vài trái nhãn, vài trái ổi sẻ hay vài trái mãng cầu chuyền qua những ô trống của bức tường thành để cho chúng. Những lúc các bác, các cô đi vắng, thì tôi “công khai” leo lên cây mận xanh ở sát tường thành, hái nguyên chùm, cả cành lẫn lá, rồi chuyền xuống cho từng đứa. Những lúc như thế, chúng thường đứng dưới nhao nhao la lên “Hái chỗ này nè Lan!” hay “Còn mấy chùm ở phía này nữa nè Lan!” “Cho tao thêm nữa đi Lan!” “Tao nữa!Tao nữa!” Cũng may cho tôi là cây mận xanh sai chi chít trái, cho nên, mỗi lần tôi hái trộm mận cho bạn, những người lớn trong nhà không hề biết vì không thấy “mất dấu”. Và cũng không ai nghĩ tôi can đảm trườn theo cành ra tận phía ngoài đường để hái trái ở các đầu ngọn. Bấy giờ, cảm nhận được tình thương chân thành của đám bạn dành cho mình, tôi cảm thấy sự “hy sinh” và “chiều chuộng” của mình đối với chúng trước đây là hợp lý. Tôi nhìn Hòa nói với giọng hết sức tình cảm và thành thật: “Lan không học giỏi đâu Hòa! Tại vì Lan ăn chè đậu xanh hôm đi thi nên được đậu đó!” “Thật hả?” “Thật!” “Vậy thì sang năm Hòa cũng ăn đậu xanh để được đậu vào trường Nữ Trung Học.” Năm sau, không biết nhỏ Hòa có ăn đậu xanh trước khi đi thi như tôi mách nước không nhưng con nhỏ hẳn sẽ thi đậu Đệ Thất vào trường Nữ Trung Học Nha Trang như nó đã dự định và quả quyết. Còn tôi đinh ninh “cái mẹo” như thế sẽ linh ứng và hiệu nghiệm cho tất cả thí sinh nên khi đưa em gái tôi đi thi, tôi cũng chở nó băng qua con đường lớn Lê Thánh Tôn, đến quán chè của trường Lê Quý Đôn, “uy nghi” gọi chè đậu xanh để em tôi ăn lấy hên. Hôm ấy, hai chị em tôi cũng là người mở hàng như hôm tôi đi với chị Thanh Hải nhưng ông cai trường không có chè đậu xanh mà chỉ có chè đậu đen khiến tôi lúng túng không biết tính sao. Ngẫm nghĩ một lúc tôi giải thích với em gái tôi là: “Thôi kệ đi! Xanh hay đen gì cũng không sao miễn là có chữ ‘đậu’ thì Cúc sẽ được đậu thôi!” Con nhỏ em nghe có lý, ăn trong hớn hở.Thế nhưng, đến khi trường ra thông báo kết quả, hai chị em cùng dò từng tên một trong bảng danh sách trúng tuyển đến hai, ba lần mà không tìm thấy tên của nó. Lúc đó, tôi mới nghiệm ra là đã có chữ “đen” ắt phải có chữ “đủi” nghĩa là xui xẻo, và cũng có nghĩa là chữ đậu trong chữ “đậu đen” không thể nào ‘áp chế” chữ “đen” được. Tôi tự giải thích lòng vòng vì buồn. Ước mơ hai chị em học chung một trường bây giờ đã tan tành mây khói. Tuy vậy, tôi đã an ủi nhỏ em rằng: “Thôi đừng buồn! Dầu sao em học trường Lê Quý Đôn sẽ được nhiều thầy cô để ý và bạn bè gần gũi thương mến. Chứ như chị đây, được học trong trường Nữ Trung Học nhưng trường đông học sinh quá, học chung một liên lớp mà chưa biết nhau hết, làm sao có chuyện gần gũi. Đến trường chỉ học rồi về thôi chứ không thân thiết như ở trường Lê Quý Đôn đâu.Chị nhớ bạn bè, nhớ những cánh cửa sổ rộng thấp có thể bước qua lại dễ dàng và nhớ nhất những cây me Tây trong sân sau của trường Lê Quý Đôn lắm. Mỗi trường có những cái đặc biệt khác nhau. Sau này, có gì hai chị em mình kể cho nhau nghe những gì mình biết. Vậy cũng lợi chứ!” Cũng may cho tôi là dù tôi lý luận lòng vòng