Phát biểu của giáo sư Nguyễn Lý Tưởng tại San Diego ngày Thứ Bảy 03 tháng 12/2022

Phát biểu tại San Diego ngày Thứ Bảy 03 tháng 12/2022
Kính thưa quý vị quan khách và quý thân hữu,
Tôi xin cám ơn tất cả mọi người đang hiện diện tại đây hôm nay và cám ơn những người vắng mặt,
nhưng trong quá khứ đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều…Tất cả mọi sự rồi cũng qua đi, chỉ còn chút tình
cảm dành cho nhau là cao quý hơn hết. Trước mặt tôi là bà con, bạn bè…Những bạn tù vừa là nhân
chứng về tôi trong cuộc đời tranh đấu dưới chế độ CSVN sau 30/4/1975…Những nhà báo, nhà
văn…những anh chị đại diện các tổ chức công đồng, hội đoàn, đoàn thể tại địa phương…Cám ơn Đài
Tuyền Hình VNTV đã cho mượn địa điểm 4655 Ruffer Street # 180., San Diego, CA 92111 để tổ chức hôm
nay và phóng viên thực hiện phóng sự…
Đặc biệt
-Ban tổ chức: – Anh Đỗ Như Điện, anh Nguyễn Văn Của, chị Thái Phương Lan…mà ở địa phương nầy ai
cũng biết mặt biết tên. Anh Đỗ như Điện là người dạy chung một trường với tôi năm 1965 tại Nha Trang
và tôi đã gặp lại anh năm 1994 tại Cali khi tôi và gia đình mới qua Mỹ…Anh là người đã tổ chức cho tôi
gặp một số anh chị em trong Phong Trào Giáo Dân lần đầu tiên tại San Diego…-Anh Nguyễn Văn Của,
một người tài kiêm Văn Võ đã từng là người đại diện Văn Bút VN tại Tây Nam Hoa Kỳ…Chị Thái Phương
Lan (vốn là người Huế, thuộc gia đình Trung Tướng Thái Quang Hoàng, là nữ lưu của San Diego mà ai
cũng biết)…
-Tôi cũng xin giới thiệu 02 người bạn đặc biệt sẽ phát biểu trong chương trình hôm nay (1) anh Trần
Ngọc Điềm (đồng hương Quảng Trị) cháu ngoại dòng họ Trần Đình với ngôi mộ phát 18 đời Thượng Thư
tại làng Hà Trung (phía Nam vĩ tuyến 17)…(2) là chị Lê Kim Truyên, tốt nghiệp Viện Hán học Huế, là bạn
Giáo sư đồng nghiệp với tôi, thay mặt cho anh chị em ở xa không tham dự được…
Kính thưa quý bà con và Thân hữu,
San Jose, Sacramento tuy xa mà gần. San Diego tuy gần mà xa…Từ chỗ tôi ở ra bến xe đò Hoàng (chợ
ABC) thành phố Westminster, CA 92683 đi San Jose, đi Sacramento quá dễ dàng…Nhưng muốn đi San
Diego thì rất khó, tìm được xe và người chở đi là cả một vấn đề…
Trước mắt quý vị có cái banner với hàng chữ “Ngày Gặp Gỡ Bà Con Bạn Bè…” Mục đích của tôi đến đây
ngày hôm nay là để được gặp lại “Bà Con, Bạn Bè”…Tôi chọn ngày 03 tháng 12/2022 là “Ngày lành tháng
tốt”, ngày Thứ Bảy, đầu tháng 12…đúng là ngày rất may mắn đối với tôi vì được gặp lại những người bạn
lâu ngày không gặp. Nhưng tôi cũng bùi ngùi tưởng nhớ đến những người bạn đã vĩnh viễn ra đi như Bác
Sĩ Cao Xuân An, Bác Sĩ Lê Thuận, Nghị Sĩ Phạm Nam Sách, Nghị Sĩ Vũ Minh Trân, Kỹ Sư Trần Văn Trí, Anh
Văn Đức Thạnh, Anh Ngô Văn Phong…là những người rất thân thiết và quý mến của tôi, làn bạn tranh
đấu, là bà con họ hàng, là ân nhân của tôi và gia đình tôi.
