
| Tạ Nguyễn Nam Trân, bút hiệu là Thụy Nhã, sinh năm 1980 tại Bảo Lộc. Việt Nam. Định cư tại Hoa Kỳ năm 1995, hiện sống và làm việc tại Quận Cam. Cô yêu thích đọc, viết và có những đoản văn ngắn được đăng ở một số tạp chí và báo địa phương. Thụy Nhã đã nhận được một số giải thưởng của chương trình Viết Về Nước Mỹ của Việt Báo, trong đó có giải thưởng Chung Kết (hạng Nhất) Vinh Danh Tác Giả – Tác Phẩm vào năm 2008. Xin giới thiệu một bài viết của Thụy Nhã bên dưới: https://vvnm.vietbao.com/p210a164499/572/giai-thuong-viet-ve-nuoc-my-va-toi Thụy Nhã mong được theo bước các tác giả mà cô yêu mến để tiếp tục nói lên tiếng nói và viết về lịch sử của người Việt ở Hoa Kỳ và khắp nơi trên thế giới. Cô tin khi mọi người cùng viết, cùng đọc, cùng nói, sức mạnh của cộng đồng người Việt bên ngoài Việt Nam sẽ được hiển thị. |

| Chuyện Của Cây Vông THỤY NHÃ (Bài Viết Về Nước Mỹ năm 2007, trích từ báo xuân Việt Báo Tết Mậu Tý 2008) * Bạn. Mỗi buổi sáng thức dậy trước những tất bật lo toan với cuộc đời, bạn có bao giờ để ý tới hàng cây magnolia trước sân nhà đã ra hoa” Có bao giờ bạn để ý đến gốc lựu sau nhà đã có trái” Có bao giờ bạn để ý đến những hàng cây mới đó còn trơ trụi, nay lá đã xanh um. Tôi thật mong sáng mai khi thức dậy bạn sẽ ngắm hàng cây Magnolia, cười với cây lựu và vui với từng chiếc lá xanh. Bạn, các xe bus tại San Francisco -thành phố nơi tôi ở- đang được sơn chung một màu xanh và chúng đồng thanh nói “Green is Life” ,”Blue is Life”. Chúng nhắc tôi nhớ rằng trái đất của chúng ta giống như một hạt đậu nhỏ bé xanh biếc xinh đẹp, như Neil Armstrong đã mô tả khi ông là người đầu tiên đứng trên mặt trăng nhìn về địa cầu. Tôi cũng nhớ lời Tổng Thống Nixon gửi theo sứ giả đầu tiên của trái đất tới đây, “We came in peace for all mankind.” Phi thuyền Apollo 11 đáp xuống mặt trăng ngày 20 tháng Bẩy 1969. Đã gần 40 năm. Vậy mà trái đất vẫn ngày một nóng hơn. Bom đạn tiếp tục được sản xuất và nổ. Phải chăng vì loài người có quá nhiều ngôn ngữ, khó trò truyện với nhau. Nhìn những chiếc xe bus sơn xanh, tôi hy vọng sắp tới đây thông điệp “Màu xanh là sự sống” từ San Francisco sẽ có mặt ở New York, Washington DC , rồi London, Paris, Rome… Rồi Tokyo, Bejing, Ottawa, Nairobi, Yaounde, Luanda, Sài Gòn… và khắp mọi nơi trên thế giới. Bạn. Màu sắc, cây cối, hoa lá có tiếng nói và sức mạnh của chúng. Đôi khi chúng có linh hồn nữa. Bây giờ xin mời bạn theo dõi “Chuyện Của Cây Vông”. Đây là câu chuyện của cái cây có linh hồn, và linh hồn nó nhập vào một cô bé gốc Việt gầy còm. * Mảnh vườn con Phía sau nhà tôi ở Việt Nam có một gốc cây. Nó là cây vông. Cây vông nở hoa đỏ vào mùa hè và quanh năm suốt tháng ra lá xanh. Thỉnh thoảng tôi hái vài lá vông qua nhà hàng xóm cho thỏ ăn, nhìn mấy con thỏ rỉa lá rồi đảo cặp mắt tròn vo qua lại tôi thấy vui trong bụng. Trong mảnh vườn cỏn con này còn mấy cây khác nữa. Cây chanh có một dây khổ qua bám theo. Lúc cây ra hoa, hoa chanh trắng, hoa khổ qua vàng; lúc cây ra trái, trái chanh tròn tròn xanh xanh, khổ qua xanh và dài, treo lúc lỉu trông rất đẹp mắt. Ngoài ra còn thêm gốc đu đủ. Cây đu đủ thật tức cười, có mùa nó ra trái màu tía ăn ngọt lịm, mùa khác trái lại vàng nhợt, lạt nhách, ăn không vô. Ba nói chắc độ ngọt đu đủ bị ảnh hưởng bởi độ mưa mỗi năm. Sát mặt đất hơn là cà chua, lâu lâu có trái bị ốc sên ăn, nhìn loang lổ. Rồi má còn cho trồng thêm bòn bon, rau dấp cá. Hồi không đủ gạo ăn, ở nhà nhặt bòn bon độn cơm. Lúc cuộc sống khá hơn, con nít lấy hột bòn bon xâu thành chuỗi đeo cho ra dáng. Rau dấp cá được má trồng làm rau sống và còn là vị thuốc trị bệnh ho gà. Ai có uống qua nước thứ rau này mới biết thuốc đắng dã tật là sao. Khoảnh sân sau nhà có đủ loại cây nhưng cuộc sống trong nhà lại xoay chung quanh gốc cây vông. Gốc cây vông là nơi chị ngồi vo gạo, rửa chén, nơi gia đình tôi xúc miệng, đánh răng. Nước vo gạo rửa chén, đánh răng được dùng để tưới cây. Cây vông chắc dễ trồng nên được tưới có chút nước vậy mà vẫn ra lá xanh ngắt. Gốc cây vông còn là nơi tôi ngồi khóc mỗi khi bị má đánh. Tôi ngồi chồm hỗm, mắt vừa khóc vừa láo liên ngắm con ốc sên liếm trái cà chua hay nhìn ra con lộ bên ngoài, nơi có ông đi qua, bà đi lại. Nhà tôi ở vì cả cái nhà dài đuồn đuột chỉ có một cái cửa duy nhất và cái cửa ấy lâu lâu bị tháo ra làm củi nên khi ngồi bên gốc cây vông ở vườn sau có thể thấy được con lộ đằng trước. * Xóm Nhỏ Đó là một xóm nhỏ nằm trong lòng thị trấn B’lao, nơi cây vông trong mảnh vườn. Xóm bắt đầu từ tấm bảng đánh dấu mốc đề “Thị Trấn B’lao” nối từ quốc lộ Một và nằm dọc theo đường Bế Văn Đàn. Đầu xóm là nhà thờ giáo xứ và trường tiểu học công lập của huyện. Cuối xóm là núi Đại Bình, sông Đại Bình, suối Đá Bàng, và xóm của người dân tộc thiểu số. Đôi lần trốn được má đi chơi, tôi đều chạy băng băng về hướng núi Đại Bình, tìm tới xóm của các em dân tộc thiểu số. Để tới được đó tôi phải chạy qua các vườn trà, vườn trái cây, các con suối nhỏ bắt nguồn từ sông Đại Bình, và chạy qua nghĩa trang công giáo. Con bé chạy đến làng người thiểu số để được ngắm các em bé, các bạn mắt đen tròn, tóc rối bù, da ngăm đen mặc quần áo ngắn cũn cỡn một cách lạ lẫm nhưng rồi khi nhìn lại chính mình nó chợt cười khúc khích. Nó cũng đen thui, quần áo cũng hở rốn hở lưng, tóc tai bù xù đâu có khác gì. Sau khi ngắm thỏa thuê các em bé dân tộc, tôi lại chạy về nhà, trên đường về tôi không quên ghé vào suối mò cho được con cá lòng tong hay cá bảy màu. Con bé về nhà trong lòng hí hửng nhưng cũng không quên canh chừng. Bữa nào hên đi về gặp ba, ba bắt đi tắm gội rồi múc cho tô cơm nóng. Bữa nào xui gặp má, má đánh cho một trận, đau đến nỗi thiếu điều con cá đang nằm gọn trong lòng tay muốn nhảy vọt ra ngoài. Xóm nhỏ có hơn hai chục hộ dân, nhà nhà chia chung nhau cái tường, cái vách, tối lửa tắt đèn có nhau. Sau chiến tranh, các thanh niên thiếu nữ trong xóm bị bắt đi làm hợp tác xã. Cả nhóm thanh niên tập hợp tại các sân nhà bị hợp tác xã trưng dụng để đan mây, đan tre. Tre từng lô, có cây thân to hơn cổ chân người lớn và cao hơn cả ngọn cây hoa gạo. Tre được đốn, chặt thành khúc, sau đó bổ ra ngâm nước cho đủ dai để có thể đan thành cái rổ, cái rá. Khi bổ từ thân cây tre lâu lâu có con rắn trườn ra, mình trơn trượt, da xanh tái, bò ngoe nguẩy. Đám đàn bà con gái thấy rắn là rú lên, sợ hãi. Đám con trai tinh ranh, lợi dụng cơ hội xán lại ôm ấp, vỗ về. Bao nhiêu cái rổ, cái rá, ghế mây, bàn mây đan ra hợp tác xã thầu hết, biểu mang đi xuất khẩu lấy tiền xóa đói giảm nghèo. Nghèo đói không thấy mất đi, chỉ thấy trong xóm có thêm những cái tên mới: anh Chín Khùng, chị Mai Điên. Anh Chín có vợ làm nhân viên hợp tác xã, mỗi lần bổ tre có rắn, chị sợ hãi co rúm người. Mỗi lúc chị co ro, anh cán bộ hợp tác xã đứng cạnh bên đều dang tay ôm ấp che chở. Ôm riết quen hơi, anh ta không nhả ra nữa. Anh Chín mất vợ nên khùng, trở thành Chín Khùng, lâu lâu lên cơn, anh rình mò lấy tay đánh vào mông các bà các cô nghe đôm đốp. Chị Mai chưa lấy chồng nhưng cũng bị điên vì người yêu sau khi giả dạng đi làm hợp tác xã để không bị để ý, anh một mình tìm đường vượt biển rồi mất luôn tin tức. Chị Mai mất người yêu nên điên, trở thành Mai Điên. Mỗi lần lên cơn, chị tồng ngồng đi qua đi lại trong xóm, tóc chị đen nhánh, thân thể mượt mà trắng nõn nhưng không bao giờ chị có người yêu khác được nữa. Những năm sau đổi đời, các thanh niên, thiếu nữ trong thị trấn hầu hết mất cơ hội học hành. Họ vì lý lịch không rõ ràng bị trù dập, vì nghèo không có tiền đóng học phí nên phần lớn chỉ được học hết lớp bảy lớp tám là nghỉ. Số ít hơn được học hết trung học rồi thôi vì đâu ai có tiền lo lót để có thể thi đậu vào đại học. Nhưng buồn hơn nữa, nếu có phép lạ để học xong đại học cũng không có việc gì để làm nếu không có tiền bạc hối lộ. Ở những nước khác người ta được trả tiền để đi làm, còn nước này, người ta phải bỏ tiền ra để mua việc làm, để được đi làm. Học hành không xong, con nít trong xóm tôi được đặt cho những biệt danh nghe vui tai như Linh Tồ, Yến Ngố, (Linh Tồ và Yến Ngố là hai đứa bạn tôi). Suốt ngày bọn nhỏ cùng lam lũ bên cạnh người lớn. Đám con gái nghỉ học phụ việc nấu cơm, rửa chén, trông em. Làm hết việc nhà chúng phụ luôn việc bán buôn. Các món hàng thời đó thường là vài gram đường, vài xị xì dầu, nước mắm. Mấy đứa con gái lớn hơn có thể đi hái trà, hái dâu. Phần đông các cô gái trong xóm đều biết cách hái trà, làm trà và nuôi tằm, dệt lụa. Đám con trai khoẻ hơn phải cáng đáng việc nặng là vào rừng chém tre đẵn gỗ. Anh lớn của tôi nằm trong nhóm này. Núi Đại Bình hồi đó còn nhiều cây cối rậm rạp, mấy thân cây anh tôi đẵn to gấp hai ba lần thân hình anh. Cây đẵn xong được các anh vần ra sông Đại Bình rồi thả cho cây theo dòng nước trôi xuống vùng hạ lưu. Gỗ được mang đổi lấy gạo, xì dầu, nước mắm, gỗ dư được để dành đốt sưởi ấm vào mùa đông. Người trong xóm và trong thị xã rất sùng đạo. Mỗi buổi sáng mọi người đều dậy sớm đi lễ nhà thờ. Cuối tuần lễ được tổ chức lớn hơn ngày thường và có hai lễ: một buổi sáng, một buổi chiều để ai cũng có thể đi cầu nguyện. Ban đêm vào các ngày lễ trọng bà con còn tụ tập ở tượng đức mẹ cuối xóm để đọc kinh, mặc cho mấy anh cán bộ nhà nước gầm gè bảo là phản động. Ba tôi nói tín ngưỡng tôn giáo rất quan trọng, nó giúp con người vượt qua các nỗi đau. Người ta có thể cướp vợ của người khác, cướp trường học của con nít, cướp đi tương lai của nhiều thế hệ nhưng không thể cướp đi niềm tin tín ngưỡng. Bà cụ Mạo là một trong số các giáo dân sùng đạo, bà chưa bao giờ bỏ một buổi lễ nào. Mỗi buổi sáng tôi ngồi gốc cây vông ngắm dòng người đi lễ ở con lộ phía trước đều thấy bà cụ khăn áo chỉnh tề, sải từng bước chân khỏe mạnh tới nhà thờ mặc dù bà đã trên tám mươi tuổi. Bà cụ có người con trai duy nhất bị mất tích sau chiến tranh để lại người con dâu và đứa cháu trai trong độ tuổi mười bốn, mười lăm. Mỗi lần đi ngang qua nhà thấy má bà đều dừng lại to nhỏ. Bà nói chưa nghe được tin tức của người con nên bà đi lễ cầu nguyện cho anh được bình an. Bẵng đi một thời gian khá lâu, anh con trai vẫn biệt tăm tin tức nhưng bà lại nhận được tin người cháu trai khi đi đốn cây ở núi Đại Bình đã bị cây đè chết. Từ lúc đó bà vẫn đi lễ mỗi ngày nhưng bây giờ bà thôi không cầu nguyện cho sự sống mà lại cầu sự chết. Không cần chờ tới nhà thờ mới cất lời cầu xin, tôi thường thấy bà cụ Mạo vừa đi vừa thở vừa khấn nguyện, nhiều khi bà nói thành lời. “Tôi muốn chết, tôi muốn chết”, đang rì rầm bà bỗng la lớn rồi vẫn tiếp tục cất từng bước xiêu vẹo đi tìm Chúa. * Chuyện Nhà Gia đình tôi có bốn anh chị em. Hai anh và chị tôi sanh trước năm 1975, các anh chị đều được nếm mùi vị của sữa mẹ và bột Hugo của Mỹ. Vào đời sau đổi đời đời đổi , tôi không còn được bú sữa mẹ. Đẻ tôi không bao lâu má tôi bị bắt đi làm “nghĩa vụ lao động”, má được “biên chế” vào một toán dân công làm đường. Bốn giờ sáng má tôi dậy, vắt sữa vào chén chừa cho con, sau đó bà đạp xe đạp đi Tân Phát, Tân Hà xây dựng xa lộ. Nghe kể là khi tôi dậy, tô sữa má vắt để dành lại đã bị chua, tôi không bú được. Lúc đó nhà còn có bột bích chi, chị tôi hay khuấy dỗ tôi ăn, nhiều lúc ngán quá tôi chê, chị vét nồi ăn cho đỡ đói. Sau mấy tháng bị bắt làm đường, lê lết trên nền nhựa nóng hổi, ngón chân má bị ăn mòn, nhìn lởm chởm giống như ngón chân của người cùi. Má tôi là cô giáo nhưng để có thể sống được, phải đèo thêm vô số nghề khác. Nghề vô vườn nhà người ta thầu hái trái cây bán. Mùa nào thức đó, má vừa bán vừa kiếm trái cây mang về cho con, nói là ăn cho có chất sinh tố, đỡ bị còi. Có mùa má bán bồ quân, có mùa bán chôm chôm, vú sữa. Lớn làm việc lớn, nhỏ làm việc nhỏ, má bán trái cây, anh tôi hái ớt và chanh trong vườn bán kiếm tiền mua sách vở. Hết mùa trái cây, má bán bánh ít nhân dừa, nhân đậu xanh, lâu lâu còn bán thêm bánh khoai mì. Nhiều ngày trời mưa, má mang cả gùi bánh về, chưa kịp bỏ bánh ế ra bàn, bà đã xô cả gùi, cả xe nghiêng ngả rồi chạy ra nhà vệ sinh lộ thiên đằng sau. Đa số nghề nào của má cũng gắn liền với cái xe đạp. Sau này, có hai ca sĩ Phương Thảo, Ngọc Lễ hát bài “Xe Đạp Ơi”, đại khái, bài hát kể chuyện tình của chàng và nàng gắn liền với cái xe đạp, nhưng má tôi nói thích bài hát này vì nó làm bà nhớ tới cái xe đạp chở bánh ít, trái cây đã nuôi sống cả gia đình ngày xưa. Năm bốn tuổi tôi mới nhớ thấy mặt ba mình lần đầu. Hôm đó đi học mẫu giáo về, thấy có người đàn ông loay hoay chẻ củi phía sau, tôi chống nạnh khoe cái áo rách nơi cùi chỏ hỏi má ông này là ai. Má bảo đó là ba. Sau này tôi mới biết ba tôi khi ra khỏi trại cải tạo chỉ về nhà mấy bữa đủ để sinh ra tôi rồi phải về bên quê nội trình diện cho địa phương quản chế nên không được ở gần vợ con. Trên tay ba tôi có cái thẹo rất lớn, ông hay chỉ vào đó và nói tôi được sanh ra từ cái sẹo. Về nhà, ba từ ông đại úy truyền tin trở thành ông thợ mộc. Ông thợ này thường tháo cái bàn đóng thành cái ghế, tháo cửa sổ bào, gọt đẽo thành các vật dụng trong nhà, rồi khi mùa lạnh tới, mọi thứ ông hì hục làm ra đều được chui vào bếp làm củi. Ông ba thợ mộc của tôi còn có nghề khác là nghề vượt biên, nhưng má nói ông coi bộ không có duyên với nghề này vì nghe kể ông thường chỉ ra được tới bờ biển là đã bị bắt lại. Ba về nhà, cũng là lúc má bị cử đi dạy học ở vùng sâu, vùng xa. Có hồi đi dạy xa má dẫn tôi theo. Má dạy học cho các anh chị, những người lớn hơn tôi dăm mười tuổi. Má tôi rất nghiêm, ai không trả được bài đều bị khẽ vào tay. Cô giáo vừa khẽ tay vừa coi học trò nào tay không sạch, học trò nào bị bệnh đổ mồ hôi tay để tìm cách chữa trị. Mỗi ngày dạy học xong, dẫn con về qua các đoạn đường đầy dốc, đầy ổ gà, má tranh thủ dạy tôi những bài học làm người. Trong lúc tôi còn mải nhìn mấy con dế núp trong bụi cỏ ven đường và tự hỏi chúng có ăn được không vì tôi quá đói, má dạy làm người phải có “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”. Tôi nói với má những chữ đó có nghĩa gì tôi không hiểu, bà nói, không cần hiểu bây giờ, nhưng khi lớn lên, tôi sẽ biết. Đúng như lời bà nói, nhiều năm về sau, bài học làm người đầu tiên bà dạy nằm mãi trong tiềm thức đã giúp tôi vượt qua nhiều cám dỗ và cạm bẫy trong cuộc sống. Má tôi lo con học không đủ chữ, không thành người nên bà rất nghiêm ngặt. Cho dù nửa khuya hay hai ba giờ sáng, nếu thấy tôi viết luận văn không thành câu hay làm bài toán không đúng bà đều đá xuống giường, không cho ngủ nữa, bắt tôi dậy sửa bài sau đó mới cho ngủ tiếp. Cho tới giờ tôi vẫn không biết má dữ như vậy là đúng hay sai, nhưng về sau tôi mới biết điểm số của tôi ở trường là chén cơm của cả gia đình vì nếu con cô giáo học dở thiệt coi không đặng. Còn nhớ thời ấy tôi thường co chân lên cái ghế con do ba tôi đóng, ngồi học bài dưới ánh đèn vàng vọt, mắt nhìn chằm chằm vào vở nhưng trong lòng buồn hiu. Tôi vừa buồn vừa giận má bắt mình học cả ngày lẫn đêm. Có lúc giận quá, tôi thò chân xuống sàn xi măng lạnh cóng, chà qua, chà lại, mong mình bị bệnh để khỏi bị học bài và cho má lo lắng chơi. Má dành lo chuyện tinh thần. Ba tôi thì lo lũ con bị còi cọc. Hồi đó nhà nào trong xóm cũng có vài ba lần trong tuần ăn khoai lang, khoai mì phơi khô cầm bữa. Ngày nào có gạo, cả nhà