| SAU CUỘC BIỂN DÂU (CÂU CHUYỆN TỪ MỘT BỘ QUÂN PHỤC) Phạm Tín An Ninh &&& Tôi gặp và quen anh trong một trường hợp khá bất ngờ, có thể nói là hơi kỳ cục. Vợ chồng tôi đến thăm và ở lại nhà cô con gái út hai tuần. Cháu vừa mua được căn condo trong một khu nhà mới xây ở thành phố Anaheim, cách Khu Disneyland chỉ một con đường. Đêm nào, bọn tôi cũng ra balcon ngắm pháo hoa được liên tục bắn lên từ khu giải trí nổi danh này. Căn nhà nhỏ khá xinh và ở trong một khu an toàn, cô con gái út rất thích. Nhưng chỉ sau vài hôm, cứ đến một hai giờ khuya thì cả nhà phải thức giấc, bởi tiếng lục đục ở căn nhà tầng trên. Âm thanh của một vật cứng nào đó gõ xuống nền nhà. Không đều đặn, năm ba phút một lần, dù nhẹ nhưng cũng đủ làm buốt trong đầu. Sáng hôm sau, cô con gái nhờ tôi lên nói chuyện với chủ nhà, yêu cầu chấm dứt các tiếng gõ khó chịu vào giữa khuya ấy, để chúng tôi không bị mất ngủ, đặc biệt cô con gái phải đi làm khá sớm. Sau hai lần bấm chuông, một người đàn ông mở hé cửa, gật đầu chào. Rất may, lại là một đồng hương. Chưa nói chuyện với chủ nhà, nhưng tôi đã thoáng hiểu được nguyên nhân gây ra tiếng động. Ông ta chống hai cây nạng gỗ. Mọi bực tức trong tôi bỗng dưng biến mất, những lời “cảnh cáo” tôi dự định sẽ nghiêm mặt nói với ông cũng tan biến theo. Tôi lễ phép chào ông, bảo là tôi ở tầng dưới, muốn đến thăm và làm quen với người đồng hương láng giềng. Ông nở nụ cười, làm rạng rỡ phần nào khuôn mặt khắc khổ, đã có nhiều vết nhăn, một phần được che phủ bới mái tóc dài bạc trắng. Ông mở rộng cửa mời tôi vào nhà. Tôi hơi khó chịu với mùi khói thuốc lá và cả mùi rượu. – Anh ở đây một mình? Câu đầu tiên tôi hỏi. – Vâng, thỉnh thoảng có cô con gái đến thăm. Cháu ở trên Riverside, cách đây khoảng gần một giờ lái xe. Căn nhà nhỏ một phòng ngủ, phòng khách chưng bày đơn giản. Điều làm tôi chú ý là hai tấm ảnh treo trên vách, phía sau bàn ăn. Một tấm là chân dung của một người lính, tấm kia là ảnh gia đình. Thấy tôi chăm chú nhìn, anh cười, bảo là ảnh của anh và vợ con anh lúc xưa. Anh chống nạng đứng lên, như có ý mời tôi đến xem. Tôi tròn mắt ngạc nhiên, tấm ảnh chân dung là một sĩ quan trẻ, mang cấp bậc thiếu tá, trông khá đẹp trai, phảng phất nét hào hùng. Trên ngực mang khá nhiều huy chương. Tấm ảnh kia anh chụp với người vợ xinh đẹp và hai đứa con kháu khỉnh. Lòng tôi bỗng chùng xuống, như vừa chạm vào một vết thương cũ. Tôi bất giác quay người lại, đứng nghiêm đưa tay chào: – Xin chào niên trưởng! Anh tròn mắt bất ngờ, rồi đưa tay ra bắt tay tôi. Sau này, tôi được biết tấm ảnh chân dung này anh chụp sau khi được thăng cấp thiếu tá tại măt trận Quảng Trị tháng 10 năm 1971, khi anh đang là tiểu đoàn phó, thay vị tiểu đoàn trưởng bị trọng thương, chỉ huy đơn vị phá vòng vây địch, tạo một chiến thắng lẫy lừng. Chúng tôi trở nên đôi bạn thân thiết kể từ hôm ấy. Hình như giữa chúng tôi có điều gì đó cùng “tần số” với nhau. Trước đây anh sống rất âm thầm, khép kín, không muốn gặp gỡ tiếp xúc một ai, kể cả những người quen biết cũ. Sau này, cứ mỗi lần đến nhà cô con gái tôi đều ghé thăm anh, mang theo cho anh một ít nem chua Ninh Hòa mà anh rất thích. Anh say sưa kể cho tôi nghe một thời hào hùng trong binh nghiệp. Anh nức nở khi nhắc tới những vị đàn anh, những đồng đội hào hùng đã phải hy sinh oan khiên tức tưởi, đặc biệt trong trận chiến Hạ Lào- Lam Sơn 719. Người được anh nhắc đến nhiều nhất, ngưỡng phục và thương tiếc nhất là Cố Đại Tá Lê Huấn, một vị tiểu đoàn trưởng trẻ tuổi nổi danh, tốt nghiệp Khóa 18 VBĐL mà có một thời anh được phục vụ dưới quyền. Anh bảo tôi vào phòng ngủ để anh cho xem một kỷ vật. Anh bật đèn lên tôi ngạc nhiên khi thấy một bộ quân phục. Nhìn kỹ, tôi nhận ra đây là một bộ quân phục tác chiến đã cũ, có những vết sờn rách, được giặt ủi cẩn thận và treo trong một cái tủ kính nhỏ. Loại tủ để chưng bày. Anh mở cửa tủ và cẩn thận lấy bộ quân phục, ôm vào người một cách trang trọng. Đôi mắt mơ màng như đang tìm về một quá khứ xa xăm nào đó. Anh thốt ra môt giọng trầm buồn. Dường như là để nói với chính anh hơn là với tôi, người đang đứng ngay trước mặt anh: – Đây là bộ đồ trận của anh ấy, anh Lê Huấn. Sau chiến thắng lẫy lừng tại Căn Cứ O’Relly, khi tiểu đoàn anh dưới tài chỉ huy tài ba của Trung Tá Lê Huấn đã đánh tan một lực lượng địch cấp trung đoàn của Sư Đoàn 304 BV, tháng 8/1970 tiểu đoàn lại đánh một trận khốc liệt với một đại đơn vị khác cũng của Sư Đoàn 304 BV này tại Hải Lăng, Quảng Trị. Khi ấy anh đang là đại đội trưởng thâm niên nhất của tiểu đoàn. Cả hơn một trung đoàn địch, sau nhiều đợt tiền pháo kinh hoàng đã đồng loạt xung phong nhằm tràn ngập vị trí đóng quân của tiểu đoàn 4/1. Trung Tá Lê Huấn rời khỏi hầm chỉ huy, đích thân điều động đơn vị quyết chiến trước một cuộc thư hùng sinh tử. Từng đợt địch quân bị đốn ngã ngay trước giao thông hào, nhưng bọn chúng như là những con thiêu thân lao vào lửa, lớp này ngã lớp khác lại xông tới. Nhờ sự chiến đấu kiên cường của đơn vị anh, và đặc biệt dưới sự chỉ huy tài tình và gan dạ của vị tiểu đoàn trưởng lừng danh, đã ngăn chặn, tiêu hao và cầm chân địch trước khi được những phi vụ không yểm, đánh trên đầu địch. Những trận không kích gây thiệt hại nặng nề cho địch nhưng cũng làm bị thương một số binh sĩ của đơn vị, vì