
| *Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng sinh tại Quảng Ngãi, định cư tại Hoa Kỳ theo diện Tỵ nạn Chính trị. Tốt nghiệp: Electronics Engineer in San Jose State University. Doctor of Philosophy in Business Administration in Southern California University. Nghề Nghiệp: SMT & QA Engineer & Product Manager cho các hãng Solectron Inc, Wellex Manufacturing Company, Pemstar Electronics Inc. Giảng sư Trường Đại học California State University Hayward, Project Diversity Screening Committee choThành phố San Jose, Quản Trị hệ Thống Vegetarian Di Lac. Sinh hoạt Cộng đồng: Phó Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành Người Việt tại miền Bắc California (Federation of Vietnameses American in Northern California), Phó Chủ Tịch Thi Văn Đàn Văn Thơ Lạc Việt Hải Ngoại; Chủ Tịch Tổ Chức Văn Hóa Việt Mỹ (Vietnamese American Culture Foundation VACF), Sáng lập viên, Hiệu Trưởng, Trường Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng (The Practical Buddhism College). Chủ bút Báo Hoa Cành Nam. Chủ biên và bình luận thời sự về Chính trị, Văn hóa, Giáo dục trên Hệ thống Direct T.V Truyền hình Viên Thao Và hệ thống truyền thông Calitoday Media. Tác phẩm đã xuất bản: Nước Mắt của Biển (1992) PhápVũ (2008) TườngVân (2010) Búp Sen Hừng Sáng (2011) Chuyến Đi Biền Biệt (2012) Quang Trung Hồn Việt (2013) Kinh Thơ Diệu Pháp Liên Hoa (2015) Lam Sơn Hồn Việt (2016) Ngàn bài bình luận Lịch Sử Việt Truyền Hình Tác phẩm sẽ in: Thân Chứng Hoa Nghiêm Trường Thi Duy Ma Cật Trong Thời Đại Kỷ Thuật Số Kim Cang Kinh Thi Phẩm |




| SÁNG TÁC TIÊU BIỂU |
| THƠ Lễ Độc Lập- TẠ ƠN HOA KỲ Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng Hôm nay rực rỡ cờ bay, Tự do phản chiếu tháng ngày vinh quang Cảm ơn xứ sở thiên đàng Đón tôi tỵ nạn kinh hoàng bước sang. Bỏ sau máu lệ lầm than, Tôi mang mộng ước bình an vào đời. Giữa lòng đất nước tuyệt vời, Tôi như cây mới đâm chồi xanh tươi. Ơn sâu chẳng thể quên người, Dang tay ôm kẻ di cư thẩn thờ. Cho tôi trọn vẹn giấc mơ. Hoa kỳ xứ sở bóng cờ tự do! Diễn hành cỗ vũ reo hò Mừng ngày Độc lập ấm no an bình. Nhờ ơn nước Mỹ tận tình, Cơ hội học vấn hoan nghinh đến trường. Tiến thân chẳng ngại kinh thương, Thượng tôn pháp luật trên đường trời tây. Dẫu là tay trắng tới đây Cũng nên cơ nghiệp đắp xây vững vàng. Quốc gia luật pháp rõ ràng Tự do, dân chủ ngập tràn muôn phương Tôi yêu nước Mỹ khôn lường, Trong tim “nhị quốc” quê hương muôn phần. Lạ, quen ai cũng tình thân, Gặp nhau chào hỏi ân cần biết bao. May thay chính phủ hiện trào, Vì dân tranh đấu chẳng nao núng lòng. Cầu trời phù hộ ước mong, Hòa bình thế giới sống trong an hòa. Gieo hạt giống tốt gần xa, Mang niềm vui đến từng nhà, khắp nơi. Tôi là kẻ đã một thời, Chạy qua lửa đạn, rã rời tâm can. Nay nhờ nước Mỹ sẳn sàng, Dang tay hỗ trợ cưu mang thân nầy. Cám ơn đất nước Hoa Kỳ Tim tôi tạc dạ đong đầy chữ “ân”. Như Ninh -Nguyễn Hồng Dũng (July 4th, 2025) |
