NHỚ VỀ MỘT THỜI- NĂNG KHIẾU

                                                  NHỚ VỀ MỘT THỜI
Từ đầu hè tới giờ, thời tiết Nam California mát mẻ hơn mấy năm trước. Nhưng Sở Khí Tượng vừa đưa ra khuyến cáo, cư dân chuẩn bị đối phó với nhiệt độ cao hơn bình thường, sẽ có những đợt nắng nóng khá nguy hiểm và khuyên các cư dân tránh hoạt động căng thẳng ngoài trời. Nhưng dẫu trời nóng hay lạnh, cũng chỉ hai tuần nữa là đến ngày lễ của Cha. Mà ở Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ này gọi là Father’s Day, lại rơi đúng vào ngày kỷ niệm Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà 19 tháng 6 hàng năm. Là người Việt tha hương chúng ta không khỏi chạnh nhớ về những người trai thời chinh chiến, vừa là người lính nơi tuyến đầu gìn giữ quê hương, vừa phải lo chu toàn bổn phận một người chồng, người cha trong gia đình. “Sao quên được những người trai anh dũng/Đã một thời cầm súng giữ non sông”. Chồng tôi cũng là người lính chiến, nhưng hầu như anh phải hy sinh tình nhà hơn tình nước. Đến khi vận nước đổi thay, anh lại phải xa gia đình để vào trại tù “cải tạo” nếm đủ mùi đắng cay của cuộc đời. Tôi xin được viết lại một vài kỷ niệm để nhớ về một thời gian nan, vất vả ấy.
Trở lại quá khứ đau buồn. Từ khi Tổng Thống một ngày Dương văn Minh ra lệnh đầu hàng vô điều kiện, vào trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, bắt tất cả từ sĩ quan đến binh lính. Các công, cán và viên chức tại các địa phương, phải rời bỏ nơi đơn vị đang đồn trú, hoặc các công sở đang làm việc.
  Chồng tôi cùng các bạn đồng đội chạy về đến nhà, trong cơn hốt hoảng, chỉ được xum họp với cha mẹ vợ con hơn một tháng ngắn ngủi, thì phải ra trình diện đi “học tập cải tạo” theo thông báo trên đài phát thanh và trên báo chí lúc bấy giờ của Cộng Sản.
Thế nhưng anh ra đi biền biệt không tin tức cũng không thư từ về, tôi lo lắng khôn xiết, nỗi nhớ thương quay quắt. Chúng tôi cưới nhau được gần hai năm, đứa con đầu lòng mới được chín tháng, đang sống với ông bà nội ở xứ đạo Bùi Môn thuộc Hốc Môn. Anh là Phân Chi Khu Trưởng đóng tại xã Hoà Khánh, thuộc quận Đức Hoà vì trách nhiệm nặng nề, nên hay vắng nhà. Còn tôi  làm thư ký tại Bộ Ngoại Giao VNCH tuốt trên đường Alexandre de Rhodes gần Dinh Độc Lập, nên đi làm từ sáng tới chiều mới về. Anh lúc ấy 26 tuổi, kiêu hùng trong bộ quân phục, nhưng sau những lần hành quân, vết bùn miền đồng lúa còn bết sau gót Bottes De Saut . Tôi 24 xuân xanh, dáng người mảnh mai, tóc dài đen nhánh lúc nào cũng cuốn lên gọn gàng. Tuy hai phương trời khác biệt, nhưng “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”.
*
Chỉ một thời gian ngắn, sau khi Cộng Sản chiếm được toàn cõi miền Nam, họ đã để lộ dã tâm thống trị. Họ giam cầm, rồi đem đi lưu đày các sĩ quan, các viên chức VNCH không có thời hạn. Vì thế ngót một năm trời kể từ ngày anh ra đi tôi mong tin anh mỏi mòn. Nhưng khi nhận được thư vội bóc thư ra đọc, anh chỉ đuợc  phép viết hỏi thăm cha mẹ vợ con qua loa, rồi dặn dò tôi cầm theo phiếu gửi quà ra bưu điện gửi cho anh trong giới hạn 5 kg. Địa chỉ thì vỏn vẹn T5, L9 vậy mà tôi đi tìm cho bằng được nơi ở của anh. Sau bao ngày dò la tìm kiếm tôi biết được chỗ nhốt chồng ở Sư Đoàn l8 Bộ Binh cũ mãi tận Long Khánh.