quây quần quanh mâm cơm, chia nhau từng muỗng cơm miếng cháy, chút xì dầu, nước mắm. Ba sợ con cái thiếu chất đạm nên tìm bắt cóc, về nhà lột da, bỏ mật nấu nướng linh đình. Lúc nhỏ tôi không sợ gì cả vì được ba tập cho ăn đủ thứ: cóc, nhái, rắn, cái gì ông bắt được tôi đều ăn ráo trọi. Đặc biệt lúc nào ăn cơm ông cũng bắt cả nhà phải dọn ra bàn ngồi ăn chung. Lúc đó tôi biểu tình vì lười dọn dẹp chén bát, ông nói con nhỏ nhất, không dọn ra bàn ngồi ăn trước mặt ba, mấy đứa lớn dành ăn hết miếng ngon rồi sao tới phiên con. Ngoài việc tìm thịt thà cho bọn tôi, ông còn tìm thêm thức ăn có chất vôi. Thời đó người ta chỉ mong có ăn để được sống, ba tôi tham lam, còn muốn chúng tôi có thức ăn đủ chất vôi để không bị thấp cổ, bé miệng. Ông nói người gầy không sao nhưng người thấp sẽ bị mất đi nhiều cơ hội. Thức ăn có nhiều chất vôi nhất hồi đó có lẽ là bánh đúc do ba àm. Có điều ông mê bỏ vôi nên cuối cùng bánh đắng ghét, ăn không được. Thấy tôi không chịu ăn, ông dụ, không ăn bánh đúc sẽ bị thấp và lúc đi coi ca nhạc lén, mình bị người khác che mất, đâu coi được nữa. Thời ấy đôi khi có ca nhạc văn công về thị xã trình diễn. Mỗi lần được đi coi ca nhạc, người lớn chen lấn phía trước, tôi nhỏ con, chen hoài không vô. Nhớ có lần lúc tôi chui vô được cũng là lúc người ta hát bài hát hạ màn. Đó là bài hát của Trần Tiến: “Ngoài kia có cô bé nhìn qua khe nghe tiếng đàn của tôi, ngoài kia có chú bé trèo cành me mắt xoe tròn lắng nghe… hạnh phúc quá đơn sơ, đời tôi đâu có ngờ, từng đêm cô bé chờ như chờ từng giấc mơ”. Mỗi khi nghe bài hát đó tôi lại nhớ lời ba dặn phải ăn nhiều chất vôi để có thể thỏa mãn giấc mơ của mình. Giấc mơ của tôi cũng nhỏ thôi, tôi muốn nhìn được mặt người đàn ông hát bài hát đó coi ông tròn méo thế nào mà biết được có tôi ở ngoài lén nghe. Tuổi thơ của tôi ít niềm vui. Một trong những niềm vui hiếm hoi hồi đó đến từ các phần thưởng má cho mỗi khi tôi được xếp hạng nhất lớp hay nhất trường. Phần thưởng của má thường là miếng cam thảo, viên kẹo bạc hà, khúc mía hay trái vú sữa héo không bán được cho ai. Viên kẹo, miếng cam thảo, trái vú sữa héo là chén cơm của cả gia đình vì có bán được mấy thứ này mới có tiền mua gạo. Mỗi lần cầm được tấm giấy khen trong tay tôi đều về nhà khoe má, sau đó tôi ra ngồi bên cạnh chờ má kiểm kê hàng. Lúc má mở hàng để đếm, tôi ngồi yên một bên canh me. Má mở từng cái keo, à đây là keo cam thảo, một miếng, hai miếng…, các miếng vỏ quýt đỏ hồng có dính vài cọng cam thảo bên trên nhìn thật hấp dẫn. Rồi má mở tới keo kẹo, từng cái kẹo nhỏ xíu, hồng hồng, đỏ đỏ. Má mở từng cái keo, cân đo đong đếm rất cẩn thận và rồi thình lình bà đưa tay ra trước mặt tôi nói: cho con. Tôi đón cái kẹo từ tay má, lỉnh ra góc nhà ngồi nhâm nhi từng chút từng chút một. Kẹo ngọt khỏi chê, nhưng quá nhỏ không đủ làm no bụng. Vậy mà có lần năm lớp năm, nhờ đạt danh hiệu học sinh giỏi văn nhất toàn huyện tôi nhận được một phần thưởng lớn không thể ngờ tới. Nó, một củ khoai từ nóng hổi thơm phức là món quà lớn và quí nhất trong cuộc đời tôi. Hôm được ăn củ khoai từ trời mưa rất lớn, gia đình chúng tôi sáu người quây quần bên cái bàn nhỏ, dưới chân bàn các thau nhôm, thau nhựa nằm la liệt để hứng nước mưa. Nước mưa nhỏ xuống từ mái nhà rỉ xét nghe lộp độp, lộp độp. Mở đầu cho bữa tiệc khoai từ chấm mật ong, ba tuyên bố hôm nay con bé út trong nhà đạt được danh hiệu giỏi văn nhất toàn huyện nên ba má quyết định cho tụi con ăn sang để chúc mừng nó. Tôi và các anh chị vỗ tay lộp bộp, anh lớn đứng dậy công kênh tôi lên vai. Anh nói em giỏi quá, xứng đáng làm em của anh, tôi cười khanh khách khoe hết hàm răng sún. Leo khỏi vai anh tôi tọt xuống ngồi ngay cạnh dĩa khoai, mùi khoai từ bốc lên thơm phưng phức. Được ba dành cho củ khoai lớn nhất, củ khoai từ dài, trắng ngà, da mịn màng láng lẩy, tôi hăm hở lột vỏ nó. Tôi cẩn thận chấm củ khoai vào dĩa mật để bên cạnh rồi đưa lên miệng cắn. Chao ôi, củ khoai bùi bùi, thanh thanh tan vào miệng, trôi vào cổ ngọt lịm, chưa bao giờ tôi được ăn cái gì ngon thế. Anh chị em chúng tôi vừa ăn khoai vừa cười hể hả. Bên ngoài mưa bão long trời lở đất, gió mưa đánh vào các vách tường nghe phành phạch nhưng tiếng cười của chúng tôi còn lớn hơn mưa. Cho tới hôm nay, ngay giờ phút đang viết kể lại câu chuyện này, tôi vẫn có thể hình dung được mùi vị của củ khoai từ hôm đó và cái niềm vui vô biên mà nó đã mang lại cho tuổi thơ của tôi và các anh chị. Nghèo đói vậy nhưng khi lớn lên tôi cao được một mét sáu ba. Chị tôi sinh trước lúc đổi đời, cao gần một mét bảy. Có được chiều cao này chúng tôi phải cảm ơn ba má, hai đấng sinh thành. Công sức nuôi dưỡng của ba má đối với chúng tôi thật không bút mực nào tả được. Năm 1990, nhà nước mở cửa cho mọi người làm ăn theo kiểu kinh tế thị trường. Tôi nhớ được điều này vì sau này đọc báo thấy người ta kể công đại khái là sau hơn cả chục năm theo chế độ bao cấp và ai cũng đói, nhờ nhà nước sáng suốt mở cửa, bà con mới làm ăn khá ra. Năm đó má tôi mang giấy tờ nhà ra thế chấp, bà mang tiền vay được sửa lại căn nhà dột trước, trống sau và quyết định sẽ dạy học thêm tại nhà vì bà đã chán cảnh bị đày đi dạy ở vùng sâu vùng xa. Đó là lần đầu tiên bà mang giấy tờ nhà đi cầm. Lần thứ hai bà cầm giấy tờ nhà để có tiền cho người anh lớn nhất của tôi mua máy cassette học bài luyện thi vô trường y. Anh lớn của tôi là người gần như học giỏi nhất trường vì mỗi lần đi thi anh đều được điểm cao nhất và không có đề thi nào làm khó được anh. Đêm đêm anh tôi thu các bài học vô máy cassette rồi bật đi, bật lại ôn bài. Anh mơ thi đậu vào trường y để có thể học nghề thuốc cứu đời nhưng lúc nhận được kết quả anh biết mình thiếu nửa điểm mới được vào trường. Năm đầu thiếu nửa điểm, năm sau anh đi thi cũng thiếu nửa điểm. Dần dà, gia đình tôi mới biết anh tôi không phải vì thiếu nửa điểm, mà vì thiếu tiền lo lót làm tốt cho lý lịch nên thi không lọt. Cũng từ năm 90 nhà nước cho mở cửa rất nhiều hợp tác xã tín dụng để bà con có thể mượn tiền nhà nước hay cho nhà nước mượn tiền. Nhà nước cho dân mượn tiền thì trầy da tróc vảy. Có cán bộ tới từng nhà điều tra lý lịch, tài sản, sức lao động, rồi đưa ra đủ thứ lý do để từ chối. Nhưng khi dân cho nhà nước mượn tiền thì khá dễ dàng. Người dân được kêu gọi bỏ tiền vào quỹ tiết kiệm để lấy lời cao, gửi một, lãi năm sáu hay gần tới mười. Mấy tháng đầu nhà nước trả tiền lời rất đúng hẹn, bà con thấy vậy mừng quá rủ rê nhau đem hết tiền bỏ vô ngân quỹ vì mong tiền đẻ ra tiền. Sau đó một thời gian, vào một buổi sáng đẹp trời, bà con cũng tới hợp tác xã tín dụng như thường lệ để kiểm tra ngân khoản thì hỡi ôi trên cánh cửa hợp tác xã đã được dán thông báo bị niêm phong vì làm ăn thua lỗ. Bà con mất tiền, mất nhà, mất tài sản, tha hồ mà kêu trời, vì chẳng biết tìm ai để đòi, để kiện vì dân làm sai có thể bắt dân đi tù hay xử tử, còn nhà nước mang chữ tín ra để lừa gạt, để ăn cướp của người dân thì chỉ cần treo bảng làm ăn thua lỗ là hết chuyện. Những điều mắt thấy tai nghe làm tôi rất hoang mang. Má dạy làm người phải có chữ tín, vậy mà… Những năm đó tôi vẫn còn nhỏ, vẫn thường ra gốc cây vông ngồi ngắm người đi qua, đi lại nhưng đã không còn vô tư như ngày xưa. Ba tôi thường chép miệng than không biết tương lai anh tôi, chị tôi và tôi rồi sẽ đi tới đâu. Năm 1995, gút mắc của tôi về tương lai có câu trả lời, khi giấy tờ bảo lãnh gia đình do chú tôi làm đã được Mỹ chấp nhận sau mười năm trời cứu xét. Má tôi quyết định đi Mỹ sau khi rứt ruột để lại anh chị tôi ở Việt Nam vì đã quá tuổi trưởng thành. Ba má tôi muốn đi Mỹ dù tuổi đã già vì “cứu được đứa nào thì cứu, chứ ở Việt Nam chỉ có chết chùm”, ba nói. Mùa hè trước lúc tôi đi, cây vông không còn ra hoa đỏ nữa. Lá cây cũng không xanh mà héo úa, vàng vọt. Tôi tò mò nhìn thử thì thấy gốc cây đã bị mối đào tổ, vì vậy thân cây tuy vẫn đứng cao, đứng thẳng nhưng đã chết tự lúc nào. Ngày đi Mỹ, tôi đến chào gốc cây, chào con ốc sên và chào mảnh vườn nhỏ bé. Cây vông, người bạn của tôi, cho dù bị cắt đi hết gốc rễ vẫn đứng thẳng, vươn cao. Cây cũng có hồn, người ta nói vậy. Tôi ôm thân cây vông vào lòng và nhận lấy linh hồn của nó. * Cuộc Sống Ở Mỹ “Chúng ta đi mang theo quê hương”, người ta nói. Tôi ra đi và mang theo linh hồn cây vông. Quê hương của tôi là con ốc sên, là cây bo bo, cây đu đủ sau nhà. Quê hương của tôi là sông núi Đại Bình, là suối Đá Bàng, là cái xóm B’lao nơi các bạn Linh Tồ và Yến Ngố của tôi đang sống lam lũ. Hình ảnh quê nhà theo vào những giấc mơ tôi. Có đêm giật mình tỉnh giấc, tôi ngồi bật dậy và tự hỏi tôi đang ở đâu, đang ở Mỹ hay đang ngồi dưới gốc cây vông nhìn ông đi qua, bà đi lại. Những ngày mới tới Mỹ tôi hay ngồi một mình khóc sướt mướt. Nhớ chị tôi còn ở Việt Nam, tôi khóc. Nhớ con chó Mina phải bỏ lại cho người khác nuôi, tôi khóc. Nhớ cây bơ trước nhà nơi tôi thường trèo lên hái lá bơ non để cuốn nem chua, tôi cũng khóc. Tôi, cái cây vông nhỏ dù có ba má, có anh, có người thân bên cạnh vẫn khóc thật nhiều khi bị bứng ra khỏi mảnh đất mà nó đã bén rễ, còn những người khác thì sao” Những người không may mắn như tôi. Những người đã đánh đổi cả mạng sống khi vượt biển tìm tự do, đã từng phải chứng kiến cảnh người yêu, cha mẹ, anh em, chị em bị vùi mình trong biển cả hay trong những nấm mộ hoang của các nhà tù, họ ra sao” Họ đã khóc hết bao nhiêu nước mắt hay họ đã không bao giờ khóc được nữa” Mới tới Mỹ gia đình chúng tôi được ở chung với gia đình của chú tại Tucson, Arizona. Tucson là một thành phố của sa mạc, mùa hè của Tucson rất nóng bức nhưng mùa đông lại ấm áp, khí hậu ở đây rất thích hợp với người lớn tuổi. Ngày đầu tiên ở nhà chú,tôi được gặp thím, gặp hai em họ và được gặp lại ông bà nội. Như đã kể trong “Cha Bố Mày Con Vàng”, lúc gặp lại bà, bà tôi không còn vấn tóc trong khăn mỏ quạ mà cắt tóc gắn trông rất Tây. Bữa cơm đầu tiên trên nước Mỹ tại Tucson, bà nội luôn tay gắp cho tôi miếng giò, miếng chả, bà biết con bé ở Việt Nam đói meo nên bây giờ bù đắp thêm cho nó. Vạn sự khởi đầu nan. Trong thư gửi về cho chị, tôi viết gia tài của gia đình tôi lúc bấy giờ là ba đô la. Anh kế tôi, người đầu tiên trong gia đình biết kiếm tiền trên đất Mỹ buổi sáng đạp xe đi làm trong tiệm Jack in the Box, buổi tối đi rửa chén trong một nhà hàng bán sea food. Sau này anh theo ba má đi làm ở hãng điện tử, và khi hãng này tử, ba má và anh lại nhảy qua hãng khác. Tôi là đứa con được nhiều ưu đãi nhất trong nhà vì còn được đi học. Qua Mỹ tôi được xếp học lại lớp mười tại trường Sabino High của Tucson, đây là trường trung học lớn thứ nhì Arizona, nó chỉ đứng sau trường University High một bậc. Mỗi buổi sáng tôi thức dậy chuẩn bị tới trường khi nghe tiếng chó sói hú ở xa xa. Sau khi ăn một bát cơm với dưa chua và ruốc, tôi ra khỏi nhà mang theo bịch sandwich thím làm sẵn cho bữa trưa. Tôi một tay ôm bịch thức ăn, một tay ôm sách, vừa đi bộ tới bãi đậu xe bus vừa thơ thẩn ngắm sao trời. Thuở ấy tôi là con bé còm, cân nặng chưa đầy tám mươi pao. Thức ăn của ba ở Việt Nam chỉ đủ để cho con bé đỡ bị lùn nhưng không đủ nhiệt lượng cho nó chống lạnh. Mọi thứ trên nước Mỹ đều quá lớn. Trường trung học Sabino với biểu tượng là con cọp có đến ba tòa nhà. Mỗi lần học xong lớp ở một nơi, tôi chạy kiểu “vắt giò lên cổ” qua tòa nhà bên kia mà vẫn không kịp giờ. Mỗi lần vô lớp trễ tôi không biết làm thế nào để giải thích cho cô giáo biết vì trường lớn quá, chân tôi lại ngắn. Trường học đã vậy, đồng phục học trò kiểu Mỹ cũng là cả một vấn đề đối với con bé còm.Tôi nhớ lần đầu tiên mặc cái quần đồng phục thể dục do nhà trường phát tôi rút chặt hết sợi dây thun, quấn nó vòng quanh cái eo hai ba lần, sau đó cột túm cái lưng quần lại, cầm chắc nó trên tay vừa đi vừa cầu nguyện cho cái quần đừng rớt thế mà nó cứ muốn rớt. Bữa đầu tiên ra mắt bạn học chúng thấy tôi nhỏ như con mắm, vừa đi vừa cầm cái lưng quần chúng cười quá. Hên, bữa đó tôi không bị lâm cảnh rớt quần, nhờ ông thầy tốt bụng thấy con bé còm thảm quá, cho phép ngồi coi, khỏi tập. An tâm với cái lưng quần rồi, con bé còm nhớ bài học hồi bé được dậy ở quê hương anh hùng, kiểu “Một hai ba ta là cha thằng Mỹ, bốn năm sáu, ta là cháu bác Hồ”. Không biết đếm thêm bẩy tám chín thì ta là cái gì. Rồi làm cách nào đếm được tới mười sáu, tuổi của con bé còm năm ấy. Ở Arizona được nữa năm, tôi theo ba má qua Salt Lake City, Utah lập nghiệp. Ba má và anh Ti tiếp tục làm hãng điện tử, tôi tiếp tục được đi học. Thành phố Salt Lake không ấm áp như Tucson, mùa đông nơi đây có những cơn bão tuyết làm người ta phải rùng mình. Hồi đó vừa lội bộ tới trường trong các cơn bão, trong lúc đầu mình, tay chân lạnh tới muốn rụng ra khỏi thân thể tôi vừa mơ tới một ngày sẽ được vào học trường y .Như anh lớn của tôi hồi xưa, tôi cũng muốn được học nghề thầy thuốc để có thể giúp người. Hai năm học trung học trôi qua rất nhanh, trong bài luận văn viết vào mùa ra trường, tôi nói: “Lúc nhỏ tôi không biết được mùi vị của kẹo Chocolate, hồi đó nếu có một viên kẹo, tôi sẽ chia nó ra làm bốn phần”. Một vị giáo sư y khoa của trường University of Utah, cũng là một trong bốn giám khảo của giải học bổng Pioneer khi đọc đã nhận xét: cô bé viết câu văn này hẳn là người tốt bụng vì chỉ có một viên kẹo mà cô còn nghĩ đến bẻ làm bốn để chia sẻ cho mọi người. Khi ông nhận xét như vậy tôi thấy trong lòng thật ốt dột vì hồi nhỏ lúc bẻ viên kẹo ra làm bốn tôi chỉ muốn cất để ăn dần ăn dè chứ chưa bao giờ biết phải chia sẻ cho người khác. Khi nghe ông nói câu đó tôi mới gật gù, à thì ra vậy, một miếng khi đói bằng một gói khi no, đó là câu tục ngữ của người mình nhưng người Mỹ cũng mang ra áp dụng. Người Mỹ luôn luôn muốn giúp đỡ và chia sẻ cho người khác và lòng hảo tâm của họ đã cứu được bao nhiêu người. Vì câu viết trong bài luận văn, thay vì chỉ được phần học bổng 500 đô la, các vị giáo sư đã kiếm thêm cho tôi 500 đô nữa cho đủ 1000, các ông nói một người có lòng nhân ái sẽ là một người có nhiều đóng góp cho xã hội. Tôi tốt nghiệp trung học vào hạng danh dự với hai phần học bổng và một phần thưởng danh dự khi được bầu là sterling scholar cho bộ môn health and science. Xong trung học, tôi bắt đầu công việc quan trọng nhất để chuẩn bị học y khoa đó là việc đi làm thiện nguyện. Các trường y yêu cầu các sinh viên dự bị y khoa phải có từ một trăm đến một trăm năm mươi tiếng làm việc thiện nguyện trước khi được nộp đơn vô trường. Họ muốn các vị bác sĩ tương lai phải có lòng bác ái, nhân hậu và nhất là phải hiểu được ý nghĩa đích thực của nghề y. Khi được ba má mua cho cái xe cà tàng, tôi lái xe tự tìm cho mình một bệnh viện xa nhà đến bốn mươi lăm phút, để được làm thiện nguyện mỗi ngày bốn tiếng. Bệnh viện đầu tiên nhận tôi làm thiện nguyện là Shriners, một bệnh viện dành cho trẻ em. Ngoài Shriners ở Utah, còn có 21 cái bệnh viện Shriners khác nằm rải rác khắp nước Mỹ, Canada và Mexico. Đây là một loại bệnh viện đặc biệt phục vụ bệnh nhân vị thành niên, mọi khoản chữa trị đều miễn phí một trăm phần trăm bất kể hoàn cảnh gia đình và tài chánh. Bệnh nhân tại đây là các em dưới mười tám tuổi và có các bệnh trạng như gãy tay, gãy chân, gãy cột sống, có dị tật bẩm sinh về tai mũi họng, các