Kính thưa quý vị,
Người xưa có nói “Dĩ văn hội hữu” dung văn chương mà kết bạn…Hôm nay, tôi xin mượn tác phẩm
“Thác Lũ Mưa Nguồn” là sách Hồi ký của Nguyễn Lý-Tưởng (Quyển I từ 1945 – 1975) và Quyển II (từ
1975-1995)…Quyển I do Amazon in ấn và phát hành lần đầu tiên vào mùa Xuân 2016…tái bản lần thứ I
tháng 8/2021 và Quyển II xuất bản lần đầu tháng 8/2021…Sách không có giá bán và không gởi bán ở nhà
sách. Những ai đến với Nguyễn Lý-Tưởng ngày hôm nay, sẽ nhận được sách nầy do tác giả ký tặng.
Nguyễn Lý-Tưởng viết sách này với tư cách là “nhân chứng” mục đích để lại cho gia đình và dòng họ và
cũng để dành cho các thân hữu là những người đã từng sống chung với NLT trong các nhà tù CSVN sau
1975 từ Nam chí Bắc, những người đã từng sát cánh với NLT trong cuộc đời tranh đấu cho tự do, dân
chủ, nhân quyền và đặc biệt là tự do tôn giáo cho Việt Nam.
Kính thưa quý vị,
Con người sinh ra và lớn lên trong một xã hội, đa số không hài lòng với chế độ hiện tại và muốn đi tìm
một con đường, muốn có một chương trình xây dựng một xã hội, xây dựng đất nước. Tôi đã từng nghe
các bậc tiền bối, các nhà cách mạng Việt Nam nói: “lập chí, lập ngôn, lập hội” hay “lập chí, lập ngôn, lập
đảng”. Trước hết, phải có tư tưởng chính trị của mình (đó là lập chí) – sau đó là viết những tư tưởng đó
thành sách vở, thành tài liệu phổ biên cho người khác (đó là lập ngôn) – và vận động nhiều người họp lại
với nhau cùng tranh đấu để thực hiện chủ trương chủ trương, tư tưởng chính trị của mình – đó là “lập
Hội” (hay “Lập Đảng). Chính đảng đóng vai trò rất quan trọng trong sinh hoạt chính trị của một chế độ
dân chủ. Mục đích của chính đảng là tiến tới lãnh đạo của chính quyền, thực hiện chủ trương, chính sách
của mình. Muốn đạt tới chính quyền thì phải thông qua các cuộc bầu cử, ứng cử từ Trung Ương đến địa
phương. Một chế độ không có đảng đối lập là một chế độ độc tài – không phải là chế độ dân chủ.
Tại Hoa Kỳ có 02 đảng lớn thay nhau lãnh đạo chính quyền: đó là đảng Cộng Hòa và dảng Dân Chủ.
Người dân Hoa Kỳ tin tưởng vào Hiến Pháp và quyền công dân của họ. Người công dân được Hiếp Pháp
và Luật Pháp bảo vệ nghĩa là họ được hưởng các quyền tự do dân chủ như Hiến Pháp và Luật Pháp quy
định. Người dân tin tưởng vào quyền ứng cử và bầu cử của mình. Tất nhiên họ tin tưởng vào sự tự do,
công bằng và trong sạch và tinh thần dân chủ của cuộc bầu cử.
Tôi là người sinh ra và lớn lên trong một gia đình mà cha, anh, họ hàng đã dấn thân vào con đường tranh
đấu để thực hiện một chế độ dân chủ cho Việt Nam. Tôi lớn lên giữa những người tranh đấu, sớm biết
đến chính trị, đến cách mạng và hiểu được “khát vọng Dân Chủ của dân tộc Việt Nam” đã khởi đi từ thế
kỷ 19 khi Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lăng. Tôi là người đã trải qua 03 gia đoạn: lập chí, lập ngôn, lập
đảng từ khi còn là học sinh, sinh viên. Vì là người trí thức nghèo nên tôi có khuynh hướng đối lập với
chính quyền, tranh đấu đòi hỏi phải thực hiện một chế độ Dân Chủ cho Việt Nam. Khát vọng Dân Chủ là
khát vọng của Dân Tộc Việt Nam chúng ta hôm nay . Dân Chủ và Nhân Quyền phải đi đôi với nhau.
