Tác phẩm MỪNG NGÀY ĐỘC LẬP 4 tháng 7

CẢM ƠN ĐẤT KHÁCH QUÊ NGƯỜI

Người ơi …


Cảm ơn đất khách quê người
Bao dung no ấm cho lời tự do
Tình người tình đất thăng hoa
Công bằng nhân đạo nuôi già dưỡng non

Cảm ơn đất khách cò con
Hoa trôi bèo giạt không mòn hóa công
Cá kèo mạt lộ thành rồng
Chiêu hiền đãi sĩ rêu rong nên người

Cảm ơn đất khách yên vui
Đa nguyên văn hoá rạng ngời văn minh
Tài hoa yểu điệu xiêu đình
Nâng niu chìu chuộng ru tình tha hương

Cảm ơn đất khách văn chương
Cho hoa quốc ngữ thiên hương em hồng
Tươi xuân hạ mát thu đông
Đất lành chim đậu ruộng đồng lên ngôi

Cảm ơn đất hứa tuyệt vời…

 
Người ơi …

MD.10/09/11
LuânTâm
(Như một lời chân thành cảm ơn Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ USA.)
JULY FOURTH  BUỒN…
 
THÁNG BẢY hằng năm, đợi đến FOURTH
MỪNG NGÀY ĐỘC LẬP, Lễ ăn to
Năm nay… “Cô Vít”, vui chùn xuống
Đêm ngủ ngày buồn lại ních no
Bứt rứt chôn chân, càng ngán ngẩm
E dè kẻ lạ, lắm nguyên do
Stay home, khoảng cách thêm nghiêm chỉnh
Rảnh rỗi…chiên, xào, nấu, nướng, kho!
 
Thanh Song Nguyễn Kim  Phú
July.03.2020
MỪNG LỄ ĐỘC LẬP 2020
 
Đón ngày Độc Lập July Fourth
Nước Mỹ năm này chẳng lễ to
Chúc bạn văn thơ lo viết… tới!
Mời người thực phẩm cứ xơi… no!
      Ra ngoài “Vi” đón nào phân biệt.                              
Tụ tập “Cúm” chào chẳng lý do
Xin hãy tuân theo lời “Giãn cách!”
Khi nào hết dịch, truyện đầy kho!
Phương Hoa- 3rd 2020

Mừng Lễ Độc Lập Hoa Kỳ
Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại hội ngộ
                                      Đào Hiếu Thảo/ Đỗ Hiếu
Sáng chủ nhật 4 tháng 7 năm 2021, một số thành viên Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại họp mặt tại tư gia ông bà Phạm Quang Hiệp, Cung Thị Lan tại thành phố Silver Spring, Maryland lúc 10 giờ 30 để chào đón hai văn hữu hậu duệ của Nhóm Tự Lực Văn Đoàn: ông Nguyễn Tường Thiết đến từ Seattle, tiểu bang Washington và ông Nguyễn Tường Cường bút danh Ngọc Cường từ tiểu bang Ohio.
 

Ngoài gia chủ, nhà văn Cung Thị Lan và phu quân Phạm Quang Hiệp, đến chung vui có: nhà văn Hồng Thủy và phu quân Bùi Cửu Viên, nhà văn Đăng Nguyên, nhà văn Lê Thị Nhị, nhà thơ Lê Thị Ý, nhà văn Trịnh Bình An, văn hữu Thúy Messegee và phóng viên Đào Hiếu Thảo. Thật bất ngờ và hi hữu mà các Niên Trưởng Viên, Nguyên, Thiết, Niên Đệ Cường và Thảo đều là cựu quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Ngoài ra, phóng viên Việt Hùng/VOA và cô Xuân Tiên, ái nữ của văn hữu Đăng Nguyên cũng có mặt chung vui.
Nhà văn Hồng Thủy là đương kim Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, nhà văn Cung Thị Lan, đương kim Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, nhà văn Ngọc Cường, Phó Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, nhà văn Lê Thị Nhị, Tổng Thư Ký Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, nhà văn Lê Thị Ý, Thủ Quỹ Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, nhà văn Đăng Nguyên, cựu Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, hiện anh là Chủ Tịch Ủy Ban Định Chế Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, nhà văn Trịnh Bình An, Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại vùng Đông Bắc Hoa Kỳ.
Mục đích chính hôm nay là thăm viếng xã giao, trao đổi, góp ý, hàn huyên, họp bàn về sinh hoạt tương lai của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.
Được biết, ông Nguyễn Tường Thiết (con trai út của Văn Hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam) và anh họ của ông, Nguyễn Tường Cường về vùng Washington DC lần này là để chuẩn bị lễ giỗ của Văn Hào Nhất Linh.  Ông Nhất Linh sinh ngày 27 tháng 7 năm 1906 tại Cẩm Giang, Hải Dương, Bắc Việt và từ giã người thân bằng một liều thuốc độc – ngày 7 tháng 7 năm  1963  tại Saigon để lại di chúc – Xin trích:
“Đời tôi để lịch sử xử.  Tôi không chịu để ai xử tôi cả.  Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng…Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do”.
Ông Nhất Linh Nguyễn Tường Tam là một nhà văn, nhà báo, chính trị gia nổi tiếng trong thế kỷ 20. Ông thành lập Tự Lực Văn Đoàn vào năm 1932, là cấp lãnh đạo của Đại Việt Dân Chính Đảng và Việt Nam Quốc Dân Đảng và cũng là Chủ Tịch của Việt Bút, tiền thân của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.
Nhân cuộc hội ngộ vào dịp Lễ Độc Lập Hoa Kỳ, các thành viên Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, các văn thi hữu đặt vấn đề quảng bá các tác phẩm của Việt Nam ra thế giới bên ngoài theo tâm nguyện thiết tha của Văn Hào Nhất Linh.
Tuy nhiên, chỉ có hội viên chính thức của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại mới có thể phổ biến tác phẩm của mình trên diễn đàn Việt PEN. Ngoài ra, do tác dụng và ảnh hưởng của internet cùng các trang mạng xã hội nên ngày nay ít ai thích đọc sách báo như trước.
Mặt khác, thời đại ngày nay từ Âu, Mỹ, Úc sang Á Châu, trong cộng đồng người Việt chúng ta hầu như không còn có ai phê bình văn học nghệ thuật, hướng dẫn người đọc, nói lên những nhận xét trung thực, khách quan, đưa ra những ưu khuyết điểm của các tác phẩm, thơ văn để lôi cuốn người đọc như mục điểm phim dành cho những bộ phim hay.
Vào ngày thứ bảy 16 tháng 10 năm nay, tân Ban Chấp Hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại nhiệm kỳ 2021-2023 sẽ ra mắt tại Vùng Hoa Thịnh Đốn.
Hiệp & Lan rất tiếc không thể họp mặt đông đủ các hội viên VBVNHN vì thời gian hạn chế và nhiều anh chị có những sinh hoạt riêng cùng gia đình trong Ngày Lễ Độc Lập.
Tuy nhiên cuộc họp mặt đã diễn trong không khí thân mật, vui vẻ và kết thúc vào lúc một giờ rưỡi trưa.
 
Nhân dịp này:  Nhóm Hoa Đô gồm cựu học sinh Võ Tánh, nữ trung học Nha Trang họp mặt.
Sau khi các hội viên Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại chia tay, sinh hoạt được tiếp nối với buổi họp mặt của Nhóm Hoa Đô gồm các cựu học sinh Võ Tánh, nữ trung học Nha Trang  chào mừng lễ Độc Lập năm thứ 245 của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ.


Hàng đứng từ trái sang phải: Anh Tốt, anh Hiển, chị Phan Anh, anh Bình, chị Minh Nguyệt, chị Tuyết Lan, anh Khánh, anh Hiệp, anh Thảo
Hàng quỳ từ tái sang phải: Chị Thanh, chị Ngọc Hoa, chị Cung Lan, chị Bạch Mai Anh, và chị Thu Huyên
Theo thông lệ của nhóm, hội ngộ là để thăm hỏi, hàn huyên, tâm sự, đùa vui, cùng thưởng thức các món ăn tự làm. Nhưng lần hội ngộ này cả nhóm đề nghị Cung Lan làm món bánh căn. Bánh căn là món ăn rất bình dân nhưng ai đã từng ở Nha Trang trước năm 1975 đều hồi tưởng thời thơ ấu ngồi quanh người đúc bánh căn để thưởng thức những chiếc bánh tròn nho nhỏ từ những khuôn đất nung để chắm với nước mắm thơm cà và hành mỡ béo ngậy. Cảnh ngồi chờ ăn bánh căn đã làm cho các cựu nữ sinh trung học Nha Trang nhớ lại những lần các cô nữ sinh áo dài trắng ngày xưa rủ nhau đi ăn quà vặt lúc tan trường.   
Hôm nay tác giả được biết từ thực tế rằng Cung Lan làm bánh căn từ gạo ngâm với nước khoảng 9 tiếng đồng hồ rồi xay nhuyễn với cơm nguội trước khi đổ vào khuôn đất nóng mà không cần dùng dầu ăn quét khuôn.
Khuôn nướng bánh căn gồm các lỗ tròn hình chén có nắp đậy. Đổ bột vào khuôn nướng gần chín thì quét lên mặt một lớp mỏng hột gà đã đánh bông lên, đậy nắp cho chín, cho chút hành mỡ trên mặt và nạy bánh ra. Bánh chín nóng dòn thơm ngon ăn với nước chắm và xoài xanh xắt mỏng. Nước chấm phải làm thật ngon thì mới đúng điệu. Nước chắm được nấu với nước cốt của trái khóm, cà chua, đường và một chút nước lọc cho vừa ăn.

Cô Cung Lan “chủ quán bánh căn” nói, muốn đãi một bữa như vầy thì cần phải chuẩn bị cẩn thận, giữ an toàn tuyệt đối. Muốn nướng bánh lộ thiên trên sàn gỗ thì cần sắp đặt chỗ, lò nướng than kê trên nhiều lớp gỗ chống cháy. Anh Hiệp còn tự đóng các ghế đẩu để thực khách ngồi thưởng thức món ăn khoái khẩu giống như ở chợ Đầm Nha Trang thời xưa thì mới thưởng thức được trọn vẹn.

Không những chỉ có bánh căn mà còn bao nhiêu đặc sản khác được chiêu đãi trong buổi họp mặt hôm đó như: các món khai vị, bánh nậm, bánh ít, bánh bột lọc, bò bía, bún thịt nướng, xôi vò, bún riêu, các loại bia rượu, nước giải khát, các món tráng miệng, chè bà ba. Có thêm một bánh rất đặc biệt mà không ai có thể từ chối đó là món bánh xu xê. Bánh xu xê  còn gọi là bánh phu thê thường được đãi trong các tiệc cưới hỏi ở Việt Nam.
Sau màn chụp hình lưu niệm và mục “hát cho nhau nghe” với những bài ca được yêu chuộng như: “Bài Ca Hạnh Ngộ” của Lê Uy Phương, “Còn Yêu Em Mãi” của Nguyễn Trung Cang, “ Mai” của Quốc Dũng, “Que Sera, Sera”…
Anh chị em  chia tay lúc 9 giờ tối và hẹn tái ngộ một ngày gần đây.
 