khoảng cách giữa ta và địch quá gần. Anh là một trong những người bị trọng thương hôm ấy. Trời tối và mưa lớn, lưới phòng không dày đặc, không tản thương được, Anh Lê Huấn ra lệnh ban quân y mang anh vào nằm trong hầm chiến đấu của anh Huấn để được tương đối an toàn và băng bó chữa trị cấp thời. Thấy máu và bụi bặm thắm đầy bộ chiến y ướt đẫm nước mưa của anh, vị tiểu đoàn trưởng bảo người lính cận vệ lấy bộ áo quần trong ba-lô của mình mang đến thay cho anh. Khi tản thương về Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương, nhiều bác sĩ cứ tưởng anh là Trung Tá Lê Huấn, bởi bảng tên và cả cái lon trung tá còn nguyên trên ngực và cổ áo. Vết thương chưa lành, nằm trong Quân Y Viện mà lòng anh rất nôn nao khi biết tin đơn vị tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719. Một kế hoạch qui mô với sự tham chiến của hầu hết các đơn vị chiến đấu thuộc Vùng I: Sư Đoàn 1BB, các đơn vị Thiết Giáp, Biệt Động Quân, cùng với các Lữ Đoàn Nhảy Dù và TQLC. Anh khao khát được có mặt cùng đơn vị trong trận chiến đặc biệt này, nhưng vết thương ở chân phải là trở ngại chính để bắt anh phải nằm lại ở đây. Anh theo dõi từng ngày từ khi cuộc hành quân bắt đầu. Các tin tức không vui từ chiến trường, những tổn thất nặng nề của quân ta sau khi các căn cứ 31, 30 lần lượt thất thủ. Đại Tá Thọ, Lữ Đoàn Trưởng Nhảy Dù cùng nhiều cấp chỉ huy của ta bị lọt vào tay giặc. Một số phải tự sát để giữ tròn khí tiết. Từ các kế hoạch hành quân tồi tệ mà địch quân gần như biết trước để chuẩn bị trận địa đến việc thiếu thống nhất ở các cấp chỉ huy đã góp phần cho sự thảm bại. Điều đau đớn nhất đã làm tim anh thắt lại khi nghe tin Tiểu Đoàn 4/1 của anh nhận lãnh trách nhiệm nặng nề, làm lực lượng chặn hậu để cho Trung Đoàn rút lui khỏi căn cứ Lolo trong tình trạng bị bao vây nguy khốn. Anh bật khóc khi nghe tin Trung Tá Lê Huấn, vị tiểu đoàn trưởng trẻ tuổi tài năng đã lẫm liệt hy sinh, và cả tiểu đoàn chỉ còn 32 binh sĩ sống sót trở về! Anh nghĩ từ nay sẽ vĩnh viễn không còn gặp lại người chỉ huy mà anh ngưỡng phục và hằng mong được tiếp tục phục vụ dưới quyền. Anh nhớ tới bộ quân phục mà Trung Tá Lê Huấn đã đưa cho anh thay khi anh bị trọng thương cách đây vài tháng, anh còn chưa kịp trả lại, và bây giờ thì không còn có cơ hội để trả lại cho khổ chủ. Anh quyết định giữ lấy bộ quân phục này như một kỷ vật thiêng liêng trong cuộc đời mình. Và sau đó dù phải trải qua bao nhiêu thăng trầm, khốn khổ, nhất là sau ngày nước mất nhà tan, anh vẫn luôn trân trọng bộ quân phục mà anh nghĩ có mang hồn thiêng của anh Lê Huấn và của cả những đồng đội đã hy sinh. Sau khi xuất viện, anh được bổ sung đến một trung đoàn khác giữ chức vụ tiểu đoàn phó. Tháng 10/ 1971 anh thăng cấp Thiếu tá tại mặt trận. Cuối năm anh lên nắm tiểu đoàn thay thế vị tiểu đoàn trưởng bị thương, sau đó được theo học khóa quân chánh. Một thời gian sau, vết thương cũ ở chân phải tái phát. Sau khi chữa trị anh đi khập khiễng. Hội Đồng Giám Định Y Khoa xếp anh vào loại 2, không chiến đấu được. Được đề nghị bổ sung về Phòng 3 Quân Đoàn, nhưng anh xin đi làm chi khu phó cho anh tiểu đoàn trưởng cũ, bây giờ là quận trưởng của một quận miền núi. Quận lỵ là một tiền đồn chiến lược, nằm tại một vị trí trọng yếu khống chế cả con đường tiếp liệu của Cộng quân, nên bọn chúng tìm mọi cách để san bằng. Gần cuối năm 1974, Cộng quân mở nhiều đợt tấn công biển người nhằm chiếm quận lỵ, vị quận trưởng bị thương nặng. anh đã phối hợp với các đơn vị bạn tăng cường, trực tiếp chỉ huy điều động cuộc phản công rất oanh liệt giữ vững được phòng tuyến qua nhiều cuộc tấn công qui mô của địch. Nhưng tổn thất của ta khá nặng và đạn dược dần dà cạn kiệt, trong lúc Cộng quân luôn được tăng cường, cuối cùng anh phải mở đường máu, rút lui trước khi căn cứ bị địch quân tràn ngập. Anh bị thương nặng ở chân, điều kỳ lạ là ngay tại vết thương cũ. Nhờ kinh nghiệm chiến trường và hai người lính nghĩa quân rất trung thành và khôn ngoan giúp đỡ, thay phiên cõng anh thoát khỏi vòng vây truy lùng của địch. Anh được đề nghị thăng cấp đặc cách lên trung tá, nhưng sau đó bị cưa mất chân phải. Nỗi đau đớn vì phải mất đi một phần thân thể chưa nguôi, thì cái đau đớn tột cùng cũng vừa ập đến: Tháng 3/75, cả Vùng I bỗng chốc lọt vào tay Cộng sản, Sư Đoàn 1BB, đơn vị nổi danh mà anh luôn hãnh diện phục vụ trong gần cả một đời binh nghiệp cũng tan tành, rồi cả miền Nam mất vào tay giặc. Những đồng đội từng chiến đấu, một thời sống chết cùng anh bỗng dưng tan tác như chỉ sau một cơn ác mộng. Mất một cái chân, nhưng anh vẫn bị tù đày nghiệt ngã trên bảy năm trong nhiều trại tù của bọn Cộng sản man rợ. Ra khỏi tù anh lại mất cả gia đình. Người vợ xinh đẹp ngày nào đã gởi đứa con gái lớn, năm tuổi, cho bà nội già, bồng theo đứa con trai ba tuổi, lẳng lặng sang sông về một nơi nào đó. Gia tài một đời binh nghiệp của anh giờ chỉ còn mỗi một bộ đồ trận, chiến y của người chỉ huy mà anh từng kính yêu đã hy sinh. Trước khi vào tù, anh căn dặn mẹ anh phải giữ kỹ bộ quân phục này cho anh với bất cứ giá nào, bởi đó là một kỷ vật quý giá nhất còn lại của đời anh. Theo đề nghị của mẹ, anh đồng ý cho bà tháo ra và đốt đi cái bảng tên và cấp bậc may trên áo. Có lẽ từ lâu lắm mới có người chăm chú ngồi nghe, nên