Biết được địa chỉ rồi, tôi vội bế con đáp chuyến xe đò cuối cùng từ Saigon lên nhà bà cô ở cư xá Thánh Mẫu Long Khánh. Sáng sớm hôm sau, tôi gửi con cho cô rồi mượn đứa em họ bộ bà ba đen, đầu đội nón lá, tay dắt theo chiếc xe đạp cọc cạch vừa đi vừa hỏi thăm đường đến nơi đóng quân của Sư Đoàn 18 Bộ Bịnh cũ, gần khu chợ của Tỉnh Long Khánh. Tôi đạp xe từ từ dọc theo nhà dân đột nhập vào con đường đất đỏ, dẫn vào đường chính dài hun hút, đất đá lởm chởm. Hai bên đường là trại nhốt tù được rào bởi những hàng kẽm gai chằng chịt. Tôi còn biết được băng qua hai ngọn đồi, hết con đường chính của trại có một ít rẫy của dân nằm sâu bên trong, nên thường ngày họ vẫn vào làm vườn, nhưng chỉ vài người quen mặt, quen đường.Vì thế từ đầu trại, tôi đang đổ dốc xuống chân đồi, mắt liếc vào bên trong hàng rào kẽm gai thấy thấp thoáng tù cải tạo, nhưng không thể nhận ra người thân của mình, vì không dám dừng xe lại, khi xe lăn khoảng giữa dốc, tôi giật bắn người, vì có khoảng 5 – 6 tên bộ đội đang đứng nói chuyện ở bên đường ngay cổng chính. Tôi lúng túng không biết tính sao, thì may thay có một cậu bé trạc 15 tuổi, vai vác cuốc đi làm rẫy, tôi thắng xe đạp lại rồi hỏi:
– Em đi làm rẫy hả? Có muốn chị chở không?
Thằng bé có nét mặt láu cá, nói:
– Chị là vợ cải tạo vào đây dò la tin chồng phải không?
Tôi nhanh nhẩu:
– Không, chị đi làm rẫy, nhà chị cũng có rẫy bên trong này.
– Chị đừng nói dóc, cái tướng chị mà làm rẫy gì, tay chân thì trắng trẻo, chị có mặc đến mấy bộ đồ bà ba đen, đội cả tá nón lá cũng chẳng che được.
Rồi nó hạ giọng:
– Chị có thấy mấy ông bộ đội đứng ở kia không, họ bắt mấy bà như chị hoài à, chị tưởng có mình chị khám phá ra chỗ này sao?
Tôi quýnh quá hỏi vội:
– Vậy chị phải làm sao bây giờ.
Nó có vẻ suy nghĩ rồi vừa đi vừa nói:
– Thôi được, để em ngồi lên yên sau xe, rồi chị bình tĩnh cho xe phóng thật nhanh qua chỗ họ đứng nghe.
Tôi mừng quá:
– Vậy em lên lẹ đi.
Rồi thằng bé nhảy phóc lên “gác baga” sau xe, cái cuốc vẫn đặt trên vai. Tôi nắm chặt “ghi-đông” xe và nhả thắng, chiếc xe đạp được đà lăn bánh vèo vèo chớp nhoáng là xuống tới chân đồi, lại lên một con dốc đứng khác, tôi phải dắt bộ. Khi qua mặt tụi gác cổng được một đoạn khá xa, thằng bé như rành rõi địa thế, quay đầu lại chỉ cho tôi biết T1và T2 là những dãy nhà trên cao, dãy nhà tôn gần chân đồi là T5 (tôi nghĩ bụng, đích thị là chỗ anh đang ở). Còn dãy nhà lá nho nhỏ ở mé rào bên đường là cầu tiêu, tôi buột miệng: “Hèn gì”.