| VĂN THĂNG HOA CUỘC ĐỜI – Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng Kỳ 162 Hạnh Phúc 20 – Thu Thúc Sự Uống Rượu Trong đời sống thường nhật thì ai cũng mong muốn có được hạnh phúc, bình yên và một cuộc sống an lành cho bản thân cùng gia đình. Thế nhưng, có những thói quen và cám dỗ lại âm thầm phá hủy hạnh phúc ấy, trong đó nguy hại nhất là các chất say nghiện như rượu, ma túy và những loại kích thích gây nghiện khác. Những thứ này không chỉ làm tổn hại sức khỏe thể chất và tinh thần mà còn là nguyên nhân dẫn đến nhiều tội lỗi, đau khổ và đổ vỡ trong xã hội. Người uống rượu say thường mất khả năng kiểm soát lời nói và hành động, dễ sinh nóng giận, gây gổ, tai nạn hoặc làm những việc mà khi tỉnh táo họ không bao giờ muốn làm. Còn ma túy và các chất gây nghiện nguy hiểm hơn nữa, vì chúng tàn phá cơ thể, hủy hoại nhân cách, làm tan nát hạnh phúc gia đình và đẩy con người vào con đường phạm pháp. Không ít người từ một công dân lương thiện đã trở thành kẻ trộm cắp, lừa đảo hay tạo ra những tội ác nghiêm trọng chỉ vì lệ thuộc vào chất nghiện. Chính vì thấy rõ những nguy hại ấy nên Đức Phật đã dạy ba điều quan trọng để có được hạnh phúc bình an, đó là không làm việc tội lỗi, tránh xa tội lỗi và không sử dụng các chất say nghiện. Thoạt nhìn, điều thứ nhất và điều thứ hai dường như giống nhau, nhưng thực ra có ý nghĩa khác biệt rất sâu sắc. Không làm việc tội lỗi là giữ gìn thân, khẩu, ý không thực hiện những hành động xấu ác. Đây là phương diện hành động trực tiếp. Trong khi đó, tránh xa tội lỗi là không đến gần những nguyên nhân, hoàn cảnh hay môi trường có thể dẫn mình đến việc phạm tội. Chẳng hạn, một người không đánh bạc là không làm điều xấu; nhưng không lui tới sòng bạc, không giao du với bạn bè xấu lại là tránh xa nguyên nhân của điều xấu. Vì vậy, lời dạy được tách thành hai điều để nhắc nhở chúng ta vừa ngăn chặn hành động sai trái, vừa phòng ngừa từ gốc rễ những điều có thể dẫn đến sai trái. Điều thứ ba là không uống các chất say nghiện, bởi đây chính là cánh cửa mở đường cho nhiều lỗi lầm khác. Khi tâm trí mê mờ, con người dễ quên đạo đức, mất chánh niệm và vi phạm những điều mà lúc bình thường họ vẫn tôn trọng. Do đó, muốn xây dựng hạnh phúc bền vững, chúng ta cần giữ thân tâm trong sáng, tránh xa các chất gây nghiện và sống theo lời giáo huấn của Đức Thế Tôn. Đây chính là nền tảng vững chắc để có một cuộc đời an vui, hạnh phúc và đầy ý nghĩa. Trong chuyên đề Thăng Hoa Cuộc Đời in trong Việt Nam Nhật báo thì Hạnh phúc thứ mười tám hướng con người sống thuận theo những điều đúng đắn của xã hội, không làm những việc trái với luật pháp, đạo lý, phong tục tập quán tốt đẹp của cộng đồng. Tiếp đến là Hạnh phúc thứ mười chín lại đi sâu hơn, khuyến khích người Phật tử tránh xa các điều tội lỗi về mặt tâm linh, không làm những việc trái với giới luật Phật pháp, giữ cho tâm được trong sạch, không bị ô nhiễm bởi tham, sân, si. Hai hạnh phúc này tuy có điểm