anh say sưa kể cuộc đời mình. Đôi lúc sụt sùi, nước mắt tưởng đã khô cằn, bỗng ràn rụa trên khuôn mặt khắc khổ già nua, và từng giọt rơi xuống bộ quân phục anh đang ôm ấp trong lòng mình. – Sau này anh có dịp nào gặp lại chị nhà và đứa con trai? Tôi hỏi. – Bà đã có chồng khác từ lâu rồi, đang sống ở Âu Châu. Tôi buồn nhưng không trách. Ngại đụng chạm tới hạnh phúc riêng của bà, và cả vết đau trong lòng mình nên không muốn liên lạc. Còn đứa con trai có sang thăm tôi hai lần, nhưng cháu vẫn nhìn tôi xa lạ lắm. Cũng phải thôi, vì khi tôi vào tù thì cháu chỉ mới lên ba, trong ký ức của cháu có lưu lại một chút hình ảnh gì của tôi đâu. Riêng con gái tôi có sang thăm mẹ và em cháu vài lần. Nói dứt câu, anh cúi xuống như muốn giấu riêng nỗi xúc động. – Anh có thường cảm thấy cô đơn và tiếc nuối những ngày xưa? – Cũng có chứ, nhưng lâu rồi thành quen và gần như không còn muốn nhớ tới nhiều chuyện cũ. Tôi đưa tay nắm chặt bàn tay anh thay cho một lời an ủi khó nói thành lời. Bỗng anh ngước lên, mở to đôi mắt: -Điều buồn của tôi bây giờ là thấy một số trong đám anh em mình mất đi khá nhiều sĩ khí, có thằng còn khốn kiếp đã vì chút lợi lộc nhỏ nhen mà chạy hùa theo giặc, nịnh bợ thô bỉ, quên mình từng hãnh diện là sĩ quan của những binh chủng hào hùng. Nhìn bọn chúng múa may khóc lóc làm trò trước mặt bọn cộng sản mà tôi muốn buồn nôn! Tôi cười: -Anh bận tâm tới những kẻ ấy làm gì. Trong tập thể nào lại không có những con sâu, tồi tệ, bán rẻ linh hồn. Cũng có thể là những thằng khùng. Nhưng đó cũng chỉ là vài trường hợp cá biệt. Cũng như nước Mỹ vừa có tên phản quốc Edward Snowden, đang trốn ở Nga-Sô. Theo tôi, đại đa số anh em mình vẫn còn giữ được tấm lòng, tình huynh đệ và trách nhiệm với quê hương đất nước chứ! Bỗng đôi mắt anh sáng lên: – Điều vui và an ủi tôi nhiều nhất là các tổ chức gây quỹ giúp anh em thương phế binh sống khốn khổ ở quê nhà. Đặc biệt là các buổi Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh thành công tốt đẹp. Thấy anh em nhà binh mình cùng bà con tham gia hưởng ứng nhiệt tình, tôi mừng và cảm động lắm. Ở bên nhà các cha thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Sài gòn cũng đã can đảm, hết lòng an ủi và làm sống dậy niềm tự hào của những anh em thương binh bất hạnh, tôi cảm phục vô cùng. Có bao nhiêu tiền dành dụm tôi đều nhờ cô con gái gởi về phụ với các cha. Tôi cười, biểu lộ sự đồng tình. Định nói thêm đôi điều để khoe về những đóng góp phần mình, bỗng nghe anh hỏi: -Bạn ở Âu Châu, sang Mỹ một thời gian, chắc đã thấy trong đám anh em mình bây giờ cũng nhiều người bon chen danh lợi. Mà tội nghiệp thay toàn chỉ là danh hão! Nhiều ông tướng ông tá có danh thời trước, sang đây lại đầu quân làm tướng phường tuồng cho mấy cái chính phủ tự xưng tự diễn như đám hát chèo. Có ông giành hội này, bám tổ chức kia. Thấy mà phát ngượng! Trong đó có cả những ông ngày xưa từng là cấp chỉ huy của mình. Ngán ngẫm thật. Giấy rách mà cũng chẳng còn cái lề nào để mà giữ nữa! Tôi cười. Chưa kịp nói một lời an ủi, bỗng thấy anh sa sầm nét mặt: – Điều buồn nhất là thiên hạ lạm dụng bộ quân phục một cách đến lố bịch. Đám cưới, sinh nhật, tiệc tùng nhảy nhót mà cũng có người mặc quân phục. Có lần tôi thấy một ông mặc quân phục, mang cả lon lá và đầy huy chương lên truyền hình để quảng cáo thuốc cho một ông thầy thuốc Nam tự nhận mình là bác sĩ! Tôi xấu hổ và giận đến tím cả mặt. Tối hôm ấy, tôi ôm bộ quân phục này của anh Lê Huấn mà thấy lòng xót xa vô hạn. Nhớ lại một câu chuyện liên quan tới bộ quân phục đã xảy ra tại đất nước Na-Uy, nơi gia đình tôi đang định cư, tôi kể cho anh nghe: – Tháng 11 năm 2004, bà Kristin Krohn Devold, Bộ Trưởng Quốc Phòng Na-Uy, đến viếng thăm binh sĩ thuộc các đơn vị quân đội Na-Uy tham chiến tại Afghanistan trong lực lượng NATO. Bà được ca ngợi là một nữ bộ trưởng can đảm đã đến thăm binh sĩ khi chiến trường đang ác liệt nhất. Nhưng sau khi tin tức và hình ảnh về chuyến viếng thăm này được chiếu trên đài truyền hình quốc gia Na- Uy (NRK), bà bị nhiều sĩ quan và binh sĩ Na-Uy phàn nàn, phản đối khi thấy bà mặc quân phục từ một chiếc trực thăng bước xuống thăm một đơn vị tác chiến Na- Uy, và cả khi được Thủ Tướng Afghanistan, Hamid Kazai tiếp đón tại thủ phủ Kabul. Báo chí cũng góp phần tranh luận và tỏ ra bất bình về sự kiện này. Hầu hết cho rằng bà chưa hề ở trong quân đội, nên không được phép sử dụng quân phục, dù trong bất cứ chức vụ hay hoàn cảnh nào. Những quân nhân cho rằng bộ quân phục còn có tính thiêng liêng, bởi nhiều chiến binh đã hy sinh trong bộ quân phục này. Mặc dù bà và một số cơ quan chính phủ lên tiếng biện minh, viện lý do vì sự an toàn cho bà trong một hoàn cảnh đặc biệt, nhưng vẫn không được chấp nhận. Cuối cùng bà phải bắt buộc lên tiếng chính thức xin lỗi quân đội và cả dân chúng Na-Uy về điều này. Nghe tôi kể xong, anh đưa bộ quân phục đang cầm trong tay lên như để khẳng định một điều gì. – Đúng như thế, bộ quân phục đối với tôi luôn là một kỷ niệm thiêng liêng. Có biết bao đồng đội của tôi hy sinh đã được liệm với bộ quân phục thấm đẫm máu đào của họ. Xin đừng lạm dụng và làm đau lòng họ. Sau lần gặp gỡ đầu tiên này, tôi còn đến thăm anh một vài lần nữa, và bảo cô con gái: “bác ấy là người tốt, một sĩ quan đáng kính, con