bệnh bẩm sinh liên quan tới cột sống dẫn tới tình trạng liệt toàn thân hay bán thân bất toại, hay bị phỏng nặng cần phải cấp cứu. Bệnh viện có giải phẫu chỉnh hình, và giải phẩu thẩm mỹ để giúp các em có thể trở lại hình dạng bình thường. Công việc của tôi ở Shriner là mang hồ sơ mật bị thải ra bỏ vào máy để cắt nhuyễn. Cắt giấy xong tôi đi ăn trưa và sau đó chờ tới giờ Happy Hour. “Giờ hạnh phúc” là giờ mà tất cả các nhân viên của bệnh viện tập trung lại play room để chơi đùa với các em. Trong play room mọi người ai cũng có tên gọi riêng như bác sĩ Hill đến từ Ấn Độ được làm “papa bear”, cô Rose y tá người Mỹ được làm “mommy winnie the Pooh”, còn tôi được đặt cái tên mới là cô “funnie” vì hay làm mặt hề chọc cho tụi nhỏ cười. Trong phòng chơi, trên tấm thảm có in hình bản đồ thế giới, các em ngồi nắm tay nhau theo hình tròn. Em Christina người Campuchia bốn tuổi, em hay nheo nheo mắt khi nói vì mắt em bị một cục bứu đè. Em Nick bảy tuổi người Mỹ bị Spina Bifida, vì có lỗ hổng ở cột sống nên em chỉ có thể bò, em thường được các bạn bỏ vô cái thùng nhựa và đẩy đi khắp nơi. Em Jennifer người Tàu năm tuổi bị phỏng tám mươi phần trăm, cả người băng bó kín mít chỉ chừa lại cái miệng đỏ lòm vì em hay ăn kem trái dâu. Em Jack người Mỹ da đen năm tuổi bị tai nạn xe cộ gãy tay và chân trái, em hay dơ cái chân băng thạch cao ra cho mọi người ký tên vào làm kỷ niệm… Các em ngồi sát bên nhau tròn miệng hát bài “Twinkle star” do “mommy winnie the bear” dạy. “Twinkle twinkle little star, how I wonder where you are…” Đang hát bé Christina bỗng cọ quậy rồi cười khanh khách, nó bị thằng Nick đưa tay cù lét vào nách. Tiếng cười của Christina sao thật giống tiếng cười của tôi hôm nào. Cái ngày trời mưa, khi được ăn củ khoai từ đầu đời bên cạnh anh mình tôi cũng đã cười như vậy. Giọng cười của Christina làm tôi nhớ tới tuổi thơ của mình. Nghe tiếng em cười và nhìn vẻ mặt hớn hở của các em, tôi chợt nhận ra đối với các em, Shriner không chỉ là bệnh viện mà còn là một mái nhà. Mái nhà của các em có ba người Ấn Độ, mẹ người Mỹ, cô người Việt Nam và các anh chị em đến từ mọi quốc gia trên khắp thế giới. Tình yêu thương vô biên giới của các nhân viên bệnh viện đã làm cho Christina và Nick mặc dù đang bị những vết thương và các căn bệnh hoành hành rất đau đớn vẫn có thể cười vui vẻ và nó làm chúng tôi trở thành người một nhà. Đến bên Christina, tôi ôm em vào lòng, chúng tôi tiếp tục hát “Twinkle, Twinkle little star…” Sau mùa hè đi làm thiện nguyện ở bệnh viện Shriners tôi hiểu được tình yêu thương có thể xoa dịu những nỗi đau và nó không có biên giới. Tôi muốn mình cũng trở thành một bác sĩ có đầy lòng thương yêu để có thể xoa dịu những nỗi đau và xóa đi những khoảng cách trong lòng con người. Tôi bắt đầu năm đại học thứ nhất tại trường University of Utah với phân khoa dự bị y khoa. Đây cũng là lúc tôi đi học toàn thời gian tại trường và cuối tuần đi làm thông tầm tại Check Point, nơi kiểm soát hành khách tại phi trường quốc tế Salt Lake City. Sau biến cố khủng bố tấn công nước Mỹ 9-11, công việc tại Check Point rất nặng nề căng thẳng nhưng tôi cũng thật tự hào vì mình được góp phần vào nhiệm vụ bảo vệ an toàn cho Hoa Kỳ và thế giới. Khi Thế Vận Mùa Đông khai diễn tại đây, nhiều lần phi trường phải báo động vì bị đe doạ, tôi và các bạn thêm một lần thật thích thú khi thấy sức mạnh của chúng tôi đã thắng được sự bạo tàn của bọn khủng bố và mang tới cho thành phố núi một thế vận hội mùa đông thật hoành tráng. Những ngày đầu đi học đại học, má tôi chín giờ tối đi bộ ngoài đường chờ con về. Lúc đó tôi mười tám mười chín tuổi nhưng không được đi đâu khuya quá chín giờ. Có lúc tôi chướng bỏ nhà đi chơi, khuya về bị má tát vào mặt sáu cái: trái phải, trái phải liên tục. Coi bộ người đàn bà Việt Nam còn dữ hơn hệ thống 911 của nước Huê Kỳ. Trốn nhà đi chơi không xong, tôi đóng cửa lại viết văn kể lể ai oán cho đỡ tức, và từ đó có thêm bút hiệu Thụy Nhã. Từ thời còn là bé con ở Việt Nam tôi đã mê đọc sách đến nỗi có lần bị cháy tóc khi chui vào mùng đọc lén trong đêm khuya. Khi sang Mỹ, tôi mới biết là ngoài loại sách vở văn chương được gọi là hiện thực xã hội chủ nghĩa thường được tung hô ở Việt Nam, còn có một nền văn chương khác của miền Nam Việt Nam từ trước năm 75 hiện vẫn tiếp tục ở hải ngoại. Tôi bắt đầu được đọc Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Thảo Trường, Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Thị Hoàng, Lệ Hằng, Hoàng Hải Thủy, Duyên Anh, Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ và nhiều tác giả khác. Bước vào thế giới này văn chương này, tôi lập tức mê mệt và thấy mình có thể viết văn được. Gia đình tôi có nhiều sóng gió từ lúc tôi có thêm tên Thụy Nhã. Anh trai tôi đam mê cờ bạc bỏ nhà ra đi. Ông ngoại tôi mất ở Việt Nam. Má tôi vì nhớ nhà, nhớ con, nhớ ông ngoại đã có nhiều lần bị panic attack đến thở không được. Những chuyện buồn chồng chất không biết kể cho ai, tôi bắt đầu viết để tham gia cuộc thi Viết Về Nước Mỹ. Tôi viết để dự thi và cũng để kể chuyện mình và nghe chuyện người như lời tác giả Trương Ngọc Bảo Xuân đã nói. Rồi từ đó “Thư Em Gái: Anh Ơi Hãy Trở Về”, “Check Point Những Ngày Ta Mất Nhau”, “Im Đi Bà Ơi” ra đời. Đó là những ngày khó khăn nhất của gia đình. Tôi từng trốn học hơn một lần, bỏ việc, dấu ba má âm thầm đi kiếm anh trai. Mỗi lần vô sòng bài nhìn các chàng thanh niên độ tuổi anh mắt dán chặt vào lá bài, mồm ngồm ngoàm nhai từng cọng mì gói, thân thể hốc hác hao gầy tôi đau lòng tới muốn khóc. Ở nhà ba má cũng không yên, ngày nào cũng vì những chuyện rất nhỏ mà cãi lộn ầm trời. Tôi đi học, đi làm, khuya lắc khuya lơ mới về nhà vẫn không được ngủ vì trận chiến giữa ba má vẫn chưa dứt. Vừa theo đuổi giấc mộng vào trường y, vừa lo lắng chuyện gia đình, tôi kiệt sức. Có lần tôi đã đứng trên nóc khu đậu xe của bệnh viện mà tôi hằng mong ước được vào học, vào làm và nhìn xuống cánh cửa chính. Từ nơi đứng, nhìn xuống cánh cửa bệnh viện, tôi thấy nó to lắm, nặng lắm, xa lắm và thấy mình bất lực. Chắc không cách gì mở được nó. Cái cánh cửa khổng lồ ấy, với tôi, là xa quá tầm tay, nhưng khi nhìn xuống cái sàn xi măng xám lạnh cách mình hơn mười thước tôi lại thấy nó quá gần. Những tuyệt vọng, buồn tủi và sự yếu đuối bất lực dồn nén đã làm tôi muốn nhảy xuống phía dưới. Nhảy đi, nhảy đi, cái sàn xi măng mời mọc. Tôi, đứa con gái còm cõi đứng gục đầu trên nóc gara và khóc. Đang khóc, tôi bỗng thấy qua màn lệ một cái bóng xanh um từ đâu đó hiện ra. Cái bóng xanh ấy lung linh chung quanh tôi, phát ra tiếng vi vu, xào xạc. A. Chính nó, cái bóng xanh ngày xưa. Nó là cây vông của khoảnh vườn sau nhà. Tôi nhận ra nó và nhận ra chính mình, đứa con gái đã chui ra từ cái sẹo của ba. Cây vông thời thơ ấu của tôi chỉ được tưới bằng thứ nước thừa, nước cặn vẫn vui vẻ đơm hoa ra lá. Dù gốc rễ bị mối ăn, nó vẫn đứng vững đó chờ tôi. Chúng tôi đã ôm nhau từ biệt và khi tôi ra đi, linh hồn nó đi theo. “Đừng khóc. Đừng khóc. Bạn ơi, bạn không nhớ bạn chính là tôi à. Bạn không nhớ bạn đang ở đâu à.” Linh hồn cây vông nhắc nhở và tôi nhớ mình chính là cây vông được lớn lên trong lòng nước Mỹ, trong tình thương yêu và sự chăm sóc của bao nhiêu người, tôi không có quyền bỏ cuộc, tôi phải mạnh mẽ như cây vông của tôi. Từ lúc nhớ ra mình là cây vông nhỏ, tôi đã vui vẻ sống tiếp và không sợ hãi gì. Rời bỏ cái nóc gara, rời bỏ cái sàn xi măng xám lạnh, tôi tiếp tục đi tới. Không có đủ điều kiện để theo ngành y, tôi quyết định chọn học nghề y tá. Nghề y tá đòi hỏi thật nhiều sức khỏe và sự kiên trì, nhẫn nại nhưng tôi không ngại vì tôi không thể nào quên được tiếng cười của bé Christina trong bệnh viện Shriners năm nào. Với nghề y tá tôi sẽ tiếp tục có cơ hội chăm sóc và san xẻ tình yêu thương mà tôi may mắn có được tới cho mọi người chung quanh. Năm 2003 sau khi đã có bằng bốn năm trong ngành tâm lý học, tôi được nhận vào trường y tá tại một đại học công giáo ở Utah và vừa học vừa làm việc thêm tại bệnh viện cũng thuộc về hệ thống của trường University of Utah tên là University Of Utah Healthcare and Clinics. Nghề y tá đòi hỏi sự chăm chỉ, đầu óc nhanh nhẹn và một sức khỏe phi thường. Trong số bệnh nhân của tôi có người nặng đến hơn hai ba trăm hay lên cả bốn năm trăm pao. Một người bệnh nhân của tôi nặng 375 pao, anh bị liệt toàn thân. Mỗi ngày tôi phải thay quần áo, tắm rửa, đút cho anh ăn, đưa nước cho anh uống và đưa anh lên ghế ngồi để anh không bị chứng lở loét da. Mỗi lần di chuyển anh, chúng tôi bốn hoặc năm người đứng hai bên, một người đứng dưới đỡ chân, chúng tôi dùng hết sức bình sanh nâng anh ra khỏi giường nhờ thêm sự hỗ trợ của máy Hoyer lift. Người bị liệt toàn thân không làm chủ được đường tiêu tiểu nên mỗi khi chúng tôi dùng hết sức để chuyển anh lên ghế, anh lại đi ngoài thế là chúng tôi mang anh trở lại giường để lau chùi. Sau lại chuyển anh từ giường qua ghế, từ ghế qua giường như vậy tới ba bốn lần.Chúng tôi vừa khiêng với hết sức mình và vừa an ủi anh vì biết trong số chúng tôi anh là người mệt và cần sự an ủi nhất. Không đủ sức khoẻ sẽ không thể chăm sóc người khác, làm sao lo công việc y tá, tôi quyết định phải tập ăn đúng cách cho lên cân, và tập thể dục đúng cách cho có đủ sức khoẻ. Đi học và làm toàn thời gian còn thật ít giờ để lo cho chính mình tôi đành phải chọn cách trả tiền để được sự hướng dẫn của một huấn luyện viên thể dục nhà nghề. Bây giờ trên Tivi hay chiếu nhiều reality show về những người cân nặng hàng trăm pao và quá trình tập luyện ăn kiêng để giảm cân. Nghĩ mà tức cười. Họ phải tập luyện, ăn uống cực khổ như thế để xuống cân. Tôi thì tập luyện ngược lại, cực khổ muốn ói khi cố ăn, cố nuốt chỉ để lên cân và có thêm sức khỏe.. Để có thể trở thành một cô y tá thực thụ, tôi đã phải thay đổi chính mình. Từ chưa đầy 85 pao, sau ba tháng tập luyện, tôi lên được hai mươi pao, cân nặng 105 pao. Có lẽ đây là việc phi thường nhất trong đời mà tôi đã làm được. Mọi chuyện xuông xẻ dần. Sau khi đưa ba má đi ký tên mượn nợ mua được căn nhà mới, tôi viết được thêm chuyện vui “Bản Án Ba Mươi Năm”. Năm 2005 tôi ra trường ngành y tá. Ngày ra trường, ba má, hai nhân vật trong “bản án ba mươi năm” và “im đi bà ơi” vẫn giữ được bản án cam kết và vui vẻ nắm tay nhau đi dự lễ. Lễ ra trường anh tôi không về dự được nhưng lúc đó tôi đã biết anh ở đâu và không cần phải gửi thư tìm kiếm nữa. Đầu năm 2006, tôi dọn qua San Francisco sinh sống và làm việc tại một bệnh viện mà tôi rất yêu thích. San Francisco tuy nhỏ về diện tích nhưng lại là một trong những thành phố đẹp nhất nước Mỹ. Nó đẹp đến nỗi nhiều người đã cất tiếng hát “I Left My Heart In San Francisco”, đó là tựa một bài hát rất thịnh hành trong thập niên sáu mươi do Tony Bennett sáng tác. Có lần trong bênh viện, tôi được chăm sóc một cụ bà mà tôi thấy rất giống bà cụ Mạo của xóm nhỏ năm xưa. Cụ bệnh nhân của tôi đã hơn chín mươi hai tuổi, trên người của cụ mang đủ các thứ bệnh về tim mạch, thận phổi. Thân thể cụ là một guồng máy đã bị rã nhưng tinh thần cụ lại minh mẫn vô cùng. Mỗi lần tôi mang thuốc tới cho cụ uống cụ đều mang cặp kính lão, cầm từng viên thuốc lên sát mắt và đọc thành chữ: ambien 5 gram, metoprolol 50 gram, folic acid 1 gram…, cụ nhớ và dò xét từng viên thuốc trước khi bỏ vào miệng. Khi tôi đi ra khỏi phòng lúc nào cụ cũng dặn dò: cô y tá, cô đừng có gỡ thuốc ra khỏi vỏ trước khi đưa cho tôi uống nghe, tôi muốn coi cho đúng thuốc rồi mới uống. Cụ sống ở nursing home, không có con cháu và cụ ông qua đời đã lâu, cụ cũng đơn độc như bà cụ Mạo ở xóm nhỏ, chỉ khác một điều: cụ bà ở San Francisco dù thân thể đã rã rời nhưng cụ vẫn muốn sống, còn cụ Mạo ở thị xã B’lao dù ăn được, đi được, đứng được và không bị bệnh tật gì cả nhưng cụ lại muốn chết. Ô kìa, yếu tố nào trong cuộc đời đã làm cho người ta muốn sống hay muốn chết” Tôi đi bộ về nhà sau một ca trực đêm khá bận rộn. Hôm nay San Francisco có mưa bay, những hạt mưa bám vào mặt mát lạnh. Mưa San Francisco làm tôi nhớ những cơn mưa phùn của mùa xuân ở B’lao, nơi tôi đã sanh ra và cũng là nơi tôi đã từ bỏ để ra đi. Cái xóm nhỏ đó hôm nay biết ai còn, ai mất” Linh Tồ đi lấy chồng tuốt ở Di Linh, người chồng Linh biết vợ hồi nhỏ không được đi học nên thông cảm và không bao giờ chê vợ tồ. Linh mở hàng bún bò: vợ nấu, chồng chạy bàn, cuộc sống hai vợ chồng phụ thuộc vào mấy ký bún bán được mỗi buổi sáng. Yến Ngố chưa kịp lấy chồng để có người âu yếm gọi là Yến đã bị xe đụng để rồi mất luôn tên Yến Ngố và bất đắc dĩ trở thành Yến mát. Chị tôi lâu lâu mang chút tiền qua cho và cắt tóc cho Yến. Mỗi lần cắt tóc chị đều trò chuyện tỉ tê, chị hỏi có nhớ tôi không, Yến gục gặc đầu rồi cười trông rất ngây dại. Chị Trang con bác Khang cũng lấy chồng xa, xa đến nỗi trong một lần đi xe gắn máy về thăm gia đình chị bị một tài xế lái xe tải dành đường, chèn cán nát óc và không bao giờ gặp bố mẹ được nữa. Và bà nữa, bà cụ Mạo, bây giờ đã là cuối năm 2007, bà vẫn còn tiếp tục đi trên con đường cũ để ước mơ được chết” Năm 2005, 2006 đã có những nhóm người dân tộc đầu tiên được đặt chân lên nước Mỹ. Từ năm 1975 đến năm 2005, đó là ba mươi năm kể từ lúc chiến tranh chấm dứt, vậy mà ngay cả người dân tộc, nhóm người sống ẩn mình trong vùng sâu vùng xa rồi cũng không yên, phải bỏ nước ra đi. Trong nhóm người dân tộc đầu tiên tới được Mỹ có người nào là bạn của tôi không” Nếu có, bạn có nhớ cái cô bé đen thui, quần áo ngắn cũn cỡn đã đến thăm bạn hôm nào” Ngày đó chúng ta chỉ biết nhìn nhau, chưa nói được một lời chào hỏi. Hôm nay cho tôi chào bạn nhé, người bạn của thời thơ ấu. Bạn đã đến được đây rồi. Còn bạn Linh Tồ và bạn Yến Ngố của tôi nữa, các bạn chưa thể hay không thể đến đây, vậy phải làm sao để mang được cuộc sống nơi đây đến với các bạn. Nhìn mưa nắng ở San Francisco, tôi vẫn nghe tiếng vi vu của linh hồn cây vông nhỏ ở B’lao đi theo mình ngày nào. Nó không ngừng nhắc nhở. Hiện nay, tôi vừa đi làm toàn thời gian vừa chuẩn bị tất cả mọi việc cần thiết để có thể trở lại trường học lấy bằng thạc sĩ y tá, chuyên ngành gây mê (Certified Registered Nurse Anesthetist -CRNA). Các trường dạy gây mê đòi hỏi rất gắt gao, thí sinh trước khi được nộp đơn vào trường phải có ít nhất một năm làm việc ở ICU (intensive care unit) và được điểm GRE tối thiểu là 1000, tất cả những công việc này đòi hỏi nhiều sức lực và sự cố gắng. Dù cực nhọc mấy, tôi thấy mình vẫn có thể làm được. Với sức sống mà cây vông trao tặng, với những bài học đầu đời do má dạy, với những bữa thịt cóc nhái hiếm hoi do ba chăm bón, tôi sẵn sàng đi tới. Tôi tin tưởng kiến thức và kinh nghiệm sẽ cho tôi thêm cơ hội phụng sự. Tôi tin tưởng sự hiểu biết và lòng yêu thương luôn mang con người lại gần nhau, và thế giới rồi sẽ là một mái nhà chung như mái nhà ở bệnh viện Shriners năm nào. Tôi là cây vông nhỏ. Tôi sống. Tôi yêu thương và tôi mơ mộng. * Lời Kết Tại một thành phố biển ở Nam California, trong khu vườn của khách sạn Marriott, tôi đã gặp lại người bạn cũ. Lúc gặp bạn, tôi bàng hoàng không dám tin vào mắt mình. Tôi đứng chiêm ngưỡng rồi đưa tay rờ và đưa mũi ngửi người bạn trước mặt. Đúng là bạn rồi chứ không ai khác. Là bạn đó, người bạn đã chết đi khi tôi rời bỏ mảnh vườn thời thơ ấu và bây giờ linh hồn bạn đang đi theo tôi, đang sống lại và đang trổ những chùm bông đỏ huy hoàng. Bây giờ là mùa bạn trổ bông. Toàn thân bạn rực rỡ màu đỏ thắm. Đó là màu đỏ của lời chào bạn dành cho tôi sau bao năm xa cách. Cây vông của tôi, cho tôi được ngắm bạn. Cho tôi được ôm bạn. Cho tôi nhập vào bạn. Dù bao năm tháng có trôi qua, màu xanh lá vông, màu đỏ hoa vông, linh hồn chung của chúng ta, sẽ còn tươi đẹp mãi.. Thụy Nhã |