tương đồng là đều ngăn ngừa điều xấu, nhưng phạm vi khác nhau; một bên liên quan đến đời sống xã hội ở ngoài, một bên liên quan đến đời sống đạo đức và tâm linh phía trong. Sau khi dạy con người sống đúng với xã hội và tránh xa tội lỗi, hôm nay chúng ta tiếp tục chia sẻ một nguyên nhân rất lớn dẫn đến sự sa ngã của con người, đó là các chất gây say. Vì vậy, Hạnh phúc thứ hai mươi này Phật dạy về sự thu thúc trong việc tránh xa rượu và các chất làm mê loạn tâm trí. Chữ cũng như nghĩa lý từ ngữ “thu thúc” là dè dặt, cẩn trọng; điều đáng chú ý là không dùng chữ “xa lánh” mà lại dùng từ “thu thúc” vì điều đó cho thấy Đức Phật rất thấu hiểu tâm lý con người. Ngài biết rằng đa số chúng sanh thích tìm kiếm sự vui thú, thích hưởng thụ, nên rất dễ bị hấp dẫn bởi rượu và các chất gây say. Cho nên, Ngài không chỉ đơn giản cấm đoán mà còn nhắc nhở hãy luôn tỉnh táo, cảnh giác với những cám dỗ ấy. Thật ra, con người uống rượu thường không phải vì đói khát mà vì muốn tìm cảm giác vui vẻ, quên phiền não hoặc hòa nhập với đám đông. Ban đầu chỉ là một ly cho vui, nhưng nếu không biết thu thúc thì từ vui thành quen, từ quen thành nghiện, từ nghiện dẫn đến khổ đau. Đức Phật nhìn thấy trước hậu quả ấy nên dạy người đệ tử phải cẩn thận ngay từ đầu, đừng để tâm chạy theo những khoái cảm nhất thời mà rước lấy tai họa lâu dài. Không phải chỉ riêng Phật giáo mới nhận thấy tác hại của rượu. Nhiều tôn giáo lớn trên thế giới cũng khuyên tín đồ tránh xa hoặc nghiêm cấm việc uống rượu. Điều đó cho thấy đây không chỉ là vấn đề tôn giáo mà còn là vấn đề đạo đức, sức khỏe và sự an toàn của xã hội. Trong Phật giáo, giới không uống rượu được đặt vào vị trí rất quan trọng. Đức Phật đưa điều này vào Ngũ giới dành cho cư sĩ, Bát Quan Trai giới, Thập giới của người xuất gia tập sự, Thập thiện nghiệp đạo và cả giới luật đầy đủ của hàng Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni. Điều đó chứng tỏ Ngài xem đây là một nguyên nhân lớn dẫn đến nhiều tội lỗi khác. Tại sao Đức Phật lại nghiêm khắc như vậy? Bởi vì rượu và các chất gây say làm mất đi chánh niệm. Khi còn tỉnh táo, con người còn biết phân biệt phải trái, biết kiềm chế lời nói và hành động. Nhưng khi say rồi, lý trí bị che mờ, sự xấu hổ và sợ hãi đối với điều ác cũng giảm đi. Từ đó dễ phát sinh nói dối, gây gổ, đánh nh trộm cắp, tà dâm, thậm chí giết người. Vì vậy, rượu được xem là cửa ngõ mở đường cho nhiều tội lỗi khác xuất hiện. Cõi Ta bà với vô số chúng sanh vốn đã say mê trong tài sản, sắc đẹp, danh vọng, quyền lực và tình cảm; những thứ ấy đã đủ làm cho con người mê muội, tranh giành và đau khổ. Nay lại đưa thêm chất say từ bên ngoài vào thì chẳng khác nào người đang mang bệnh lại uống thêm thuốc độc. Một căn bệnh vô minh đã khó chữa, nay lại chất thêm một lớp mê muội nữa thì việc tu sửa tâm tánh càng khó khăn hơn. Ngoài tác hại về đạo đức, rượu còn gây tổn thất lớn về tiền bạc và thời gian. Có người bỏ ra hàng ngàn, hàng