nên thường thăm nom và giúp đỡ bác những điều cần thiết”. Hôm đến chào từ giã anh để trở về lại Na Uy, tôi mang biếu anh hai chai rượu đỏ loại tốt. Tôi khuyên anh, khi nào buồn thì uống vài cốc cho nguôi ngoai, không nên uống nhiều rượu mạnh và hút thuốc lá, có hại cho sức khỏe. Anh nở nụ cười, nhưng bỗng trở nên buồn bã: – Anh đi rồi, tôi lại cô đơn, chẳng còn ai tâm sự. Hôm đó, tôi ở lại với anh tới hơn một giờ khuya. Chống gậy tiễn tôi ra cửa, anh bắt tay từ giã nhưng giữ khá lâu, không muốn tôi đi. Tôi cười, bảo nhỏ: -Anh cố dỗ giấc ngủ, đừng thức dậy nửa đêm, uống rượu chống nạn đi quanh nhà. Bọn tôi ở tầng dưới cũng mất ngủ với anh luôn. Anh gật đầu, cười thông cảm. Sáu tháng sau, khi trở lại Mỹ, tôi liền đến thăm anh. Bấm chuông mấy lần không ai mở. Tôi không còn nghe tiếng động của đôi nạng gỗ gõ xuống nền nhà như mọi khi. Buổi chiều, cô con gái đi làm về, cho tôi biết là anh ấy bị ung thư gan ở thời kỳ cuối. Con gái của anh đã đưa anh vào bệnh viện Fountain Valley từ tuần trước. Tôi lái xe xuống ngay bệnh viện. Anh nằm bất động. Khi tay tôi chạm vào anh, anh mở hé mắt nhìn tôi và miệng cố nở nụ cười, méo mó. Thấy anh cười mà tôi muốn khóc. Trông anh tiều tụy và hốc hác quá. Nhưng anh rất bình tĩnh, như ngày xưa khi đối diện trước quân thù. Anh muốn ngồi dậy, nhưng không còn đủ sức. Tôi ngồi bên cạnh, đưa tay xoa trên ngực anh, bảo anh cứ nằm nghỉ. – Bác sĩ bảo tôi không còn nhiều thời gian nữa, ngày mai phải xuất viện về nhà để gia đình lo hậu sự – Anh nói bằng một giọng thì thào, yếu ớt. Khi nhắc đến hai chữ gia đình, anh lại cười, chua chát: – Lại gia đình…! Hiều ý anh, tôi nói đùa cho anh vui: – Phải nói là đại gia đình, vì ngoài cô con gái ra, anh còn có chúng tôi nữa. Cứ yên tâm mà đi. Nhớ dọn sẵn một bãi đáp cho ngon lành, chờ tôi đáp xuống sau anh nghe. Chiều hôm sau anh được xe bệnh viên đưa về nhà. Cô con gái túc trực bên anh. Tôi cũng luôn có mặt. Anh ngỏ ý muốn uống với tôi một ly rượu đỏ. Cô con gái ngần ngừ, nhưng thấy tôi ra dấu gật đầu, cô rót hai ly rượu, một ly mời tôi và một ly cô cầm đưa vào miệng cha cô. Cuối cùng chúng tôi cũng cạn ly. Không ngờ đó là ly rượu từ biệt. Tôi bỗng nhớ tới lời của một bài ca cũ : “bạn ơi, quan hà xin cạn chén ly bôi, ngày mai tôi đã… đã đi xa rồi…” Khuya hôm đó anh trút hơi thở cuối cùng. Cô con gái cho biết anh ra đi rất yên ả. Không trăng trối một lời gì. Chỉ để lại một mảnh giấy nhỏ với vài chữ ngoằn nghèo: “Nhớ liệm ba bằng bộ quân phục trong tủ kính, nghe con”. Đám tang thật đơn giản theo ý muốn của anh. Mấy lần anh dặn dò cô con gái không được đăng cáo phó hay báo tin cho ai biết. Tại nhà quàn, ngoài cô con gái của anh và cậu bạn trai người Mỹ, chỉ có vợ chồng tôi cùng cô con gái út. Một nhà sư già tụng một thời kinh trước khi đậy nắp quan tài. Tôi đứng nghiêm đưa tay lên chào anh. Anh nằm uy nghiêm trong bộ quân phục, khuôn mặt ánh lên nét hào hùng. Tôi có cảm giác như anh vừa chết tại chiến trường. Không có bất cứ một nghi lễ nào, nhưng tai tôi như đang văng vẳng tiếng kèn truy điệu và khúc nhạc Chiêu Hồn Tử Sĩ. Đứng nghiêm chào anh một lần nữa, khi quan tài đưa vào lò thiêu. Mọi thứ đều trở về với cát bụi. Lòng tôi bỗng rộn lên một niềm vui bất chợt, khi nghĩ anh sắp được gặp lại anh Lê Huấn và những đồng đội cũ, những chiến sĩ đích thực đã rất xứng đáng với bộ quân phục oai phong của QLVNCH. Họ đã tạo cho bộ chiến y một điều gì đó rất thiêng liêng. Phạm Tín An Ninh |
| THE AFTERMATH- ( STORY OF A MILITARY UNIFORM) –Phạm Tín An Ninh I met and knew him in a rather unexpected situation, which could be quite bizarre. My wife and I visited and stayed at our youngest daughter’s for two weeks in California. She just bought a condo in a newly built condo complex in Anaheim city. It was only a street away from Disneyland. Every night, we went out to the balcony to watch the fireworks being constantly fired from this famous entertainment land. The little house was quite beautiful and located in a safe area. Our daughter loved it. But after only a few days, late at night, about one or two o’clock, all my family was awakened by the clacking in the upper floor of the house. It was the sound of a certain hard object knocking on the floor. It was irregular, such as every three to five minutes, soft enough but can penetrate your head. The next morning, my daughter asked me to talk to the landlord and to request the stopping of the unpleasant knocks in the middle of the night so that we wouldn’t lose sleep. My daughter had to go to work quite early in the morning. After two doorbell ringings , a man opened the door slightly, and greeted us with a nod. Thankfully, he was a compatriot. I haven’t spoken to him yet, but I could guess the reason for the noise. He was leaning on two wooden crutches. All my frustration suddenly disappeared. The “warnings” I intended to tell him seriously (how about “the complaints I was about to make” ?) all vanished as well. I greeted him politely telling him we lived downstairs and wanted to get to know our compatriot neighbor. A big smile brightened up his austere and grief-striken face, quite wrinkly and partly covered by his long white hair. He opened the door and invited me to come in. I was a bit