| Ánh Mắt Tôi đã vượt bao nhiêu ngọn núi, bao nhiêu cái đèo để tìm được mật gấu cho bà ấy. Tay bà ấy bị thương, người ta bảo chỉ có mật gấu mới chữa lành thế là tôi lao đi tìm. Vượt bao ngọn núi, bao cái đèo rồi tôi tìm được bọn lái buôn. Qua bao nhiêu khó dễ chúng cũng để lại cho tôi thứ mật gấu mà chúng bảo là nguyên chất. Rồi tôi lại lần mò qua con đường cũ cầm về cho bà ấy. Bọn lái buôn ấy có lương tâm ông ạ. Tay bà ấy khỏi hẳn sau khi thoa mật. Ánh mắt người đàn ông sáng lên khi nhắc lại câu chuyện hơn mấy chục năm trước. Nó sáng như mắt người đàn bà khi đón túi mật gấu từ tay ông và để ông xoa lên tay mình. Tôi ngồi một bên nghe ông kể lại câu chuyện cho người anh họ và hình dung khung cảnh của một tỉnh nhỏ mười mấy năm trước. “Con Vàng đâu, con Vàng đâu” Mỗi sáng sớm khi nghe ông gọi tôi đều chạy quắn đít. Tôi chạy khắp nhà trên xóm dưới không phải để tìm ông mà để trốn ông. Ông tìm con Vàng ở cửa trước tôi chạy cửa sau. Ông tìm con Vàng ở gốc cây đu đủ, tôi chạy trốn sau cửa bếp. Tôi không dám thở mạnh sợ ộng tìm ra tôi sẽ tìm ra luôn những tội lỗi mà bà đã tìm cách che dấu cho tôi ngày hôm trước. Chỉ cần nhìn vào mắt ông thôi là con bé con dù có rắn mắt cỡ nào cũng sợ khiếp đảm rồi không đánh mà khai, tôi sẽ làm cho ông ngứa mắt và hậu quả là ngày nào tôi cũng bị la một trận tơi bời. Ông có một cây roi rất lớn, nhưng chưa bao giờ ông mang ra doạ vì chưa thấy cây roi tôi đã cà lăm nặng rồi. Thế là buổi sáng nào con Vàng cũng lủi thủi chạy trốn ông. Mặc dù nó không biết ông kiếm nó để làm gì. Mặc dù có thể ngày đó nó chưa kịp làm điều gì có tội nhưng vì bị ông la nhiều quá nên nó cứ trốn trước cho chắc ăn. Ngày nào ông không kiếm ra nó, nó thở phào nhẹ nhõm và tự cho là mình rất may mắn. Ngày nào bị ông mắng xối xả nó cụp mắt để ráng không khóc sợ ông la thêm. Sau khi bị ông la nó sẽ quay qua lẫy bà vì chỉ có bà là xuýt xoa mỗi lần nó hờn. Có ngày nó lẫy, doạ bà nó sẽ không ăn cơm nhưng khi bà đi ngủ trưa nó lén bà ăn liền tù tì bảy quả chuối tiêu. Bà thức dậy thấy nó vẫn chưa ăn cơm thì cho nó một đồng, thế là nó hết lẫy. Tôi đi từ bắc vào nam anh ạ, mang cả gia đình. Tôi gồng, tôi gánh. Bỏ lại tài sản ở miền Bắc, tôi vào Nam cũng giống người ta, vợ con đùm đề. Rồi tôi bỏ gia đình ở lại Sài Gòn, một mình vào Đơn Dương lập nghiệp. Lạ nước lạ cái, tôi không muốn gia đình tôi khổ lây. Tôi đã biết lái xe ở Hà Nội thế là tôi bắt đầu đi buôn chuyến. Bà ấy là một trong những con buôn đi nhờ xe tôi. Tôi đã từng thấy bà ấy nhiều lần trên xe nhưng không cảm thấy gì. Vậy mà bỗng nhiên, khi tay bà ấy bị thương tôi biết tôi phải đi tìm mật gấu cho bà ấy. Nó giống như một sứ mệnh, không làm không được. La con Vàng xong là ông tất tả đi Cà Tọt. Có khi bà đi theo, có khi bà ở nhà băm chuối cho heo ăn. Bỏ hết nhà cửa và một đội cyclo cho thuê ở miền Bắc, ông vào Nam gầy dựng lại từ đầu. Ông bắt đầu từ buôn chuyến cho đến khi tậu được miếng đất, cất được căn nhà rồi ông mua rẫy, làm vườn, trồng lúa, nuôi heo. Vợ ông giỏi giang, ông cầy sâu cuốc bẫm, bà cũng cầy sâu cuốc bẫm, đi rẫy về bà còn chăm chuồng heo, thổi cơm, gói ghém cơm cho ngày hôm sau. Bà còn làm bao nhiêu thứ việc không tên khác nhưng chẳng bao giờ bà lên tiếng than mệt. Làm mẹ của hơn mười người con tạo cho bà một sức chịu đựng phi thường. Gia tài ông gầy dựng, bà ra tay thu vén. Ông làm gì bà làm theo nấy, không một thắc mắc, không một nghi ngờ, toan tính. Đối với bà ông là chồng, bà là vợ, không có gì thay đổi được. Bà đi theo sự sắp xếp của ông như một sự sắp xếp của định mệnh. Thế rồi tôi đến với bà ấy. Rồi vài năm sau khi cơ nghiệp vững vàng tôi về Sài Gòn đón gia đình còn ở lại. Cho tới bây giờ tôi cũng không biết bà nhà tôi nghĩ gì. Ông đưa tay nhón cốc nước rồi hớp một hớp. Tính kể thêm gì đó mà ông lại quên mất rồi. Chứng bịnh đãng trí vừa chớm bắt đầu đã làm ông quên trước quên sau thế nhưng ông không thể nào quên ánh mắt sáng ngời khi ông bôi mật gấu lên cánh tay của người đàn bà không phải là vợ mình. Trong cả cuộc đời ông chưa bao giờ thấy hình ảnh chính mình sáng ngời như vậy. Thế rồi con Vàng lớn lên, thế rồi ông già đi. Một buổi sáng mùa hạ nó đưa tay đỡ ông lên một chiếc thuyển buồm trên vùng biển Mễ Tây Cơ. Nó sợ ông ông trượt chân nên đứng kề sát bên. Nó vừa đỡ ông vừa nói ông dựa vào con cho khỏi ngã. Chiếc thuyền buồm lướt sóng chở ông, nó và gia đình của chú và gia đình người anh họ của ông đến một bãi biển cạn để mọi người có thể xem cá và bơi lội. Đến nơi chiếc thuyền buồm neo lại, người chủ tàu cho nó một cái áo phao để nó có thể xuống nước chơi mà không sợ bị chìm. Nó nhìn xa xa, thấy cách đó khoảng ba mét là môt dãy núi đá đen, trên đó có những con cua đang bò trông rất hấp dẫn. Thế là nó lao vào nước và bơi đi. Vừa xuống nước nó phải rất khó khăn mới trồi lên được. Rồi với sự hỗ trợ của chiếc áo phao nó trồi lên từ từ và nó ra sức đạp nước đi về phía trước. Vậy mà mặc nó ra sức đạp, thân hình nó vẫn đứng yên một chỗ. Mọi công sức của nó đều bị sức nước cản lại. Bơi qua bơi lại một hồi, thấy không đi tới đâu, nó quyết định quay lại thuyền chơi với ông. Vừa trở lại thuyền nó liền đi kiếm ông và kể cho ông nghe việc bơi lội khó đến đâu. Ông nhìn nó và nói có gì khó. Nó cười và chọc ông con đi còn khoẻ hơn ông mà còn chưa bơi được vậy mà ông nói không khó. Thế này nhé, ông nhìn thẳng nào mắt nó rồi dang hai tay lao vào biển. Trước khi nó kịp định thần ông đã bơi qua tới bờ bên kia. Mấy con cua đang từ từ giãn ra chừa chỗ cho ông ngồi. Cách con Vàng chỉ có ba mét thôi là một ông lão nhưng ông không còn là một ông già chân đi không vững như mấy phút trước. Trước mặt nó bây giờ là một người đã từng vào Nam ra Bắc, từng một mình một xe vượt bao nhiêu ngọn núi, cái đèo để gầy dựng cơ nghiệp. Và nó, khi ở tuổi đời còn phơi phới và khoẻ mạnh thấy mình cách thua xa ông cả một đại dương. Nó nhìn ông mình và mắt sáng ngời. Và nó nhận ra, trong cuộc đời tung hoành ngang dọc của ông, hẳn nhiên là đã có những người từng nhìn ông với ánh mắt như vậy. Chỉ cần môt giây phút thôi, đủ để một người tầm thường trở nên phi thường. Chỉ cần một giây phút thôi, để làm một ánh mắt ngời sáng suốt cả cuộc đời và gắn chặt người với người. Năm nay ông già thêm một tuổi và quên đi nhiều hơn một chút. Những nhân vật trong câu chuyên đã thành người thiên cổ. Mỗi lần con gặp ông dù quên cách mấy ông cũng đều hỏi con có còn đi học không và câu khuyên của ông luôn luôn là học đi con, cái học không bao giờ thừa. Chắc ông biết con không có gì giỏi nên nếu không đi học thì không nuôi thân được. Ông Nội thương, Khi được ngồi bên cạnh ông, nghe ông dặn dò khuyên nhủ, con lại thấy mình nhỏ lại như con Vàng lon ton chạy sau vườn ngày nào. Cứ vậy nha ông, ông và cả gia đình mình bước vào năm mới thật khoẻ mạnh để con được nhìn ánh mắt rạng ngời của ông và được tựa vào ông như một cái cây được tựa vào núi thái sơn. Thụy Nhã |
| Người Mẹ Xứ Thần Nông Kênh 5 Thụy Nhã – Điểm ơi con ăn cà không? – Dạ ăn! Mẹ ngồi bên hiên nhà nơi con cháu đã bày nồi niêu xoong chảo cho bà để bà nấu ăn. Bà tự tay muối cà xổi, rửa rau, làm cá, nấu cơm đãi đứa con dâu vừa từ Huế về, nó vừa mất mẹ. Bà sanh năm 1915 tại Nam Định, miền Bắc Việt Nam. Hơn một thế kỷ trôi qua, bao nhiêu cuộc bể dâu, bao nhiêu vật đổi sao dời. Tám đứa con, bao nhiêu cháu, chắt, chút chít của bà trôi dạt từ Bắc ra Nam, từ Việt Nam ra đến Hoa Kỳ, Úc Châu, hay xa hơn nữa nhưng bà vẫn ngồi dưới mái hiên nhà ở Xứ Thần Nông Kênh 5, nơi bà đã an cư lạc nghiệp. Bà ngồi đó hằng ngày, coi những đứa cháu con có đứa nào làm sai điều gì thì gọi tới mắng bảo. Thấy đứa nào thảnh thơi bà sai chúng nhổ cỏ, tưới cây. Con Thư bảo bà sai làm không bao giờ hết việc. Thằng Nhộng đi ra đi vô lầm bầm, càu nhàu cảu nhảu, nó bảo bà khó tánh. Bà cười móm mém, bà không dạy dỗ, không sai bảo làm sao sau này chúng nó có thể gánh vác, năng nổ được như bà. Này nhá con bà thằng Toàn đã từng làm sỹ quan, từng được đi du học Mỹ. Bây giờ nó sống ở Kansas xứ Huê Kỳ, cuộc sống an nhàn, thảnh thơi. Thỉnh thoảng nó vác súng, nằm ngửa bắn vịt trời, và ngắm mây trời. Thằng Tân chẳng được học hành nhiều như anh nhưng văn thơ đọc đâu nhớ đó. Nó còn có biệt tài là nói dối như cuội. Nó đi lính, tay trắng, mặt búng ra sữa vậy mà lại lấy được con Điểm Vịt Đẹt là tiểu thơ của xứ Thần Kinh. Thằng này vô cùng ba chìm bảy nổi nhưng gần đây nó cũng an nhàn và hay lên tàu chạy ra đảo xa bắt tôm hùm Pacifiic mang về cho vợ nấu bún riêu. Thằng Chung thì làm chủ hai cái hồ bơi ở đây. Ở xứ bà bây giờ chẳng ai thèm bơi sông bơi hồ nữa vì sợ chất độc. Mọi người trong xóm rủ nhau đi bơi “lap” ở hồ bơi nhà Chung Mốc, vừa sạch sẽ vừa rất giống Tây. Thằng Nhộng cháu nội bà lại rất dại gái giống các bác. Đứa nào xinh xắn thắng Nhộng cho bơi miễn phí lại còn đãi nước mía. Rồi còn: Con Đào, thằng Châu, con Lan, Cúc, Thủy, bà chẳng quên đứa nào. Con Thủy sống gần bà, ngày ngày thăm nom, bà thương nó lắm nhưng cũng chẳng dám nhờ nó nấu ăn vì bà sợ nó nấu bà ăn không được. Nấu ăn giặt đồ, không có gì làm khó bà được. Cơm chiều nấu xong, cả nhà quay quần bên mâm cơm. Bà nhìn thằng Tân, con Điểm ăn, cười móm mém. Con bà, bà chẳng quên đứa nào nên mấy chục năm nay bà vẫn ngồi đây chờ cơm. Sông nước Kiên Giang mênh mông, người Rạch Giá hữu tình. Bà ra võng nằm rồi ngân nga bài vè: Nghe vẻ nghe ve, Nghe vè thằng ở, Khó ăn khó ở, Nó bỏ nó về – Về thì về, anh thuê thằng khác. Anh thuê chẳng được nên đến dỗ dành: – Em ở với anh, việc gì mà ngại Nhà anh có một con trâu cái, đi cày mà thôi Cơm nguội đầy nồi Em ăn xì xụt…. Thằng ở nghe đến đây, tức quá phun ra một tràng: – Cái liềm đã cụt Chúa chẳng đánh cho Trèo lên quả núi Cắt được gánh cỏ thì mòn cả vai, Về thì chê bẻ chê bai, Chày gạo cối thóc canh hai đi nằm, Con gà mày gáy điêu tăm, Tao chửa đi nằm mày đã gáy đốc thôi. Chúa ăn rồi chúa lại ngồi, Để thằng con ở thu nồi thu niêu, Ngày trước chúa còn thương yêu Ngày sau chửi mắng ra điều tổn cơm Ngày trước chúa còn cho đơm Ngày sau cất lấy “tao đơm cho mày” Tôi đơm một vá thì đầy Chúa đơm hai vá chưa đầy đã thanh Ra đồng bắt được con cá mè ranh Chúa ăn hết thịt để dành xương cho Chúa Giai là chúa hay lo Đêm nằm cắt việc ra cho mà làm Chúa Gái là chúa ăn tham Phần đưa cỗ biếu để giam trong buồng Ăn rồi chết dịch chết chương Chẳng xót thằng ở, chằng thương con đòi Ở ba năm được cái khố sồi Bề ngang chiếc đũa bề dài năm phân. Ra đường chẳng dám cởi trần Trông thấy chúng bạn tủi thân mà về – Về thì giã bạn bạn ơi Giã điếu ăn thuốc giã vôi ăn trầu Về thì giã bạn chăn trâu Trở về đồng nội hái dâu nuôi tằm Một nong tằm là năm nong kén Một nong kén là chín nén tơ Một con chỉ rối biết cơ ngần nào? Đây là bài vè “thằng ở” kể chuiyện chủ tớ từ thời xa xưa mà Bà thích nhất. Bà ngân nga, nhẩn nha đọc hết, cứ đọc đến đoạn chúa gái tham ăn, ăn rồi chết dịch chết trương là bá phá lên cười. Bà chúa ghét ai tham ăn, lười biếng. Thằng Tân chưa chờ bà ngâm hết bài vè đã mon men lại gần, vừa thấy mặt nó bà đã cười khoe lợi rồi kêu lên “buồn lắm, buồn lắm”. Cái thằng khỉ gió này mỗi lần thấy bà lại đòi sờ ti làm bà nhột muồn chết. Chia tay bà, thằng Tân con Điểm quay về Mỹ, tiếp tục cuộc sống tha hương. Bà ở lại, nhớ con bà lại quay qua la mấy đứa cháu cho đỡ nhớ. Những tưởng còn lâu lắm bà mới gặp lại cái thằng nói dối như cuội và con Vịt Đẹt, ai ngờ, chưa đầy ba tuần sau thằng Tân đã gặp lại bà. Lần này bà nằm ở Chợ Rẫy, đầu mình, tay chân gắn đầy dây nhợ. Bà vừa trải qua hai cuộc giải phẫu khốc liệt, toàn than sưng múp và trầy trụa nhưng các bác sĩ trong phòng giải phẫu đều bảo bà có cặp vú lớn quá, phải có hai cô y tá khiêng hai bên bác sĩ mới giải phẫu được. Bà thấy thằng Tân mon men lại, bà nói Tân, rồi bà tính bảo “buồn lắm, buồn lắm” thì bà lại thiếp đi. Bà đã chờ thằng Tân, thằng Chung, thằng Châu, Toàn, Đào, Lan, Cúc, Thủy rồi khi thằng Chung hỏi trong màn lệ “má có muốn về nhà không?”, bà gật đầu. Hôm nay bà đã ra đi. Má của chú Tưng, của O Điểm đã ra đi. Người mẹ của xứ Thần Nông Kênh 5 đã ra đi… “Chiều nào đọc lại câu ca, mưa rơi, mưa rơi trên má… aaaa ời”…. Hôm nay Cali trời không mưa nhưng mưa rơi trong lòng con, bà ơi. * Thụy Nhã *Lời ca Phạm Duy soạn theo ca dao “Thương Hoài Ngàn Năm” |
| Bản Án Ba Mươi Năm Trong đêm bà thì thầm: -Ông, tui muốn mua cái nhà! Vừa nghe bà nói, ông giật bắn người, từ trên giường rớt xuống sàn nhà cái rầm. Ông lồm cồm bò dậy, cố trấn tĩnh: -Bà muốn mua cái nhà cho con Mimi hả” Được, mai tui ra Kmart mua cho. Bà gầm: -Mimi là con nào mà ông đòi mua nhà cho nó” Ông nói gì” Con mèo à. Mèo gì” Mèo rừng, mèo nhà hay mèo hoang” Ông ở dzới nó bao lâu rồi, ông dấu nó ở đâu” Ông muốn tôi phải tự tử ông mới dzừa lòøng hả” Thấy tình hình Trung Đông căng thẳng, “bom tự sát” săép nổ đến nơi, ông đành tỏ thiện chí hoà bình: -Dzậy bà muốn mua nhà “bi lớn”” Tui liệu cơm gắp mắm, tui mua cho bà. Bà ngỏn ngoẻn, quên mất Mimi là con nào, trở về “mục tiêu” pháo kích: -Mấy ngàn “sìwe fịt” được rồi ông. Tui thấy nhỏ lớn hông quan trọng. Quan trọng là mình có một chỗ riêng với nhau. Có điều cái “lót sai” phải rộng rộng. Tui muốn có cái vườn đủ loại. Phải có cây bưởi. Hồi mình mới quen, ông nhớ chỗ gốc cây bưởi sau vườn hông” Phải có cây chanh. Con gà cục tác lá chanh mà. Phải có vườn ngò gai, rau quế để nấu phở. Còn món “giả cầy” cho ông nữa. Phải có mấy luống giềng, mấy bụi lá mơ. Quên, còn nữa… Ông nghe nói lại giật bắn người, xém rớt: -Bà nói cái gì vậy” Mấy ngàn square feet” Cái vườn của bà sắp thành cái rừng đó. Một chỗ riêng cho mình thì chỉ cần bằng gốc cây bưởi ngày xưa là đủ rồi, cần chi cái rừng rậm rạp dzậy cho nó lạnh lẽo” Bà nhéo bắp vế ông, bàn tay nóng ran: -Cái ông này, già đầu còn nói bậy. Bây giờ ở Mỹ chứ có còn ở trong trại cải tạo đâu mà rừng dzới cây. Mấy ngàn “sìwe fịt” đây là tui nói cái nhà có máy lạnh, máy nóng, máy mát mát đàng hoàng sao mà lạnh lẽo được. Nghe tới căn nhà có đủ máy lạnh máy nóng, ông… run: -Bà suy nghĩ kỹ chưa” Dzợ chồng mình nghèo, ở apartment được rồi, dzừa túi tiền. Có cái nhà làm chi, bà” Bà thấy ông có mòi “lủi”, lồng lộn: -Có cái nhà làm chi hả” Có cái nhà cho bằng chị bằng em chứ chi” Có cái nhà để ngoi mặt lên nhìn người ta chứ chi” Có cái nhà để có chỗ chui ra chui vô chứ chi” Có cái nhà để khỏi sống chui sống nhủi trong apartment chứ chi” Sau mỗi chữ chi, tứ chi ông theo phiên nhau bầm tím. Ông cố đấu dịu: -Mình hông có tiền saving, tiền checking, tiền này tiền kia, lương lại thấp, mua nhà chưa chắc được đâu. Với lại ở apartment tui thấy khỏe re. Ở nhà thuê người ta làm hết cho mình, từ cắt cỏ, làm vườn, cho tới trả luôn tiền nước, tiền rác… Nếu mua được nhà, cái gì mình cũng phải