Không có Dân Chủ thì không có Nhân Quyền.
Cho đến thời điểm 1945, trong thời gian thế giới chiến tranh lần thứ II (1939-1945) khi quân Nhật đảo
chánh Pháp tại Đông Dương thì khát vọng đó lên cao nhất. Cũng vì khát vọng đó mà khi Việt Minh cướp
chính quyền tại Hà Nội ngày 19/8/1945, lên tiếng đòi yêu cầu Hoàng đế Bảo Đại thoái vị thì nhà vua đã
dáp ứng và nhắc lại tinh thần “Dân Vi Quý” trong tư tưởng Nho học qua chiếu thoái vị (25/8/1945). Khi
trao quyền lãnh đạo đất nước lại cho Hồ Chí Minh, vua Bảo Đại đã nói rõ: “Yêu cầu ông Hồ thực hiện Đại
Đoàn kết toàn dân, tôn trọng những người đối lập, không gây nên cảnh huynh đệ tương tàn”. Nhưng sau
khi cướp được chính quyền rồi, Hồ Chí Minh đã thực hiện một chế độ độc tài đảng trị, dựa vào sức
mạnh vũ khi của Nga, Tàu là hai nước đàn anh của khối Cộng Sản Quốc Tế, bắt nhân dân ta hy sinh
xương máu, gây nên cảnh huynh dệ tương tàn, để thực hiện một chế độ độc tài trong dân tộc chúng ta.
Trong lịch sử VN, từ xưa tới nay, chưa bao giờ người dân bị dối xử tàn tệ, bị khinh miệt như trong chế độ
CS hiện nay. Do đó mà có những cuộc tranh đấu giữa những người quốc gia yêu chuộng tự do dân chủ
chống lại người CS chủ trương độc tài, chủ trương tiêu diệt các quyền tự do dân chủ của con người. Đặc
biệt từ 1975 đến nay, bất cứ thành phần nào trong xã hội, không phân biệt già trẻ, trai gái, người trí
thức hay người bình dân, bất cứ thời điểm nào, bất cứ địa phương nào, luôn luôn có người đứng lên
chống lại chế độ CS,đòi xoa bỏ chế độ đó, để thực hiện một chế độ dân chủ.
Sau 13 năm tù dưới chế độ CSVN (1975-1988),khi được trở về với gia đình, tôi đã bí mật cho phổ biến
một tài liệu nội bộ gồm 02 phần: (1) nhận định về tình hình VN hiện tại, ne6ule6n những điểm sai lầm
của Hồ Chí Minh và đảng CS từ 1945 đến nay, trong đó đặ biệt báo động họa xâm lăng từ phương Bắc
tức chủ nghi4d Đại Hán của Trung cộng. (2) đề nghị một chương trình xây dựng Vn trong tương lai gồm
10 điểm lớn (như là một chương trình tham chính nếu trong tương lai nắm được quyền lãnh đạo đất
nước).
Ngày 4 tháng 6/1992, công an bao vây, xét nhà và bắt tôi đem đi biệt giam trong thời gian 13 tháng.
Chúng đã tịch thu tài liệu nầy và cuộc tranh luận giữa tôi và bọn chấp pháp kéo dài gần 13 tháng. Cuối
cùng trước áp lực quốc tế, nhất là Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và ông TTK Liên Hiệp Quốc lúc đó, vì nhu cầu
ba3bo3 cấm vận, đặt quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ nên chúng đã trả tự do và cho tôi được xuất cảnh
qua Mỹ theo diện cựu tù nhân chính trị. Trong tài liệu đó, chúng tôi đòi hỏi CSVN phải thực hiện các
quyền tư do dân chủ cho dân. Đó là điều kiện tiên quyết trước khi nói đến hòa giải, đoàn kết dân tộc.