uncomfortable with the odor of cigarettes and alcohol . -“You live here by yourself ?” was my first question. – “Yes. Sometimes my daughter comes to see me. She lives in Riverside; about an hour of driving from here.” It was a one-bedroom apartment. The living room was decorated quite simply. Two pictures hanging on the wall behind the dining table, caught my attention. One is the portrait of a soldier. The other is a family photo. Seeing me staring attentively at them, he smiled, telling me those are photos of himself and his wife and the children.He stood up on his crutches beckoning me to come and have a closer look. My eyes were wide-opend of astoundment. The portrait was of a young officer apparently with the rank of major quite handsome and reflecting heroism, his chest being completely decorated with medals . The family picture was a photo of himself, his beautiful wife, and their two adorable young children. My heart suddenly became languished as if touched by an old wound. I swiftly turned back, stood to attention and raised my arm: -“ Salute, my superior officer!” He appeared astonished, then shook my hand. Later, I learned that this portrait was taken after he was promoted to major at the Battle of Quảng Trị, in October 1971. He was battalion deputy commander, replacing the lieutenant-colonel who was seriously wounded. He commanded the battalion to destroy the enemy encirclement making it an illustrious victory. We became close friends since that day. It seemed there was something between us. We both seem to be on the same frequency. He used to live a quiet, private life and avoided meeting old friends. Now, everytime I visited my daughter, I came to see him, bringing him some Nem Ninh Hòa (fermented minced meat) that he liked very much. Passionately, he told me about his heroic time in the war. He sobbed sorrowly when recalling the seniors and the heroic comrades who sacrificed themselves in distress, frustrated at being victims of a gross injustice. This was especially true in the battle of Hạ Lào – Lam Sơn 719. The one person whom he mentioned many times, with much admiration and grieving, was the late Colonel Lê Huấn, a famous young battalion lieutenant colonel . , and a graduate from the VBĐL National Military Academy’s 18 th training class in Dalat . He had served under the colonel’s command for some time. He asked me to follow him to his bedroom where he could show me a memorabilia. He turned on the light and I was really surprised to see a military uniform. Looking closely, I realized this was an old combat uniform, with worn-out marks, carefully laundered and hung in a small glass display cabinet He opened the armoire and carefully took out the uniform, grasping it tightly in a respectful way. His dreamy eyes seemed to be looking towards some distant past. He uttered with a deep sad voice He seemed to be talking to himself rather than to me, who’s standing right in front of him: – This is his warfare uniform, Lê Huấn’s uniform. After the illustrious victory at O’Relly Base, when his battalion under Lieutenant Colonel Lê Huấn’s talented command had defeated a regimental enemy force of the 304th Northern Division, in August 1970, the battalion fought one more violent battle against another regiment of this 304th Northern Division in Hải Lăng, Quảng Trị. He was the battalion’s commander with longest years of experience at the time. More than one enemy’s regiment, after several stages of the terrifying pre-bombings, launched an attack at the same time to invade on the 4/1 battalion’s bivouacked positions. Lieutenant Colonel Lê Huấn left the command bunker, personally mobilized the unit to fight outrageously a life or death combat . One by one, the enemy troops were shot down right in front of the trench traffic, but they were like the mayflies launching themselves desperately into the fire. When one troop fell down, then another rushed in, so on and so forth. Thanks to the stoical fighting of his unit, and especially under the talented and audacious command of the famous battalion major, he had prevented, weakened and held back the enemy before the plane combats could come in for assistance to attack the enemy in the air. Air attacks inflicted heavy losses on the enemy but some of the unit’s soldiers were also wounded, as the distance between us and the enemy was so close. He was one of those soldiers who got seriously wounded on that day. It was dark and raining heavily. The air defense nets were dense, and evacuating wounded soldiers was impossible, Senior Lê Huấn ordered the medical board to bring him into Mr. Huấn’s combat bunker for relative safety and bandages for the immediate treatments. Seeing his rain- wetted combat uniform soaked with blood stains and dust , the battalion chief told the guard to take the clothes in his backpack to change him. When he was evacuated and admitted to the Military Hospital Nguyễn Tri Phương, several doctors were mistaken him as Lieutenant Colonel Lê Huấn, because the lieutenant colonel’s nameplate and stripe were intact on the uniform chest and collar. With the unhealing wound, lying in the Military Hospital, his heart was very frenetic