tự lo… Chưa nói hết câu, ông đã thấy một cẳng chân “voi” gác ngang… cổ và tiếng “voi rống” vang khắp phòng. Bà đang tiến quân như chẻ tre. Ông chỉ còn cách… đầu hàng “vô điều kiện”. *** Sáng hôm sau, vừa bước ra từ văn phòng địa ốc, bà tươi rói: -Xong xuôi. Mai ông theo tui ra lô đất, lựa một miếng chắc thịt, chắc da, láng lẩy, tui xây nhà cho ông ở. Ông nói không ra hơi, đưa tay chỉ chỉ vô cái bóp bà đang đeo lủng lẳng. Bà thông minh, hiểu ngay ý chồng: -Ông sợ hông đủ tiền down à” Ông hông nghe cậu broker đó nói “No Down, No Money, No Credit” hả” Dzới lại cậu broker biểu mình chọn cái loan fix ba chục năm. Còn ba chục năm lận, sợ gì hông kiếm ra tiền ông” Ông đau khổ nhìn lên, chỉ tay vào toà building nhà băng cao ngất trời. Bà nhìn theo tay ông, líu lo: -Ông sợ tiền lời cao hả” Ông không biết sau khi hai “con chim sắt” lao dzô cái tháp đôi ấy, tiền lời xuống thấp bằng… mặt đường hả” Bà vừa nói vừa đưa tay kẹp cổ ông chồng nhấn xuống cho vừa tầm mặt đất. Cuộc chiến kết thúc. Bà, hai trận thắng hai. * Hai giờ sáng, màn biểu diễn karaoke bất tận rồi cũng có lúc ngừng. Xong luôn tiệc tân gia, bà mở cửa tiễn người khách sau cùng: -Thu dzìa nha Thu. Mai mốt Thu tới chơi nhà chị, có muốn ngủ qua đêm nói chị biết trước. Thu biết đó cái nhà mới xây, đâu có giường có nệm gì. Phải chi Thu nói chị biết trước, chị ra RCWilley mua cái giường mấy trăm ngàn, bộ nệm mấy chục ngàn cho Thu nằm. Trước để Thu nằm một đêm cho êm, sau rồi chị trả lại, nhằm nhò gì đâu Thu. Cảm ơn Thu tới chơi, chị xin lỗi đã hông tiếp Thu được chu đáo. Thu thấy hông chị đã từ chối hết sức rồi mà mấy ổng nhất định bắt chị hát cho bằng được. Thu biết hông, hát một lúc mười mấy bài khó lắm chứ hông phải dễ nha em, hên là chị có giọng opera nên chị hát một lúc hai mươi mấy bài ngon lành. Thu biết hông, mấy hôm nay chị còn bị đau nữa đó em. Chị chạy ngang chạy dọc, lo từng đồng từng cắc mới mua được căn nhà. À, căn nhà em thấy sao, bự quá phải hông em. Nhất định là bự rồi. Ừa, bốn phòng ngủ, ba phòng tắm, hai family room, hai kitchen, một living room có wet bar, garage ba xe, sân trước, vườn sau… A,Ø Đau chân hả em” Tội nghiệp chưa, hồi nãy chị thấy em leo lên cái cầu thang, chị thấy thương quá. Cái cầu thang nó xây sao mà cao thế hả em, cứ như cái cầu thang bắc lên trời ấy. Em thấy cái giường trong Master Bedroom thế nào” Thì King Size mà” Nằm lên, thấy êm như thời con gái, sướng lắm em ạ. À mà em có nhìn quanh phòng chị không” Từng tấc thảm chị trải trong phòng đều do những “đì dai nơ” nổi tiếng nhất tạo mẫu đó nha em. Ủa quên, em chưa ngồi lên thử hả. Cái toilet trong rest room ý mà. Cái toilet ấy nó quay được em ạ. Hèn chi nó là siêu cường quốc, đúng là chỉ có nước Mỹ mới chế được ra nó… Ông ngồi ru rú trong góc cái walking closet, tay cầm chặt tờ bill. Tiếng bà tâm sự với cô Thu nào đó cứ dội vào tai ông như âm thanh từ dàn Hifi nổi. Tội nghiệp cô ta bị bà “oanh tạc” tới tấp, không nói lại được câu nào. Rồi. Cơn oanh tạc có vẻ xong. Chắc cô ta đã được phóng thích. Sẽ đến lượt cô ta nửa đêm dựng cổ ông chồng dậy, mô tả cái nhà mà cô ta muốn mua. Hắn ta -anh chồng xấu số của cái cô Thu ấy- rồi cũng giống như mình thôi… lại thêm một con ruồi sắp sập bẫy. Biết sẽ có thêm kẻ đồng số phận như mình, ông thấy được an ủi. Cái walking closet ông đang ngồi có vẻ bớt lạnh lẽo. Ông nhớ cái trại tù cải tạo, nhớ manh chiếu rộng chưa đầy ba gang tay. Sống một manh chiếu. Chết một manh chiếu. Ông nằm xuống, vòng hai tay ra sau đầu làm gối. Coi nào, so với chỗ nằm trong nhà tù, cái walking closet này chao ôi là mênh mông. Ông đã ở tù cải tạo gần 10 năm. Mười năm tù không cần một bản án. Có cái gì đụng đụng mang tai ông, ngứa ngứa. À, đó là tờ bill ông vẫn nắm trong tay. Ông nắm nó chặt hơn, nó là bản án ba mươi năm. Ba mươi năm còn lại ông sẽ là tù nhân trong một nhà tù có bốn phòng ngủ, ba phòng tắm, hai family room… chưa kể cái toilet quay quay với bà là cai ngục. THỤY NHÃ 21-04-2002 |
| “Cha Bố Mày, Con Vàng!” Bài tham dự số: 2-471-vb70217Thụy Nhã là một trong những tác giả trẻ của giải thưởng Viết Về Nước Mỹ. Cô định cư tại Utah, học năm cuối Psychology, cùng lúc học Nursing, đi làm “thông tầm” suốt ba ngày cuối tuần. Bạn đọc đã nhớ Thụy Nhã với “Mắt Nâu”, “Im Đi Bà Ơi“, và “Check Point, Những Ngày Ta Mất Nhau”. Bài viết mới của cô là truyện ký đầy thương yêu về một bà nội Việt tại Mỹ, cho thấy hình ảnh đáng tự hào của gia đình Việt Nam đã khiến cho “Người y tá Mỹ trầm trồ nhìn cảnh bà già trầu Việt Nam được con cháu thương yêu.” -Ba ơi, đêm qua con mơ thấy bà nội. Con chọc bà nội cười rồi bà nội chửi um lên “tiên sư cha mày”, vui lắm ba. -Ba cũng mơ thấy bà nội nữa con. Giấc mơ của ba đẹp lắm! -Kể con nghe đi ba… -Ba mơ thấy vừa đi xa về tới Đơn Dương, bà nội dọn cơm cho ba ăn. Bữa cơm có cá cơm kho tiêu, canh cà, ba ăn ngon miệng thiệt. Ba nhớ, ăn xong, bà nội còn đưa ba một gói xôi chè, bà nội dặn mang về làm quà cho tụi con. -Ba ơi, sao con vẫn không có cảm giác bà nội đã mất. Lúc nào con cũng tưởng như bà nội còn đâu đó quanh con. Con nhớ bà nội lắm! -Ừ, chính ba cũng vậy. Có nhiều lúc má con đi chợ mua hồng, ba ăn trái hồng mà cứ thấy nó ngọt ngào như trái hồng hỏa tiễn nội hay trồng. Những lúc đó ba cứ ngỡ bà nội vẫn còn, vẫn ở đó để chăm sóc cho ba, chăm sóc cho con như ngày nào. -Thôi con đi ngủ đây. Không chừng tối nay con lại mơ thấy nội. Con bé khập khiễng đập rầm rầm vào cái cổng sắt: -Bà nội ơi, con về nè, mở cửa cho con đi. -Con là đứa nào” -Nội ơi, con nè, cái Vàng nè. Mở cửa lẹ, con mệt quá nội ơi. -Con khỉ, chờ một chút. Bà của mày già rồi, không đi nhanh được con ạ. Bà tất tả bước ra cổng mở cổng cho con nhóc tỳ. Lần đầu tiên theo xe đò về quê nội một mình, con bé sáu tuổi thấy bà của nó “sang trọng” trong quần lĩnh đen, khăn vấn cuộn tròn mái tóc nhuốm bạc. Sang nhất là bà còn có cả một chuỗi ngọc thạch xanh bóng. Nó xà ngay vào lòng bà nhõng nhẽo: -Nội ơi, con đói quá hà! -Vào đây ngay, nhà còn thịt heo đông với dưa hành con ạ. Nghe tới món thịt đông, con bé chảy ngay nước miếng. Nó mơ màng nghĩ tới lớp mỡ trắng nhờ nhờ, cộng thêm nước thịt đông lại như thạch, chao ôi, thèm. Con bé ngồi trước mặt nội và ăn liền hai bát lớn. Ăn xong nó hào hứng lấy câu chuyện làm quà “đáp lễ” bà nội: -Nội ơi, kỳ này con học đứng hạng nhất. -Giỏi, cháu bà giỏi. Nó thích nhìn miệng bà khi bà nói chữ giỏi, mép môi bật ra dứt khoát, giọng Bắc kỳ đặc quánh như hàm răng lẫn những chiếc đen nhánh. Nó tiếp tục kể lể: -Ba con gây lộn với má con hôm qua. Ba con rượt má con chạy khắp xóm. Bà Tư thấy ba nhứ cây củi đòi đánh má, bả giằng cây củi trong tay ba rồi hông chịu trả. Bà nội tủm tỉm nhìn con bé: -Cha bố chúng mày, thương nhau cho lắm, cắn nhau đau. Đánh nhau như thế sao mày còn về đây được hả con” -Má con sai con xuống để mét nội, với nhờ nội coi con mấy ngày để má con đi “xì gòn.” -Tiên sư cha mày, nói chuyện cứ như bà già. Thôi mày ăn xong chưa” Ăn rồi, ra ao rửa chân đi con, đi khéo không lại lộn cổ. Nó vẫn bám bà, chưa chịu buông. Nó nhìn miệng bà cười, thắc mắc: -Sao răng nội đen vậy nội. Nội ăn kẹo nhiều rồi răng nội đen hả nội. Ba dặn hông được ăn kẹo nhiều sao nội hông nghe” Bà nó lại tủm tỉm cười, mấy cái răng đen lại hiện ra rõ mồn một. Bà gắt yêu: -Vàng đi rửa chân ngay cho bà. Sao mày còn bé mà lắm chuyện thế con. Nó lếch tếch ra cái ao trước nhà. Nhìn giàn thiên lý màu lục nhạt, cây hoa đại trắng ngát, mấy bông hoa củ chuối vàng tươm, nó khoát nước ào ào. Rửa xong, nó tót lên cây ổi sẻ, ních một bụng no cành, bà nó đang săm soi mấy trái trứng gà vừa nằm ổ lên tiếng: -Cái Vàng, xuống đây ngay cho bà, mày tuổi con khỉ, leo lên đấy cây ổi của bà bị chua mất. -Thôi, con thích nằm ở đây, ngủ luôn. Xuống dưới có muỗi, con hổng thích. -Thế bà có trái trứng gà thối cho con, con thích không” Con bé nghe trứng gà thối, tuột thoăn thoắt xuống đứng cạnh bà: -Nội, đập trứng hấp lá mơ cho con đi nội. Con bị đau bụng rồi. Bà biết lúc nào thích ăn trứng gà hấp lá mơ, nó đều nói bị đau bụng. Bà lựa thêm một trái trứng không trống rồi bước tới rặng chuối. Kề bên rặng chuối là dậu mơ, lá mượt như nhung. Đứng cạnh cái hàng rào này bà có thể thấy khoảng vườn bên dưới xanh um màu đậu đũa đang mùa và mấy cây hồng trái non nhú ra xanh biêng biếc. Bà là gái Hà Đông, là vợ ông Tài Khang giàu có tiếng ở Hà Thành, là cô Mùi quanh năm gắn bó với ruộng lúa, con gà, cây chuối, cây hồng. Bà vào Nam năm năm tư, lúc ấy thằng Bi con trai nhớn vừa tròn mười tuổi. Cái thằng giống bố, tánh tình vừa lãng tử vừa cộc cằn.. Vào Nam, sau bao năm lăn lộn cùng chồng, cuối cùng bà và ông quyết định bám trụ ở Đơn Dương. Ở đây bà và ông tậu được vài thửa ruộng, vài mẫu đất ở Cà Tọt và căn nhà để thờ cúng ông bà này. Cô Mùi miệng cười lúng liếng của thôn Cổ Hiền ngày xưa nay đã già, tóc đã pha sương. Thằng Bi bây giờ đã có vợ, bốn đứa con. Đứa cháu nội đích tôn, con thằng Bi bây giờ cũng tròn mười bốn tuổi. Bà vơ đại mớ lá mơ, thái sẵn để đó rồi chuẩn bị quang gánh ra chợ bán cà. Con bé đeo cứng chân bà tò mò: “Bà đi đâu đó””. “Bà đi chợ chiều, con đi không”” Con bé thích chí tử, la hét um sùm: “Con đi, con đi chợ”, nói xong, nó thêm vào: “Đi xe ngựa nha nội, đi con ngựa bự bự á. Tới chợ nội nhớ mua bắp luộc cho con nữa nha nội”. Bà nó quang gánh trên vai, nó lon ton theo sau, đi tới đường cái, bà vẫy ngay chiếc xe ngựa. Người xà ích giật cương, con ngựa già ậm ừ dừng bước. Con bé leo tót lên xe, xà ngay vào lòng bà, hít hà mùi đất, mùi mạ non từ áo bà, nó kỳ nài: “Nội ơi, gãi lưng cho con”. Bà đưa bàn tay sần sùi xoa xoa lưng con bé. * Thoáng chốc, chuyến xe thổ mộ ngày xưa đã chở con bé cách xa bà nội tới năm năm. Năm nó mười một tuổi, một buổi sáng bà tới thăm nhà nó ở Bảo Lộc, dúi vào túi nó mấy đồng bạc kẽm rồi quay đi. Con bé nghe loáng thoáng mọi người nói bà đi Mỹ. Đi Mỹ là đi đâu. Hông biết ở đó có con ngựa, có bắp luộc hông” Má dạy con bé viết thơ cho nội, nó viết hoài viết hủy mà hông bao giờ nhận được thơ bà nội, chỉ được thơ ông nội thôi. Ông nội viết thư cho ba, nói bà nội nhớ tụi nó, nhớ nhà. Kỳ quá. Bà nội nhớ nó nhiều vậy mà hông viết thư cho nó. Nó hay nhận được quà bà nội cho. Tết nào nội cũng lì xì, vậy mà nội hông bao giờ viết cho nó một chữ. Má nó giải thích vì bà nội già nên hông viết thơ được, nó không tin lời má nói vì ông nội cũng già nhưng ba nó vẫn được nhận thơ ông nội hoài đó thôi. Chẳng lẽ nội hông nhớ nó sao.. Nó cứ mang hoài nỗi khúc mắc trong lòng cho tới năm nó mười sáu tuổi. Bây giờ tới phiên nó được đi Mỹ. Sau hai ngày bay, cuối cùng gia đình nó tới được Arizona, trạm dừng chân đầu tiên của hành trình di dân. Ông nội, bà nội bay qua từ Cali để cùng với gia đình chú thím đón gia đình nó ở Tucson. Xa bà nội năm năm, nó thấy bà có nhiều đổi khác. Tóc nội không còn vấn lên nữa mà cắt ngắn. Ngày xưa tóc nội sợi trắng sợi đen, bây giờ tóc trắng xóa. Nội thấy nó, nội cười. Ủa, răng nội ngày xưa cũng cái trắng cái đen, nhưng sao bây giờ trắng hết vậy ta. Nó ngẫm nghĩ một hồi mới chợt nhớ ra, à thì ra nội đã già. Ông nội vẫn như xưa, vẫn rắn rỏi, nhanh nhẹn. Con bé đi cạnh ông bà bỗng thấy mình cao lớn, năm năm rồi còn gì, nó bây giờ đâu còn bé như ngày xưa. Bữa cơm đầu tiên tại nhà chú thím, con bé được ăn ngay món cà muối xổi do nội làm. Thêm món ruốc gà tây nội đã bỏ công cả đêm để xé thịt. Cơm nội nấu lúc nào cũng ngon. Con bé mừng quá vì ở xứ người mà vẫn được ăn thức ăn nội nấu, được nội thương yêu chăm sóc. Nó nhìn chung quanh bàn ăn rồi thắc mắc tại sao nội hông làm món thịt đông như ngày xưa. Nội bảo không ăn được đâu con, thứ ấy nhiều mỡ, ông nội mày bị cao máu. Nghe nội giải thích, con bé biết rằng bà nội thương ông nội lắm. Ông nội nói nhiều về chuyện học, ông nội mong mỏi con bé có thể hòa nhập vào cuộc sống mới. Bà nội kể lại chuyện từ Bắc vào Nam, kể chuyện lưu lạc khắp bốn phương cùng ông nội. Quái, những câu chuyện này con bé đã nghe hàng chục lần từ ngày còn bé tới giờ, nhưng sao bây giờ nghe lại vẫn thấy hay, thấy mới. Lâu lâu khi nói chuyện bà nội lại thêm vào tiếng OK. Chà, bà nội bây giờ nói chuyện giống Mỹ ghê. Bà nội ngồi ăn nhưng ánh mắt không ngừng coi chừng nó. Nội gắp cho nó miếng giò, dục nó và cơm cho nhanh. Bây giờ nỗi khúc mắc trong lòng nó mới nguôi ngoai vì nó thật sự biết rằng trong năm năm qua bà nội vẫn nhớ nó. Ông bà nội chỉ ở lại với gia đình con bé tại nhà chú thím được một tháng rồi bay về lại Cali. Bây giờ con đường về nhà nội không còn xa như Mỹ-Việt Nam, nhưng cũng không gần bằng Đơn Dương-Bảo Lộc. Con bé mới sang, lạ nước, lạ cái nên phải dồn hết tâm trí vào việc học. Thỉnh thoảng nó gọi điện thoại hỏi thăm ông nội, bà nội để chắc chắn rằng hai người vẫn còn đó, vẫn OK. Cho đến một ngày, một ngày cuối năm nó nhận được cú điện thoại từ cô út: -Vàng ơi, về đi, về gặp mặt bà lần cuối. -Cô Xíu nói gì” Sao lại là lần cuối” Lần cuối là sao” Nội bị gì sao” -Vàng ơi, bà yếu lắm rồi. Mấy hôm nay cô giấu bà, nói bà chỉ trúng gió sơ sơ, nhưng không phải đâu. Vàng phải về cho nhanh. Nó choáng váng, bỏ hết mọi chuyện, xếp vội mớ hành lý bay ngay qua thăm bà. Nội ơi, con về đây. Con lại một mình về thăm nội như ngày nào, chỉ khác lần này con gặp nội ở Rancho Cucamonga, không phải ở Đơn Dương. Chỉ khác là lần này con không được bám theo nội ăn chả trứng thối lá mơ, không được bám theo nội đi chợ chiều, không được ngồi trong lòng nội trên chiếc xe thổ mộ như ngày xưa. Nội ơi… chuyến bay tới trễ rồi. Tối nay nội có thức chờ cửa con không” Con nói nội đi ngủ đừng chờ cửa sao nội hông nghe” Nội mở cửa, tay run run bám chặt ổ khóa, bàn chân nhích từng bước, ngón chân bám chặt vào thảm. Nội, đừng buông tay con. Dựa vô người con nè, để con đỡ nội đi ngủ nha. Nội nằm xuống đây, nằm cạnh ông nội nè. Sao phòng nội lạnh quá. Nội nói có hai người già, khí âm nhiều hơn khí dương hả nội. Không sao đâu, con bóp chân cho nội ấm lại nha. Nội hỏi con học ra sao hả. Trời, tới giờ nội còn lo tới chuyện học hành của con. Con học được nội ơi, con vẫn ngoan, vẫn đi học đều. Nội khen con giỏi đi, con muốn nghe nội khen con học giỏi, con thích nghe giọng bắc kỳ đặc quánh của nội. Nội, sao nội ôm ngực… nội khó thở sao, nội thở không được sao” Sao nhịp tim nội chậm lại rồi. Ông nội ơi, cô Xíu ơi… nội… Trời. Gọi cảnh sát đi, gọi bệnh viện, gọi bác sĩ đi… làm cái gì đi… Đừng bỏ con, nội ơi! Chiếc Ambulance gầm rú xé gió trong màn đêm. Lần thứ hai trong đời con bé được ngồi cùng xe với nội. Lần đầu tiên, nó nằm lọt thỏm trong lòng nội trên chiếc xe thổ mộ, bàn tay bà sần sùi ôm ấp nó, gãi lưng nó. Lần này, nội nằm bất động trên băng ca. Chiếc thổ mộ chậm chạp, bà nội khỏe khoắn, vai thồ quang gánh, chân bước thoăn thoắt, miệng cười đen nhánh màu răng. Chiếc Ambulance gào thét, phẫn nộ… nội nằm yên như đá, mắt nhắm nghiền, nội thở khò khè, khó nhọc, cái mặt nạ nhả oxygen không ngừng. Hình như nội đau, cả người nội co rúm. Con bé nâng cánh tay bà, xoa xoa bàn tay bà. Ôi bàn tay, bàn tay tận tụy… Cassie tựa đầu vào vai con bé, em hỏi nhỏ: “Vàng, Vàng nghĩ nội có khỏi không”” Giọng em đầy xúc động. Biết phải trả lời em thế nào. Cơ thể nội bị tàn phá hết rồi. Phổi ứ đầy nước do hai quả