chục ngàn đô la mỗi năm chỉ để mua bia rượu. Số tiền ấy nếu dùng để giúp đỡ gia đình, làm từ thiện, học tập hoặc chăm sóc sức khỏe sẽ mang lại biết bao lợi ích. Không những thế, thời gian dành cho việc uống rượu, say sưa và ngủ nghỉ sau cơn say cũng là sự lãng phí vô cùng lớn. Vài người biện minh rằng uống một ít rượu để dễ ngủ. Nhưng nếu suy nghĩ kỹ, những giờ phút ấy có thể được dùng để đọc một trang kinh, học một điều hay, quán chiếu lại việc làm trong ngày, nhận ra lỗi lầm để sửa đổi và nuôi dưỡng những điều thiện lành. Thời gian là tài sản quý báu nhất của đời người. Một khi đã trôi qua thì không thể lấy lại được bằng bất cứ giá nào. Người biết thu thúc không uống các chất say là người giữ được sự sáng suốt của tâm trí. Khi tâm sáng suốt thì lời nói đúng đắn, hành động chân chánh, công việc hiệu quả và đời sống gia đình được an vui. Ngược lại, người thường xuyên say sưa không chỉ làm khổ chính mình mà còn gây khổ cho cha mẹ, vợ chồng, con cái và xã hội. Vì thế, Hạnh phúc thứ hai mươi này không đơn thuần là lời khuyên về sức khỏe, mà là một phương pháp bảo vệ tâm thức. Đức Phật muốn chúng ta giữ gìn sự tỉnh giác quý báu của mình vì người không bị nô lệ bởi rượu và các chất gây say là người làm chủ được thân tâm, làm chủ cuộc đời và mở đường tiến đến an vui, hạnh phúc chân thật. Đó chính là ý nghĩa sâu xa của pháp hạnh phúc thứ hai mươi này cần được thực hành hoàn chỉnh. Sau khi chúng ta biết thu thúc, cẩn thận đối với các chất gây say, thì ý thức về những tai hại cụ thể mà rượu và các chất say đem lại cho đời sống con người ra sao đặng chừa hay tránh. Những tác hại ấy không chỉ ảnh hưởng đến bản thân người uống mà còn lan rộng đến gia đình, xã hội và cả tương lai của chính họ. Người say sưa thường không còn làm chủ được lời nói và hành động của mình. Khi men rượu làm lu mờ lý trí, họ dễ nổi nóng, chửi mắng vợ con, gây đau khổ cho những người thân yêu nhất. Một gia đình vốn đang yên vui có thể trở thành nơi đầy tiếng cãi vã, bất hòa chỉ vì một người nghiện rượu. Không những thế, người say còn dễ gây chuyện với hàng xóm, bạn bè, làm mất tình làng nghĩa xóm và tạo nên nhiều mâu thuẫn không đáng có. Một tác hại khác là làm mất đi phẩm giá con người. Khi say, người ta thường la hét, nói năng lung tung, đi đứng loạng choạng giữa đường phố mà không còn biết hổ thẹn. Những hành động ấy khiến người khác xem thường và đánh mất sự kính trọng vốn có. Một người dù có học thức hay địa vị đến đâu, nếu thường xuyên say sưa cũng dễ đánh mất giá trị của mình trong mắt mọi người. Người nghiện rượu cũng khó được tin tưởng giao phó công việc quan trọng. Chủ nhân không dám thuê mướn, đồng nghiệp không dám tín nhiệm, bởi không ai biết khi nào họ còn tỉnh táo để làm việc. Vì vậy, cơ hội phát triển sự nghiệp ngày càng thu hẹp. Công việc đình trệ, kinh tế sa sút, cơ sở làm ăn dễ bị hư hại và cuộc sống gia đình cũng vì thế mà gặp nhiều khó khăn. Đáng lo ngại hơn, khi say