when he learned that his unit took part for the contribution in Lam Sơn 719 motion . A large-scale plan with the participation of the majority of combat units of Region I: 1BB Battalion, Armored Units, Army Special Forces, along with the Airborne Brigades and Marine Corps. He yearned to be with the unit in this particular battle, but the injury at his right leg was the main obstacle to force him to stay here. He had been watching every day since the motion began. The unhappy bad news from the battlefield, the heavy losses of our troops after the 31st and 30th bases fell one after the other . Colonel Tho, the Airborne Brigade commander and many of our Leader boards were in the enemy’s clutches. Some killed themselves to keep their sense of purpose and uprightness. Due to the regrettable fair motion plans that the enemy almost knew in advance to prepare the battlefield to the lack of agreement in the leader boards had contributed to the defeat. The worst painful news caused him a tightening in the heart was when he heard that his 4/1 Battalion took on a heavy responsibility for being a rear-blocking force so the Regiment can escape to allow the Regiment to give in from Lolo base in a critically besieged state. He bursted into tears when he heard that Lieutenant Colonel Le Huấn, the talented young battalion commander, had stately sacrified his life, and the whole battalion remained only 32 surviving soldiers returning! He thought, from now on, he will never see the commander whom he admired and looked forward to continuing to serve under his commandership. He was thinking the military uniform which belonged to the Lieutenant Colonel Lê Huấn, and the Lieutenant gave it to him to change in when he was seriously injured a few months ago. He did not have a chance to return it . Now there is no chance to return it to its owner. He decided to keep this uniform as a sacred memorabilia throughout his life. And then, no matter how many vicissitudes and hardships happened to him, then after the falling day of his country, then his family divided, he always respected the uniform in which he thought the divine spirit of Mr. Le Huấn and his comrades who had sacrified their lifes will always being remembered. After being released from the hospital, he was called as backup to another regiment for deputy battalion function. In October 1971 he was promoted to be major at the front. At the end of the year he took control of the battalion to replace the battalion chief who was injured, then attended the military main course. Later, the old wound on the right leg recurred. After the treatment, he became cripple, limping in walking. The Board of Forensics Evaluator him categized his condition as a category 2 – unqualified to be in battlefield. He was recommended to be an auxiliary to The G3 of Corps ** ,but he applied to be the subdivision deputy for the former battalion chief, who was then the sheriff of a county in the countryside. The county seat is a strategic outpost, located in a critical local spot that controls the whole Vietnamese Communist Army’s / Viet Cong supply line, so they tried to get all processes to destroy it. At the end of 1974, the Viet Cong started several ways to attack with masses of their troops to take possession of the county seat, The sheriff got seriously injured. He had to coordinate with the comrade units to strengthen, commanding directly the very fierce counterattack to maintain the defense lines through many large-scale attacks of the enemy. . But our causalities were really severe and the munitions gradually running out, while the Viet Cong army was strengthened. Eventually he had to break out for their lives, fall back before the base was invaded by the enemy. He suffered a serious injury on the leg again, which is strange because it was happening over his same old wound. Thanks to his combatant experiences and the two very loyal and skilled force soldiers, who took turns to carry him out of the enemy’s siege and pursuit. He was recommended for a special promotion to lieutenant colonel. Unfortunately however he had to have his right leg amputated. The pain of losing a part of his body has not been appeased yet, then the utmost news occurred impetuously: March ‘75, the whole of Region I suddenly fell into the VC ‘s clutches, and the 1BB Division, the famous unit that he was always proud to serve in nearly a lifetime of military service was also destroyed. Then the whole South fell , captured by the invaders. His comrades who fought, lived and died with him suddenly broken up like after a worst nightmare . Lost a leg, but he was still imprisoned in bleak situation for more than seven years in many barbarian Communist prisons. Released from prisons, he lost his whole family. His beautiful wife sent their eldest daughter, aged five, to the elderly grandmother’s care. Taking with her the three-year-old son, and remarried as somebody in secret. The infamous uniform — the one belonging of the commander who had sacrified his life for the country, whom he had respected and loved– was the only fortune remained from his whole military life. When commiting for his prison time, he carefully