                                                   Th2
NƯỚC MỸ ĐÁNG YÊU.
Gia đình chị Bông đến Mỹ định cư được hai tuần, ở nhờ trong nhà người em trai chị Bông. Vợ chồng em thay phiên nhau chở gia đình chị Bông đi làm các giấy tờ cần thiết và lãnh tiền trợ cấp tị nạn. Ngồi trong xe thấy em lái xe  chạy vù vù lúc thì sang lane trái khi thì sang lane phải chen vào dòng xe cộ nườm nượp mà chị Bông chóng cả mặt, chị Bông ngao ngán nói riêng với chồng:
–         Chắc em không thể nào lái xe hơi được đâu, chúng ta sẽ mua một chiếc xe gắn máy hai bánh như ở Việt Nam, anh chở em đi làm đi chợ cho chắc ăn. Chỗ nào gần em sẽ…đi bộ cho anh đỡ phải chở..
Nghe vợ than thở anh Bông cũng nao núng, chị Bông…dụ dỗ tiếp:
–         Với lại đi xe gắn máy…đỡ tốn xăng.
Sau hai tuần em trai nói với vợ chồng chị Bông:
–         Mọi thứ giấy tờ xong xuôi rồi, anh chị chuẩn bị học lái xe, vợ chồng em sẽ thay phiên nhau ai rảnh thì sẽ tập cho anh chị.
Vợ chồng chị Bông nhìn nhau không nói nên lời. Chị Bông rụt rè ái ngại:
–         Em cho chị……suy nghĩ rồi mới quyết định được không?
Em dâu thắc mắc:
–         Anh chị còn suy nghĩ gì nữa? biết lái xe càng sớm càng tốt.
Em trai sốt sắng:
–         Anh chị ngại chưa có xe chứ gì, cứ yên tâm tập bằng xe chúng em. sau khi tập lái xe khá rồi em sẽ đưa anh chị đi mua xe.
Chị Bông đành khai:
–         Thật ra là…là….anh chị đã bàn nhau sẽ mua…một cái xe gắn máy để đi lại cho tiện, anh chị quen lái xe hai bánh mấy chục năm nay, không dám lái xe hơi 4 bánh kềnh càng sợ gây tai nạn thì khổ mình và khổ người ta.
Hai vợ chồng em trai cùng giải thích xe hơi là “cái chân” của mọi người ở Mỹ, những xe mô tô hai bánh người ta chạy chơi thôi. Thời tiết bốn mùa mưa nắng gió lạnh tuyết rơi ai mà đi xe gắn máy như ở Việt Nam cho được.
Nghe em  giải thích chị Bông thấy mình nhà quê quá.
Nhớ hôm xuất cảnh từ Việt Nam sang Mỹ, lần ghé phi trường Nhật Bản chờ chuyến bay chuyển tiếp hai con chị Bông mua hai chai nước ngọt trong máy, chị đã dặn dò hai con uống xong nhớ để dành chai không cho mẹ mang sang Mỹ đựng dầu, dấm hay nước mắm, đỡ tốn tiền mua sắm đồng nào hay đồng ấy. Khi vợ chồng người em ra đón ở phi trường San Antonio Texas việc đầu tiên là em đã vứt mấy cái chai không mà chị Bông cầm lỉnh kỉnh trên tay cho vào thùng rác rồi mới giải thích sau.
 Thế là anh chị Bông đều học lái xe hơi. Chị Bông thật vất vả với xe, hình như cái lane đường nào cũng…chật hẹp, xe chị lái cách nào cũng đều đụng vào lane.
Thi bằng viết thì chỉ cần học thuộc lòng là đậu rồi. Thi lái xe với ông bà “giám khảo” ngồi bên cạnh mới là khó. Chị Bông luôn căng thẳng ghi nhớ chân thắng và chân ga chỉ sợ…đạp lộn. Người em kể vài vụ thí sinh thi bằng lái đã đạp lộn chân ga thay vì chân thắng gây ra tai nạn chết người.
Sau hai lần thi rớt may quá chưa quá tam ba bận chị Bông cũng đã đậu bằng lái xe như anh Bông đã đậu, hai vợ chồng đều phấn khởi lên tinh thần.
Có lần ngồi xe với người em trên highway anh chị Bông thấy hai chàng Mỹ chở nhau trên cái xe motorcycle to kềnh chạy bạt mạng như ma đuổi mà hết hồn và biết rằng lái xe hơi bốn bánh coi vậy mà dễ hơn, an toàn hơn xe hai bánh kiểu này.
Em trai đọc báo tìm mua cho anh chị Bông mua một chiếc xe hơi cũ hiệu Honda Civic giá 1,700 đồng đã chạy một trăm ngàn mile mà xe Nhật thì rất bền có thể đi tới hai trăm ngàn mile. Cái xe là cả gia tài của anh chị Bông.
Đêm đầu tiên mang xe về nhà, xe đậu ngoài sân vì trong garage đã có hai xe của vợ chồng người em, chị Bông đi ngủ mà lòng thấp thỏm lo âu, chị thì thầm dặn dò chồng:
–         Em sợ mất xe quá. Thỉnh thoảng anh có tỉnh giấc thì ra ngoài sân bật đèn lên để nếu có kẻ cắp rình mò chúng sẽ không dám.
Canh được mấy ngày thấy không có dấu hiệu kẻ gian rình mò trộm cắp anh chị Bông mới ngủ yên giấc.
Nước Mỹ đáng yêu thật, cả một đống của cải của vợ chồng chị để khơi khơi ngoài sân mà không hề mất mát hay sứt mẻ gì.
Anh chị Bông khi xưa ở Việt Nam đã từng yêu thích nước Mỹ nay thêm ngưỡng mộ nước Mỹ từ điều thực tế nhỏ nhặt này và từng ngày thích thú với cuộc sống ở Mỹ.
Hai vợ chồng muốn khoe nước Mỹ nhân thể…khoe luôn chiếc xe hơi mới tậu với mấy đứa em ở Việt Nam. Hai vợ chồng diện quần áo đẹp đứng bên chiếc xe để chụp hình, chụp trước cửa nhà em trai vài kiểu xong chị Bông lại thay váy áo khác và khoác chiếc áo lông xù lên vai cho sang dù trời đang mùa hè 90 mấy độ, lái xe ra phố chọn ngoại cảnh mấy tòa nhà cao tầng sang trọng đẹp đẽ có lá cờ Mỹ  đang tung bay trong gió để làm nền chụp thêm mấy hình nữa.
Chị Bông chọn vài hình ưng ý nhất gởi về cho các em. Cô em dâu út người miền Nam chân chất thật thà chịu tốn tiền gọi điện thoại sang khen:
–         Chị Bông ơi, hình ảnh đường phố Mỹ đẹp quá, chị mặc nhiều đồ sang trọng bên chiếc xe hơi cũng sang trọng quá, em mang ra khoe bà bún riêu coi bà khen nức nở, không ngờ mới sang Mỹ mà anh chị đã lên đời.
–         Bà bún riêu gánh hàng rong hay đi qua nhà mình mỗi buổi trưa đó hả em?
–         Thì bả đó. Bà còn kể chị vẫn ăn bún riêu mỗi ngày một tô, hôm nào hàng bà ế chuyến chót về ngang nhà chị ăn ủng hộ thêm tô nữa cho sạch nồi. Bà bún riêu than là giờ đây chị Bông ở Mỹ chắc gì nhớ tới món bún riêu rẻ tiền của bà.
Bà bún riêu và em dâu có đi xe hơi bao giờ đâu mà biết chiếc xe của chị Bông là xe đời cũ chẳng biết đã qua mấy đời chủ mới đến tay vợ chồng chị, những váy áo chị Bông mặc chụp hình mà em dâu khen sang đẹp toàn là đồ cũ xin ở các hội từ thiện và món bún riêu thì chị Bông vẫn thèm ăn đời nào quên được.
Để kiếm thêm tiền chị Bông xin vào làm việc vặt parttime trong một nhà hàng Tàu với điều kiện trả tiền mặt. Chị ngồi nhặt rau chưa xong thì thấy rổ cà rốt to lù lù đợi sẵn bên cạnh, gọt vỏ cà rốt chưa xong đã biết trước nhiệm vụ sẽ đứng cuốn hàng mấy trăm cái chả giò, không giây phút nào hở tay, chủ nhà hàng bóc lột tận tình, không uổng phí họ đã trả cho chị 4 đô la một giờ.
Làm việc cực nhọc nhưng anh chị Bông không bao giờ bỏ buổi học ESL nào, vui thích là khác vì ở đó anh chị gặp những đồng hương Việt Nam mới qua Mỹ như mình cùng hoàn cảnh nên dễ thân dễ gần.
Một hôm chị Bông long trọng tuyên bố với chồng:
–         Bao giờ ăn hết tiền trợ cấp chúng ta sẽ đi …đánh cá ở Alaska.
Anh Bông ngạc nhiên hỏi lại:
–         Chúng ta là…anh và em hả? sẽ đi đánh cá Alaska hả? Cái tiểu bang lạnh lẽo xa xôi mãi tận ….đâu đâu ấy hả?
Chị Bông hùng hồn:
–         Đúng thế. Chị Tư vợ anh Hùng học cùng lớp ESL với chúng mình kể anh Hùng có thằng cháu đang làm cá trên tàu ở Alaska, có thể anh Hùng sẽ đi làm cá với nó. Nghe đồn là mỗi tháng kiếm sáu ngàn đô la, làm theo mùa, sáu tháng làm sáu tháng nghỉ đông lên bờ ăn tiền thất nghiệp. Sướng chưa…
Anh Bông chưa kịp trả lời gì chị Bông hào hứng thêm:
–         Hai vợ chồng cùng làm chẳng mấy chốc chúng ta sẽ giàu có. Chúng ta sẽ lênh đênh trên tàu 6 tháng trời vừa làm việc vừa tha hồ ngắm biển xanh khi nắng lên chiều xuống và ngắm trăng sao khi đêm về. Coi như chúng ta sẽ có những chuyến hải hành tuyệt vời.
–         Trời, em nghĩ đâu ra cảnh đi làm cá trên tàu thơ mộng vậy?? Ai trả cho em sáu ngàn đô la một tháng để em ngắm biển và trăng sao?
Chợt anh Bông reo lên:
–         Anh cũng …nghe đồn là chợ trời dễ kiếm sống và là nơi khởi nghiệp của những người mới đến Mỹ như chúng mình, đã có những triệu phú người Việt xuất thân từ chợ trời đó em, là một anh bán đồng hồ cũ hay một chị an phận bày bán mấy lọ nước hoa vớ vẩn mà nên cơ nghiệp lẫy lừng. Hay là em ra chợ trời chiên chả giò bán, biết đâu sẽ thành ….triệu phú, thành “Vua chả giò” .
Chị Bông sung sướng về hùa với chồng:
–         Quả thật đất Mỹ nhiều cơ hội làm giàu quá em hoa cả mắt không biết nên chọn cái nào đây ?
Hôm sau đến lớp ESL anh Bông lân la trò chuyện với anh Hùng để tìm hiểu thêm về vụ đi biển Alaska đánh cá vì anh chưa tin câu chuyện giữa hai người đàn bà. Anh Hùng nói công việc đánh cá này cần đàn ông thanh niên khỏe mạnh, làm việc bất kể ngày đêm, chịu đựng giá lạnh và làm việc quần quật trên tàu. Cỡ chị Bông lên tàu một cơn sóng to gió lớn là ….phải đi cấp cứu rồi. Còn lương sáu ngàn đô một tháng anh Hùng không bảo đảm vì chưa kiểm chứng được.
Giấc mộng làm giàu Alaska không thành, giấc mộng chợ trời, con đường từ cơ hàn đến vinh quang cũng xẹp theo, vợ chồng chị Bông trở về thực tế không đi tìm việc lương cao kiểu …nghe đồn nữa. Hai vợ chồng cùng xin vào trường Votech học nghề, chị Bông học lớp Nursing Assistant  anh Bông học nghề plumbing.
Nghề Nurse aide của chị Bông tìm việc trong các nursing home dễ dàng, chị  chăm sóc những ông già bà cả trong đấy. Anh Bông thì xin được việc làm trong khách sạn sửa chữa ống nước. Thế là hai vợ chồng đều có công ăn việc làm đồng lương không cao nhưng ổn định vững vàng.
                  **************
Bao nhiêu năm ở Mỹ chị Bông vẫn không quên những kỷ niệm ngu ngơ, những ước mơ đầy hào hứng của mình khi mới đặt chân đến Mỹ. Đất nước này đã cho bao người những giấc mơ thành sự thật nếu người ta biết cố gắng, sẵn sàng chịu đựng mọi khó khăn và chăm chỉ làm việc.
Cám ơn nước Mỹ đã cho gia đình chị Bông cơ hội sống và làm việc để có cuộc sống tốt đẹp như hôm nay. Nước Mỹ thật đáng yêu.
Ngày nay nhiều lần bạn bè người Việt ở Mỹ rủ chị Bông đi du lịch đó đây nào Âu Châu cảnh đẹp như thơ, nào Á Châu với Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc để ngắm hoa đào, viếng cảnh núi non hùng vĩ  hay mấy xứ Ả Rập để …cưỡi lạc đà trên sa mạc, để thăm những địa danh nổi tiếng.
Nước Mỹ có 50 tiểu bang với biết bao cảnh lạ, mỗi tiểu bang mỗi phong cách đặc thù địa hình nhà cửa, danh lam thắng cảnh khác nhau. Người khắp nơi trên thế giới còn đến Mỹ du lịch thì chị Bông chẳng cần đi mãi nơi đâu, chị Bông yêu mến nước Mỹ, ước mơ đi du ngoạn khắp nước Mỹ mà cả đời cũng không đi hết 50 tiểu bang thì chuyện đi du lịch ngoài nước Mỹ chắc phải….. hẹn vài kiếp sau.
  Nguyễn Thị Thanh Dương.
    