cỡ nào, nhỏ em tôi cũng thấy tôi có lý và tin lời tôi. Và cũng may hơn nữa là nó được thầy cô và bạn bè trong trường Lê Quý Đôn thương mến như tôi dự đoán. Tuy nhiên, sau một năm học, em tôi nhận ra là nó không biết nhiều thứ như tôi biết khi học trong trường Nữ Trung Học Nha Trang. Trường bán công trung học Lê Quý Đôn không có lớp Vẽ và cũng không có lớp Nữ Công; cho nên, mỗi khi nó thấy tôi vẽ hình hay thêu, đan, may, móc crochet nó thường nhìn với ánh mắt ao ước và thèm muốn. Sau học lớp Đệ Lục (tương đương với lớp 7 sau này) tôi đã biết vẽ truyền chân, biết đánh bóng nét đậm nhạt các hình vẽ bằng bút chì đen, biết pha màu nước và biết sáng tạo nhiều tác phẩm nghệ thuật liên quan đến thủ công mỹ nghệ. Tôi còn biết thêu và may một số quần áo cơ bản như áo cánh, quần ngắn, quần dài và còn biết ráp quần chân què. Một loại quần rất phức tạp của các mệ ngày xưa là một thử thách rất lớn đối với người may. Tôi còn biết đan tất cả các mũi cơ bản như mũi xuống, mũi lên, bỏ lỗ để hoàn thành một bộ đồ len của bé sơ sinh sáu tháng gồm một đôi vớ, một cái mũ và một cái áo dài tay. Cuối năm 1969, trường Nữ Trung Học tổ chức lễ Tổng Kết cuối năm học với chương trình Văn Nghệ thi đua rất hào hứng cho nên các lớp ra công tập luyện hết sức công phu. Trước ngày ấy, cô Nguyễn Thị Thanh Trí, giáo sư Vẽ, và cô Thái Thị Bạch Vân, giáo sư Nữ Công, còn chọn những tác phẩm đặc sắc của học sinh để trưng bày trong phòng Triển Lãm. Tôi được cả cô Thanh Trí và cô Bạch Vân chọn tác phẩm để triển lãm.Cô Thanh Trí chọn bức hình Con Chó mà tôi kết hợp màu nước và cát biển để diễn đạt một con vật trung thành dễ thương với ánh mắt thông minh và sinh động. Tôi đã dùng hình ảnh con chó Nhật tên Jack của cô Út tôi để vẽ một con chó ngồi. Kế đó, tôi lấy cát biển do má tôi xúc từ biển về, rửa sạch phơi khô, rang với màu nước màu xám nhạt. Rồi tôi dùng keo trét đều trên thân hình con chó và rây cát khô màu xám lên. Khi keo khô, con chó trong hình có bộ lông xám giống y chang màu lông con chó của cô Út. Để làm nổi bật thân hình con chó trong bức hình, tôi đã dùng màu đen tô nền; đồng thời làm cho đôi mắt nó sinh động bằng cách pha màu đen hòa với màu xám kèm chút xíu màu trắng. Đôi mắt của con chó trong hình sinh động như ý muốn của tôi khiến cho bức tranh rất có hồn; tuy nhiên, tôi không được điểm tối đa 20/20 mà chỉ được 18/20. Có tất cả 5 lớp Đệ Lục nên cô Thanh Trí có rất nhiều tác phẩm của học sinh của liên lớp Đệ Lục, chưa kể các liên lớp khác. Cho nên, khi cô Thanh Trí chọn bức ảnh Con Chó bằng cát của tôi để triển lãm, tôi hết sức sung sướng vì biết cô chú ý đến khả năng của mình. Tôi còn vui mừng hơn khi được cô Bạch Vân chọn bộ đồ len bé sơ sinh và chiếc khăn choàng cổ mà tôi đan để triển lãm. Từ lúc hai giáo sư Vẽ và Nữ Công sắp xếp trang trí hai phòng triển lãm cạnh phòng cô hiệu trưởng và cô tổng giám thị, tôi thường ghé tạt qua trong những giờ ra chơi với tâm trạng hết sức vui sướng. Để chia sẻ niềm vui sướng ấy tôi muốn em gái tôi tận mắt chứng kiến thành công của mình. Buổi xế chiều hôm ấy, tôi bảo em tôi mặc áo đầm