thận mất chức năng đẩy lên. Tim bị ép lại co thắt từng cơn sau hai lần giải phẫu.. Nội có qua khỏi không” Em à, Vàng không biết đâu. Nhưng tụi mình thương nội, tụi mình ở bên nội hoài, vậy nội không thể xa mình được phải không em… Cassie kể cho con bé nghe về những ngày đầu nội qua Mỹ. Em nói nội thích coi cải lương, thích nấu bún măng, thích mặc đồ cũ. Cassie kể chuyện cái khăn choàng em tặng nội sáu bảy năm rồi vậy mà nội vẫn để dành, không bao giờ mang cả. Nội là vậy đó. Quanh năm suốt tháng chỉ mặc vỏn vẹn vài bộ đồ hoa. Tiền bạc, quần áo nội cất hết để dành gửi người này, tặng người kia. Nội xa lìa miền Bắc để theo ông nội, nhưng trái tim nội vẫn nhớ về miền Bắc. Nơi đó nội còn có em, có chị, có cả nỗi nhớ niềm thương. Con bé nhớ lúc còn ở Việt Nam, một hôm nhận được quà của nội từ Mỹ do cô Xíu mang về, nó cảm động muốn khóc. Món quà là cái áo len màu xanh ngọc do nội tự tay đan lấy. Cô Xíu kể lúc đó mắt nội đã yếu rồi, vậy mà nội vẫn ráng đan. Không phải chỉ mình con bé được áo. Anh nó, chị nó, những người em họ của các cô chú khác đều được. Xa cách mấy năm, nội không biết con bé lớn thế nào nên cái áo hở tay, hở bụng, nhưng nó yêu, nó quý cái áo ấy vô cùng. “Nội ơi, em Cassie và con bóp chân cho Nội nè, Nội mau tỉnh lại với chúng con, nghe Nội.” Con bé không ngừng kêu thầm. Vậy mà bà nội tỉnh lại thật. Hôm nội tỉnh, con bé đang mơ màng trên nền đá hoa của bệnh viện. Em Chris lao ra hành lang gọi y tá, Cassie và con bé bò đến bên giường bà. Con bé nắm chặt bàn tay, em Cassie vuốt tóc bà. Nội ơi, con bé gọi khẽ khi thấy nội he hé ánh mắt. Nhớ xưa mỗi lần về thăm nội, khi bị té lên té xuống trầy trụa con bé thường khóc vì nhớ má. Mỗi lần vậy bà nội lại gãi lưng, lại vỗ về… Khi nửa đêm thức giấc con bé thường mò mẫm trong bóng tối để tìm hơi bà. Có bà ở đó nó mới an tâm ngủ tiếp. Hôm nay bà tỉnh dậy, mắt bà ngơ ngác nhìn quanh, rồi bà cũng nhìn thấy đông đủ lũ cháu. Bà nội đã tỉnh, đã ăn được cháo trắng. Các anh chị em kêu nhau vào thăm, vây quanh bà nội. Người y tá Mỹ trầm trồ nhìn cảnh bà già trầu Việt Nam được con cháu thương yêu. Bầy em họ của con bé, đứa thì sinh ra, lớn lên ở Mỹ, đứa thì qua Mỹ quá sớm nên không đứa nào nói tiếng Việt ra hồn, vậy mà tụi nó vẫn thương nội khủng khiếp. Đang tới phiên Giao, người em họ lớn hơn con bé vài tuổi, dành được job bóp chân cho nội. Em Thái cầm máy quay phim, cả bọn cười nói tíu tít quanh bà. Em Thái nói nội cười để em chụp hình, nội kéo áo con bé, bảo đưa cho nội hàm răng giả. Cả bọn cười ngất, thương nội quá đi. Nội khỏe lại chút rồi, tụi cháu bắt đầu ba hoa. Con bé hỏi nội ăn cháo có ngon không, nội nói OK. Nội nói OK, vậy là nội tỉnh thiệt rồi, nội không sao rồi các em ơi. Chris dơ bộ bài rủ nội binh sập xám. Nội phỉnh em: -Thôi đi cậu, cậu chơi thua thì cậu lại đòi trả tiền cho cậu. Chơi vậy chán lắm, tôi không chơi nữa đâu. Anh con bé đứng đó vờ vĩnh: -Tụi con biết nội giàu mà. Sắp tết rồi, nội phải để dành tiền lì xì cho tụi con nghe nội. Nội nuốt một miếng cháo rồi nội chửi: -Lì xì cha bố anh. Tết Tây chứ có phải Tết ta đâu mà lì xì. Mà anh lớn rồi đấy, cứ lông nhông mãi. Anh lấy vợ đi rồi tôi cho ba trăm mà mua con lợn quay. Mấy anh chị em cười quá, thi nhau nhõng nhẽo với nội Con bé dành được chỗ đứng bên nội, đòi nội gãi lưng. Nội chăm chăm nhìn nó rồi buột miệng: -Ơ cái con này. Hồi bé mày đen nhẻm gầy nhom, sao giờ nhớn mày nhìn cũng được gái quá chứ lị. Nhưng nghe bà bảo nhá con, chịu khó học hành, đừng bồ bịch ba lăng nhăng vội. Con gái nhớn phải ý tứ nhá con. Nhớn rồi còn đòi gãi lưng, không xấu hổ à” Xấu gì nội ơi. Tụi con thương nội thấy mồ, được nội gãi lưng sướng thấy mồ. Sao con bé thích được nghe nội nói quá. Giọng nói của nội không trong, không trầm bổng, nhưng sao nghe thân thương, ấm áp. Con bé đòi bà đọc ca dao, vòi bà kể truyện cổ tích. Bà nhái giọng Nam, đọc cho mấy chị em nghe câu: “Vân Tiên cõng mẹ chạy dzô, đụng phải cái dzồ cõng mẹ chạy ra. Vân Tiên cõng mẹ chạy ra, đụng phải cột nhà, cõng mẹ chạy dzô”. Cả bọn cười quá là cười, nhưng Nội chỉ đọc một chút đã than mệt. Được lũ cháu đỡ nằm xuống, trước khi ngủ nội còn cẩn thận hỏi ông nội chúng mày đâu. Tội nghiệp ông nội mấy đêm rồi không ngủ. Nội chắt miệng: “Khổ, ông ấy già rồi còn ráng thức khuya.” Nói xong, nội nhắm mắt, chìm dần vào giấc ngủ. Nội ngủ nhẹ nhàng, bình an. Những nếp nhăn trên khuôn mặt già yếu của nội bỗng thấy như dãn ra, nhạt đi, thương quá là thương. Nhìn nội ngủ, con bé như thấy lại chính nó những ngày còn bé. Kìa, cây ổi sẻ, dàn thiên lý trổ hoa, khu vườn ngập đầy rau lang, cải cúc xanh rờn, bụi mía đang trở mình lớn dậy, chuyến xe ngựa lóc cóc lăn bánh… Nhưng không phải chỉ ở Đơn Dương mà còn Bảo Lộc, còn Tucson, còn Rancho Cucamonga, bất kỳ nơi nào con bé đã đi qua, nó đều được bà nội chăm sóc thương yêu. Những thành phố đó in đậm bóng hình bà nội. Chỉ có Cổ Hiền, Cổ Hiền xa xôi con bé chưa một lần được đặt chân tới, Cổ Hiền thương yêu, nội chưa một lần trở lại, nhất định nội phải khỏe thật nhanh để dẫn con về Cổ Hiền nội nha. Nhưng Nó có ngờ đâu, giấc ngủ đó của bà nội là giấc ngủ ngàn năm… Đưa Bà Nội đi rồi, trở lại nhà, căn phòng cũ lạnh lẽo hơn. Ông nội ngồi một mình trong bóng chiều. Con bé vô phòng, lặng lẽ nhìn ông, không biết nói gì, cũng không biết làm gì. Nó áp má xuống tấm nệm giường cũ bà từng nằm, hít hà. Mùi dầu bạc hà quen thuộc bà nội thường dùng còn sót lại vẫn hăng nồng. Bỗng nhiên nó hiểu là nó không cần nói gì nữa. Trong ngôi nhà này, hơi hướm bà nội, hình ảnh bà nội vẫn mãi mãi đầy ắp. Này nhé, hai đứa em họ đang bi bô bài Lục Vân Tiên. Này nhé bình trà còn âm ấp nóng, thơm ngát mùi trà móc câu với những mao trà giòn rụm. Này nhé ông nội đang kiểm lại bộ bài coi có mất con nào không như những lần chuẩn bị binh bài với nội… Ông nội không khóc, cũng chẳng nói năng gì. Bà nội đâu có mất. Hơi hướm bà vẫn nồng ấm căn phòng. Ông nội thương yêu, bà nội chỉ xa mình một thời gian rồi bà nội lại về. Ông uống nốt ly trà đi, đừng giành phần bà nội nữa. Khi nào bà nội về con sẽ pha bình khác ngay, bà nội thích uống trà móc câu trong lúc đánh bài, con nhớ mà. * “Bà nội ơi. Con về nè. Bà nội mở cửa cho con đi.” Tiếng gọi của con bé Vàng thơ dại ngày xưa đang lập lại trong lòng con bé. Nó lại thèm nghe bà nội chửi, nghe bà nội mắng. Nội ơi, nội chửi: “Cha bố mày, con Vàng” cho con nghe đi, con thèm nghe quá, con nhớ giọng nói của nội quá… Mới đó mà một năm rồi đây. Ngày mai con Vàng lại “về quê.” Về quê giỗ đầu bà nội… Tối nay hai bố con thao thức. -Ba ơi, con nhớ nội quá. Con ngủ không được. -Ngủ đi con, con sẽ gặp lại nội. -Thiệt không ba” -Thiệt chứ. Biết đâu chừng tối nay con gặp nội, nội lại lì xì cho con. -Không tối nay thì ngày mai con cũng gặp lại nội hà ba. Con phải dụ khị nội lì xì tết Tây luôn mới được. -Ừ ngủ đi con, đừng giở trò khỉ nữa. Lớn rồi, vẫn còn đòi bà nội lì xì. Thụy Nhã 12/19/01 |
| Check Point, Những Ngày Ta Mất Nhau Thụy Nhã Bài tham dự số: 02-421-vb71215Thụy Nhã là tác giả hai truyện ngắn Viết Về Nước Mỹ đã được phổ biến: “Im Đi Bà Ơi” và “Mắt Nâu”. Tác giả cho biết cô 21 tuổi, định cư tại Utah, đang học Psychology năm cuối, làm việc bán thời gian tại Security Check Point, nơi kiểm soát hành lý, hành khách trong Salt Lake International Airport. Bài viết lần này của Thụy Nhã là những ghi nhận đặc biệt từ chính công việc hàng ngày cô và các đồng nghiệp đang làm, để bảo vệ an toàn cho các chuyến bay. 1:20p.m, choàng vội cái áo uniform, mang đại chiếc vớ rách, con bé lao ra khỏi nhà. Bước ra cửa, giật mình thấy mùa đông đã tới, cái lạnh làm nó co ro. Cái blazer mỏng dính không đủ ấm, vậy mà nó lại quên mang áo khoác, rõ khổ! Vừa phóng như bay trên Bangerter Highway, nó vừa đếm từng phút… 1:29p.m, bãi đậu xe dành riêng cho nhân viên ở phi trường hiện ra. Giờ này ca sáng chưa tan tầm, nên để tìm được một chỗ đậu là cả một vấn đề nan giải. Nó lái xe vòng vòng giữa năm trạm xe, chín, mười, mười một…mười ba, trạm nào cũng chật cứng. Không kịp giờ nữa rồi. Hôm nay nó phải tới sớm để giúp cô Thanh học chạy cái máy x-ray. Hôm qua cô Thanh đã dặn dò: “Hà ơi, cháu nhớ tới sớm giúp cô, sao từ trước tới giờ, chưa có cái nghề nào làm cô thiếu tự tin như nghề này”. Tối qua nó nhớ đã nói chắc như bắp, đã cam đoan thế nào cũng tới chỗ làm đúng giờ của ca trưa để giúp cô Thanh, thế mà… Cuối cùng nó cũng trèo lên được chiếc shuttle dành riêng cho employee, trên xe rực rỡ đủ màu đủ sắc. Màu xanh nước biển dành riêng cho công nhân viên Delta, màu xanh lá cây dành cho mấy đứa nhóc tỳProspect, màu trắng xám dành cho nhân viên security, màu navy và màu trắng dành riêng cho công nhân viên Southwest, màu trắng sọc xanh dương dành cho nhân viên công ty Management Calhoon… Người tài xế già vui tính hát vang: “God Bless America, Hi…Ho…” Chú Josh, mặc cái áo nâu lấm tấm dầu máy bay hào hứng hát theo. Nó vội vàng nhìn qua cửa sổ, rùng mình: “Mùa đông đã về rồi đây!” Tuyết đang phủ vội vã trên những con đường vừa được mở rộng, tuyết ngập tràn trên những công trường dở dang, sắp hoàn tất để chuẩn bị cho Olympic 2002. Tuyết háo hức đón chào mùa đông! Người dân Utah háo hức đón chào mùa đông! Mùa đông năm nay Thế Vận Hội sẽ được tổ chức ở đây, ngay tại cái sân bay tỉnh lẻ, heo hút này… bất chấp những đe dọa, bất chấp bọn khủng bố hoành hành, bỏ mặc chiến tranh đang đến hồi gây cấn. Người Utah yêu thể thao, yêu chuộng sự an bình. Và nó, con bé nhỏ xíu, gió thổi cũng bay, đang đóng góp một phần để mang tới sự bình an đó. Năm nay là năm thứ ba nó làm tại Security Check Point. Hai ngày sau lễ Tạ Ơn, phi trường đông nghẹt người. Hàng đoàn người với những túi đựng dụng cụ trượt tuyết khổng lồ đang xếp hàng dài trước tấm bảng check in. Một số đông khác tụm năm, tụm ba trước khu vực dành riêng những người đưa đón thân nhân, không còn nữa những nụ hôn từ giã khi phi cơ gần cất cánh. 1:35p.m, nó tới được Terminal. Hành khách lũ lượt thay phiên nhau xếp hàng, mọi người thủ sẵn vé máy bay và picture ID trên tay. Chênh chếch phía trên những chiếc cổng nhấp nháy xanh đỏ, một lô “hàng cấm” được liệt kê. Mặc dù mấy cái monitors chiếu rất rõ các vật dụng bị cấm, nhưng người Mỹ “vô tư”, vẫn mang vô sân bay như thường. Sau khi chìa cái thẻ employee cho một nhân viên Delta kiểm soát, nó tiến đến Gate số 1, ông Chris cười đôn hậu: “Ha, are you cold””. Lạnh không” Lạnh chứ! Nhưng lạnh thế nào nó cũng cởi cái áo blazer ra để vào x-ray. Trong áo có chùm chìa khóa, nó không muốn làm cái Gate ring inh ỏi. Pass được cái Gate, Jeremy chặn nó lại ngay tại x-ray: “Ha, What do you have in your jacket”” Trong jacket có gì đâu, chỉ vỏn vẹn chùm chìa khóa, nhưng nếu thắc mắc, cứ check tự nhiên. Làm nhân viên ở đây, nó thừa hiểu nguyên tắc căn bản: “Nhân viên cũng bị check, ai khả nghi đều đáng bị check, muốn check cái gì, cứ check”. Jemery tìm ra được đồ gắn chìa khóa hình thánh giá bằng sắt của con bé, cái thằng láu táu cứ tưởng con bé mang dao gọt xoài, gọt táo vô sân bay. Thường ngày Jemery là một người lười biếng, lâu lâu nó còn ngủ gà, ngủ ngật trên máy chạy x-ray, nhưng kể từ cái ngày kinh hoàng đó, không những Jemery mà tất cả những nhân viên khác của Security Check Point đều bỏ hẳn tánh lơ là, thiếu cảnh giác. Con bé nhớ ông già Chris đã từng nói: “Trên nước Mỹ này, bất kỳ làm việc tại công ty nào, công nhân đều có thể biểu tình, đình công để đòi thêm quyền lợi, nhưng chúng ta thì không. Chúng ta không có quyền bỏ đi, vì nếu chúng ta làm vậy, ai sẽ bảo vệ cho sân bay” Chúng ta phải làm việc hết sức mình, đôi khi không phải vì tiền, nhưng vì sự an toàn của mọi người. Đối với tôi, mạng sống hàng ngàn lần quan trọng hơn tiền.” Chris nói đúng. Cô Thanh lắc đầu nhìn con nhỏ: “Sao tới trễ vậy, Hà” Cô còn chờ cháu train cô chạy cái máy x-ray đó. Cô vẫn sợ nó quá hà.” Con bé cười bù trừ, xin lỗi. Nói chuyện được hai phút, hai cô cháu được nhận ngay nhiệm vụ trong ngày: “Chạy chiếc máy monster-xray”. Cô Thanh đứng. Cái máy chạy nhanh như chớp, con bé căng mắt: -Cô Thanh, xì tóp nó chút, cháu thấy cái spot màu xanh blue này nhìn lạ lắm. Cô Thanh kinh hãi: -Hình như cái pocket knife ha.û Hà, sao cháu nhìn ra hay vậy” -Hay gì đâu cô ơi, dù gì cháu cũng làm đây ba năm rồi. Làm lâu có nhiều kinh nghiệm mà cô. Con bé cười hì hì, lôi cái bag ra khỏi x-ray machine. Hai cô cháu đứng hiên ngang trước bà passenger. Con bé lên tiếng: -Is this your bag mam” May I take a look inside please” Bà Mỹ già khó chịu: -Do I have any choice” Go ahead! Dĩ nhiên bà ta còn sự lựa chọn nào, ngoài việc để con bé lục soát cái giỏ. Bà ấy cũng có thể say “no”, nhưng say “no” có nghĩa là ở lại trên mặt đất, khỏi bay. Con bé rờ rẫm, lục lọi. Cái pocket knife nằm ngay trong chùm chìa khoá nên nó không mất thời gian lắm đã lôi ra được ngay. Nó vung vẩy chiến lợi phẩm, nói từ tốn: -Thưa bà, pocket knife này không được phép mang lên máy bay. Bà có thể vui lòng mang ra xe hoặc check in trước khi vào khu vực an toàn này, nếu không, xin lỗi bà, chúng tôi đành tịch thu của bà vậy. Bà già trừng mắt, dữ giằn thấy rõ: -What do you mean” It is only a pocket knife. Nghe giọng nói vô tâm của bà già, con bé muốn…hét lên cho đỡ tức. Nhưng không, nó đang làm việc, đang mặc áo Security, nó không có quyền la hét. Phải ráng nuốt hết cục tức vô người, nuốt xuống, dịu xuống để tiếp tục hòa nhã theo kiểu: “Khách hàng là thượng đế”: -Thưa bà, chỉ vì cái pocket knife mà hơn năm ngàn người đã thiệt mạng. Bà có muốn một September 11th khác xảy ra không” Bà già chày cối tiếp tục cãi: -Mấy cái airport kia nó OK hết, chỉ có mày. Có phải mày muốn làm khó dễ tao không” Nó không biết mấy cái airport kia đã OK cái pocket knife này hồi nào. Trước đây những pocket knife với độ dài ngắn hơn 4 inches được phép pass security, nhưng bây giờ, nó phải dứt khoát thôi, hết giờ rồi: -Sorry Mam, we have to take it otherwise I afaid you might not be able to flight today. Mẹ Mỹ già hậm hực rút con dao ra đưa cho nó, trước khi đi còn nói lại một câu giữ thể diện: -This is a present for you. Con bé không vừa, nó la lớn: -This is not a present. Mọi người nghe con bé la, cười xòa. Một người passenger khác chứng kiến từ đầu tới cuối vụ gấu ó vừa rồi cười khoái chí: -Mày giỏi, hay quá. Cảm ơn mày đã thẳng cánh cò bay như vậy. Có người làm việc năng nổ, hết lòng như mày tao mới thấy an tâm. Không cần cảm ơn tôi đâu bà ơi, chỉ cần mấy bà đừng giở thói mệnh phụ phu nhân ra là tui mừng húm rồi. Cô Thanh nãy giờ yên lặng đứng cạnh con bé, lên tiếng: -Trên báo, trên Tivi, ngay cả trước sân bay cũng có để bảng list những thứ đồ cấm, vậy sao mấy người này còn mang vô, Hà” -Cô Thanh ơi, người Mỹ mau quên. Thương đó, xúc động đó, căm phẫn đó, gào thét đó, nhưng khoảng một tuần sau là họ quên hết trơn. Không chỉ có pocket knife đâu nha cô Thanh, có bữa cháu còn thấy nguyên một hộp dao cắt beef steak trên x-ray nữa. Cô Thanh hoảng hốt: -Thôi thôi Hà ơi, chắc cô không làm ở đây được đâu, ghê quá. -Bình tĩnh cô Thanh. Cô phải ở lại với cháu, mấy năm nay, cháu là người Việt duy nhất bám trụ lại ở sân bay này, buồn lắm cô ơi! Sân bay là nơi hội tụ mọi sắc dân, từ Mễ, Mỹ, tới Pakistan, Indian, Native