Mừng Lễ Độc Lập Hoa Kỳ
Ở trên đất Mỹ này, tôi gặp cô em tên Thanh 10 năm trước, lúc cô còn đang học tại San Sose State ngành Graphic Design, chúng tôi thường gặp gỡ trong vài sinh hoạt từ thiện. Cô rất năng nổ giỏi dang, tốt bụng và đầy tình người.
Mỗi đầu năm cô thường gởi tình thương về các Chùa nuôi cô nhi, các hội người mù với khoảng tiền không nhỏ. Khi còn
Ở VN, cô là một hoạ sĩ, cho nên qua Mỹ cô theo học môn Graphic Design 4 năm, hiện tại làm maketing (quảng cáo) cho một hãng ở San Jose.
 Cô lập gia đình với người Mỹ tên Tom, sau cuộc gặp gỡ trên khu đồi, khi cô đặt giá vẽ bóng chiều với ánh nắng nhạt nhoà rơi trên những muộn phiền, nỗi nhớ nhà khôn nguôi, với cánh én bay xa về tổ, với gió chiều lao xao giữa cô đơn, với vầng mây lờ lững phiêu lãng …và rồi cô bắt gặp ống kính chụp hình của Tom đang hướng về phía cô.
Thế rồi cả hai làm quen và kết nhau ở điểm họ mê cảnh đẹp thiên nhiên, hay trang trải nỗi lòng theo trời mây trăng gió trên nét vẽ, trên máy chụp hình.
 Tom làm việc tại nhà với công việc Real Estate Investment, tánh tình rất hiền lành dễ mến. Thanh có thêm một số bạn và chúng tôi họp thành nhóm nhỏ. Các cô còn trẻ tuổi, rất cởi mở vui vẻ, thường luôn miệng nói “Thỉnh thoảng phải gặp nhau để thay đổi không khí”, và ngôi nhà của Thanh là nơi tụ họp với điều kiện chỉ có phụ nữ.
 Chúng tôi tổ chức sinh nhật cho nhau, khi có cuộc họp mặt là Tom sáng sớm lái xe ra khỏi nhà để tôn trọng điều lệ vợ mình đặt ra, và dĩ nhiên chúng tôi cũng chỉ đến một mình.
 Các em thường khuyến khích tôi tham gia vào sinh hoạt người Mỹ. Đó là việc quá cao đối với khả năng của tôi, vì tôi nghĩ chỉ có những vị đỗ đạt tại các trường học Hoa Kỳ, các vị thông thạo Anh Ngữ mới làm được. Chính những lúc tôi rụt rè thì các em luôn thoải mái đưa ra lập luận:
 – Chị có biết xã hội phải muôn mặt, sự hợp lực luôn cần mọi tầng lớp. Ông kỹ sư cũng cần đi cúp tóc, bà bác sĩ cũng cần thợ may quần áo để mặc, em làm mệt nhọc về không nấu nổi cũng cần tiệm bán cơm v..v…như vậy mới thành xã hội.
 Rồi các em rủ tôi tham gia đi diễn hành, hoà niềm vui trong ngày lễ Độc Lập của Mỹ
Tại sao lại không nhỉ ? Được diễn hành cùng dân bản xứ và các sắc dân khác nhau trên xứ Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, chẳng phải tìm vinh quang hay thi đua, chỉ đơn giản là để mừng ngày ra đời của một đất nước vĩ đại mà hiện tôi cũng là công dân Mỹ.
 Thanh và chồng là Hội viên của ABC club, là một tổ chức có tính cách giáo dục, hướng dẫn huấn luyện tuổi trẻ tập dạn dĩ, phải phát biểu ý kiến trước đám đông, tập nói ngắn gọn dễ hiểu để trong tương lai có thể trở thành Leadership (lãnh đạo), hay mọi lãnh vực khác.
 Chương trình này đã sinh hoạt gần trăm năm trên nước Mỹ có tên là ABC Toastmasters, gần 15 năm trở lại đây đã mở rộng trên thế giới ABC Toastmasters thường có cuộc hội họp vào mỗi thứ bảy lúc 10 giờ sáng tại Unitek College nằm trên đường Auto Mall Parkway. Trong cuộc hội họp bất cứ ai cũng có thể lên thực tập, nói đề tài nào đó, các diễn giả lắng nghe và nhận xét phong cách diễn đạt, rồi đúc kết nêu lên khiếm khuyết như nói dài dòng, thế đứng chưa được tự tin, giọng nói còn run ..v..v…
 ABC Toastmasters đã đóng góp diễn hành vài năm qua và được xếp hạng nhì năm ngoái.
 Bây giờ tôi xin kể tiếp về ngày vui lễ Độc Lập. Sáng sớm tôi lái xe đến nhà Thanh như đã hẹn, trong lúc chờ đợi tôi ra vườn ngắm cảnh thư thả với không khí trong lành.  Ánh nắng ban mai thật dễ chịu, thỉnh thoảng có những cơn gió mát, đôi khi hơi lạnh, nhưng rồi những tia nắng ấm kéo lại cảm giác quân bình của thời tiết.
 
Tách cà phê chủ nhà trao, tôi nhâm nhi từng ngụm thong thả, hơi nóng và mùi thơm thấm vào môi lưỡi, tận hướng những giây phút an nhàn thanh thản. Nhìn ngắm những đoá hoa xinh như mộng mở hé, e ấp đọng những giọt sương mai long lanh như thiếu nữ độ tuổi dậy thì tươi sáng, lòng tôi thấy phơi phới, rộn ràng đón nhận cảm giác vui mừng ngày lễ Độc Lập nơi xứ người.
 Đọc Lịch sử, Ngày 4 thàng 7 là ngày Independent Day cũng là ngày Quốc khánh của Hoa Kỳ.
Năm 1779 bản Tuyên ngôn Độc lập ra đời, tuyên bố rằng mười ba thuộc địa đầu tiên ở Mỹ coi mình là một quốc gia mới, được gọi là Hoa Kỳ. Tác giả của bản Tuyên ngôn Độc Lập cùng đại diện 13 tiểu bang đầu tiên đã ký vào.
 Lời mở đầu của bản Tuyên Ngôn là “Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng đấng tạo hoá đã ban cho họ những quyền tất yếu bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do mưu cầu hạnh phúc của mỗi công dân được luật pháp bảo vệ.
 Miên man về lịch sử và nguồn gốc ngày lễ, tôi uống cạn ly cà phê lúc nào không hay khi đang định nâng lên môi tiếp, cũng vừa đúng lúc các bạn réo gọi tập trung lên xe.
 Điều đặt biệt là năm nào cũng có sự hiện diện của bà Mary mẹ chồng Thanh. Năm nay bà đã 87 tuổi nhưng tự lái xe một mình từ San Diego lên Fremont mất 8 tiếng đồng hồ cùng tham gia diễn hành.
Tinh thần người Mỹ thật mạnh mẽ và ý chí thật hào hùng. Chúng tôi đến địa điểm … sau hậu trường cảnh đông đúc đang chuẩn bị cho buổi diễn hành. Mọi người đã làm việc cực lực, hăng say, những công việc rất khó, nặng nhọc sửa soạn cho tiết mục của họ.
 
Tôi đi quanh quan sát thì thấy rất nhiều hội đoàn như trường học, trung tâm thương mãi hay các sắc tộc có những màn riêng về sắc thái của họ. Nơi này các em nhỏ học mầm non được cô giáo tập dợt màn múa đầy hồn nhiên dễ thương. Nơi kia, trường dạy võ đang ôn lại màn kiếm đao, môn Karate do các thiếu niên diễn thật ngoạn mục. Kià ban trống nhạc đang sắp xếp ví trí biểu diễn cùng xem lại dụng cụ. Hàng xe hơi cổ điển được trang trí bằng màu đỏ, trắng, xanh, chứa đựng bộ máy lớn cùng loa và cờ trang trọng. Đoàn người diễn hành mặt mày hớn hở, chú tâm vào công việc của mình, ai ai cũng khoác y phục, đội mũ, mang tất hoặc cài nơ bông trên tóc bằng 3 màu xanh trắng đỏ của lá cờ Mỹ.
 Cảnh tượng sau hậu trường thật vui nhộn, tôi đi quanh quẩn chụp hình, thoải mái và hoà nhập. Đến giờ diễn hành, tôi được giao phó cầm bảng đi chung với các em Nhật, Phi, Ấn Độ và Việt Nam… theo sau xe classic của Tom (chồng Thanh) lái. Những bản nhạc yêu nước phát ra từ loa trên xe, tiếng nhạc xập xình hùng mạnh diễn hành trên những con đường dài.
Chúng tôi khởi hành từ đường Civic Center, rồi đi qua đường chính Paseo Padre chạy dài cho đến khi chấm dứt nơi đường Capitol. Hai bên đường dân chúng mang ghế ra chuẩn bị đón xem, kẻ đứng người ngồi đông đúc chật ních suốt mấy con đường. Tiếng reo hò, cổ vũ chào nhau bằng câu “Happy July 4th” , có người chạy ra tiếp chúng tôi những chai nước lọc vì trời nắng gắt.
Trong nhóm chúng tôi đã có hai em hăng say dancing giữa đường rất ngoạn mục. Thanh cùng các em trai khác kéo thùng thổi bong bóng nước rất đẹp lôi cuốn các em nhỏ chạy ra theo đùa giỡn, cũng được thổi vào người, những bong bóng bay lên khiến các em nhỏ thích thú dang tay với và nhảy cười sung sướng. Cảnh tượng rất hào hứng đã mang ý nghĩa thiêng liêng của ngày lễ hội đủ sắc dân hợp lại, gầy dựng lên quốc gia giàu mạnh, văn minh, tự do và dân chủ.
 Buổi diễn hành chấm dứt sau 1 giờ trưa, trên đường về tôi thấy nhà nhà đều treo cờ trọng thể trước cửa, hầu như mọi người ở xa đều trở về ăn lễ cùng gia đình, các cháu của tôi cũng không ngoại lệ. Về nhà chị em nướng Barbecue gồm bò và gà đã được ướp tối qua, dùng bánh mì lát đơn giản cùng xà lách làm sẵn mua từ Costco.
 Đến chiều cả gia đình, anh chị em con cháu hẹn ra bờ hồ Elizabeth, đem theo khăn trải, trái cây, chips, và nước uống để hứng gió sông chờ tối xem bắn pháo bông.
 Người ta đông như kiến, vợ chồng, con cái, thậm chí, có bé chỉ  mới vài tháng nằm trong car seat quấn khăn cũng được đem theo. Đúng 9 giờ tối bầu trời sáng rực, những bông hoa đủ màu sắc thi đua nhau rơi xuống với âm thanh rộn ràng náo nhiệt, liên tục không ngớt.
Tiếng la, tiếng reo hò, tiếng cười hợp lại tạo không khí từng bừng náo nhiệt. Khi tiếng pháo từ từ chấm dứt, những bông hoa thưa thớt trả lại nền trời đen tối với những vì sao lấp lánh thì chúng tôi trở về nhà trong sự thoả mãn.
Đêm về ..tôi thấm mệt với đôi chân rã rời vì đi bộ hơi nhiều, thỉnh thoảng còn sót tiếng pháo bắn lẻ tẻ đâu đó. Tôi tiếc nuối đứng nhìn qua khung cửa kính, bầu trời lại sáng lên khi một vài bông hoa rơi xuống.
Tuy giấc ngủ đến muộn nhưng lòng tôi khoan khoái. Nằm trong bóng tối tôi mỉm cười nghĩ miên man về ngày lễ Độc Lập.
Quê hương thứ hai đã cho tôi nhiều phước phần, có được điều kiện để thực hiện chữ hiếu, người thân nơi quê nhà, thực hiện những việc có ý nghĩa trong cuộc sống, và điều lớn nhất là cho tôi được hưởng bầu không khí tự do, no ấm.
 Ngày mai chúng tôi cũng sẽ ăn mừng lễ tiếp với các thức ăn VN, ăn mừng các cháu học xa trở về, ăn mừng các cháu đúng mùa tốt nghiệp đại học, ăn mừng mọi sự thành công trên đất Mỹ.
 Xin cảm ơn đất nước Hoa Kỳ, cảm ơn niềm vui hưởng của ngày lễ Độc Lập đầy thú vị.
 Mừng lễ Độc Lập Hoa Kỳ
 Ngày 4 tháng 7 đua thi tiệc tùng
 Vui chơi liên tục tưng bừng
 Cỏ cây hoa lá đón mừng Hạ sang
 Nắng lên rực rỡ chói chan
 Tô thêm hùng khí vẻ vang đất trời
 Diễn hành lễ hội tuyệt vời
 Pháo bông toả sắc sáng rơi bầu trời
Tự do Hạnh phúc muôn nơi
 Dân giàu, nước mạnh cuộc đời ấm no
 