told his mother to keep it safe the uniform for him at any cost; explaining it was the most precious remained memorabilia of his life. At his mother’s suggestion, he agreed that she could remove and burn the name badge and the rank from the uniform. It’s probably been a long time since someone has sit and listened about his story attentively, therefore he narrated his life passionately. He was sobbing tentatively. Tears that may have dried up long ago, suddenly pouring bitterly on his old austere face, and one by one, drops fell on the uniform which he was holding tightly in his arms . – Have you ever since had any chance to see your wife and son again? I asked. – She has been remarried for a long time, and now living in Europe. I’m sad but don’t blame her. Being afraid to affect her own happiness, as well as my own misfortune, I don’t want to be in contact with her. My son visited me twice, but I am still a stranger to him. It is understandable. Because when I went to jail, he was only three, and there was nothing from me remained in his memory about my image. My daughter has visited her mother and brother a few times. After finishing those words, he bent down as if he wanted to hide his emotions. – Do you often feel lonely and regret the old days? – Kind of, but I got used to it for a long time and don’t want to remember those old stories anymore I held his hand tightly by way of comforting him, a consolation which was difficult to express. Suddenly he looked up, eyes wide open: – The thing that makes me disheartened by is that some of our comrades forgot who they are. Even a few god-damned officers, who followed blindly the enemy for a little benefit, toadyied rudely. They forgot they used to be proud officers of the heroic corps . Just watching them with affected , pretentious manners in front of the communists made me feel disgusting! I was smiling: – Don’t pay attention to all those guys, it’s unavailing. In any community there are always venoms, despicable, selling their soul at cheap price. May be they are insane. Besides those are just a few individuals. For instance, the American traitor, Edward Snowden, who took refuge in Russia. In my opinion, the majority of our comrades are still wholehearted, keep fraternity and have responsibilities for their homeland! Suddenly his eyes lit up: – The most joyful and comforting thing for me was the fundraising organizations which helped the disabled veterans who live pitifully in our homeland. Especially the success of the Music Festivals in Gratitude for Soldiers. Seeing our comrades as well as our community were ready to participate in those activities enthusiastically, I was very happy and touched. I admire extremely the fathers of the Congregation of The Holy Redeemer Saigon, Vietnam , who were also really courageous, they had comforted wholeheartedly and helped our unfortunate disabled veterans to go through their dignity. I’ve given my daughter all my savings for her to send back to help with the fathers. I laughed in agreement. Intended to say something more to show off my contributions, but instead heard him asking: – My friend, you live in Europe, and have just been in America for a while, probably you have seen a lot of people scrambling for position and privileges amongst our comrades now. But poor guys, it is just forlorn fame! Many generals or colonels who had some reputation in the past, when they arrived here were engaged to be chiefs in classical dramas for some self-proclaimed governments like ancient popular theaters. Some recurred this association, sponged on other organization. What ashamed! Among those, some were my majors during war time. It’s really disgusting! “A clean fast is better than a dirty breakfast” : we don’t have any chances to save this now! I was smiling. I wasn’t able to say something to comfort him yet, seeing his face saddened: – The saddest thing is that many of them abuses the uniform in such a ridiculous way. Even in weddings, birthdays, dancing parties, people also put on their uniforms. Once I saw a guy in uniform, with stripes and full of medals, being on a television program to advertise for some medicine brand for an Herbal expert who called himself doctor! I felt ashamed and really outrageous. And that evening, I held Senior Lê Huấn’s uniform to my heart and felt very harrowing. Recalling a story about the uniform, happened in Norway, where my family reside, I told him: – In November 2004, Ms Kristin Krohn Devold, The Norwegian Minister of Defense, visited belligerent Norwegian military units in Afghanistan, this army was a member NATO forces. She was acclaimed as a brave female minister who visited soldiers when the battlefield was at its most dreadful period. But after, when news and photos about the visit were aired on Norway’s national broadcaster NRK, many Norwegian officers and soldiers complained and criticized when they saw her in military uniform stepping down from a helicopter to visit a Norwegian combat unit, and also when the Prime Minister of Afghanistan Hamid Kazai greeted her at the Kabul administrative center. The press also contributed to the debate and turned out to be