– Thằng bé cười nhẹ rồi chỉ tiếp, đường phía trước rẽ phải là ra phi trường Long Khánh cũ, rẽ trái là trại tù của những người địa phương. Tôi đi về phía trái núp trong một bụi chuối lớn để nhìn xuống, thì thấy dưới thung lũng bên dòng suối nhỏ là những vườn rau xanh, các ông chồng thương yêu đang gánh nước tưới rau trong âm thầm lặng lẽ, tôi nhìn mà đau như đứt từng khúc ruột, nước mắt chảy ướt mặt, thương xót cho số phận chồng cũng như bạn bè “anh hùng gặp cảnh sa cơ.”
 Tôi buồn bã trở về nhà, thì khoảng một tháng sau, nhân một chuyến đi buôn đay (là vỏ cây dùng để mắc dàn dệt chiếu cói) ở Gia Kiệm. Trên chuyến xe đò về Saigon, tôi gặp người anh họ kể cho tôi nghe: “Hôm qua bên Long Khánh ở Sư Đoàn l8 cũ, ngay chỗ nhốt tù “cải tạo” một kho đạn lớn chứa đủ các loại bom, đạn phát nổ từ sáng tới khoảng 5 giờ chiều mới hết, tiếng nổ dội tận Gia Kiệm cách cả mấy chục cây số cũng nghe. Những người dân ở Long Khánh phải chui xuống hầm, còn tù cải tạo chết la liệt”. Tôi còn nhớ đó là ngày 26 tháng 4 năm 1976.  
Nghe tin chẳng lành, tôi bỏ mối hàng xong, về gấp nhà bế con lên đứng xa nhìn vào mà khóc hết nước mắt, vì tôi biết chắc chồng mình đang ở chỗ tang thương này. Những dãy nhà tôn, nhà lá san sát nhau, cách một tháng trước tôi đã phóng xe đạp qua để quan sát, bây giờ sập đổ tan nát như một bãi chiến trường.
Vậy mà nhà cầm quyền còn bưng bít tin tức. Những người thân chỉ biết tin qua truyền miệng, kéo nhau cả hàng ngàn người đến, đứng lặng lẽ bên ngoài nhìn vào mà đau xót. Đêm đến họ ngủ nhờ ở hè nhà dân quanh trại. Con đường chính dẫn vào trại đã bị rào cản, họ phải leo lên nóc nhà dân, hoặc cây cao ở gần trại để nhìn vào bên trong mong tìm thấy chồng, con mình còn sống sót. Riêng tôi nhờ có nhà bà cô của bố tôi ở gần, năm đó bà đã ngoài 70 tuổi, bà kể gia đình phải trốn xuống hầm vì sợ bom bay đạn lạc, và đọc kinh cầu nguyện xin Chúa phù hộ, chứ nổ kiểu này chắc cháu tôi trong đó chết mất.
Hôm sau tôi gửi con, rồi một mình lẻn đến phía sau trại, nơi phi trường cũ để tìm đường vào, nhưng tôi vừa đi gần tới nơi, bất chợt một gã bộ đội đứng gác chặn lại rồi quát:
– Ai cho chị vào đây?
Tôi đứng khựng lại, năn nỉ:
– Chú ơi, làm ơn cho tôi vào tìm xác chồng tôi.
– Ai bảo là chồng chị chết, cứ về đi chúng tôi sẽ cho biết tin sau.
Tôi nói:
– Chú ơi, đêm qua nhà tôi về báo mộng cho tôi biết ảnh chết rồi, chú tính coi nhà cửa mà còn tan nát thì người làm sao mà sống được, các chú lại không cho chạy, phải nằm tại chỗ thì làm sao mà thoát.
 Gã bộ đội có vẻ hơi xúc động, tôi lại tiếp:
– Chú nghĩ coi ai cũng có gia đình vợ con, ngay các chú cũng vậy, gia đình ở ngoài Bắc cũng đang mong chờ các chú trở về. Bây giờ đất nước đã “thống nhất” rồi mà sao còn bắt bớ tù tội như vậy thì đâu có phải là hòa bình nữa.