Minh Thúy – Lễ Độc Lập 2019
ĐI THĂM NƯỚC MỸ
 
Ông Sĩ ngồi ở bàn, bên ấm chè nóng, ông đang tra thuốc vào chiếc điếu cày và châm lửa hít một hơi, xong khoan khoái ngửa mặt ra thả một làn khói bay mù mịt.
Bà Sĩ ngồi dưới đất, cạnh bàn, đang lo gói ghém lại các món qùa trước khi bỏ vào túi xách cho chồng. Bà hài lòng khoe:
–         Toàn là cây nhà lá vườn ông nhá, long nhãn khô, măng khô, bột sắn giây, tự tay tôi làm cả…Những thức này nghe nói ở bên Mỹ qúy hiếm lắm, tìm không có, đào không ra đâu…
Ông Sĩ ra vẻ hiểu biết:
–         Thiếu giống gì, hàng của ta xuất khẩu sang Mỹ nhiều lắm, đến củ giềng ăn thịt chó cũng có nữa là. Để sang Mỹ tôi sẽ ăn thịt chó Mỹ xem có béo không? Chó tư bản nhà giàu mà.
Ông Sĩ hớp một ngụm chè để vài giây cho thấm thía mới gật gù:
–         Tôi nói cho vui chứ ở Mỹ người ta qúy chó lắm, có khi chó sướng hơn con người bên mình đấy. Chè mộc Thái Nguyên ngon thật, bà có mua chè này mang sang Mỹ làm qùa  không, hử?
–         Sao không chứ. Những gì ông dặn tôi mua tất….
Bà Sĩ đứng lên, phủi bụi quần và ân cần bảo chồng:
–         Xong hết cả rồi, ông đi ngủ sớm mai còn ra phi trường Nội Bài, mai tôi cũng dậy sớm nấu cho ông nắm cơm nếp ăn đi đường.
–         Gớm, bà cứ làm như ngày xưa lúc tiễn tôi lên đường trở về đơn vị sau lần tôi hiếm hoi về phép thăm nhà không bằng. Nhưng mà đi xuất cảnh sang Mỹ ai lại mang món cơm nếp nhà quê này chứ?
Bà Sĩ âu yếm gắt:
–         Ăn cho nó chắc bụng, không gì bằng cơm nhà qùa vợ.  Ông đừng có mà sĩ diện.
Suốt mấy ngày nay, biết tin ông Sĩ sắp đi Mỹ du lịch, họ hàng, làng xóm đã thăm hỏi, chúc mừng không ngớt, và nội bộ nhà ông cũng bận rộn tíu tít, lo sửa soạn hành lý và tâm lý không ngớt.
 Đời cứ như là mơ, ông Tượng, người em của ông Sĩ di cư vào Nam từ năm 1954 và di tản sang Mỹ năm 1975 đã mời ông Sĩ chuyến đi du lịch này.
Ngày di cư ấy bố ông đã dẫn thằng em 12 tuổi vào Nam trước, ông Sĩ ở nhà với mẹ, sẽ vào Nam sau. Nhưng chuyến đi Nam ấy không thực hiện được, gây ra cảnh chia lìa một gia đình 4 người mà nửa Nam nửa Bắc.
Ông Tượng quyết không bao giờ trở về Việt Nam nếu đất nước còn chế độ cộng sản, ông chỉ liên hệ với người anh duy nhất của mình qua thư từ hay điện thoại và thỉnh thoảng gởi tiền về giúp anh chị.
 Ông Tượng mời anh sang Mỹ chơi, coi như một món quà hào hiệp tặng anh, trước là thăm thân nhân sau là đi cho biết đó biết đây.
Hai anh em hai lý tưởng khác nhau, ông Sĩ đi bộ đội miền Bắc suốt một thời tuổi trẻ để giải phóng miền Nam cho đến khi đúng tuổi giải ngũ. Ông Tượng là lính miền Nam, chiến đấu chống lại quân đội Bắc Việt.
Sau chiến tranh hai anh em đều sống sót, nhà ông may mắn thế, nhưng biết đâu có những nhà khác, anh em, cha con hay chú cháu đã đối diện nhau nơi chiến trường, xả súng vào nhau để giành phần chiến thắng mà nào hay tình máu mủ liên hệ…
Cha mẹ đều lần lượt qua đời mà chẳng thấy mặt nhau sau lần chia ly vì thời cuộc ấy, chỉ còn hai anh em nên ông Sĩ háo hức muốn gặp lại thằng Tượng em ruột của mình lắm..
  Ngày xưa bố ông rất mê chơi cờ tướng, nên đặt tên các con theo từng quân cờ, người anh cả mang tên Nguyễn vănTướng qua đời khi lên 3 tuổi vì một cơn bạo bệnh, người con thứ hai là ông Sĩ và người kế tiếp là Tượng thì mẹ ông phát bệnh gì đó mà không thể sinh đẻ được nữa, nếu không thì anh em ông còn …kéo dài thêm mấy quân cờ nữa như Xe, Pháo Mã, Tốt, vì thuở ấy nhà nào cũng bảy, tám đứa con là chuyện thường.
Ông Sĩ cũng háo hức muốn biết mặt mũi nước Mỹ nó ra làm sao mà ghê gớm thế, có thể làm ảnh hưởng cả thế giới và một thời miền Bắc của ông phải vất vả chiến đấu chống Mỹ, bao nhiêu thanh niên nam nữ lên đường thi hành nghĩa vụ quân sự và bao nhiêu người đã gởi thây nơi rừng núi chiến trường miền Nam, mất xác, mất tăm tích cho đến tận bây giờ.
Tất cả chi phí chuyến du lịch qua Mỹ dĩ nhiên đều do người em lo. Nhà nghèo xác nghèo xơ, chuyện đi Tây đi Mỹ du lịch là một giấc mơ vĩ đại cả đời ông không dám nghĩ tới, thì bây giờ cơ hội trong bàn tay dại gì ông từ chối.
      Sáng hôm sau ông Sĩ thức dậy sớm, nhưng bà đã dậy sớm hơn ông từ lúc nào, cơm  nếp nấu xong bà gói trong lá chuối, với một gói muối vừng để tiện mở ra ăn. Đám con cháu  cũng lần lượt đến tiễn ông Sĩ lên đường. Thằng con trai cả sẽ làm nhiệm vụ chở bố ra phi trường Nội Bài. Từ quê ông ra Hà Nội mất gần 1 tiếng, từ Hà Nội ra phi trường Nội Bài mất thêm khoảng 40 phút nữa.
Hai bố con đến phi trường Nội Bài, bố con dặn dò nhau xong thì ông Sĩ bước vào trong, ông hoa mắt vì lần đầu tiên trong đời mới được biết  phi trường là gì. Ông cầm cuốn hộ chiếu chìa ra để trình bày và hỏi thăm, người ta chỉ cho ông chỗ xét gởi hành lý trước..
Cô hải quan đanh đá thô bạo đưa tay bới túi hành lý, cô định mở từng bọc một thì ông Sĩ biết điều móc túi ra, ông tần ngần suy nghĩ, nó trông phong lưu và đẹp người thế, trong khung cảnh phi trường hoành tráng thế, mà đưa tiền ít chắc không xứng đáng lại thêm rắc rối?
Ông đành lấy ra 5 trăm ngàn đồng Việt Nam dúi vào tay cô, kẻo cô mở tung toé ra thì giờ đâu ông xếp lại cho được :
–         Chẳng có gì đâu, ít thực phẩm khô làm quà thôi mà…
Nhận được tiền, cô hải quan dịu dàng tươi tỉnh ngay:
–         Thế mà bác không nói cho cháu biết trước. Thôi, bác yên chí, hành lý này sẽ chuyển lên chuyến bay với bác.
Kinh nghiệm lo xa của ông thật hữu ích, ông đã bảo bà để một số tiền mặt cho ông “đi đường”, hễ có giao thiệp với bất cứ nhân viên cấp nào, ngành nghề nào phải có tiền mới giải quyết được sự việc. Tiền có sức mạnh ghê gớm, tiền cất tiếng nói thay người.
Xong việc ký gởi hành lý, ông Sĩ thảnh thơi ôm cái xách tay và lại hỏi thăm chỗ đăng ký lên máy bay, lại hết chỗ nọ đến chỗ kia, cuối cùng ông đã tìm ra đúng chỗ, ông đang ngơ ngác chưa biết phải làm gì thì bị anh hải quan ngồi sau chiếc bàn dài, mặt non choẹt, quát xa xả:
–         Ông kia, đưa giấy tờ đây, làm mất cả thì giờ của người khác.!!
–         Vâng ạ, có hộ chiếu xuất cảnh đầy đủ đây ạ…người xuất cảnh là tôi Nguyễn Văn Sĩ, sinh năm.…
Anh Hải Quan bực mình ngắt ngang:
–         Khi nào cần tôi hỏi, ông không phải khai. Giấy nhập cảnh nữa, xuất khỏi đây ông sẽ đến đâu. Đấy là thủ tục.
Ông lại móc túi quần qua hai ba lớp gói, lớp bọc để lôi ra giấy nhập cảnh trân trọng đặt lên mặt quầy cho anh hải quan. Tướng tá sang cả và mặt anh ta lạnh lùng càng làm ông Sĩ cảm thấy mình thấp hèn và hồi hộp như một kẻ đang đợi được ban ơn:
–         Thưa anh, thế đủ chưa ạ ? cần gì nữa không ạ?
Anh hải quan lại quát:
–         Ông ạ, ạ..gì mà lắm thế? có im đi không cho người ta làm việc.
Ông Sĩ im ngay tức khắc, liếc nhìn sang anh hải quan bên cạnh đang “làm việc” với một người nước ngoài, nhã nhặn, lịch sự, ông ngạc nhiên tự hỏi :” Hai anh hải quan này cùng làm một việc, nhưng tính khí khác nhau? hay chắc tại mình và ông nước ngoài kia khác nhau?  mà hai cảnh đối xử một trời một vực thế nhỉ?”
Anh hải quan của ông đã xét giấy tờ xong, anh ta đẩy mạnh mớ giấy tờ về phía ông, suýt nữa thì cuốn sổ hộ chiếu quá đà rơi xuống đất nếu ông Sĩ không nhanh tay đỡ kịp.
Anh hải quan không thèm nói một câu, nhưng ông biết là đã xong, vội thu gom giấy tờ của mình bỏ vào bọc vào túi và bước theo lối có mũi tên chỉ dẫn để ra chỗ cổng vào máy bay, để nhường chỗ cho người khác tiến lên.
Tới đây tưởng đã được yên thân, nhưng khi ông cẩn thận và thân ái hỏi một cô mặc đồng phục nhân viên phi trường đang ngược chiều đi đến :
– Có phải lối này ra chỗ máy bay không cháu?
Thay vì trả lời 3 chữ “vâng đúng rồi” để tiết kiệm năng lượng trong người, cô gái tốn công cau có, gắt gỏng bằng một câu dài hơn:
– Có một lối này ông còn hỏi gì nữa…?
Ông Sĩ bất chấp lối ăn nói “sinh sự” ấy,  vẫn tươi cười và thân ái:
– Thế hả, bác cám ơn cháu.
Vừa trả lời ông Sĩ vừa rảo bước thật nhanh, kịp lúc người ta đang gọi loa mời hành khách lên máy bay.
Vào trong máy bay gặp các cô tiếp viên Việt Nam, ông Sĩ lại…giật mình vì cảm thấy chưa thoát nạn, nhưng ông tự trấn an : “ Đã ngồi vào trong máy bay là chắc ăn rồi, có bị chúng nó gắt gỏng nữa cũng không thành vấn đề”.