Bốn điểm chính trong 10 điểm là (1) Quyền tư do tôn giáo (2)Quyền tư do tư tưởng, tự do ngôn luận
(3)Quyền tự do về chính trị (4)Quyền tư hữu của người dân
Năm 1940, cụ Phan Bội Châu được 74 tuổi, bệnh nặng nằm trên giường, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã hướng
dẫn một số anh chị em trẻ, với tư cách đồng chí (hay những người có lòng ngưỡng mộ cụ Phan Bội Châu)
đến Bến Ngự, Huế, thăm cụ Phan đang nằm trên giường bệnh…Cụ Phan đã đọc bài thơ “ Gởi Phường
Hậu Tử” (tức gởi lại cho thế hệ sau nầy)…Trong đó mở đâu bằng 02 câu thơ (chữ Hán)
-Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ
Thiên hạ thùy nhân bất thức quân
(Đừng buồn vì đường trước mặt không có ai là tri kỷ
Vì trong thiên hạ không ai mà chẳng biết đến anh)
Hai câu thơ nầy nguyên của Cao Thích “biệt Đổng Đại” – Tác giả là Cao Thích, từ biệt người bạn là Đổng
Đại…Toàn bài có 04 câu :
Thập lý hồng vân, bạch nhật huân,
Bắc phong xuy nhạn, tuyết phân phân.
Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ
Thiên hạ thùy nhân bất thức quân…
(Mười dặm mây hồng trời sáng trong,
Gió Bắc (lạnh) đuổi chim nhạn bay đi, tuyết rơi rơi…
Đừng buồn vì lối trươc không có ai là tri kỷ (người hiểu mình)
Trong thiên hạ ai mà chẳng biết anh)
Cũng trong bài thơ đó, có hai câu :
“Nga nga hồ chí tại cao sơn,
Dương dương hồ chí tại lưu thủy.
(chót vót thay chí ở núi cao
Mệnh mông thay chí ở biển lớn)
Nga là nguy nga: cao lớn
Dương là đại dương, biển lớn (biển nhỏ là hải như hắc hải, đia trung hải…Biên lớn là Dương như Thái
bình dương, Đại Tây Dương…)
Sau hai lần tù tổng cộng 14 năm, tháng 7/1994 tôi và gia đình được qua Mỹ, hai năm sau tôi được mời
phát biểu trong Đại Hội lần đầu tiên tại hải ngoại của Đảng Đại Việt Cách Mạng họp tại Thành phố
Houston, TX…Tôi có mượn mấy câu thơ cổ để nói lên tâm sự của mình:
Tiền bất kiến cố nhân,
Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên địa chi du du,
Độc lân nhiên nhi lệ hạ
(Nhìn phía trước không thấy người quen,
Nhìn đàng sau không co người tới.
Nhìn trời đất mịt mù,
Nên tủi thân mà rơi lệ…)
Kính thưa bà con và quý thân hữu,
Hôm nay, tôi nhìn ra phía trước, có rất nhiều bà con bạn bè
Nhìn ra phía sau cũng thấy có người
Hôm nay quả thật là ngày lành tháng tốt, mùa Lễ Giáng Sinh bắt đầu, tôi thật vô cùng cảm kích
Mấy câu thơ của Cao Thích biệt Đổng Đại…Đó là lời tiễn biệt một người bạn đi xa, có thể hiểu người
bạn đó đang dấn thân vào con đường tranh đấu. Hình ảnh nầy cũng là tâm sự của cá nhân tôi, đã
sớm dấn thân vào con đường tranh đấu…
Muốn tranh đấu thì phải có sức mạnh- muốn có sức mạnh thì phải đoàn kết – muốn đoàn kết thì phải
thương yêu nhau. Đó là Chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn của Đảng trưởng Trương Tử Anh (1914-1946).