indignant for the event. Most assumed that she had never been in the army, so she was not allowed to use military uniforms, regardless of any function or circumstances. The members of the armed forces believed that the uniform was sacred, as many of the warriors wearing it and had sacrificed their lives . Although she and some government organizations tried to justify it, that it’s for her safety in a special situation, but it was still not accepted. Finally, she had to formally apologize to the Norwegian Army and to the People for this event. After I finished that story, he held the uniform up as if he wanted to confirm something. – You are right. To me, the uniform is always a sacred memory. So many of my deceased comrades were shrouded in their blood-soaked uniforms. Please don’t abuse it and break their hearts. After this first meeting, I’ve come to see him a few more times. I told his daughter, “he’s a good man, a remained dignified officer, you should often visit and help him with his necessities”. When I came to say goodbye to him before my trip back to Norway, I brought him two bottles of good red wine. I suggested him to have a few glasses for relaxation instead of drinking too much hard liquor and smoke. They can cause bad health problems . He smiled, but turned emotional: – You’re gone, and’ I’ll be alone again. I won’t have anybody to pour my heart out anymore. That day, I stayed with him until after one am. Leaning on his cane to seeing me off at the door, he gripped my hand for goodbye but held it for a long time, didn’t want me to go. I smiled, murmuring: – Don’t forget to try to sleep. Don’t wake up at midnight and drink alcohol then walking around with your cane. We can loose sleep, with you, downstairs, too. He nodded, smiling in agreement. Six months later, when I was back in America, I came to see him. I rang the bell few times, but it seemed nobody was home. I didn’t hear the wooden crutches hitting on the floor anymore. In the afternoon, his daughter being back home from work informed me that he was diagnosed as having terminal liver cancer. She took him to Fountain Valley Hospital last week. I drove immediately to the hospital. He was lying there, unconscious. When I touched him, he opened his eyes slightly, looked at me and tried to smile with his deformed face . He was smiling, but I wanted to cry. He looked so haggard and exhausted. But he was very serene, like he used to be when he confronted the enemy. He wanted to sit up, but he was too weak. I sat beside him, rubbing his chest, and told him to lie down. – The doctor told me I don’t have much time. Tomorrow I have to be discharged for home so my family can organize funeral observances – He whispered in a weak voice. Having to evoke this word “family”, he was smiling, with bitterness: – Family …! Understanding his reflections, I added, to make him feel better: – We are a big family, apart your daughter, all of us are your family as well. Be at ease. Don’t forget to prepare an agreeable airstrip, and wait for me landing there too someday! The following evening, he’s discharged for home via a hospital transportation. The daughter kept a watch over him. I’ve also always been by his side. He would like to have a cup glass of red wine with me. The daughter hesitated, but as I nodded, she poured two glasses, and handed one to me as she brought the other to her father’s mouth. Then we emptied our glasses. I would have never thought it was our farewell glass. Suddenly the lyrics of an oldie : “Oh my dearest, let’s have a farewell toast, as tomorrow I’ll have been gone, … a long long way from home….” Late that night he breathed his last breath. His daughter said he passed peacefully. He didn’t tell any wishes. He left only a small piece of paper with a few squiggles: “My daughter, please don’t forget to shroud me with the military uniform in the glass cabinet.” The funeral was really simple, as he wished. He had repeatedly told his daughter with great insistence not to publish obituary or inform anyone. At the funeral home, other than his daughter and her American boyfriend, attendees were only my wife, our youngest daughter and me. An elderly monk recited liturgical chapters before the coffin was closed up. I was standing to attention, my hand up to salute him. He laid imposingly in his military uniform. His face was glistening with grandness. I felt like he just deceased from the battlefield. There wasn’t any funeral rites , but it seemed I was hearing some echo of a commemorative song by trumpet and the Necromancy song to call up the Soul of Fallen Soldiers. I was standing to attention one more time in salutation, as the coffin was put into the crematorium. The dust returns to the earth as it was and the spirit shall return unto God who gave it. My heart suddenly bursted into joy, thinking that he was about to meet the late Senior Lê Huấn and his former comrades, the real soldiers who deserved honorably the imposing uniforms of the Army of the Republic of Vietnam ARVN . They created and enclosed in the military uniform something extremely sacred. Translated by Tháinữlan (Tháilan) NOTES **-G : General Staff Level Office |