Các cô tiếp viên hàng không Việt Nam trông ai cũng sáng sủa, trẻ đẹp và sang cả như mấy người  hải quan lúc nãy, ông Sĩ tự kết luận phi trường là chỗ làm việc của những đứa con nhà giàu quyền thế, khác hẳn với mấy đứa cùng trang lứa ở quê ông, mặt mày tối tăm, ngu dốt và đáng thương như miếng thịt ôi trên phản thịt chợ chiều 30 Tết.
Các cô tiếp viên hàng không đẹp mà kiêu kỳ xa cách qúa, ông lại tưởng như mình không phải là hành khách trên chuyến bay, mà đang đi nhờ họ thì đúng hơn, nên ông không dám làm phiền, biết thân biết phận ngồi gọn gàng và im thin thít tại chỗ, dù có nhiều thứ lạ, ông muốn cất tiếng hỏi han lắm, nhưng chẳng dại gì mở miệng để bị mắng như lúc nãy hỏi đường cô nhân viên..
Máy bay rời Việt Nam đến phi trường Nhật Bản, ông lại lạc vào mê cung lần nữa, kinh hoàng hơn vì chung quanh không còn nhiều người Việt Nam.
Thà bị mắng, bị gắt như ở phi trường Nội Bài còn là đất nước Việt Nam, con người Việt Nam, còn dễ dàng hỏi thăm, đằng này xứ lạ quê người.
Nhưng khi ông chìa vé, chìa hộ chiếu ra chẳng biết nói câu tiếng Nhật nào mà cũng được người ta giúp đỡ rất tận tình, dẫn tay ông ra tận chỗ cổng máy bay mà ông cần. Thế là ông nhẹ cả lòng, ngồi tại chỗ quyết không đi đâu xa, sợ lạc mất cái cổng máy bay này. Bây giờ ông Sĩ mới thong thả mở gói cơm nếp của bà vợ ra ăn trong thời gian chờ máy bay mấy tiếng đồng hồ. Từ phi trường Nội Bài gặp các sự sách nhiễu vô lý, ông thấy gói cơm nếp của vợ thật có lý, có tình.
Lên chuyến bay ở Nhật, từ Nhật cách Việt Nam chẳng bao xa, mà không khí, con người đã khác nhau xa, nhân viên trên máy bay ân cần giúp đỡ ông tìm ghế ngồi, chỉ cách cài dây an toàn, và giúp ông để túi hành lý vào khoang tàu với nụ cười và nét mặt tươi tắn..
Lần này ông ngồi gần khung cửa sổ và tâm hồn tự tin thanh thản hơn nên tha hồ làm chủ tình hình, ông ngả đầu ra ghế để nhìn ngắm bên ngoài, từ lúc máy bay từ từ lăn bánh, rồi lấy đà cất cánh lên cao dần, thành phố càng lúc càng xa ở phía dưới, ông sợ lắm, nhưng cũng thú vị lắm, không ngờ trong đời mình có lúc được đặt chân vào phi trường để xuất ngoại, được “đi mây về gió” thế này.
Các cô tiếp viên Nhật Bản cũng xinh đẹp, lịch lãm, cao sang không thua gì các cô tiếp viên hàng không Việt Nam nhưng họ thật là thân thiện, họ mỉm cười kiên nhẫn nhìn ông ra dấu chỉ trỏ các món thức ăn nước uống nào mà ông muốn trên suốt chuyến bay dài từ Nhật đến  nước Mỹ xa xôi. Bây giờ ông thật sự là một hành khách được phục vụ tận tình và trân trọng.
Ông náo nức nghĩ đến nước Mỹ, nghĩ đến thằng em và đám con cháu nhà nó, cũng như họ hàng làng nước mà ông có thể sẽ gặp trong thời gian thăm viếng Mỹ.
Xuống tới phi trường Los Angeles tiểu bang California lúc 12 giờ trưa hôm sau, ông Sĩ thêm một phen choáng váng đến hoang mang, phi trường to lớn và náo nhiệt như cả thế giới, toàn thể nhân loại đều tụ họp ở đây, người ta nói đủ thứ tiếng làm ông nghe mà điếc cả tai.
Ông lắng tìm nghe tiếng Việt Nam, nhìn khuôn mặt Việt Nam và đi theo họ cho chắc ăn, ông chỉ có một túi hành lý ký gởi nên hải quan Mỹ làm rất nhanh chóng. Họ hỏi, thì có người hành khách Việt Nam bên cạnh dịch lại cho ông, ông trả lời không mang thực phẩm có thịt, cá . Thế là anh hải quan xét hàng tin ngay, chẳng buồn mở ra kiểm tra ông nói thật hay không. Người Mỹ sao mà dễ tin người thế chứ.
Xong ông xếp hàng dài chờ trình giấy tờ nhập cảnh vào Mỹ mà lòng vẫn chưa hết kinh ngạc vì anh hải quan Mỹ xét hàng vừa rồi, ông vui lây và tự hào vì đã được người ta tin tưởng vào lời nói của mình.
Người này tử tế bao nhiêu ông lại nghĩ đến người kia bấy nhiêu, nét mặt câng câng đáng ghét của cô hải quan xét hàng hóa ở phi trường Nội Bài khi lục mở túi hành lý của ông, và bộ mặt ấy bỗng biến thành tươi cười hơn hớn khi nhận được tiền ông đút lót.
 Bây giờ so sánh hai sự khác biệt, ông mới thấy đau đớn vì tiếc tiền, ông lẩm bẩm chửi  khẽ:
–  Tiên sư con quạ mổ! Tiên nhân con nặc nô ! làm tao mất toi năm trăm nghìn đồng bạc.
Đến lượt ông Sĩ đối diện với ông hải quan Mỹ, ông nộp giấy xuất nhập cảnh ra, nhìn ông hải quan Mỹ to béo kềnh càng, ông Sĩ khiếp vía, ông Mỹ chưa quát tháo gì mà ông Sĩ đã hồi hộp, mồ hôi như rịn cả ra dù trong điều kiện không khí mát lạnh.
Xem xong các giấy tờ một cách thành thạo và nhanh chóng, ông hải quan Mỹ nhìn ông Sĩ và nói:
–         Welcome to USA.
Ông Sĩ chẳng hiểu gì, hồn vía lên mây, vội vàng lục túi áo, túi quần, thì chị Việt Nam đứng cạnh bên ngạc nhiên hỏi:
–         Bác tìm gì thế?
Ông ghé tai chị Việt Nam nói nhỏ:
–         Chẳng biết ông hải quan Mỹ hạch họe gì, giấy tờ tôi đủ cả, thôi cứ biếu tiền cho xong chuyện. Ở đây họ có tiêu tiền Việt Nam không?
Chị Việt Nam bật cười như vừa bị ai thọc vào nách:
–         Bác ơi là bác, ai hoạch họe gì bác, ông hải quan nói lời chào mừng bác vào đất nước Mỹ đấy.
Ông Sĩ ngạc nhiên kêu lên:
–         Thế à? Ai quen biết gì nhà ông ấy mà chào mừng nhỉ …
–         Thì họ lịch sự xã giao mà bác.
Giây phút này ông Sĩ nhớ ngay đến bộ mặt trơ trơ lạnh lùng và cách ăn nói hỗn hào, trịch thượng của anh hải quan ở phi trường Nội Bài, anh ta là người Việt Nam, đáng tuổi con cháu ông mà cư xử với ông còn thua ông hải quan người Mỹ khác giòng, khác giống này nữa.
Chị Việt Nam giục:
–         Thôi bác cất giấy tờ kẻo rơi mất và ra ngoài đi, chắc người nhà bác đang đợi bên ngoài đấy…
Ông Sĩ hớn hở khóac túi xách lên vai, tay còn lại xách cái túi lớn và đi theo dòng người ra ngoài…
Ông đi từ ngơ ngác này đến ngơ ngác kia khi nhìn cảnh và người xung quanh, cho đến khi cả đám thân nhân chạy ùa ra đón ông:
–         Anh Sĩ đấy à? Em là Nguyễn văn Tượng đây…
–         Chào bác Sĩ, chúng cháu là con ông Tượng.
Ông không thể nào nhận ra thằng Tượng em ông ngày xưa, ông từng cõng nó trên vai dù hai anh em suýt soát tuổi nhau, bây giờ nó bệ vệ hồng hào, khiến ông phải thốt lên:
–         Giời ạ, chú Tượng mà tôi cứ tưởng ai, dù nhìn hình rồi mà tôi vẫn không nhận  ra chú, trông cứ như tổng giám đốc hay thủ trưởng cơ quan ở thủ đô Hà Nội. Nhưng sao chú vẫn nhận ra tôi, hở?
Ông Tượng thành thật:
–         Dĩ nhiên là qua hình anh gởi, nhưng nhìn thấy một ông Bắc kỳ ngơ ngác giữa phi trường Los. này thì không ai ngoài anh.
Ông Sĩ vẫn chưa tỉnh cơn mê:
–  Người ở đâu mà lắm thế ! cứ ồn ào và nhốn nháo như tôm tươi nhảy trong rổ …
Mọi người lên xe hơi để về nhà, vì con cháu ông Tượng ra đón đông nên phải đi ba xe làm ông Sĩ thầm thán phục khi biết chúng nó đứa nào cũng có ô tô riêng.
Ông chợt nhớ ra vội dặn dò con ông Tượng:
–         Này các cháu, chạy xe cẩn thận nhé kẻo xe  bốc cháy như ở Việt Nam đấy.
Ông Tượng trấn an lại ông anh:
–  Anh đừng lo, hiện tượng xe gắn máy và xe hơi bốc cháy chỉ có ở Việt Nam, chắc vì xăng dầu bị pha chế do lòng tham của con người mà ra thôi.
Xe hơi chở ông Sĩ từ phi trường Los Angeles đi vù vù qua những con đường, lên đến highway 405 song song là 6 hàng xe làm ông Sĩ không tin vào mắt mình, ông cẩn thận đếm đi đếm lại mấy lần. Trên đầu ông cũng là cầu highway, ông nhìn phía trước, những đường cầu highway chạy dài chồng chất hai ba tầng, tạo thành những đường cong uốn lượn, chỗ cao chỗ thấp vừa hoa mỹ vừa hiện đại với dòng xe cộ nườm nượp mà chóng cả mặt.
Đường xá ở Mỹ sao mà cao siêu và vĩ đại thế, nơi đâu cũng toàn xe là xe, đông như đi chảy hội, mà tuyệt nhiên ông Sĩ không nghe một tiếng còi xe nào, chả bù cho tại Việt Nam, chỉ phố huyện của ông thôi mà xe cộ ngược xuôi, xe nọ qua mặt xe kia, bất chấp ai trước ai sau và còi xe thì luôn kêu inh ỏi để người ta biết mà tránh né nhau, chứ đèn đường hay dấu hiệu luật lệ giao thông chẳng hiệu quả gì, hình như chỉ để phô trương và triển lãm, đến nỗi người ta có cảm tưởng rằng nếu xe không có còi thì đừng hòng ra đường.
Ông Sĩ phải thốt lên:
– Sao mà nhiều cầu vượt đến thế, sao mà nhiều xe cộ đến thế? chỉ riêng nước Mỹ này đã ngốn hết bao nhiêu xăng dầu của thế giới rồi còn gì !
Qua khỏi cầu highway 405, xe chở ông Sĩ đang đi vào một thành phố, rồi đến những khu đường vắng vẻ dần, khi xe dừng lại trước một bảng hiệu stop màu đỏ khá lâu thì ông Sĩ ngạc nhiên hỏi ông Tượng:
–         Sao ngừng lâu thế?
–         Bảng “Stop” là phải ngừng hẳn xe anh ạ.
–         Ối giời, bảng gì thì bảng, nhưng chỗ này vắng vẻ không có ai thì ta cứ linh động mà đi chứ ngừng làm gì cho phí thì giờ?
–         Luật lệ ở Mỹ ai cũng phải tôn trọng, dù là lúc nửa đêm không một bóng người cũng vậy.
Ông Sĩ gật gù khen:
–   Ở Mỹ thật là tự giác, chả bù cho ở Việt Nam ta cứ làm liều cho đến khi bị phát giác.…
Những khu nhà cư dân hiện ra, ông Sĩ thất vọng khi nghĩ nhà em trai mình ở một nơi vắng vẻ như thế này chắc không khá giả gì. Ông Tượng như đọc được ý tưởng trong đầu ông anh, bèn giải thích:
–         Nhà em ở trong khu này, một trong những khu vực nhà cửa có gía của California .
Ông Sĩ hỏi lại:
–         Ở nơi hiu quạnh thế này mà lại đắt đỏ thế kia à?
–         Vâng, ăn thua địa thế, nhà trên đồi, trên núi còn đắt hơn nhà dưới mặt đất. Chỉ những ai tiền triệu trở lên mới mua nổi nhà trên ấy thôi.
–         Lạ nhỉ, ở Mỹ cái gì cũng ngược đời, ở quê mình, đồi núi bỏ không, làng xã phải khuyến khích người dân lên phát quang làm rẫy trồng khoai sắn tăng gia vì lúa gạo không đủ ăn, chứ làm gì có chuyện dọn lên đồi, lên núi mà ở cho hoang lạnh lẻ loi.
Ông Tượng kể thêm:
–         Nhà ở càng gần biển càng đắt, nhất là những căn nhà sát ngay bờ biển.
–         Ối giời, ở Việt Nam chỉ những nhà nghèo mới ở sát biển, đối diện với sóng gío làm hao mòn nhà cửa, biển lấn đất liền có ngày nuốt chửng cả nhà và người chứ qúy hóa gì.
Ông Tượng hỏi thăm sang chuyện nhà :
–         Nghe nói thằng út nhà anh làm việc ở công ty gì trên huyện, có khá không ?
–         Chỉ “túc tắc” thôi. Được mỗi ưu điểm là khỏi chân lấm tay bùn như làm ruộng.
Ông Tượng ngạc nhiên:
–         Anh nói “túc tắc” là gì? Em không hiểu…
–         Là công việc lằng nhằng tạm đủ sống qua ngày. Trước anh có cho nó học tiếng Trung mà không xin được việc làm ở thành phố đành về làm công nhân phố huyện vậy.
Ông Tượng lại hỏi và chép miệng than thở:
–         Tiếng Trung là gì? Việt Nam bây giờ nói nhiều từ lạ qúa em không hiểu nổi…
Ông Sĩ giải thích:
–         Cuộc sống tất bật qúa nên người ta phải nói tắt và hình tượng cho nhanh hiểu chú ạ. Tiếng Trung là Trung quốc, còn Singapore thì gọi là “Sing” cho ngắn gọn, chú hơi đâu mà lăn tăn. À, hai từ “Lăn tăn” là hình tượng đấy, nghĩa là chú cứ để tâm hồn thanh thản như dòng nước bình lặng, đừng suy nghĩ, thắc mắc như khi dòng nước gợn sóng lăn tăn. Hiểu chưa?
Ông Tượng trả lời mà nét mặt vẫn còn hoang mang:
–         Vâng, em sẽ cố gắng hiểu.
Về đến nhà, sau vài phút chào mừng thăm hỏi nhau rối rít, ông  Sĩ lại lục đục với mớ hành lý, lôi ra giấy tờ và nghiêm chỉnh nói với em:
–         Chú đưa anh  ra công an khu vực khai tạm trú cho xong việc đã….
Ông Tượng bật cười không khác gì chị Việt Nam lúc nãy ở phi trường Los Angeles:
–         Ở Mỹ không ai xét hỏi giấy tờ anh đâu.
Ông Sĩ không tin:
–         Chú nói thế nào?  Nếu công an khu vực không xét giấy tờ, thì chú cứ dẫn anh ra chào họ một tiếng cho phải lẽ, sau này họ không kiếm cớ bắt bẻ, làm tiền mình chú ạ…với lại chị có dự trù sẵn một ký chè Thái Nguyên để biếu họ đây.
Ông Tượng ngưng cười, cũng nghiêm chỉnh để giải thích:
–         Nước Mỹ không có anh công an khu vực, không ai phải khai tạm trú tạm vắng. Họ đã xét giấy nhập cảnh của anh ở cửa  khẩu phi trường, thế là xong.
–         Thế anh đi ngoài đường họ có xét hỏi giấy tờ không?
–         Không tin ngay bây giờ anh cứ ra đường đi khơi khơi xem có ai biết anh mới vừa đến Mỹ không? Ngay cả người hàng xóm bên cạnh cũng không hề biết nữa là…
Ông Sĩ vẫn ngơ ngác:
– Thật thế ư? Chẳng lẽ người Mỹ lại sơ hở thế? quản lý đất nước và con người lỏng lẻo đến thế?
Ông Sĩ  ngồi thừ người vì chưa hết sửng sốt, cả đời ông quen thuộc với nếp sống xã hội chủ nghĩa, đã ngấm vào thịt da xương tủy ông những thủ tục, luật lệ, nên ông tưởng nó theo ông dù ông đi đâu, đến đâu.
 Hôm nay, ông là một cựu chiến binh cộng sản, cựu kẻ thù của Mỹ, kẻ đã một thời từng mong tiêu diệt những lính Mỹ trên quê hương Việt Nam, theo đúng câu tuyên truyền “Đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào” đang chễm chệ ngồi ngay trong lòng nước Mỹ, vậy mà không hề bị họ để ý, nghi ngờ hay làm khó khăn gì cả, qủa là chuyện lạ lùng.
Buổi chiều, ông Sĩ ăn cơm cùng gia đình ông Tượng, có cả các con ông Tượng ở gần đấy sang chơi, trò chuyện đủ thứ. Gia đình ông Tượng bàn nhau kế hoạch sẽ đưa ông Sĩ đi chơi những nơi trong thành phố, rồi đi thăm thân nhân khác, tại những thành phố hay tiểu bang khác. Thật là nồng nhiệt, thân tình và vui vẻ.
Tối hôm đầu tiên nằm ngủ ở Mỹ, trong nhà của em trai mình, trong một căn phòng riêng sạch sẽ đầy đủ tiện nghi, giường nệm, chăn gối thơm tho, phòng tắm, cầu tiêu ngay bên cạnh, ông Sĩ tưởng như mình lạc vào cõi mộng nào.
 Bao nhiêu năm đời bộ đội nằm bờ bụi, đói khổ, hết chiến tranh thì về quê, cảnh nhà nghèo nàn túng thiếu, ông nào biết có những cảnh đời tiện nghi sung sướng như thế này, ông Sĩ ao ước giá mà bà vợ cùng đi với ông để cùng được hưởng, vì mai kia ông có kể lại chắc gì bà ấy hình dung ra được
Ông thao thức mãi chưa ngủ được, phần vì thay đổi giờ giấc, phần vì lạ nhà, lạ cảnh. Ông lan man nhớ lại lúc ở phi trường Los. Anh hải quan đã tin cậy lời ông một cách dễ dàng, một người xa lạ, mới gặp lần đầu mà không xét hỏi thêm gì về hành lý của ông cả.
Ông chạnh lòng nhớ đến chuyện xa hơn, sau ngày đất nước hoà bình, ông Sĩ làm đơn xin hưởng lương hưu cựu chiến bình. Từ làng xã, đến các đơn vị đều biết ông bao năm đi bộ đội, vậy mà  người ta hành hạ ông phải chạy từ quê lên huyện, lên thành phố, trở về đơn vị cũ, gặp thủ trưởng xưa, xin bao nhiêu chữ ký, bao nhiêu thứ xác nhận chòng chéo, vòng vo đến dư thừa thì họ mới cho hoàn tất hồ sơ.
Bao nhiêu công lao và xương máu của ông đã đổ ra trong chiến tranh, mà chút quyền lợi đền bù cho ông sao nhiêu khê, khó khăn đến thế !
Lòng ông  lại chập chờn những nỗi vui buồn, vui vì anh em ông có ngày đoàn tụ nhìn thấy nhau, ông sẽ có mấy tháng rong chơi ở nước Mỹ to đẹp này, buồn vì ông thấy hai cảnh đời khác biệt.
Gia đình ông Tượng sang Mỹ, 3 đứa con đều ăn học thành tài cả, đứa nào cũng có bằng cấp đại học trở lên, có nhà cửa riêng, còn gia đình ông Sĩ cũng 3 đứa con thì 2 đứa lớn theo nghiệp cha ông làm ruộng, cuộc sống nghèo nàn lam lũ chẳng biết đời nào mới ngóc đầu lên nổi, thằng út đậu xong cái bằng phổ thông trung học, ông đã tìm cách cho nó thoát ly cảnh đồng ruộng, để cuộc đời đỡ vất vả, xin làm công nhân ở một hãng sản xuất đồ gốm trên huyện mà cũng tốn bao nhiêu công phu nhờ cậy giới thiệu và đút lót qùa cáp mới được nhận vào.
Ông ngậm ngùi thầm trách bố ông sao ngày xưa không đem cả vợ con đi, mà kẻ trước người sau cho mộng đời dang dở, thì ngày nay cha con ông chắc cũng chẳng thua kém gì cha con ông Tượng.
 Bố ông yêu thích môn cờ tướng, chơi cờ tướng giỏi, vậy mà ván cờ cuộc đời ông chỉ tính sai một nước cờ mà thiệt thòi cả mấy đời người.
Hết nghĩ chuyện nọ đến chuyện kia, ông Sĩ bỗng lo xa khi nghĩ đến 3 tháng du lịch ở Mỹ rồi sẽ trôi qua, ông sẽ trở lại Việt Nam, đối diện với cảnh sống nghèo nàn thường lệ, và  trước mắt là đối diện với cuộc hành trình trở về từ Mỹ.
Xưa nay ông đã quen bị đối xử bất công trong mọi tình huống của cuộc sống rồi, có bị quát, bị mắng cũng chai đá rồi.
Nhưng từ phi trường ở Nhật Bản đến phi trường ở Mỹ ông đã được đối xử một cách công bằng, lịch sự, hoàn toàn khác biệt ở phi trường Nội Bài, ông chợt thấy một thế giới khác tử tế hơn nơi ông sinh ra và lớn lên cho đến bây giờ.
Trời ơi, lượt về ông sẽ gặp lại những bộ mặt từ chuyến bay hãng hàng không Việt Nam ấy, đến phi trường Nội Bài gặp mấy đứa hải quan ấy, mà ông thêm ngao ngán…
Ông chỉ muốn chúng nó biến mất trong đầu óc ông để ông ngủ yên tối nay và thoải mái tận hưởng những ngày du lịch một đất nước lạ đời và thăm lại các người thân sau bao nhiêu năm dài xa cách.
                Nguyễn Thị Thanh Dương.