trắng như màu áo đồng phục của mình, rồi đến chỗ ở của ông cai trường xin cho em gái tôi được vào trường xem những tác phẩm của tôi trong phòng triển lãm. Ông cai đồng ý cho tôi dắt em tôi vào trường vì ông thấy em tôi mặc áo đầm trắng như tôi và như những nữ sinh lớp Đệ Thất, Đệ Lục của trường; hơn nữa, ông biết phòng Triển lãm đã khóa nên chúng tôi đứng ngoài nhìn vào cũng không hề gì. Lần đó là lần đầu tiên em tôi bước vào trường Nữ Trung Học với áo đầm màu trắng như đồng phục của nữ sinh trong trường. Nhìn khuôn mặt trầm ngâm của nó, tôi đoán nó đang bâng khuâng với những ý nghĩ xung đột. Có lẽ nó đang so sánh sự khác biệt giữa hai trường về đồng phục, và sự bắt buộc giới tính. Và cũng có lẽ nó đang tự tìm ra câu trả lời về những điều tốt đẹp của mỗi sự khác biệt trong từng hình thức giáo dục khác nhau. Tôi không quan tâm đến những gì con nhỏ nghĩ, hăm hở nắm tay nó dẫn đến dãy phòng học của lớp Đệ Lục, dãy phòng học này song song và đối diện với dãy văn phòng của trường. Tôi thường đến lớp học vào buổi sáng, phòng học dành cho các chị lớn học buổi chiều nhưng lúc bấy giờ các lớp chiều đã kết thúc nên các phòng học không còn ai. Ngang qua các phòng, lướt mắt nhìn vào những bục giảng, bàn giáo sư uy nghi trên cao và các dãy bàn ghế học sinh thẳng hàng, ngay ngắn, nhỏ em tôi không nói gì nhưng khuôn mặt rất sâu lắng. Đi hết dãy phòng học, tôi dắt nó bước xuống những bậc cấp, qua chiếc sân cát có hai hàng dương thẳng tắp để đến hai phòng Triển Lãm, nơi mà tôi thường xuyên đến vào giờ chơi để xem có những những tác phẩm nào mới được hai cô Thanh Trí và cô Bạch Vân gom góp mỗi ngày để trưng bày. Hôm nay, hai phòng Triển Lãm có rất nhiều tác phẩm đến nổi tôi có thể nhìn cận cảnh những vật dụng được trưng bày sát cửa sổ. Tôi mê hoặc bởi những bộ bàn ghế làm bằng lon Coca Cola phế thải. Với những đường cắt thẳng tắp, những vòng cuốn tỉ mỉ và uốn nắn công phu, nữ “nghệ nhân” nào đó đã biến năm lon Coca Cola thành một cái bàn với bốn cái ghế rất đẹp. Những đường cong sang, đẹp và đầy tính nghệ thuật của các bộ bàn ghế cho thấy rõ sự khéo tay và sáng tạo rất cao của nữ sinh nào đó trong trường. Nhỏ em tôi cũng bị thu hút bởi nhiều tác phẩm nghệ thuật khá đẹp trong hai phòng Triển Lãm. Dù phải đứng ngoài phòng nhìn qua các ô cửa kính, nó trông rất vui vì được chứng kiến tận mắt những điều mà nó chưa từng thấy trong ngôi trường nó đang học. Tôi chỉ cho nó nơi trưng bày bức hình con chó, bộ đồ len và chiếc khăn choàng cổ của mình, rồi hớn hở nói: “Ngày mai trường chị sẽ mở phòng Triển Lãm cho học sinh vào xem! Để chị xin ông cai cho em vào xem để thấy rõ hơn! Ngày mai cũng là ngày Tổng Kết cuối năm, trường chị có phát phần thưởng và có cả Văn Nghệ nữa, em tha hồ mà thích!” Hôm sau, tôi dẫn nhỏ em vào trường mà không cần xin phép ông cai. Hòa theo đoàn học sinh trong đồng phục áo trắng, chúng tôi đi thẳng vào phòng Triển Lãm. Đợi nhỏ em ngắm nghía các thứ trong phòng Triển Lãm cho thỏa, tôi dắt nó đến phòng học của mình, xếp hàng cùng bạn trong lớp để dự lễ Tổng Kết và thưởng thức Văn Nghệ. Khi chương