American, Cambodian, Chinese, Korean, cho tới Samoan, Philippino… nhưng hiếm hoặc không hề thấy bóng dáng người Việt. Người Việt ít thích làm tại Security Check point. Có nhiều lý do dẫn tới tình trạng này, lý do thứ nhất vì làm ở đây có quá nhiều Stress, bất cứ công việc có liên quan tới sự an toàn của người khác, đến tánh mạng của người khác, đều là một công việc khó nuốt. Lý do thứ hai, nhân viên Security đi làm với một mức lương cố định, chỉ dừng lại ở mức lương tối thiểu. Trước September 11th, lương giờ của nó vỏn vẹn bảy đồng, còn rẻ hơn lương của một anh đứng bán Burger King, và không có bất kỳ một benefit nào cả. Làm ở đây ba năm, nó nhiều lần “đau lòng” nhìn cảnh “đến rồi đi” của vô số người. Nhưng sau biến cố September 11th, sau khi Congress tán thành nghị luật phải tăng lương và chính phủ hóa hệ thống Security, hàng loạt người đã thay phiên nhau tới nộp đơn (riêng công ty Security Huntleigh tại Salt Lake city đã nhận được hơn bảy trăm lá đơn), và cô Thanh là người Việt duy nhất đã được nhận. Ba mươi phút tại x-ray trôi qua nhanh chóng. Sắp tới giờ phải lìa x-ray để rotate qua vị trí khác, nó tắt máy, quay sang hỏi cô Thanh: -Cô tự tin hơn được chút nào chưa, cô Thanh” -Chưa, Hà ơi, sao cái nào cũng xanh xanh, cam cam giống nhau, mà cái thì là Pocket Knife, cái thì là Lips Stick, cái lại là đồ cắt móng tay, kỳ quá Hà ơi. Chạy x-ray là việc làm khó nhất tại security check point, người ngồi máy đòi hỏi phải có thị giác tốt và sự cảnh giác cao độ nên con bé hiểu được tâm trạng của cô Thanh bây giờ. Nhân viên nào mới vô cũng vậy, cũng đều đổ mồ hôi hột với cái máy, nên nó không ngạc nhiên lắm, nó từ từ nói: -Mình có thể phân biệt sự khác nhau của kim loại bằng kích thước của vật đó, hình dạng của vật đó, hay ngay cả bằng sự contrast của màu sắc. Nếu cô nhìn kỹ, sẽ thấy màu của một con dao đậm hơn gấp nhiều lần so với một thỏi son môi. Cô Thanh nhìn con bé riễu: -Hà ơi, nhìn cháu cứ chụp, giật “hàng cấm” như cái máy, cô thấy mình mất tự tin quá. Con bé chọc lại: -Chừng một tuần nữa, cô sẽ “chụp giật” không kém gì cháu. Mình cứ từ từ mà “tiến” há cô! Nói chưa hết câu, nó nghe tiếng Mat gọi giật giọng: -Ha, Tracer. Câu lệnh cụt ngủn, vỏn vẹn hai chữ, người ngoài nghe chẳng hiểu mô tê gì, nhưng con bé hiểu thằng Mat muốn gì. Tracer là một cổ máy nhỏ, trị giá hơn bốn chục ngàn đô, dành riêng cho việc kiểm tra chất nổ. Chỉ cần lấy cái sniffer (dụng cụ đánh hơi) đi một vòng cái giỏ, trong vòng 30 giây sẽ biết ngay cái giỏ có đủ tiêu chuẩn an toàn không. Chỉ có ba mươi giây, thời gian quá ngắn để đảm bảo sự an toàn trên không, nhưng không phải ai cũng sẵn sàng cộng tác, như trước mặt nó bây giờ là một tiếp viên hàng không, nhân viên hãng Delta: -I am a flight attendant, I do not want anyone to touch or check my bag. Con bé sững sờ. Nó cứ tưởng hơn ai hết, phi công phải hiểu rõ luật lệ và phải hết lòng hợp tác, nhưng ai ngờ. Nó nhìn thẳng ánh mắt tóe lửa của chàng trai cao ráo trước mặt. Lại từ từ, lại thưa ông, thưa bà: -Thưa ngài, dù cho ngài làm chủ cái sân bay này đi nữa, tôi vẫn có quyền làm random test trên cái giỏ của ngài, xin mời ngài theo tôi. Phản đối vô hiệu, chàng tiếp viên hàng không hầm hầm đi theo con bé và cô Thanh. Trong mấy phút đồng hồ, anh chàng kể lể nào là đã từng bay đi nhiều nơi, nhiều chỗ, nhưng chưa thấy chỗ nào “dị hợm” như chỗ này. Chàng liệt kê một tiểu sử với nhiều thành tích “bay nhảy”, và cuối cùng chịu thua trước vẻ mặt “chai đá”, lì lợm của con bé, đành hít hơi, buông một câu: -Sorry, I just made a fool out of myself. You did a good job. Thank you for keeping the sky safe. Con bé cũng cười cười: -Cảm ơn ngài, xin chúc ngài thượng lộ bình an. Người tiếp viên hàng không đi rồi, con bé quay sang cô Thanh, hai cô cháu cười đắc thắng. Có thế chứ, đôi khi mình đâu cần nói nhiều để dành lại lẽ phải. Nó tiếp tục chọn ra những cái bag khác, lần này, nó gặp được một người tốt. Đó là một chàng trẻ tuổi người Mỹ, anh ta bắt chuyện, tự giới thiệu là Greg, hiện đang cư ngụ tại New York. Con bé vừa nghe tên New York, trái tim nó lại bần thần. New York đối với nó sang trọng như trong mơ. New York, thành phố nó vẫn mong một lần gặp mặt. Greg sống ở New York, anh hiểu công việc con bé đang làm bây giờ là quan trọng thế nào, anh cảm ơn, con bé cũng cảm ơn, nhưng tiếng cảm ơn của nó xúc động khác thường: “Cảm ơn Greg… chúc anh và thành phố của anh nhiều may mắn.!” 3:15p.m, Mat hét: -Hà, Thanh. Break. Hai cô cháu hồ hởi đi xuống concourse, ngồi duỗi chân, duỗi tay tận hưởng 15 phút thần tiên. Ngồi ở đây, có thể thấy được những ngọi núi tuyết nhấp nhô, trùng điệp với những tòa building cao ngất. Cô Thanh đùa: -Cảnh đẹp quá, ngồi đây làm thơ được đo,ù Hà ơi! -Hông chừng mình sẽ được nổi tiếng há cô! Nó và cô Thanh chưa kịp viết tròn bài thơ trong… mơ đã phải vươn vai về vị trí cũ. Sau break, con bé giao nhiệm vụ handwand một cô người Mễ để cô Thanh thực tập. Cô Mễ “No English”, cô Thanh vận dụng hết vốn liếng tay chân, cuối cùng ngôn ngữ… câm cũng thắng. Nhìn cô Thanh vụng về cầm cái metal detector trong tay, con bé chợt nhớ tới những ngày đầu tại Check Point… Dạo đó nó là người Việt duy nhất trong cái “Diversity Melting Pot” với đầy đủ các sắc dân này. Sống lâu lên lão làng, mạnh ăn hiếp yếu, khách hàng là thượng đế… Những luật rừng đó lắm khi làm con nhỏ muốn… khóc. Nó nhớ tới Royce, người đàn ông da đen từng dạy nó: “Khi đi làm, Hà phải biết mọi người không thể nào nhìn Hà như một người thân. Hà là người xa lạ với họ. Ngay cả đối với Hà, họ cũng là người xa lạ thôi, đúng không. Bởi vậy đừng buồn nếu như họ có lỡ ăn hiếp Hà, đừng mang những chuyện buồn trong lòng. Một người hành khách sau khi họ đi ra khỏi Check Point, họ sẽ quên đi những gì họ nói. Một người co-worker của Hà, khi về tới nhà, anh ta sẽ quên ngay những chuyện đã xảy ra tại sân bay. Tôi mong Hà cũng sống được như họ. Chỉ cần Hà coi nhẹ được, Hà sẽ thấy thoải mái hơn”. Cảm ơn Royce, cảm ơn anh đã dạy tôi một bài học sống. Tôi sẽ không quên anh, tôi sẽ không bao giờ quên được bài học đáng quý mà anh đã dạy tôi. Royce bây giờ đã bỏ Check Point. Hà nghe nói anh bỏ Check Point, đi lái UTA. Ngày anh đi, Hà không kịp gặp anh lần nữa để cảm ơn anh về những lời lẽ chân tình buổi đầu. Cô Thanh đang lúng túng rà đi, rà lại cái túi quần Jean, không biết có gì trong đó mà máy dò kim loại réo giữ quá. Cô ngập ngừng ra dấu muốn cô Mễ móc túi. Cô Mễ e lệ lôi ra chùm chìa khóa, cười bẽn lẽn, thì ra trong chùm chìa khóa của cô có cái Pepper Spray, lúc bị cô Thanh tịch thu đồ xịt mắt, cô Mễ buồn bã, hết thèm cười. Cái Pepper Spray, thành tích đầu tiên được cô Thanh chuyển lại làm “chiến lợi phẩm”. Cô Mễ ra dấu tiếc rẻ, nhưng biết làm sao được. “Chiến lợi phẩm” sẽ được Mat chuyển xuống Police Department, và từ đó được chuyển đi đâu thì… ai mà biết được. Khoảng 4p.m, nhịp độ check in chậm lại. Con bé được rảnh mắt nhìn chung quanh. Nó thấy cái đèn đỏ màu thạch lựu của Starbucks kề bên, thấy luôn ánh sáng lấp lánh của trái địa cầu thủy tinh của cái Gift Shop bên cạnh. Mắt nó lướt về một cặp tình nhân đang ôm hôn nhau tha thiết trước khu check in, bỗng nhiên nó nhớ da diết một người. Dạo ấy Check Point chưa có được những chiếc cổng xanh đỏ như thế kia, chưa có được những máy móc tiện nghi như thế này, dạo ấy anh và nó còn có nhau. Nó nhìn ra Gate số 1, bàng hoàng mường tượng ra… anh, và chợt thấy lòng mình… chùng lại. Nó nhìn đi chỗ khác, cố quên đi những kỷ niệm đã qua và nhìn thấy một cụ ông đang đẩy chiếc wheels chair cho cụ bà, hai ông bà tình tứ thiệt. Cạnh chiếc máy x-ray, một cô bé đang nhảy tung tăng với đôi hài màu đỏ, cô bé cười tíu tít, líu lo như chú vành khuyên. Một cô gái chắc còn trẻ lắm, ẳm trên tay chú bé sơ sinh, chắc chỉ vừa đầy tháng chào đời. Lần đầu tiên tới sân bay, chú mở mắt ngơ ngác: “tôi đang ở đâu vậy nè””. Nhìn vào ánh mắt chú bé, con bé chợt thấy cuộc sống này thật đẹp làm sao, thật đáng yêu làm sao! Hằng ngày đứng đây, con bé nhìn thấy muôn vạn người đi vào đi ra. Có người vui vẻ, niềm nở, có người bồn chồn, hấp tấp, có người giận dữ, phẫn nộ. Họ đến rồi đi. Không biết họ đi đâu, không biết họ về đâu. Kìa cô bé chân đi hài đỏ, em đang đi đâu” Kìa chú bé mắt nhìn ngơ ngác, em đang về đâu” Dù họ có đi đâu, về đâu, Hà cũng biết họ có một nơi để về, có một người chờ đợi. Sẽ có những vòng tay ôm chầm em bé đi hài đỏ. Sẽ có những nụ cười hạnh phúc rạng ngời đón chào chú bé mắt nai ngơ ngác. Họ đi, và họ có một nơi để đến. Nhưng không hiểu sao, bỗng nhiên mắt con bé tối sầm. Trong một phút, nó không còn thấy gì hết. Em bé đi hài đỏ biến mất, chú bé mắt nhìn ngơ ngác biến mất, người mẹ trẻ biến mất, bà lão biến mất, ông lão biến mất. Không còn môi cười chúm chím của cô bé đi hài đỏ, không còn vòng tay ấm áp của bà mẹ trẻ, không còn ánh mắt âu yếm của mối tình già, không còn một âm thanh nào, không còn một sự sống nào tồn tại ở Check Point. Tim Hà nhói lên, trong đầu cô văng vẳng tiếng người đàn ông: ” Em yêu, anh gọi để nghe giọng nói ngọt ngào của em lần cuối. Anh không về nhà ngày hôm nay, có thể, anh không về nhà được nữa. Nhưng em yêu, chỉ cần em và con nhìn quanh căn nhà yêu dấu của chúng ta, em sẽ thấy được anh, con sẽ thấy được anh. Anh đã về tới nhà rồi em ạ, bố về tới nhà rồi con ơi”. Mắt Hà cay xè, hình ảnh chiếc máy bay nổ tung, những mảnh vỡ vụn, khói mù bay khắp bầu trời hiện lên rõ mồn một. Tự dưng Hà ứa nước mắt… Không. Em bé đi hài đỏ không thể chết, chú bé vừa chào đời không thể chết, bà mẹ trẻ không thể chết, ông lão, bà lão không thể chết. Họ phải sống, phải đi, và phải đến được nơi họ cần đến. Họ phải được gặp lại người thân, phải nhìn thấy những vòng tay vẫy gọi! Họ ra đi, và họ phải có ngày về… Hà ơi, cô Thanh ơi, mọi người ơi… hãy làm tất cả để mang mùa xuân về lại Check Point. Hãy làm tất cả để đôi môi cô bé rực sáng nụ cười. Hãy làm tất cả để chú bé được ấm áp trong vòng tay mẹ, tay cha. Và hãy làm tất cả, để Check Point sẽ không còn nữa những ngày… ta mất nhau. Thụy Nhã 12/08/2001 |
| Mắt Nâu! Thụy Nhã Bài tham dự số: 02-406-vb71124Thụy Nhã hiện cư trú và làm việc tại một tiểu bang miền Trung Tây Hoa Kỳ. Bài “Viết Về Nước Mỹ” đầu tiên của côâ, truyện ngắn “Im Đi Bà Ơi”, đã được phổ biến trên Việt Báo, từng cho thấy một bu’t pháp đặc biệt khác người. “Mắt Nâu” là câu chuyện tình của một thiếu nữ hai dòng máu Việt-Afghanistan, trong khung cảnh New York bị khủng bố tấn công ngày 9-11. Câu chuyện cho thấy sức tưởng tượng mãnh mẽ của tác giả. Mong Thuỵ Nhã sẽ còn tiếp tục viết. Trước khi đi làm John còn tỉ mỉ nói với tôi “em ở nhà chuẩn bị hành lý, chiều anh về mình bay qua ra mắt má”. Mới tối hôm qua anh ngỏ lời cầu hôn. Không biết John học đâu ra câu tỏ tình hay đáo để “Bây giờ Mận mới hỏi Đào, vườn Hồng đã có ai vào hay chưa”. Tôi ngạc nhiên lắm nhưng cũng ra dáng trả lời anh “Mận hỏi thì đào xin thưa, vườn Hồng có lối nhưng chưa ai vào”… John hỏi “làm vợ anh nhé”, tôi còn chưa kịp ừ hử gì, anh đã lồng vào tay tôi chiếc nhẫn. Vậy, tôi sẽ là người thứ hai trong họ ngoại, lên xe bông với người “dị chủng”. Người đầu tiên “mất gốc”, chịu lấy một người ngoại quốc là má tôi. Hồi trước, lấy chồng là lính Mỹ đen, Mỹ trắng thì được gọi là Me, Me Tây hay Me Mỹ. Riêng má tôi lấy chồng Arab, mọi người không biết gọi là gì nhưng tiếng đời cũng không kém phần chua cay. Bà chịu lấy ông chỉ vì một điều thật đơn giản. Thời chiến tranh, ai cũng tranh giành cướp bóc, mạnh thì sống, yếu thì chết. Vậy mà ba tôi theo lời má kể lại hiền như cục đất. Bà mê nhất là đôi mắt nâu “thần bí” của ổng. Ánh mắt của ổng bám theo má suốt cuộc đời nên ngay cả sau khi chiến tranh kết thúc… ba tôi mất tích, má tôi vẫn ở vậy. Tôi sanh ra không biết mặt cha, chỉ thấy tấm hình vàng ố ba má chụp chung với nhau ngày Tân Hôn. Đám cưới hai người cả dòng họ một trăm mấy chục người không ai tới dự. Ai cũng chê má tôi ngu, đã mang tiếng lấy Mỹ thì phải nhắm vào mấy thằng chức cao, chức lớn. Ai đời như má tôi, lấy một tên sĩ quan nghèo túng, nội nhìn cái mặt đủ thấy “cả đời làm cu li”. Tôi hỏi má “đám cưới như vậy có buồn không.” Bà nói “cũng có tủi thân một chút, nhưng không lấy được ổng má sẽ ân hận cả đời”. Tôi thường hỏi bà về ông, về những gì ông làm, khiến bà chấp nhận ở quá bụa suốt cuộc đời…”Con nghĩ đi, ba con người Arab, có liên quan gì tới đất nước của mình đâu. Vậy mà ổng chịu bỏ cái bằng Luật đang học ở Mỹ để tình nguyện qua chiến trường Việt Nam. Má chịu người như vậy. Má nói lúc sanh thời ba tôi rất khổ. Ông “bị” sanh ra ở Afghanistan, một đất nước luôn bị thống trị bởi bất công và bạo tàn. Mẹ ông chửa hoang năm bà 15 tuổi. Lúc khám phá ra, mọi người trong làng điên cuồng cột bà lại, giải bà đi khắp nơi như một tội đồ, đau xót thay… người đàn ông hãm hiếp bà lại chính là tên ném đá nhiều nhất. Sống sót sau trận ném đá, bà bỏ xứ ra đi với bào thai vừa thành hình. Bao năm trôi giạt, bà được đặt chân lên nước Mỹ, khi đó ba tôi vừa 7 tuổi. Ông đã từng lang thang hết các đường phố trên nước Mỹ, khi thì bằng xe bus, đôi khi hitch hike và lắm lúc đi bộ. Các bữa ăn của ông và bà nội là những củ khoai tây còn xót lại trên các cánh đồng, là những phần ăn thừa trong các quán Bar, là những bữa ăn bố thí của các dì Phước… Sau này, khi đã đủ sức đi làm, ông bắt đầu làm việc ở một tiệm đóng giày và mướn được một căn nhà ổ chuột. Lúc này ông và bà nội không phải lây lất đây đó nữa. Trong căn nhà ổ chuột ở New York, ông bắt đầu lại từ đầu. Đi làm từ sáng đến tối, khuya, ông lấy lớp học thêm ở một trường cộng đồng gần nhà. Từ nhỏ tới lớn ông không hề được đi học, nhưng bằng một ý chí mãnh liệt, trong một thời gian thật ngắn, ông lấy được mảnh bằng GED. Bằng cấp đầu tiên trong đời… Câu chuyện đời ông dài như những câu chuyện của Lục Vân Tiên, của Trần Minh khố chuối. Tôi thích nghe kể chuyện về ba hơn bất kỳ câu truyện cổ tích nào trên đời, vì tôi được thừa hưởng ánh mắt của ba, thừa hưởng mái tóc nâu bóng như những cô gái Arab. Mang trong người hai dòng máu, tôi được đối xử như một người xa lạ chính ngay trong gia đình của mình. Bà ngoại thường dành cho tôi củ khoai xùng, khoai sượng, trong khi bé Anh con dì Năm lại được ăn khoai mật chấm đường. Các cậu dì xua đuổi tôi như đuổi tà. Nếu trong gia đình có gì bị mất, người đầu tiên bị tra vấn sẽ là tôi. Trong suốt khoảng đời thơ ấu, tôi không hề có bạn. Trẻ con trong xóm cười tôi không cha, mọi người bỏ rơi tôi như một thứ đồ dơ bẩn. Thú vui duy nhất trong những ngày tháng buồn tủi đó là nghe má kể về ba. Những sự tích mà tôi nằm lòng. Tôi vẫn hình dung về ba qua những lời má kể “một người cao lớn, hiền như cục đất”, và chắc sẽ thương tôi nhiều lắm. Tôi nói với má về sự bất công của bà ngoại và những người xung quanh. Lúc nào tôi cũng hỏi bà “không biết bà nội có đối xử với con như bà ngoại không”. Ma ùtôi nói bà cũng không biết…vì bà nội đã mất trước khi ba được vô trường Luật. Cuộc sống thật bất công phải không má, người tốt thường ra đi sớm hơn người xấu! Mãi đến năm 1987, má con tôi mới được rời Việt Nam theo chính sách đền bù của Hoa Kỳ. Qua tới Mỹ, tôi vẫn không thoát khỏi cảnh “lạc loài” vì tôi không được trắng như con lai Mỹ và cũng