Chúng tôi tranh đấu với mục đích làm cho dân tộc Việt Nam được sinh tồn – không bị tiêu diệt bởi ngoại
xâm, không bị tiêu diệt bởi người Hán (Hán tộc) ở phương Bắc. Trong chủ nghĩa Dân Tộc SinhTồn, chúng
tôi không phân biệt địa phương, sắc dân hay thành phần xã hội. Chúng tôi không chủ trương đấu tranh
gia cấp. Tất cả mọi người sống trên lãnh thổ nước Việt Nam hay trên mảnh đất hình chữ “S” nầy, từ Nam
Quan đến Cà Mau cùng chung một giang sơn, cùng chung một lịch sử, cùng nhau tranh đấu để bảo vệ
giang sơn đó, cùng nhau tranh đấu để bảo vệ sự độc lập của tổ quốc nầy…đều là công dân của quốc gia
Việt Nam. Chúng tôi tranh đấu cho mọi người trong dân tộc Việt Nam nầy được quyền sống, được
hưởng các quyền tự do dân chủ, được hưởng hạnh phúc sung mãn chứ không phải sống kiếp nô lệ, dưới
chính thể Cộng Sản độc tài như hiện nay.
Chúng tôi chủ trương lấy tình thương tạo đoàn kết, đoan kết mới có sức mạnh; có sức mạnh để tranh
đấu cho dân tộc được sinh tồn. Và người dân có cuộc sống sung mãn, hạnh phúc.
-Trong Tết Mậu Thân 1968 tại Huế, Việt Cộng đã giết người vô tội một cách dã man, chôn chung trong
một mồ chôn tập thể. Tôi đã có lần hướng dẫn một phái đoàn báo chí ngoại quốc đến chứng kiến một
mồ chôn tập thể. Khi khai quật, tôi thấy có đủ mọi thành phần: người Công Giáo nằm bên cạnh người
Phật tử, người đảng viên Đại Việt nằm bên cạnh người Việt Quốc, người sĩ quan, quân nhân, cảnh sát,
cán bộ xây dựng nông thôn nằm bên cạnh nhà tu hành hay anh sinh viên học sinh, người buôn bán hay
công nhân lao động…Tôi lấy tay bốc lên một nắm đất và hỏi mọi người: “Đố ai phân biệt được trong năm
đất nầy đâu là máu của của người Công Giáo hay Phật tử, đâu là máu của quân nhân hay sinh viên, học
sinh..vân vân và vân vân…???
-Sau ngày 30/4/1975,khi cửa nhà tù đóng lại thì trước mắt mọi người, có đủ mọi thành phần tôn giáo,
đảng phái…đủ mọi thành phần trong xã hội. Chúng ta thấy đó: Tất cả chúng ta đều là nạn nhân của Cộng
Sản Việt Nam.
-Cộng Sản Việt Nam là kẻ thù của tất cả chúng ta. Khi nào Cộng Sản không còn thống trị đất nước chúng
ta thì lúc đó Dân Tộc chúng ta mới được hạnh phúc – lúc đó người dân VN mới được hưởng các quyền
tự do dân chủ như các nước tự do trên thế giới.
Kính thưa quý vị,
Từ khi qua Mỹ, tôi nhận thấy giới trẻ nhất là con cháu chúng ta có khuynh hướng theo học các ngành
chuyên môn về khoa học kỹ thuật như bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, kỹ sư, kiến trúc sư, vật lý, hóa học,
computer,v.v.mà rất ít người chú ý đến các ngành văn hóa, văn chương, lịch sử, địa lý, triết học, luật
pháp, chính trị, tôn giáo, xã hội,v.v…Hiện nay, rất nhiều người, kể cả những người lớn tuổi, rất ít quan
tâm về lịch sử văn hóa Việt Nam.
Ngoài ra, phần lớn các thành phần phản chiến, thân Cộng, không phản ảnh đúng sự thật lịch sử. Vì
thế,tôi dành thì giờ nghiên cứu, viết lại một số tài liệu liên quan đến văn hóa, lịch sử Việt Nam để cho
con cháu đối chiếu với ctài liệu có tính cách tuyên truyền xuyên tạc trước đây. Đó cũng là một sự đóng
góp nhỏ bé vào kho tang văn học Việt Nam ở hải ngoại hiện nay mà thôi.
Sau 19 năm dưới chế độ CSVN (1975-1994) trong đó có 14 năm bị giam giữ trong các nhà tù, tôi thấy
tuổi đời đã ngoài 80, sức khỏe không con như xưa, nên đã dành hết thì giờ viết lại những gì tôi đã học
hỏi ở nhà trường, đã nghiên cứu qua sách vở và nhất là đã sống, đã trở thành nhân chứng, hay đã tiếp
xúc với các nhân chứng lịch sử…Tôi cho rằng đây là công việc cần phải làm trước hết trong thời gian còn
lại của đời mình.