 Tôi ngả xe đạp ngồi xuống ven đường, vừa khóc vừa kể lể. Gã bộ đội mặt non choẹt, nhưng đầy vẻ nanh ác, bồng súng chĩa thẳng vào người tôi như đe dọa. Tôi không sợ hãi, cứ ngồi lỳ ngước mắt nhìn thẳng vào mặt hắn như thách thức. Rồi nhủ thầm, sợ gì cái gã chân mang dép râu, đầu đội nón cối nhân dáng cục mịch, mắt ốc nhồi, môi chuối mắn, hai gò má cao làm cho gương mặt hiểm độc càng u tối hơn. Học hành thì dốt nát, cao lắm là hết lớp tư trường làng vậy mà đòi dậy dỗ, “cải tạo” ai?… Hắn là hình ảnh của những con người đang quản thúc chồng tôi, từ miền Bắc đột nhập vào Nam bằng con đường bất chính, để đòi cai trị dân chúng miền Nam như nô lệ. Ác nhất là bắt bớ, bỏ tù để trả thù những người ngã ngựa, đã buông súng, chỉ còn hai bàn tay không. Nhưng hơn hẳn hắn về học thức, trình độ, còn nhân cách thì vượt trội hơn bọn hắn hàng trăm ngàn lần.
Bỗng tôi thấy cách vài trăm mét, trên một ngọn đồi trọc đối diện, lom khom vài người đang đào lỗ, rồi khệ nệ khiêng thẩy khoảng ba, bốn xác chết xuống chôn chung một lỗ, không hòm cũng không một manh chiếu cuốn. Tôi đứng bật dậy, mở to mắt nhìn cho rõ và tự hỏi, không biết trong đó có xác chồng mình không? Ôi! Đã bao ngày mong nhớ, cố công tìm cho được nơi chúng nhốt anh, nhưng phũ phàng thay khi phải nhìn những cảnh đau thương dồn dập đến:
                           Bao năm qua bao mùa thu vắng
           Bấy nhiêu lần nghĩa nặng tình sâu
                           Xót xa nhìn thân ai vùi lấp
                           Trong âm thầm tôi đứng khóc thương.
 
Thật là một cảnh tượng tàn ác vô nhân đạo của bọn Cộng Sản vô thần. Tôi, một nhân chứng bất đắc dĩ, đã nhìn thấy “đỉnh cao trí tuệ” đối xử với những nạn nhân xấu số như loài thú vật vô tri, vô giác, đem vùi thây họ trong lòng đất lạnh một cách vội vã sơ sài. Có chăng chỉ còn lại tấm bia mộ bằng miếng ván cũ, sẽ mục nát theo thời gian để rồi mất dấu tích trong câm lặng.
Tôi thẫn thờ như người mất hồn trở về Saigon, những hình ảnh bi thương cứ ám ảnh tôi mãi. Lúc đi tìm anh hy vọng bao nhiêu, thì khi trở về buồn bã bấy nhiêu. Tôi mong chờ tin anh, không biết bao lâu: “Ngồi nhà lại nhớ người đi/ Một người chín nhớ mười mong một người”. Rồi một hôm tôi nhận được thư anh, nhìn nét chữ trên phong bì tôi mừng quá, tay run run ép lá thư vào ngực, nhắm mắt lại tưởng như đang ôm người chồng thương yêu của mình.
Sáu năm sau được ra khỏi tù, anh đã kể cho tôi nghe về một kho đạn rất lớn, không hiểu vì lý do gì đã phát nổ từ sáng tới chiều, ngay khu vực nhốt tù mà bộ đội canh gác không cho ai chạy, nên chết rất nhiều, nhất là những dãy nhà gần kho đạn bị xập tan tành. Nhiều người theo phản ứng tự nhiên, chạy ra tới hàng rào liền bị bắn gục tại chỗ. Anh kể một anh bạn nằm cạnh bị thương, máu chảy ra nhiều quá, nên khát nước cố bò ra vườn dưa leo hái được một trái, đưa vào miệng cắn chưa kịp nuốt thì chết. Còn anh cũng bị một miểng đạn sượt qua lưng, bây giờ vẫn còn vết sẹo kỷ niệm.
Tôi xin ghi lại quá trình bi thảm của một thời, mà một đời khó quên. Nhưng hãy để lịch sử phán xét.
                                                                                                                                          NĂNG KHIẾU.