Giây Phút Tuyệt Vời
Lê Mộng Hoàng
 
“The best minute you spend is the one you invest in your family””
 Giây phút tuyệt vời nhất mà bạn có được là giây phút bạn trải qua trong gia đình”
Một nhà văn Mỹ, ông Ken Blanchand, đã nói như vậy.
Tháng 6 và tháng 7 vừa qua tôi đã có may mắn hưởng được những “giây phút tuyệt vời” quí giá khó quên ấy khi tham dự lễ cưới của con trai cô bạn thân ở Ottawa
và cuộc họp mặt gia đình họ LÊ tại Dallas
, Texas
.
Sáng thứ Sáu ngày 30 tháng 6 chúng tôi lái xe từ Virginia đi Canada Ottawa để dự lễ gia tiên của cháu Christopher, trưởng nam của cô bạn thân T.H. ở Lưu Xá Thanh Quan đại học Sàigòn từ hơn 40 năm qua (1963-2006). Hai đứa chúng tôi lúc ở Sàigòn đã gần gũi nhau, chia xẻ những ngày nắng mưa cùng những cơn giông bão trong đời với nhau. Sau cơn bão dữ tháng 4, 1975 lại tìm lại được nhau và luôn “gìn vàng giữ ngọc” cho tình bạn chân thành mộc mạc này. Tuy ở mãi tận Ottawa, Canada và bận bịu với nghề dạy học tại trường công lập với gia đình chồng con và cháu nhưng T.H. luôn hiện diện trong các khúc quanh quan trọng của gia đình chúng tôi: đám cưới con gái tôi, kỷ niệm 25 năm ngày cưới của cặp vợ chồng tỵ nạn “nghèo rớt mồng tơi” trên nước Mỹ, lễ thượng thọ 90 tuổi của Mẹ tôi và đám cưới con trai út tôi.
Trong lễ cưới của cháu Sam và Rachel tại nhà nguyện trường đại học UVA ngồi ở dưới nhìn lên sân khấu nghe T.H. đọc 5 điều khuyên dạy của Đức Phật bằng tiếng Mỹ một cách nghiêm trang thành kính dõng dạc khiến mọi người lặng yên lắng nghe tôi không cầm được nước mắt: Những giọt lệ sung sướng, vui mừng vì cảm kích tình thân thương và lòng tốt của bạn lẫn sự may mắn mà Trời phật đã ưu ái ban cho mình được có những giờ phút tuyệt vời trong đời sống. Cảm xúc vào lúc đó thât vô giá vì nó được cấu tạo bằng bao nhiêu cố gắng chia xẻ, chăm sóc tưới tẩm của bằng hữu, thật khó diễn tả!
Tối thứ Sáu 30 tháng 6 Huyền và tôi Check in tại Hotel Days Inn Ottawa do gia đình chú rể giữ sẵn cho bà con họ hàng rồi thay áo quần, đến thẳng nhà T.H. Người đầu tiên tôi gặp là chú rể Christopher vừa  mới chạy bộ về, mồ hôi ướt đẫm. Tôi bỗng bật cười nói với cháu, “Thật là ngộ nghĩnh khi ngày mai là lễ cưới của con mà tối ni con còn phải tập thể dục và chạy bộ để giữ gìn sức khỏe. Ngày xưa thì chú rể lo trang điểm như “xe da mặt gội đầu bằng nước thơm…””Sau bữa cơm tối thân mật thì có buổi họp trong vòng bà con: các anh, các chị, các em, các cháu đến từ Texas, California, Virginia, San Francisco, New York, Paris hội họp về đây trước là chứng kiến hôn lễ của Chris và Trâm sau là để bà con trò chuyện, thắt chặt tình thân. Chỉ có tôi và Huyền là bạn thôi nhưng chúng tôi tự cho phép mình cũng là một phần tử trong gia đình; nên cũng góp ý kiến vào chương trình việc cử hành lễ rước dâu ngày hôm sau, Thứ Bảy. Không khí buổi họp rất thân mật, vui vẻ, mọi người cười đùa thoải mái. Đài khí tượng cho biết Thứ Bảy ngày 1 tháng 7 sẽ có mưa giông tuy nhiên Trời Phật đã thương vợ chồng T. H. hoãn lại đến 4 giờ chiều mới mưa lất phất. Lễ gia tiên được cử hành rất trang trọng với lễ trình kiến ông bà, dâng rượu cám ơn phụ mẫu cùng lời khuyên bảo đôi vợ chồng trẻ của bố mẹ hai gia đình. Tiếp theo là tiệc cơm trưa do nhà trai khoản đãi ngoài vườn dưới bóng mát của các cây dù màu sắc tươi sáng và có kết hoa treo lồng đèn xinh xắn vì cả hai vợ chồng đều là nhà giáo nên bạn tôi tổ chức thật khéo léo và chu đáo từng chi tiết nhỏ nhặt: thức ăn được hâm nóng trong các khay bằng bạc sang trọng có người đứng serve ăn mặc lịch sự với chén đĩa bằng sứ, muỗng nĩa bạc, các thức tráng miệng bày biệt rất đẹp mắt khiến tôi nhớ lại những tiệc cưới buổi trưa không được sửa soạn, thức ăn để nguyên trong khay aliminium foil bọc plastic tht tội nghiệp cho cô dâu chú rể về các hình ảnh không mấy đẹp của ngay vui trọng đại của họ. Chiều hôm sau, Chủ Nhật 1 tháng 7 là lễ cưới theo nghi lễ Tây phương tại Canadian Museum of Civilization (Bảo tàng viện về nền văn minh của Gia nã Đại) ở Gatineau, Quebec trên bờ sông Ottawa; cảnh trí thật thơ mộng bên trong có rất nhiều chỗ đáng xem với sân khấu trang hoàng bằng phong cảnh các khu rừng rậm, các chiếc thuyền gỗ của người Indian, các cây dừa tàng lá xanh tươi và những bức tranh to lớn của các họa sĩ nổi danh tại Canada. Cháu Christine, con gái đầu của bạn tôi là người điều hành chương trình và trang hoàng tiệc cưới; tuy phải bận rộn với 3 con còn bé Christine đã tổ chức một lễ cưới và tiệc cưới thật trang trọng và trang hoàng các bàn tiệc rất mỹ thuật, đẹp sang; đặc biệt trên sàn nhà từ sân khấu đến bàn tiệc của cô dâu chú rể có rải rác các cánh hoa hồng đủ màu: hồng, đỏ, trắng, cam,vàng, giống như lối đưa vào động Thiên Thai ngày xưa vậy. Mỗi bàn tiệc có hoa lan tươi thật trang nhã.
Niềm vui đặc biệt và quí gíá của tôi trong chuyến đi Ottawa dự lễ cưới của Chris và Trâm là nhận thức được rõ ràng tầm quan trọng của các cuộc họp mặt gia đình bà con được gặp lại các bạn cũ của lưu xá Thanh Quan ngày xa xưa ấy ở Sàigòn (1963) các bạn Phương Thu, Phượng, Kim Linh. Mang nỗi vui mừng thân ái này về Virginia
cả hai chúng tôi đều cảm phục tài tổ chức khéo léo và tấm lòng hiếu khách tình nghĩa đậm đà của vợ chồng bạn T. H. Hầu hết mọi người trong đại gia đình đều quý mến anh chị nên đều hoan hỷ vui cười mấy ngày họp mặt,
Sau lễ Độc Lập 7/4 chúng tôi lại bay về Dallas
, Texas
để dự buổi họp mặt Gia đình Họ Lê được tổ chức lần đầu tiên để thăm dò ý kiến của giới trẻ. Đây là sáng kiến của ông xã tôi; sau tiệc cưới của Sam & Rachel, nhìn các con, các cháu chuyện trò, nhảy nhót vui thích, anh nảy ra dự tính Họp Mặt Gia Đình con cháu họ Lê; rồi anh liên lạc bằng e-mail với các cháu khắp nơi để đưa đến cuộc họp mặt gia đình rất vui, thân mật và lý thú này. Liên tiếp 4 ngày, thứ Sáu, thứ Bảy, Chủ Nhật, thứ Hai 7/7-7/10 bà con anh em, con cháu họ Lê từ nhiều nơi: Florida, Virginia, Maryland, Austin, California tụ tập về Dallas dự cuộc Họp Mặt Gia Đình bắt đầu bằng một dạ tiệc tại nhà hàng China Taste, có dạ vũ và ban nhạc giúp vui. Trưởng ban tổ chức, cháu Lê Quang Liêm mở đầu cuộc vui bằng lời chào mừng hết thảy quyến thuộc (ước chùng 70 người, kể cả trẻ con) và cám ơn ý tốt của chú H. đã đài thọ chi phí dạ tiệc đêm nay. Theo Liêm (người con lớn nhất của anh Cả tại Dallas
) thì chương trình 4 ngày Họp Mặt gồm có: dạ tiệc dạ vũ tối 7/7, Picnic trưa thứ bảy 7/8 tại hồ Louisville mọi người nhớ mang theo áo tắm để bơi lội và đi thuyền. Chiều thứ Bảy ăn bún bò Huế tại nhà Liêm-Tuyết. trưa Chủ Nhật dự lễ Cầu Siêu cho ông bà tổ tiên họ Lê tại chùa Liên Hoa sau đó thọ trai tại chùa. Chiều Chủ Nhật dùng cơm tại nhà Khương-Hằng đồng thời cũng là Swimming pool picnic cho các trẻ con. Thứ Hai dành cho các gia đình muốn thăm viếng Houston hoặc bà con bằng hữu tại Dallas hoặc đi shopping tùy ý. Không khí đêm họp mặt, nhận diện bà con rất thoải mái đôi lúc vui vẻ ồn ào; có lúc lại cảm động đến rơi nước mắt. Sau lời mở đầu của Liêm là lời chào mừng của vị trưởng tộc, anh Cả Lê Sơn Thanh nay đã 85 tuổi hưu trí nhưng trông khỏe mạnh và ăn nói rất lưu loát minh mẫn. Bằng những lời chứa chan tình cảm anh nhắc nhở các con, các cháu về ý nghĩa thiêng liêng của tình gia tộc, gia đình và bày tỏ nỗi hân hoan của tuổi “ trăng vàng, mây bạc, gần đất xa trời mà được chứng kiến cảnh anh em, con cháu, bà con hòa thuận sum vầy. Tiếp theo anh Cả, tôi thay mặt cho ông xã (chú Huyền) chia xẻ với bà con đôi điều nên biết trong sinh hoạt chung của gia đình họ Lê:
1- Ước mong của chú thím H. là sau cuộc họp mặt gia đình năm nay chúng ta sẽ trưng cầu ý kiến để mỗi hai năm sẽ gặp lại nhau một lần tại nơi nào mà đa số giới trẻ ưa thích đến thăm viếng để giây liên lạc họ hàng được tưới tẩm xanh tốt, bền lâu trong tình Thân Thương Chân Thật. Vai trò quan trọng và nòng cốt của cuộc họp mặt này là giới trẻ: các con, các cháu. Chắc rằng các cháu cũng nhận thấy xã hội văn minh tân tiến ở Hoa Kỳ này quá bận rộn; nếu chúng ta cứ nhắm mắt lăn theo bánh xe của các đòi hỏi vật chất xa hoa thì sẽ không còn thời giờ nghĩ đến gia đình, họ hàng, tổ tiên. Lỡ vì lý do nào đó mình không thể liên lạc với bà con, gia đình nữa hoặc mình vĩnh viễn cách ly thì có tiếc nuối cũng bằng không.
2- Nhân ngày giỗ Mệ Nội năm ngoái, chú thím có đề nghị “Giải thưởng niềm hãnh diện họ Lê” (The Le’s Pride Awards). Mỗi giải thưởng là 50 Mỹ kim cấp cho các cháu từ lớp 1 đến lớp 12 trường Trung Học và từ năm thứ nhất đến năm thứ 4 đại học về thành quả học giỏi cùng các công tác xã hội từ thiện ở trường cũng như trong cộng đồng. Cháu nào nhận thấy mình đã có các thành tích kể trên thì nhớ gửi e-mail cho thím H. Thật ra số tiền thưởng 50 Mỹ kim quá ít ỏi nhưng niềm vui biết được các măng non nhà họ Lê vừa học giỏi vừa có từ tâm, lòng vị tha hỷ xả thì rất lớn lao và quý giá. Các phần thưởng Le’s Pride Awards này sẽ phát ra vào ngày giỗ Mệ nội mồng 6 tháng Giêng sau Tết Âm Lịch 2007
3- Luôn thể, thím H. muốn giới thiệu đến các con, các cháu nhóm Từ Thiện “Tình Thương Virginia (Charity Group of VA Affection) . Nhóm này hình thành từ năm 2004 đã hoạt động được 2 năm. Công tác từ thiện chính là gửi quà Tết cho các trẻ mồ côi, các cụ già neo đơn tại các tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng, Huế, Nha Trang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Long Xuyên, Châu Đốc và cấp học bổng cho học sinh nghèo từ Trung học lên đại học tại Quảng Nam.
Hiện nay nhóm TTTT có 40 thiện nguyện viên thành viên trẻ nhất 13 tuổi và già nhất 92 tuổi. Nếu ai hỷ xả muốn đóng góp hoặc giúp gửi quà đến tận tay người khổ cực ở các vùng xa xôi tại Việt Nam
nhân chuyến đi chơi của mình thì xin liên lạc với thím H hoặc với Sâm Lê
Đức Đạt Lai Lạt Ma có nói: “Tình Thương và lòng Từ Bi của con người như là một tôn giáo phổ biến toàn cầu bởi lẽ Tình Thương bao la sẽ là chất liệu nuôi dưỡng giúp cho tâm chúng ta An Lạc và Hạnh Phúc.””
Trong cuộc họp mặt gia đình này chúng ta đến với nhau bằng Tình Thương sẵn có của liên hệ ruột thịt, họ hàng nếu chúng ta phát lòng Tư Bi; nới rộng Tình Thương quí giá này đến những kẻ nghèo khó thì thím đoan chắc mỗi gia đình trên đường về đều cảm thấy tràn trề An Lạc và Hạnh Phúc, vợ chồng gắn bó hơn, con cái ngoan hiền và thương yêu ba mẹ hơn.”
Sau đó mỗi tiểu gia đình ba mẹ, con cái, cháu tự giới thiệu đến mọi người.
Ngày vui nào rồi cũng qua mau; cuối cùng rồi chúng tôi cũng phải bùi ngùi từ biệt anh chi T. để trở về VA, tiếp tục công việc bận rộn của sở làm với một project sắp phải xong tuần đầu tháng 8. Tôi không quên khen thưởng ban tổ chức cuộc họp gia đình họ Lê lần đầu tiên về sự thành công và nhiệt tình thân thương mà tất cả các cháu đã ban phát cho mọi người từ người già đến em bé mới 2 tháng, kể cả Rachel cô dâu mới toanh của tôi chưa biết nói tiếng Việt nhiều cũng cảm thấy vui thú, hòa đồng.
Trên chuyến bay trở về VA có hai kỷ niệm mà tôi ghi nhớ mãi và đã cảm phục tán thưởng “Chú Huyền về duyên lành của cuộc họp mặt họ hàng vui thú năm nay: Đầu tiên là những giọt lệ vừa sung sướng vừa bùi ngùi của M, cô dâu đã lấy chồng 3 năm rồi nhưng lần đầu tiên được gặp gỡ bố mẹ chồng và họ hàng bên chồng. Tiếp theo là các lời thuyết giảng của thầy Pháp Nhẫn, trụ trì chùa Liên Hoa về lợi ích của các cuộc họp mặt bà con họ hàng và tình thân thương gia đình.
Tôi thành tâm cầu nguyện Phật cho mọi người trong đại gia đình họ Lê đến với nhau bằng Tình Thương và Từ Tâm để chúng ta sẽ được hưởng nhiều “Giây Phút Tuyệt Vời” hơn trong tương lai.
 