Tuổi trẻ không có cơ hội học hỏi ở nhà trường thì đọc sách để có thêm kiến thức…Tôi viết sách cũng là
giúp các bạn trẻ tự học, đọc sách để mở rông kiến thức, biết thêm những gì trường học Mỹ không dạy
cho mình về văn hóa lịch sử Việt Nam.
Phần II: Tính cách lãng mạn trong thơ, văn của Nguyễn Lý-Tưởng
Tôi làm thơ và viết văn, viết truyện rất sớm…có bài đăng trên báo Mầm Sống ở Huế từ tháng
6/1957…Những bài đăng trên báo ở Huế hay Saigon trước 1975 đều bị tịch thu, đem đốt hết cũng có bài
được đọc trên đài Phát Thanh Huế, Saigon…Tôi cũng có viết kịch (kịch thơ) được trình diện trên sân khấu
tại Triệu Phong hay tại Quảng Trị trong khoảng thời gian từ 1957 – 1963. Sau 1975, các bài hay thơ,
truyện của tôi đểu bị đem đốt hết.
A.-Thơ –
Tôi biết làm thơ rất sớm, ngay khi vừa đậu tiểu học, tôi đã bắt đầu làm thơ…học hết Trung học, tôi đã có
thơ đăng báo, được giới thiệu trên đài phát thanh…Nhưng mãi đến khi được định cư ở Mỹ, tôi mới gom
những bài thơ làm khi ở trong tù và những bài thơ tuổi học trò mà tôi còn nhớ, gom lại in thành sách…
1.Theo Dấu Chân Chim
Não bạt, thanh la, chuông đổ rền,
Lần theo hương khói tỏa bay lên.
Tơ hồng cao vút nghe thanh thoát,
Một thoáng bơ vơ lạc cõi tiên.
Tám hướng mây bay, trời trở lạnh,
Giang tay đón lá rụng bên thềm.
Ấp ủ tình đầu vào cõi mộng,
Một thời lưu lạc dấu chân chim.
Phố vắng không đèn, cỏ ngậm sương,
Hồng hoang trổi nhạc, khóc đêm trường.
Người đâu lạc lối vào tình hận,
Một bước ra đi, mấy dặm đường.
Bạch mai trắng bạch, hồng liên hồng,
Xuân đến rồi đây, thoáng nhớ mong.
Dưới gốc hoa đào, vui nắng mới,
Một đàn bướm trắng lượn qua song.
Đêm qua nằm ngủ nghe ai gọi,
Như tiếng người quen mấy chục năm.
Nhớ thương về với bao mong đợi,
Tuổi ngọc yêu đương mấy độ rằm.
Ngày dài qua hết lại đêm thâu,
Từ thở tóc xanh đến bạc đầu.
Cái kiếp phong trần đeo đẳng mãi,
Ngọt bùi sao chẳng có bên nhau.
Tiếng pháo đầu Xuân, xác pháo hồng,
Nhà ai pháo nổ, nhà mình không!
Tha hương nào biết đâu ngày Tết,
Xin gởi mẹ cha một tấm lòng.
22/1/1995
”Thân phận của những người vong quốc, ly hương, một lớn chưa thành, lý tưởng chưa đạt tới chẳng
khác nào “Theo Dâu Chân Chim” mà đi tìm…đi mãi đi hoài chưa tới đích…” Hình ảnh người đẹp trong
văn chương là lý tưởng của người tranh đấu, làm cách mạng chẳng khác nào một kẻ si tình đi tìm người
yêu. Người xưa có nói “Vọng mỹ nhân tức là vọng Thánh nhân”
Tình Khúc Mùa Xuân (2000)-
Em về mang cả mây hồng,
Cho Xuân tươi thắm, cho lòng anh vui.
Cho anh vào tuổi đôi mươi,
Để anh say đắm nụ cười giai nhân.
Mắt em như thể Chiêu Quân,
Long lanh ngấn lệ, nhớ ân vua hiền.