trình Văn Nghệ bắt đầu thì hàng ngũ các lớp khôngcòn ngay ngắn. Những đứa học sinh trong lớp khiêng cả ghế lẫn bàn ra sân, chồng băng ghế trên bàn dài để xem cho rõ. Cô hiệu trưởng, cô giám thị cùng tất cả các thầy cô chăm chú hướng mắt về sân khấu nên không để ý chúng tôi làm gì phía sau. Cả ông cai không biết bận gì, cũng không đến ngăn cản chuyện chúng tôi ngồi chễm chệ trên dãy ghế chồng trên bàn. Hầu hết bạn lớp tôi và em gái tôi biết nhau vì một số đứa trong lớp đã từng đến nhà tôi họp bàn các đề tài thuyết trình hay vẽ hình về sự tiến hóa các sinh vật cho lớp vạn vật. Nhờ thế, em tôi tự nhiên và thoải mái nhập vào trong nhóm bạn của lớp tôi. Hôm ấy, chúng tôi đã cùng nhau thưởng thức một chương trình văn nghệ hết sức đặc sắc và phong phú. Có nhiều tiết mục văn nghệ như: Đơn ca, song ca, tam ca, hợp ca, kịch, hoạt cảnh và múa. Tiết mục nào cũng đẹp, cũng dí dỏm và duyên dáng. Những chiếc đầm trang nhã, những trang phục của ba miền Bắc, Trung, Nam rực rỡ và những khuôn mặt giả nam với những nét vẽ “ria mép” hết sức ngộ nghĩnh đặc biệt với những màn biểu diễn hết sức sinh động và thu hút. Chương trình hay ngoài sức tưởng tượng của nhỏ em tôi khiến trên đường về nhà, nó thú nhận với tôi rằng: “Chương trình Văn Nghệ trường của chị hay quá! Trường em không có tổ chức Văn Nghệ cuối năm. Nhưng nếu có thì chắc cũng không hay như vậy đâu!” Tôi nghe mà xót xa cho sự thua thiệt của em mình. Lúc đó, tôi nhận rõ hơn sự may mắn mà tôi có được khi tôi bước vào trường Nữ Trung Học Nha Trang. Đây là ngưỡng cửa rất quan trọng trong cuộc đời của tôi. Qua ngưỡng cửa này, tôi đã có cơ hội được tiếp thu nhiều kiến thức cơ bản và nhiều lãnh vực để phát triển khả năng sáng tạo của mình; đồng thời, ứng dụng trong cuộc sống của mình sau này. Nếu tôi không may mắn được vào trường Nữ Trung Học thì những khả năng phát triển và tính sáng tạo trong những công việc nữ giới của mình sẽ bị ngủ yên hay bị triệt tiêu trong quên lãng. Bởi thấu hiểu ngưỡng cửa học đường hết sức quan trọng đối với sự giáo dục con trẻ, sau này khi sang Mỹ, tôi cố gắng tìm hiểu rõ các trường khi ghi danh con mình vào học. Còn tôi, ngôi trường Nữ Trung Học/Huyền Trân Nha Trang là ngôi nhà của thời niên thiếu và thanh xuân đầy những kỷ niệm vui buồn mà mỗi khi nghĩ đến, tôi thấy lòng bâng khuâng tiếc nuối lẫn biết ơn. Ngôi trường với truyền thống tôn sư trọng đạo, kỷ luật nghiêm minh và đội ngũ giáo sư thực tài tâm huyết đã giáo dục rèn luyện chúng tôi thành những nữ sinh ngoan, hiền, tháo vát và có ích cho xã hội. Bạn tôi và tôi giờ đây mỗi người một nơi, làm một công việc khác nhau nhưng kiến thức, sự kiên nhẫn, tính sáng tạo, và ý thức kỷ luật vẫn tiềm ẩn, không bao giờ phai nhạt. Suy cho cùng, tôi cảm ơn Trời đã đưa đẩy tôi vào một ngưỡng cửa hết sức tốt đẹp để sau này tôi có một hành trang vững chãi cho cuộc đời của mình. Xin chân thành cảm ơn trường Nữ Trung Học/Huyền Trân Nha Trang. Xin chân thành cảm ơn tất cả thầy cô trường Nữ Trung Học/Huyền Trân Nha Trang đã cho Cung Thị Lan có một hành trang quý giá trong cuộc đời. Cung Thị Lan |