Lê Mộng Hoàng
7-30-2006

❤️GOD BLESS AMERICA 
🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸

Cờ Mỹ Quốc tung bay phấp phới 
Giữa khung mây xanh thắm màu trời 
Toàn dân ngưỡng mộ khắp nơi 
Chúc mừng cuộc sống muôn người tự do .
Nền độc lập Hoa Kỳ củng cố
Hiệp Chủng Quốc chung sức điểm tô
Tình người vui hưởng ấm no
Niềm tin Thượng Đế  chăm lo, quan phòng .
Đình Duy Phương
🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸🇺🇸
 GOD BLESS AMERICA

 KÝ ỨC MỘT MÙA LỄ ĐỘC LẬP
                                                                                                          Minh Thúy
Mấy đêm nay, hình như gần cả tuần rồi, tôi vẫn nghe lác đác tiếng pháo bông đâu đó vang lên báo hiệu sắp đến ngày Lễ Độc Lập của Hoa Kỳ. Tâm tư chùng xuống, chẳng muốn nhớ nhưng sao chuyện cũ cứ sống lại năm 2019 về người bạn làm chung chỗ tên Becca.
Nói là bạn cũng chưa phải vì tuổi Cô chỉ đáng cháu. Cô vào làm việc hãng Kyle Design cũng chừng hơn 6 năm, công việc của cô là chuyên ngồi viết quảng cáo , chụp hình đưa mặt hàng trồi trụt giảm giá lên website.
Cô lập gia đình với David, một kỹ sư trẻ đẹp trai. Họ sống rất hạnh phúc, mỗi năm đi vacation 2 lần, nàng làm thành phố Livermore, còn chàng tại thành phố Fremont, vậy mà mỗi tuần David vẫn lái xe lên đi ăn lunch chung với cô đôi lần. Họ đối xử tình cảm như cặp tình nhân chứ không phải vợ chồng, mỗi trưa hoặc giờ break mọi người thường nghe họ nói chuyện qua phone với giọng cười đùa và khuôn mặt tươi vui của Becca. Mùa Lễ Tình Yêu cô ăn diện , đón nhận bó hoa tươi cùng buổi ăn lunch bên ngoài.
Buổi chiều tan sở của ngày mồng 3 trước khi ra về, những khuôn mắt hân
hoan rạng rỡ chúc nhau vui vẻ, mọi người kể dự tính cho nhau nghe về ngày lễ. Becca cho biết vợ chồng cô sẽ đi biển Monterey chơi ngày mai.
Đêm thấy tinh thần nhẹ nhàng, không sợ kim đồng hồ sáng mai réo gọi, tôi thức khuya xem phim. Tiếng phone gọi đến,
Phương (cô cháu đồng nghiệp) nói lẹ
_ Chồng Becca chết rồi
Tôi sửng sờ
_ Chết ở đâu ?
_ Cháu nghe nói David đi chung với bạn,  lái xe bị tông vào thành freeway chết tại chỗ.
Nói xong Phương cúp phone, tôi bàng hoàng chẳng hiểu nguyên nhân, cũng chẳng cần hiểu thêm, chỉ biết là chồng Becca đã mất. Đêm đó tôi mất ngủ, tâm tư bị giao động mạnh trước lẽ vô thường, nhắm mắt cố ngủ chỉ thấy hình ảnh David lờn vờn trước mặt. Hạnh phúc và khổ đau kề nhau đùa giỡn loài người, trạng thái thật khó chịu kinh khủng xoáy buốt trong lòng, tôi thả mặc niềm đau vào thơ như chính bản thân mình đang tơi tả giữa phong ba
Duyên Phai
Đợi anh chẳng thấy trở về
Sương khuya lành lạnh trăng thề soi đêm
Pháo bông ai bắn buồn thêm
Người xa dương thế gối êm chẳng màn
Hờn anh tiếng khóc thở than
Đường duyên lìa dứt khăn tang quấn vành
Sinh ly tử biệt đến nhanh
Ngỡ ngàng nẻo phận mong manh tình trần
MT

Một tháng chưa thấy Becca đi làm , không khí buồn ảm đạm, chẳng ai đề cập hay nhắc đến sự việc, hình như mọi người đang choáng váng giữa chuyện sinh ly tử biệt, tôi tìm cách giải thoát nỗi trầm cảm vào thơ, thơ tuôn theo những giọt nước mắt thương cảm.Tôi quá quý mến Becca, thời gian làm chung cô rất hiền hoà luôn giúp đỡ chúng tôi mỗi khi máy móc bị rối mù, cô luôn có nụ cười thân ái, lễ Noel tặng quà mọi người thân thiện, sống gần gũi tạo cảm tình sâu đậm, có lẽ vì vậy mà cô đã chiếm vị trí tình thương trong góc tâm hồn của tôi nên bị ám ảnh nỗi buồn sâu đậm đến như vậy.

Đời Tan Tác
Nơi này lặng lẽ một mình ta
Nước mắt chưa vơi đọng nhạt nhoà
Kẻ ở dương trần còn lạnh lẽo
Người rời thế tục khuất ngàn xa
Cung lìa bóng hạ sầu thi phú
Lối rẽ đêm sương buốt cảnh nhà
Khúc nhạc anh thường say luyện hát
Cô phòng vọng lại tiếng buồn ca
MT

Ba tháng trôi qua … Becca trở lại công việc, tôi đứng xa nhìn Cô tiều tụy hốc hác, tim tôi đập mạnh và cơ thể run lên trong nỗi cảm xúc, tôi không dám đến gần để bày tỏ sự chia sẻ, hầu như ai cũng im lặng tỏ ra đang chăm chú làm việc để mọi sự lắng động. Becca đã tìm bác sĩ tâm lý nói chuyện chữa bệnh mỗi giờ trưa cô ra gốc cây ngồi.
Nạn Covid _19 Becca nghỉ luôn, tôi retire nên không ai còn gặp ai. Thời gian là liều thuốc xoa dịu nỗi đau thương, nhưng chắc chắn một điều là khi ngày 4 tháng 7 của mỗi năm trở lại, vẫn luôn gợi nhớ trong lòng người vợ mối u hoài, và tôi …ký ức vẫn thênh thang trở về chuyện tình buồn năm nào của mùa Lễ Độc Lập.
Cầu xin Becca dần dần hồi phục lại tinh thần …
Minh Thuý (Thành Nội )
          2021
Lối Rẽ
Mắt ngóng thân quầng bóng tối lơi
Ơ hờ tóc rối nhuộm sầu khơi
Người đi bỏ lại vòng tay với
Pháo bắn màu hoa nổi dậy trời

Gọi mãi tên người não tiếng thơ
Từ đây đã hết nỗi mong chờ
Anh đà mắt khép thiên thu ngỡ
Để lại mình em gọi giấc mơ

Gió thổi hương lùa tiếng nói ai
Như đang thỏ thẻ nụ hôn dài
Ân tình thắm thiết bên nhau mãi
Hạnh phúc theo đời chẳng thoát thai

Tỉnh giấc đêm đen choáng ngập về
Cung lìa lối rẽ phủ đam mê
Khăn tang quấn chặt đây mùa lễ
Cách biệt âm dương bỏ hẹn thề
                    Minh Thuý Thành Nội