Ước mong những được bền duyên,
Một mai đua tiễn ra miền Hung Nô.
Xin đừng đi đến đất Hồ,
Nắm tay kéo lại, cơ đồ còn đây.
Hôm nay trời nhẹ, mây bay,
Chúa Xuân ban trọn một Ngày Tình Yêu.
Em ở đây cho đến chiều,
Suốt đêm trăng sáng, nhạc thiều trổi lên.
Hoa đăng treo ở mái hiên,
Một nhà hồng ảnh, lời chen tiếng vàng.
Bướm nhà hàng xóm bay sang,
Ngọc lan thơm ngát, rõ ràng người xưa.
Cành mai mới nở ngẩn ngơ,
Nụ hồng hàm tiếu chưa vừa mắt anh.
Ở đây có khách chung tình,
Có mùa Xuân mới, cho mình đắm say.
15.10.1998
Trong một chế độ chủ trương tiêu diệt tình cảm của con người thì xã hội đó toàn là những con người
máy, những cái xác không hồn, không biết rung động, không biết thương yêu. Đó là những cảnh ngộ mà
người dân Việt Nam chúng ta đã trải qua từ năm 1930, đảng Cộng Sản ra đời và cướp được chính quyền
vào năm 1945 và nhất là trong các nhà tù Cộng Sản sau 30/4/1975. Trong lời tâm sự, tôi viết: “Với tâm
tình tạ ơn Đấng Tối Cao đã tạo dựng và an bài mọi sư trong vũ trụ, tôi hân hoan ghi lại những cảm xúc
của một người tìm lại được cuộc sống tự do đã mất, tìm về một mùa Xuân muôn màu, muôn sắc, muôn
nhạc điệu hài hòa…”
Vùng Hoang Tưởng (2009
Tuyết phủ đồi hoang tim tái tê,
Sương mù giăng mắc chốn sơn khê.
Ước chân dã thú miền sa mạc,
Cỏ cháy, đồng khô, gió lạnh về.
Gối chiếc em nằm trọn giấc mơ,
Tình ta còn lại mấy vần thơ.
Đêm nay gió lọt vào song cửa,
Kẻ đấy, người đây sao hững hờ?
Chưa yên giấc ngủ đã bình minh,
Nghe tiếng chim kêu bỗng giật mình.
Nghĩ đến người đi ngoài ngàn dặm,
Ôi! Đời chỉ một kiếp phù sinh!
Em của người ta từ thuở nào?
Mình anh bầu bạn với trăng sao.
Bao năm vẫn sống trong hoang tưởng,
Tựa giấc chiêm bao lạc động đào.
Xin trả em về với gió mưa,
Đường khuya lá rụng, ánh trăng mờ.
Cô đơn bao phủ lầu Hoàng Hạc,
Ánh nhạn từng không bóng dáng xưa…
12/2000
Nhìn lại cuộc đời đã qua với bao thăng trầm trôi nổi, tình cảm khổ đau…chẳng khác nào một giấc mơ dài,
con người đang đi vào một “Vùng Hoang Tưởng” Những hình ảnh ngày xưa nay đã thay đổi, mờ nhạt, có
khi không còn nhận ra được nữa…
4.-Thương Về Quảng Trị (chưa xuất bản)
Ngoài 80 tuổi, tôi góp nhặt những bài thơ đã làm trong mười mấy năm vừa qua in vào thi tập có tên
“Thương Về Quảng Trị” xem như đó là tình cảm của một người con đang lưu lạc tha phương nhớ về quê
hương yêu dấu ngày xưa mình đã từng sống và lớn lên ở đó. Xin đốt lên một nén hương lòng tưởng nhớ
đến những thân nhân, bạn hữu đã khuất, đến những người đang lưu lạc, xa cách mấy chục năm trời
chưa gặp mặt…còn hay mất, xin nhớ đến nhau.