không đen được như Mỹ đen, và thảm hơn nữa, nước da tôi ngăm ngăm chứ không được vàng như nước da người Việt. Thời niên thiếu của tôi là những ngày ngồi một mình trong phòng vắng, ngắm ánh trăng qua cánh cửa hé mở ở basement, là những lúc làm bạn với cái Tivi sau những giờ tan học. Tôi không được chấp nhận trong cộng đồng người Việt (cho dù không bị hắt hủi bằng lúc ở Việt Nam), không thể hòa đồng vào cộng đồng Mỹ (vì tiếng Tây tiếng U, tôi chẳng biết tiếng nào), và tôi càng không thể hòa nhập vào cộng đồng người Arab. Hay nói đúng hơn tôi không thích và không muốn hòa nhập vào xã hội đầy bất công của người Arab, những người luôn luôn xử dụng đàn bà như một công cụ hay đúng hơn là một công cụ tình dục. Lớn lên một chút, khi bạn bè chung quanh hớn hở với những buổi vũ hội…như con Sarah trong bọn Cheer Leader được thằng Jack trong đội Football thuê nguyên một chiếc Limo đi dự Senior Prom, như con Hồng được thằng Thịnh tặng chiếc áo dạ hội đắt giá ở Nordstroom… hay kể đến con Thi mặt đầy mụn cũng được người ta mời đi nhảy… tôi vẫn đơn độc, lủi thủi một mình. Bọn con trai kháo nhau, chúng có thể coi tôi là bạn, một người bạn thân… nhưng không thể coi tôi là người tình. Năm cuối cùng của High School, tôi có quen biết Trịnh, người con trai học chung lớp Calculus mà tôi đã để ý từ lâu. Tới hồi thấy quen biết có thể thành hẹn hò, tôi đã liều lĩnh ngỏ lời mời Trịnh đi uống cafe. Trịnh hứa sẽ gặp tôi lúc tám giờ ở quán Phrenz. Vậy mà tôi chờ mãi từ 8 giờ tối cho tới 12 giờ… Chờ tới lúc tiệm đóng cửa và thực khách đã về hết, vẫn không thấy Trịnh. Tôi điên cuồng lao ra khỏi tiệm, nước mắt rơi thật nhiều ngày tôi tròn 18. Sau đó tôi gọi Trịnh và hỏi có phải Trịnh cũng thích tôi không, tại sao đã nhận lời mời lại không tới… Câu trả lời đã làm tôi đau và mặc cảm trong suốt thời gian dài “Trước giờ Trịnh vẫn coi Kate như người bạn thôi. Thấy Kate vồn vã quá, Trịnh không dám từ chối thẳng sợ làm Kate buồn”. Tôi hỏi Trịnh tại sao không thể cho tôi một cơ hội, có phải vì tôi quá xấu hay vì tôi không được tốt” Trịnh nói “Kate không những không xấu mà còn rất đẹp, rất dễ thương… nhưng có một điều, Trịnh không chịu nổi ánh mắt của Kate… Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn mà thiệt tình, nhìn vô ánh mắt nâu trong suốt của Kate, Trịnh thấy… làm sao đó”. Tôi bật khóc, chẳng lẽ mắt nâu không biết khóc sao hả Trịnh” Sự kiện Trịnh cho tôi leo cây lan rộng khắp trường như một cơn lốc. Những đứa vẫn thường ganh tỵ với điểm số của tôi được dịp lên mặt. Tụi nó kháo nhau tôi đã bám theo Trịnh năn nỉ, van xin tình yêu và đã bị từ chối thẳng thừng. Bình thường tôi vẫn nhận ra sự xa cách trong tình bạn của tụi nó, bây giờ khoảng cách càng ngày càng xa hơn. Nửa năm lớp 12, Lam, đứa bạn thân nhất của tôi theo ông bà già qua Texas. Lam đi, tôi không những mất luôn đứa bạn duy nhất mà mất luôn sợi dây nối giữa tôi và đám bạn lắm lời, thích đâm chọc. Tôi không dám nói với má về lần vấp ngã đầu tiên trong đời. Con cái lớn lên thường tâm sự với bạn nhiều hơn với cha mẹ. Tôi không có cha và cũng không có bạn bè, người thân…Tôi có thể nói với má về một bài kiểm được điểm A, về một lời khen của thầy giáo, về một đại học lớn đã nhận tôi và cho học bổng…về tất cả những gì sẽ làm các bậc sanh thành hãnh diện về con cái của họ. Nhưng tuyệt nhiên, tôi không thể kể cho bà nghe về những cảm giác của cô con gái 18 tuổi, và không bao giờ tôi có thể nói nên lời nỗi đau ngầm chảy trong lòng. Những lần trò chuyện giữa tôi và má ít đi. Đôi khi, tôi cảm thấy bà và tôi như nhánh sông đang dần tẻ về hai hướng! Trong những dịp hiếm hoi hai mẹ con nói chuyện với nhau, bà chỉ hỏi tôi về trường học, về những dự tính của tôi trong tương lai. Nhưng chưa một lần nào bà hỏi tôi về chuyện tình cảm. Đối với bà tôi vẫn là một con bé chỉ biết ăn học, chẳng biết yêu đương hay tình cảm là cái chi. Hơn nữa với quan niệm người Á Đông, yêu sớm là khổ, còn con nít thì đừng nên yêu, nên, tôi chẳng có dịp nào để nói với bà về những rung động trong lòng… Tôi có thể thấy được sự hãnh diện trong ánh mắt má vì tôi đã 18 tuổi mà chưa một lần đi chơi với bạn trai, vì chưa bao giờ có đứa con trai nào gọi điện thoại tới nhà để kiếm tôi cả…vì trong những ngày cuối tuần, tôi không đi chơi mà vùi đầu vào việc đọc sách hay học. Bà nghĩ rằng tôi là một đứa con ngoan, sống trong một gia đình nề nếp nên rất nết na, mẫu mực. Nhưng bà đã không bao giờ biết tôi đã từng yêu, và từng bị vấp ngả, từng khóc vì thất tình. Ở tuổi 18 tràn trề sức sống, tôi bị loại dần ra khỏi cuộc chơi. Tôi lúc nào cũng là kẻ bại trận vì không một thằng con trai nào dám lại gần, chẳng một đứa nào muốn nắm tay tôi, muốn yêu thương tôi như những đứa con gái khác. Hoàn toàn bị cô lập, tôi bắt đầu lao vào việc học, học bất kể ngày đêm…điều này chắc tôi cũng được di truyền từ ba. Niềm hy vọng cuối cùng của tôi là được nhận vào New York University, một trường rất danh tiếng. Bao nhiêu công sức tôi bỏ ra cuối cùng cũng được đền bù xứng đáng. Tôi được nhận vào với học bổng danh dự. Phần học bổng toàn phần vào một đại học danh tiếng đã khỏa lấp phần nào sự mặc cảm trong tôi. Máhỏi, tại sao con từ chối không học ở Stanford, có phải con muốn xa má không” Tôi cầm tay bà, lần đầu tiên kể từ khi đến Mỹ, tôi với bà thật sự cởi mở với nhau…”New York là nơi ba tạo dựng lại cuộc đời má ạ. Con cũng muốn tới đó để bắt đầu lại từ đầu. Con rất thương má, nhưng con muốn đi để tìm lại di tích của ba… Lá rụng thì về cội phải không má”. Tôi nói xong câu đó, mắt bà rươm rướm nước. Lúc nào nhắc về ba, bà cũng xúc động như vậy. Tôi biết lúc nào ba cũng hiện diện trong cuộc sống của tôi và má, hình như ông là chiếc cầu nối duy nhất trong cuộc sống tinh thần của chúng tôi. Tới New York, nơi hội tụ của đủ mọi sắc dân, tôi nhủ mình phải làm một con người mới, không thể để mọi người có bất cứ một lý do nào để lánh xa tôi nữa. Trường tôi theo học là ngôi trường lớn, sinh viên vô trường không ai có thời gian để ý đến chuyện người khác và hình như sinh viên đại học “lớn” hẳn so với học sinh cấp dưới. Không bị ai dòm ngó vàchâm chích tôi dần dần thoát khỏi cảm giác mặc cảm. Năm đầu ở NYU, ngoài giờ học tôi còn tham gia vào các sinh hoạt cộng đồng. Tôi nói tiếng Việt khá sỏi nên thường được làm MC trong dịp tết. Mọi người vẫn ngạc nhiên khi thấy một cô gái “nước ngoài” nói tiếng Việt giỏi như vậy. Nhưng những điều đó bây giờ không còn là quan trọng với tôi nữa. Tôi chỉ biết mình nên sống, phải sống với lý tưởng và đức tin của chính mình…còn những người khác…”kệ họ”. Tôi mất dần sự mặc cảm, tìm lại được niềm tin vào bản thân, nhưng sự cô đơn vẫn còn đó. Vẫn không thằng con trai nào dám nhìn thẳng vào mắt tôi. Rồi tôi gặp John trong lễ Memorial Day ở Washington DC, tên ba anh và ba tôi nằm kề bên nhau trên tượng đài. John làm quen, mời tôi đi ăn trưa. Hôm đó anh và tôi nói với nhau thật nhiều…Chúng tôi nói với nhau về chiến tranh, về những mất mát trong cuộc sống, về cảm giác của những đứa con không cha. Tôi hỏi anh có căm thù tôi không, có căm thù đất nước của tôi không…Lúc đó anh nhìn thẳng vào mắt tôi: “Anh hay em đều là nạn nhân của chiến tranh và đất nước của em cũng vậy. Anh căm thù sự bạo tàn, sự bất công và cũng như mọi người, anh khâm phục những người đấu tranh để giành lại Tự Do và Công Lý”. Tôi nhớ mình đã khóc khi nghe anh nói, ngày xưa má tôi yêu ba cũng vì ông tình nguyện hy sinh tương lai để đấu tranh giành lại Tự Do…Ông đã hy sinh thật dũng cảm cho một đất nước không phải là nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Bây giờ nghe John nói như vậy, tôi cảm thấy mình như má ngày xưa…đã tìm được một “anh hùng” của lòng. Và đó là lần đầu tiên, tôi được một người khác phái nhìn thẳng vào mắt! Tình yêu đến với chúng tôi như một duyên nợ. Sau nửa năm hẹn hò, tôi dọn về ở chung với John trong căn Apartment xinh xắn. Sống bên John tôi tìm được sự bình an, sự bù đắp của bao nhiêu năm thiếu thốn tình cảm. Tôi gọi về báo cho má biết mình có bạn trai, nhưng dấu biệt chuyện tôi và anh ở chung. John đại diện cho mẫu người thành đạt trên nước Mỹ nên má tôi không có lý do gì để phàn nàn, điều duy nhất làm bà bận tâm là màu da của John. Nói cho cùng, bà vẫn không muốn tôi lấy một người không cùng dòng máu, cho dù ngày xưa bà cũng đã không nghe lời bà ngoại và lấy ba tôi. Bà nói với tôi về sự thiếu chung thủy của Mỹ trắng, về thảm trạng ly dị ở đây. Bà hỏi tôi có chắc tôi thương John, có chắc tôi sẽ chịu được sự kỳ thị của những người chung quanh không. Tôi lặp lại câu nói của bà ngày nào “Con biết má muốn con lấy người Việt để duy trì nòi giống, nhưng nếu không lấy được John, con sẽ ân hận cả đời”. Bà im lặng rồi sau cùng bảo tôi dẫn anh về ra mắt. Lâu lắm rồi tôi mới có được một buổi sáng nhàn rỗi để nghĩ về những chuyện xa xưa ấy. Từ dạo quen John, thế giới của tôi không chỉ còn hai màu đen trắng nhàm chán mà là thế gìới tình yêu đủ màu sắc. John dạy tôi cách sống, sống vì mình, vì mọi người…Anh dạy tôi biết yêu, biết hưởng thụ tình yêu một cách tuyệt vời nhất. Anh là người đầu tiên trong đời không thắc mắc, tra hỏi tôi về màu da, về màu mắt nâu lạ lùng. Trong suốt thời niên thiếu, tôi thường oán trách Thượng Đế vì ngài đã bất công, ngài đã cướp đi của tôi người cha, cướp đi những ngày tháng vui vẻ của thời thơ ấu. Nhưng giờ đây tôi mới biết, Thượng Đế thật công bằng, tôi bị mất đi nhiều thứ, nhưng có được John, đó là phần thưởng hậu hĩ nhất trong cuộc đời… Tôi đứng lên lục trong tủ tìm chút nếp, John thích ăn xôi nếp, lạp xưởng. Chiều nay khi anh về, chúng tôi sẽ ăn một chút lót bụng rồi ra sân bay qua Calif ra mắt má. Lúc vo nếp, chiếc nhẫn đính hôn John đeo vào tay tôi tối qua tuột xuống sink, tiếng động khô khốc làm tôi giật mình. Có thể dạo này vì bận rộn nên tôi hơi ốm. Đặt xong nồi nếp, tôi gọi điện thoại vô chỗ John làm, dặn anh về sớm một chút để dẫn tôi ra tiệm sửa lại chiếc nhẫn. Lạ lùng chưa, tôi gọi bao nhiêu lần mà điện thoại vẫn không thông…Tôi gọi qua số điện thoại cầm tay của anh, giọng John ấm áp trong Voice Mail “Happy Birthday Kate, I love You”…Tôi gọi đi gọi lại bao nhiêu lần cũng bắt gặp cái message đó rồi thôi. Bây giờ mới có 9a.m, thường thường John đâu bao giờ có những cuộc hẹn buổi sáng. Tâm thần tôi bồn chồn, hoảng hốt…Với tay bật Tivi, tôi bàng hoàng không tin được mắt mình. Thành phố New York ngập tràn khói, người ta chen nhau, chạy tán loạn, tòa World Trade Center đang sập xuống…Trời ơi, John, bây giờ anh ở đâu, có phải anh cũng là một trong những người đang nhảy ra từ tòa building đổ nát đó không… Lao người ra khỏi nhà…tôi phóng xe như điên dại. Vừa đi vừa khóc, vừa cầu nguyện cho John, cầu nguyện cho hàng ngàn người đang suffer, đang đấu tranh giành mạng sống. Tới nơi…cảnh tượng kinh hoàng làm cả người tôi đông cứng. Người ta thi nhau rơi xuống từ tòa nhà cao nhất thế giới, những xác chết không toàn thây chất đống. Người ta chạy thục mạng, thân thể bị cháy, bị thương, máu me bê bết…Tôi lao đi, vừa la khóc, vừa gọi tên John…Anh không thể chết, không thể bỏ em lại một mình nghe John. Không có anh em cũng chẳng thiết sống nữa đâu… Tôi đã thấy ở góc đường một cô gái người đầy máu, tôi thấy ở nơi khác một bé gái bị thương ngay chân, đang lết ra vỉa hè. Người ta la lớn “Run…Run, Run for you Life…” Một người Fire Fighter cầu nguyện trước khi vào tòa nhà chết “God, Please save my life so I can save the others…” Người lính cứu hỏa đó đã mất tích trong biển lửa… Tòa cao ốc sập xuống từ từ trước mắt tôi, trước mắt bao nhiêu người khác. Chúng tôi nhìn thấy cảnh chết chóc và cảm thấy giận dữ, bất lực. Khói tiếp tục bốc ra, loại khói “deadly smoke” tỏa ngập trời New York. Tôi vẫn tiếp tục chạy, tiếp tục tìm kiếm John…Lao đầu vào những chiếc ambulance, những băng ca trắng của bệnh viện, tôi hy vọng sẽ tìm được anh, hy vọng anh đã được cứu sống…Tôi cầu nguyện Thượng Đế, cầu mong ngài đừng tước đi hy vọng sống cuối cùng của tôi…Thành phố vẫn tiếp tục sập đổ, tôi nhìn thấy nét thảm khốc mọi nơi…Sự chết chóc, tàn phá bao phủ khắp ngỏ ngách, đường phố Manhattan. Chưa bao giờ tôi nhìn thấy nhiều xác chết như vậy. Tôi muốn khóc, nhưng không thể khóc nữa, cảm giác hụt hẫng, kinh hoàng lúc đó là một cảm giác không tên…và sẽ bám theo tôi suốt cuộc đời còn lại. Tôi tiếp tục tìm kiếm John tới ba giờ chiều nhưng vẫn không tin tức. Không tìm ra anh, không thấy xác của anh, tôi nuôi trong lòng niềm hy vọng John vẫn còn sống. Tôi xếp hàng trước Red Cross chờ tới phiên mình hiến máu. Hàng trăm người khác cũng xếp hàng như tôi. Họ vừa khóc vừa chắp tay cầu nguyện. Cầu mong sẽ gặp được lại người thân, vợ mong gặp chồng, cha mẹ mong gặp con cái…Có phải đây là chiến tranh thế giới thứ ba, nhưng ai là kẻ thù trong cuộc khủng bố bạo tàn này” Có phải trong chiến tranh, những người lính sẽ mặt đối mặt và giết nhau bằng vũ khí” Có phải đàn bà và trẻ em sẽ được tha” Vậy thì tại sao, tại sao bao nhiêu người vô tội, bao nhiêu người tay không một thước sắt, không một vũ khí để tự vệ, bao nhiêu người không hề có một cơ hội để tự vệ, bao nhiêu em bé, bao nhiêu cụ già, bao nhiêu phụ nữ vô tội…lại chết một cách thảm khốc như vậy” Hàng người hiến máu càng ngày càng dài, càng đông…Tới phiên mình được lấy máu, tôi nói tình nguyện hiến tất cả máu trong người để cứu nạn nhân, và đó cũng là việc duy nhất tôi có thể làm trong lúc này…Nhưng cuối cùng tôi đã không được toại nguyện. Người y tá nói tôi đã có thai nên không thể rút máu. Mặc cho tôi van nài, cầu khẩn, tôi nói có thể một trong những người cần máu của tôi sẽ là John, là cha đứa bé nằm trong bụng, nhưng vô vọng. Thất thểu bước ra từ Red Cross, tôi thấy giận dữ, căm thù bản thân mình. Trong lúc John cần đến tôi nhất, tôi đã không làm gì được cho anh cả. Tôi gọi điện thoại cầm tay của John, hy vọng anh sẽ trả lời, sẽ nói tôi biết anh đã không sao…nhưng vẫn chỉ là cái message đó “Happy Birthday Kate, I Love You”. John, em cũng yêu anh lắm, anh không được chết anh không được bỏ lại con mình mồ côi. Anh còn chưa cưới em phải không John, tụi mình chưa cưới nhau mà có con, đứa con đó sẽ là con hoang…Anh đâu muốn đứa con đầu lòng dấu yêu của tụi mình là con hoang phải không John. Anh hứa dẫn em về Calif ra mắt má, hứa dẫn em về Việt Nam tìm xác cha. John ơi, anh biết cảnh con mồ côi cha tội tình lắm, bởi vậy anh không được chết, không được có chuyện gì xảy ra cho anh hết nha John. Tôi lao đầu vào đám gạch vỡ vụn, bơi nát, xục xạo tìm vết tích của John…Một người lính cứu hỏa lại gần kéo tôi ra khỏi nơi đó “it’s not safe here, leave now”…Tôi hét lên với ông, tôi không sợ, không có John, tôi còn sống để làm gì. Người lính lôi tôi ra, tôi giằng co, la lối nhưng cuối cùng tôi đã hết sức chống cự. Người tôi rũ xuống, nước mắt tôi ứa ra, tuyệt vọng…Lê bước đi trên con đường đầy máu, những bước chân vô định dắt tôi tới gần bờ sông Hudson, nơi John thường âu yếm tôi, nơi chúng tôi ngồi bên nhau ngắm cảnh hoàng hôn của New York. Tôi chắp tay, nhắm mắt, cầu nguyện cho John và bao nhiêu người khác. Cầu mong được gặp John một lần nữa để nói với anh tôi đã mang thai, để nói với anh, không có anh cuộc sống của tôi sẽ không còn ý nghĩa… Thụy Nhã |