người ta thường không giữ được bí mật. Những chuyện riêng tư của gia đình, công việc hoặc bản thân dễ bị phanh phui trong lúc mất kiểm soát. Điều này có thể dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng, làm mất uy tín và gây tổn thương cho nhiều người. Ngoài ra, rượu là nguyên nhân của nhiều bệnh tật. Uống rượu lâu ngày có thể làm hư gan, tim mạch, thần kinh và nhiều cơ quan khác trong cơ thể. Không ít người vì rượu mà sức khỏe suy sụp, tuổi thọ giảm sút, tiền bạc tích góp cả đời phải dùng để chữa bệnh. Nguy hại hơn cả là rượu làm lu mờ trí tuệ. Khi say, khả năng suy xét đúng sai bị giảm sút, trí nhớ yếu dần và sự sáng suốt mất đi. Đức Thế Tôn dạy trong kinh giáo giới rằng người uống rượu phải chịu sáu điều tai hại: hao tốn tiền của, thường gây gổ, sinh nhiều bệnh tật, mất danh dự, không còn biết hổ thẹn và làm suy yếu trí nhớ cùng trí tuệ. Đây là sáu hậu quả rất thực tế mà ai cũng có thể nhìn thấy trong đời sống hằng ngày. Theo giáo lý nghiệp báo, tác hại ấy không chỉ giới hạn trong hiện tại. Nếu sống buông lung, say sưa và tạo nhiều nghiệp bất thiện, thì đời sau dù được sinh làm người cũng có thể phải chịu quả báo kém thông minh, trí nhớ yếu, học trước quên sau và thiếu năng lực phán đoán. Ngược lại, người biết tránh xa rượu và các chất gây say là người biết làm chủ thân, khẩu và ý của mình. Họ giữ được sự tỉnh táo, biết kính trên nhường dưới, sống đúng phong tục và giáo lý đạo đức. Người ấy dễ được mọi người quý mến, tin cậy và giúp đỡ. Tâm họ không phóng túng theo dục vọng mà luôn hướng về điều lành, giống như người thợ rèn kiên trì loại bỏ rỉ sét để tạo nên một thanh sắt tốt. Vì thế, người không uống rượu không chỉ giữ gìn sức khỏe mà còn bảo vệ danh dự, hạnh phúc gia đình, trí tuệ và tương lai của chính mình. Đó chính là ý nghĩa viên mãn của lời Phật dạy về sự thu thúc đối với các chất gây say. Trong giáo pháp của Đức Phật, việc không uống rượu không chỉ đơn thuần là tránh một chất gây say, mà còn phản ánh trình độ tu tập và khả năng làm chủ thân tâm của mỗi người. Vì vậy, có thể phân chia thành ba hạng người không uống rượu khác nhau: bậc hạ, bậc trung và bậc thượng. Người không uống rượu bậc hạ là người biết thọ trì Ngũ giới, đặc biệt là giới thứ năm: không uống rượu và các chất làm say. Đây là những Phật tử chân chánh, biết tôn trọng lời dạy của Đức Phật và cố gắng sống đời đạo đức. Họ không phải là những người chỉ mang danh Phật tử bên ngoài, mà thực sự đem giáo pháp ứng dụng vào đời sống hằng ngày. Dù trình độ tu tập chưa cao, nhưng việc giữ gìn giới luật đã là nền tảng quý báu giúp họ tránh được nhiều lỗi lầm và xây dựng đời sống an lành. Người không uống rượu bậc trung là người không những giữ Ngũ giới mà còn phát tâm thọ trì Bát Quan Trai giới. Họ ý thức rằng sự tỉnh thức và thanh tịnh của tâm hồn quan trọng hơn những thú vui của giác quan. Vì vậy, họ cố gắng thực hành thiền định, chế ngự các dục vọng và nuôi dưỡng đời sống nội