Người ta thường nói: Miền Trung quê nghèo, đất cày lên sỏi đá, mùa Đông thiếu áo, mùa Hè thiếu cơm,
thiên tai bão lụt, chiến tranh tàn khốc…chính là nơi tôi sinh ra:làng Dương Lộc, xã Triệu Thuận, quận
Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Tôi lớn lên trong tiếng hát ca dao của mẹ hiền, nơi tôi có bà con nội ngoại
hằng thương yêu ấp ủ, nơi tôi cùng bạn bè vui đùa chuỗi thời thơ ấu…Những hình ảnh bình minh trên
cánh đồng, chiều tà trên đỉnh núi, tiếng ve da diết vào buổi trưa Hè oi nắng, gió Tây Nam làm cho tôi say
giấc. Ngày mùa với những tiếng hò giã gạo, trâu đạp lúa trên sân, tát nước đêm trăng…đã đi vào tâm
hồn tôi…Tôi không thể nào quên được những hình ảnh quê hương đó. Tuy là quê nghèo, nhưng nơi đó
đã cho tôi nhiều tình cảm gắn bó, đi xa thì nhớ, thì thương.
B. Văn và Truyện
Nguyễn Lý-Tưởng viết văn khi còn là học sinh bậc Trung học, Truyện ngắn “Ông Lão Thức Thời” lần đầu
tiên được đăng trên Nguyệt San Mầm Sống số 06 tháng 6/1957, do LM Nguyễn Văn Lập (sau nầy là Viện
Trưởng Đại học Dalat) làm Chủ nhiệm…đã làm cho Nguyễn Lý-Tưởng nổi tiếng từ Huế vô đến
Saigon…Sau đó là Truyện “Bên kia dòng sông Dương” cũng đăng trên Báo Mần Sống … Tết 1958 đăng
truyện “Hoa Thủy Tiên”, sau đó, vào Saigon học…
Sau biến cố 30/4/1975, những Thơ, Truyện và Phóng sư, Bình luận Chính trị đăng trên các báo Saigon,
các tạp chí văn nghệ, báo Xuân Viện Hán Học…báo Xuân Da Vàng (1970, 1971) bị đem đốt hết. Năm
1994, 1995 qua Mỹ, tôi bắt đầu viết trở lại và in thành sách.
1.-Đàn Bướm Lạ Trong Vườn (5/1998) là những câu chuyện tôi kể cho các bạn tù với mục đích giải trí
cuối tuần …nhưng qua nội dung các truyện ngắn đó, tôi cũng chuyển tải những tư tưởng luân lý, đạo
đức nhất là lập trường chính trị của tôi. Qua Mỹ, tôi viết lại và in thành sách…”Tôi xin đốt lên một lò
hương trầm, cho hồn về dĩ vãng để tưởng nhớ đến những thân nhân, bạn hữu đã khuất, đến những
người đang lưu lạc xa cách mấy chục năm trời chưa gặp mặt…Trong cõi hư vô hay trong kiếp sống đoa
đày, còn hay mất, xin nhớ đến nhau”
2.-Thu Còn Vương Nắng, (8/2000) “Tôi muốn nói lên niềm tin và niềm hy vọng mà mỗi một người chúng
ta dù trong hoàn cảnh nào đi nữa cũng không thể đánh mất.”
3.-Ngày Trở Về (2009)trình bày những khía cạnh mà ngay cả báo chí, sách vở cũng chưa có dịp đề cập
đến một cách rõ ràng, chi tiết. Đó là những hình ảnh sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh năm 1945,
những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp cuối năm 1946, những sự khủng bố dã man của Việt Minh
đối với người quốc gia không cộng sản, về chiến khu Ba Lòng của Đảng Đại Việt tại Quảng Trị năm 1955
chống chế độ của Tổng THống Ngô Đình Diệm và vụ tranh đấu tại Miền Trung năm 1966 chống chính
quyền quân nhân với hai Tướng Nguyễn văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ; Tết Mậu
Má Lúm Đồng Tiền (chưa xuất bản): Tôi ghi lại những kỷ niệm, hình ảnh bạn bè, hình ảnh quê hương
mà tôi đã sống, đã đi qua…Những chuyện vui, buồn, dí dỏm, đơn sơ của một thời tuổi trẻ, người xưa
gặp lại nay đã già..nhưng câu chuyện hàn huyên vẫn là chuyện của thời học trò, thời tuổi trẻ…
NLT