tâm. Đối với họ, việc không uống rượu không chỉ để tránh tội lỗi mà còn nhằm bảo vệ sự định tĩnh và trong sáng của tâm thức. Người không uống rượu bậc thượng là người tiến xa hơn nữa trên con đường tu tập. Ngoài việc giữ giới trong sạch, họ còn thực hành Minh Sát Tuệ để quán chiếu thân tâm và các pháp đúng theo chân lý. Họ không chỉ tránh chất say bên ngoài mà còn nỗ lực đoạn trừ những cơn say vi tế bên trong như say tài sản, say sắc đẹp, say tình cảm, say danh vọng và quyền lợi. Khi những thứ ấy được vượt qua, tâm trở nên hoàn toàn tự do, giải thoát và hướng đến Niết-bàn an lạc. Tóm lại, dù xét theo phương diện đạo đức, sức khỏe hay tâm linh, rượu đều mang lại nhiều tai hại. Niềm vui do rượu đem đến chỉ là sự khoái lạc ngắn ngủi, nhưng hậu quả có thể kéo dài và gây đau khổ cho bản thân, gia đình và xã hội. Vì thế, không chỉ riêng Phật giáo mà hầu hết các tôn giáo đều khuyên con người phải biết thu thúc, cẩn trọng và tránh xa các chất gây say. Người càng biết làm chủ mình bao nhiêu thì càng tiến gần đến hạnh phúc chân thật bấy nhiêu. Không uống rượu và các chất gây say không chỉ là một giới luật trong đạo Phật mà còn là một phương pháp gìn giữ hạnh phúc, trí tuệ và sự an lành cho đời sống. Người biết thu thúc, tránh xa chất say là người bảo vệ được thân thể khỏe mạnh, tâm trí sáng suốt và phẩm hạnh trong sạch. Người không uống rượu thường có trí nhớ tốt, tinh thần minh mẫn, làm việc có trách nhiệm nên dễ tạo được uy tín và danh dự trong xã hội. Họ được mọi người kính trọng và tin tưởng. Vì không bị men say che lấp lý trí nên họ không rơi vào si mê, không sống dễ duôi, không phạm vào các điều lỗi lầm và giới cấm. Người giữ được tâm tỉnh thức cũng không phải sống trong lo âu, sợ hãi hay oan trái. Họ cư xử hòa nhã, chân thành nên được nhiều người thương mến, giúp đỡ. Đó chính là chỗ nương tựa cao quý mà người có đạo đức tạo dựng cho mình trong cuộc sống. Hơn thế nữa, người không uống rượu đang tích lũy những công đức lành như dành dụm lộ phí cho cuộc hành trình dài của sinh tử. Công đức ấy sẽ trở thành nhân lành đưa đến những quả báo tốt đẹp trong hiện tại và tương lai. Trong tâm họ dần hình thành những “thất bảo” quý giá của Phật pháp như đức tin, giới hạnh, tàm quý, học hỏi, bố thí, trí tuệ và chánh kiến. Nhờ vậy, họ được hưởng ba điều hạnh phúc lớn lao: hạnh phúc của con người trong hiện tại, hạnh phúc của cõi trời trong tương lai và hạnh phúc tối thượng của Niết bàn trong con đường giải thoát. Đó chính là người sống đúng theo Chánh pháp, biết đem lời Phật dạy ứng dụng vào đời sống hằng ngày. Vì thế, tránh xa rượu và các chất gây say không phải là sự mất mát niềm vui, mà là bảo vệ một niềm vui cao thượng hơn: niềm vui của sự tỉnh thức, tự chủ và giải thoát. Người biết thu thúc như vậy đang từng bước vượt khỏi khổ đau, thoát dần vòng luân hồi và tiến đến đời sống an lạc chân thật, bền vững và lâu dài. Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng |