
| Nhớ Trưởng Việt Bể CUNG GIŨ NGUYÊN sóc lanh lợi ![]() Trang viết nầy, tôi đặc biệt gọi Trưởng Cung Giũ Nguyên là Thầy vì trong nhiều lãnh vực, Vịt Bể, xứng đáng bậc thầy của rất nhiều người. Với tư cách là một Hướng Ðạo Sinh có thời gian sinh hoạt ở Ðạo Khánh Hòa, hình ảnh Thầy Cung Giũ Nguyên càng đậm nét trong tôi – Sóc Lanh Lợi – Tên rừng của tôi được Ðạo Trưởng Nguyễn Thám, 1962, đặt tên trong một cuộc trại dài ngày của Tráng Ðoàn, Trưởng Vĩnh Hầu là Tráng Trưởng. Hình ảnh và lời nói cũng như những bài giảng về Ngành Tráng của Trưởng Cung Giũ Nguyên thời bấy giờ là con đường sáng dẫn dắt tôi vào với cuộc đời. Ðạo Khánh Hòa có một Ðạo Quán ngay cạnh Trường Lê Quí Ðôn do Thầy Cung Giũ Nguyên là Hiệu Trưởng. Có những chúa nhật đến sinh hoạt trong Ðạo Quán nầy và thỉnh thoảng được Tr Vịt Bể đến thăm qua. Hình dáng ấy rất gần gũi và cũng rất tôn kính. Không biết tại sao, lòng tôn kính của tôi đối với Thầy Nguyên rất đậm đà mà nhiều khi tôi có cảm giác thần tượng! Với tuổi Tráng sinh, trước một con người có đầy đủ Trí Thức, tri thức, một nhà văn nổi tiếng trong thế giới nói tiếng Pháp, một trong bốn Trưởng có bằng rừng Gilwell đầu tiên, một Trại Trưởng Bạch Mã và sau nầy là Trại Trưởng Trại Huấn Luyện Tùng Nguyên Ðà Lạt… Thì còn gì nữa mà không phải là thần tượng chứ! Sinh tại Huế, 1909, Họ Hồng, gốc Phúc Kiến, tổ tiên lập nghiệp tại Việt Nam kể từ Thế Kỷ thứ 19. Gia đình cha mẹ nghèo và đông con, Tốt nghiệp Quốc Học Huế. Năm 1928, Thầy Cung Giũ Nguyên được bổ nhiệm Trợ Giáo tại Nam tiểu Học Nha Trang. Hoạt động chính trị một thời, nhưng sau 1941 trở lại Nha Trang dạy học. Thầy phụ trách Việt Văn, Hán Văn, Pháp Văn, La tinh, anh văn, sử địa, văn học, triết học tại tất cả các trường Trung Học, College de Nha TRang, Phansicô. Từ năm 1955 đến 1975 là Hiệu Trưởng Trường Trung học Lê Quí Ðôn Nha Trang. Ông cũng là Giáo Sư Thỉnh Giảng tại Ðại Học Cộng Ðồng Duyên Hải. Sau 1975 Thầy được mời là Giáo Sư Thỉnh Giảng môn ngôn ngữ và văn chương Pháp tại khoa Pháp ngữ Trường Cao Ðẳng Sư Phạm Nha Trang. Ðó là ta mới chỉ nói về hoạt động hàng ngày của Thầy Nguyên chứ chưa nói về những sáng tác mà tác phẩm và tác giả được Hàn Lâm Viện Pháp trân trọng ghi công. Những tác phẩm của Thầy được các nhà xuất bản Việt, Pháp, Ðức, Anh, Canada, Mỹ phát hành! Về tiếng Việt có các tác phẩm: Một người vô dụng (Tin Ðức Thư Xã, Saigon-1930), Nhân tình thế thái (Tập truyện ngắn, Phổ thông thư xã, Gia Ðịnh- 1931), Nợ văn chương ( Nhà in Châu Tịnh, Vinh-1934), Những ngày phiêu bạt (Ký), Nửa gánh tang bồng, Một chuyến về… Tác phẩm viết tiếng Pháp: Thầy Cung Giũ Nguyên nổi tiếng và được kính nể trong văn giới Pháp vào những năm 1950-1960 như: Le fils de la Babaine (tiểu thuyết, Paris-1956- Dịch sang tiếng Việt tựa là Kẻ thừa tự ông Nam Hải, Nhà xuất bản Văn Học, Hanoi 1955), Le Domaine Maudit (tiểu thuyết, Fayard, Paris-1961), tiểu luận Volontés d’existense (France-Asie, Saigon 1954; dịch sang tiếng Việt là Những ý chí sinh tồn), Le Boujoum( do Roman Dallas, Texas USA tái bản 2002; dịch sang Việt Ngữ là Thái Huyền), Tập Thơ Texte Profane (Bản Văn Trần tục). Ngoài ra Thầy còn là một nhà Báo, đã viết hàng ngàn bài báo đăng trong và ngoài nước VN. Ông đã cùng với Raoul Serène -Tiến Sĩ khoa học, từng là Giám Ðốc viện Hải Dương Học Ðông Dương – Chủ trương ra nguyệt san Tạp Chí Tuổi Trẻ (Le Cahiers de le Jeunesse, 1938-1940); Ở Nha Trang, là Chủ Bút Nguyệt San Song Ngữ Tương Lai Tạp Chí, Nhatrang 1939 và Chủ Bút nhật báo Châu Á Buổi Chiều (le soir d’Asie, Saigon 1939-1942); Chủ Bút Tuần báo Báo Chí Viễn Ðông (Le presse d’Extrême-Orient-Saigon 1954.. Là một Hướng Ðạo Sinh đầu tiên của Phong Trào Hướng Ðạo Việt Nam, Trưởng Cung Giũ Nguyên đã tham gia sớm nhất Trại Trường Quốc Tế Gilwell mà sau nầy Trưởng chính là Phụ Tá Trại Trưởng Gilwell. Năm 1944 đảm nhiệu khóa huấn luyện chót ở Trại Trường Bạch Mã thay cho Trưởng Tạ Quang Bữu bận việc riêng. Năm 1958, là Trại /Trưởng Trại Huấn Luyện Quốc Gia Tùng Nguyên tại Ðà Lạt. Nơi đây cũng là cái nôi của hầu hết các trưởng Bằng Rừng phục vụ phong trào từ 1956-1975. Những bài thuyết giảng, những kinh nghiệm, những tác phẩm về Hướng Ðạo của Trưởng Vịt Bể để lại cho chúng ta rất nhiều, nhất là những bài viết cho Ngành Tráng. Trong Trại Thẳng Tiến 8, 2006 vừa qua, chúng ta thấy có một cuốn sách dày 477 trang, mang tên Câu Chuyện Ngành Tráng, tác giả là Trưởng Cung Giũ Nguyên được lưu hành (Cung Giu Nguyen Center, Dalas, Texas USA xuất bản). Trong cuốn sách nầy có nhiều tiết mục và nhiều chương rất hay, có thể là sách gối đầu giường của các Trưởng vào đời, của những ai đang là Trưởng Niên. Chúng ta thử đọc lại một đoạn ngắn trong thư của Trưởng Vịt Bể gởi đến Trại Thẳng Tiến 8, năm 2006 để thấy rỏ con người thật của một Huynh Trưởng kỳ cựu có cái nhìn như thế nào đối với Phong Trào Hướng Ðạo. Ðây là nét chấm phá rỏ nhất của một Trại Trưởng “Khai quốc công Thần” Hướng Ðạo Việt Nam của chúng ta: “…Như các bạn cũng biết, một bộ đồng phục nói lên một người theo phong trào Hướng Đạo nhưng không đủ để làm nên một Hướng Đạo thật sự, cũng như tục ngữ đánh thức người mê muội nơi dấu chỉ, danh từ, phù hiệu, hình thức, hào dáng, bao bì. Cái áo dòng không làm nên thầy tu. Ta thử hỏi một cách nôm ma hay trắng trợn, khi ta lột đồng phục ra, ta không còn phải theo luật Hướng Đạo nữa chăng? Một nhà tu hành, không thể cởi áo dòng – vì trời quá nóng bức và nói “Thôi, ta nghỉ tu vài bửa để đi tắm biển đã”. Không thể so sánh hay đặt ngang hàng sắc phục bậc tu hành với áo quần Hướng Đạo Sinh, dù cho hai hạng người đều có điểm chung, là đã tuyên xưng giao ước tu thân. Hướng Đạo Sinh có vẽ tự do hơn nhiều với đồng phục, cái võ bọc của mình. Chúng ta thường quên là áo quần Hướng Đạo bất cứ ai cũng có thể mặc; xưa nay không thiếu gì người hay đoàn thể, chẳng phải Hướng Đạo hay xi-cút gì cả, cũng từng dùng áo quần, mủ bốn u, khăn quàng cổ như Hướng Đạo Sinh vậy, mà chẳng luật pháp nào ngăn cấm, trừng trị, chẳng có bia miệng nào chê cười. Điều không phải dễ làm như với thứ đồng phục mà một nhà nước hay xã hội trật tự quy định cho một tư cách, một chức năng, chức vụ, hay địa vị nhất định, như đồng phục của cảnh sát, công an, quân nhân, quan tòa, thầy tu v.v. Cái gọi là đồng phục Hướng Đạo từ nguyên thủy không hề có giá trị về tư cách mhư các đồng phục nói trên. Kiểu áo quần Hướng Đạo dùng, không có giá trị gì đối với những người chung quanh mà chỉ do sự đòi hỏi của các sinh hoạt của Hướng Đạo Sinh. Áo quần phải dùng thứ vải dày, như áo quần của người lao động , trong nhà máy hay ngoài đồng áng, vì phần lớn sinh hoạt của người Hướng Đạo là ở ngoài trời, nơi bờ biển, đồng hoang, rừng núi. Áo quần phải có khả năng che chở con người khi có tiếp cận bất ngờ với gai gốc, đá sỏi, trên đường thám du hay trong các trò chơi, nhỏ , lớn. Áo, khi cần, phải đủ sức chịu đựng để góp phần trong việc làm cáng chở người bị thương từ nơi chẳng có phươmg tiện nào khác. Sau đó đồng phục mới dùng luôn cho các buổi hội họp, lễ nghi thuần túy Hướng Đạo, và khó mà chấp nhận lối dùng một số đồng phục Hướng Đạo đi làm hàng rào danh dự chào với bàn tay ba ngón một quan lớn triều đình nào đó, không phải Hướng Đạo (trừ khi như đã nói, quan lớn ấy đến dự một lễ Hướng Đạo như Trại Họp Bạn chẳng hạn). Tương tự như vậy, khăn quàng cổ của Hướng Đạo không thể làm bằng tơ lụa cho sang hay đẹp khi chỉ biết nghĩ đến việc trình diễn, phô trương, mà Hướng Đạo thường nghĩ đến ích lợi khi cần hơn. Màu sắc của khăn, cũng như màu viền của khăn, vàng, lục, đỏ hay tím, đã được dùng để phân biệt các liên đoàn, đạo, nói lên ngành, Ấu, Thiếu, Tráng của cơ quan Hướng Đạo Quốc Tế. Khăn quàng Hướng Đạo có thể có những công dụng khác, như khi đi trại nhiều ngày, gặp rủi ro, thiếu hay hết dụng cụ, có thể dùng làm dây treo một cánh tay bị gãy hay bị thương. Đối với người Việt, một khăn quàng, khi lỡ không có nồi (và không kiếm được ống tre) có thể dùng để nấu cơm được. Các bạn làm được việc ấy không? Hay đã thử làm lần nào chưa? Có ai đó, trong số các bạn, để đùa chơi, sẽ cười, và la lên : Xưa quá rồi, từ lâu chúng tôi theo chế độ ăn uống Tây phương, không còn nghĩ đến chuyện ăn cơm và nhất là nấu cơm nữa. Nấu cơm có nồi điện rồi. Đi trại, chỉ đem theo bánh mì và thức ăn liền (fast foods) không có vấn đề nấu nướng dơ bẩn, mất thì giờ. Nếu có ý kiến như vậy, tôi muốn hỏi bạn ấy dùng thì giờ để làm gì ở trại gọi là Hướng Đạo? Tôi nhận thấy không theo kịp thời thế. Xã hội công nghệ hóa, hiện đại hóa làm cho các trang lịch sử tiến hoá loài người bị lật quá nhanh, đến rách cả lề. Tôi không còn ngạc nhiên khi nghe nói chuyện một người Việt, ngũ tuần, tốt tướng, bụng phệ, khi thấy đĩa rau muống luộc trên bàn ăn, hỏi chủ nhà, cũng người Việt, một bạn lâu đời nhưng không được may mắn dự phần cảnh “phồn vinh giả tạo”:”Rau gì lạ vậy, tôi chưa bao giờ ăn thứ nầy.”…. Trưởng Vịt Bể đã nằm xuống, đã lìa rừng với số tuổi 100! Ðây có phải là một “Lảo Ngoan Ðồng” của phong trào Hướng đạo không? Dĩ nhiên là nói theo một nét nào đó thì sự trẻ trung của người Hướng Ðạo, tính vui tươi lành mạnh đã kéo dài tuổi thọ! Vịt Bể đã ra khỏi rừng chơi cuộc đời. Chắc chắn Trưởng Vịt Bể cũng đã là kim chỉ nam cho những ai từng là học trò của Thầy về rất nhiều lãnh vực từ Hướng Ðạo và ở ngoài đời, trong văn học… Nhớ về Thầy Cung Giũ Nguyên để chúng ta có được một hãnh diện là Việt Nam đã sản sanh được một trong những danh nhân. Phong trào Hướng đạo hãnh diện có được một HÐS tiêu biểu! letamanh (Sóc Lanh Lợi) |


| Tôi Không Là Tôi không là gió mùa thu Làm sao giăng mắc sương mù chiều nay Tôi không là bóng mưa mây Làm sao tưới nước cho đầy dòng sông. Tôi không là gió phiêu bồng Làm sao xoải cánh trên đồng cỏ xanh Tôi không là kẻ lữ hành Viễn du thiên hạ, vòng quanh đất trời. Tôi không là cánh hoa rơi Làm sao biết được tình đời hợp tan Cõi lòng hòa nhịp chứa chan Chiều nghiêng xế bóng mây ngàn sơn khê. Ta về dấu bụi đường quê Phù sinh quảy gánh lối về hư không Tìm quên trong cõi bụi hồng Trăm năm thiên cổ một vòng trường sinh. Đất trời khai mở hành trình Tiền thân hạt bụi ân tình nở hoa Một vùng ánh sáng chói lòa Soi trong tiềm thức, chan hòa tình thương. Lê Tuấn (Bài thơ này đã được Nhạc sĩ Phạm Đức Huyến phổ nhạc) Tập thơ Tình yêu Của Tôi 2019 https://youtu.be/tNgCpbaM-Xs |
| TA MỞ CỬA HỒN TA Trong cơn hổn mang Người nhìn ta ngờ vực Ta đáp lại người bằng ánh mắt chan hoà thân ái Người có hiểu gì không? Từ những bình minh Mùa Xuân mở hội Cùng mặt trời soi gương trên biển Nhìn sóng nước uống từng ngụm hào quang Là lúc hồn ta no đầy mật ngọt Giữa trưa rát bỏng tình người Lọc lừa , điêu ngoa , gian trá Gió lùa lửa giận đốt cháy tim gan Bởi kẻ thị phi khuynh loát nhau hằng giờ hằng phút Ta nhởn nhơ giữa lòng sông rộng Trong buổi hoàng hôn chợ chiều mây xám Cơn hổng thủy thịnh nộ thét gầm Đại chủ một mình ôm cơ đồ nghiêng ngả Trước mặt sau lưng gương đời phản chiếu Bởi dưới hậu trường đổi phấn thay son . Là lúc … ta đến với người bằng chính Cửa hồn ta mở rộng … Trên những con đường tịch nhiên ta đi Đứng chon von giữa cây rừng ưu tư trầm mặc Ta thầm gọi tên ta Giọt nước mắt cường toan nhỏ xuống mặt đường Là ngôn ngữ ta nói với chính mình , nói với người thân Người có hiểu gì không ? @ LÊ HỮU MINH TOÁN – Houston 26/ 7/ 2023 |
| Nỗi Lòng Tháng Bẩy Mẹ ơi tháng Bẩy về rồi, Mà sao nhang khói bên trời quạnh hiu. Vẫn con, lặng lẽ trông theo, Một vùng mây xám treo leo ngang trời. Mẹ ơi! Sông núi mất rồi! Mất quê hương, mất cả thời vàng son. Mất vòng tay mẹ ôm con. Mất chiều lá đổ, đường mòn hôm nay. Bây giờ cuộc sống cuồng quay, Mẹ ơi con nhớ tháng ngày xa xưa. Hình mẹ dưới nắng vàng trưa. Tóc con vài sợi trắng vừa rơi nhanh. Vai thon oằn nỗi tàn canh, Thời gian con dốc chuyển mình trong con. Hạt mưa tháng Bẩy lăn tròn, Lễ Vu Lan cúng oan hồn dân ta Lê Thị ý |

| Xa Xứ Em không về nữa chị ơi! Quê hương khép cửa quãng thời ấu thơ, Kiếp nghèo chân đất tắm mưa, Những chiều chạy giặc gió lùa tả tơi Đau thương vá vội cuộc đời, Chân chim đuôi mắt, bồi hồi nhớ cha. Mất nhau giòng lệ nhạt nhòa, Mẹ ta gãy gánh, tuổi ta đang nồng. Những ngày miền Bắc cuối Đông, Căm căm cái rét, cắt lòng buốt da. Nhưng không vì thế chia xa, Mà do hệ lụy quốc gia, giữa người. Bao năm héo úa nụ cười, Thiếu hơi ấm áp mặt trời phương Đông. Bây giờ tiếng biết, tiếng không!! Bây giờ tuyết trắng mênh mông ngang trời. Cỏ vàng gãy dưới chân người, Nồng say, ân ái để rồi cũng qua. Buông tay rời khỏi Sơn Hà Con thuyền viễn xứ trôi qua bán cầu. Rồi đây tro bụi về đâu? Ngôi sao bé nhỏ thay màu, đổi ngôi. Đành thôi khuất bóng xứ người Em không về nữa, ngậm ngùi nơi đây Lê Thị Ý |



| BIỂN KHƠI SỐ 99 – THÁNG 7 NĂM 2023 thơ Đặng Toản BỐN MÙA NGU NGƠ Bến và ngày đã miên man Bao con thuyền ngược trên làn nước xuôi Gọi mưa cho phiến gió chuồi Tóc vui ngày muộn chưa nguôi lạc loài Bóng chiều vừa đổ sóng soài Cỏ lau nhắc với trăng ngoài mặt sông THU vừa rớt hột mênh mông Mây và sương khói chất đồng vị thơ Lá buông mình ngủ trên bờ Một miền nghi hoặc tình cờ sóng xô Mắt nghiêng liếc trộm cơ đồ Thấy ta một chú ngựa thồ không cương Lưng đeo túi nặng vô thường Chất bao kỷ niệm vào rương nhớ đầy Có XUÂN trong phím nhạc gầy Có ta mục tử chăn bầy chữ ngoan Hát cùng HẠ vắng nhặt khoan Mõ chuông bày tụng không toan tính gì Trong ta thơ đã ngủ khì Cùng khoai lang, bắp, củ mì đầy niêu Hát cùng truông vắng cô liêu Trọn về ĐÔNG một đôi điều ngu ngơ Bảo Lộc 1997 BỒNG BỀNH THƠ Nhớ chi mà bắt nhớ hoài Nhớ như mưa thấm lạnh ngoài vô trong Nhớ, thương ngược chiều song song Thương như lửa ấm từ trong ra ngoài Nhớ thao thức, khó nguôi ngoai Chân theo dốc nhớ dài thoai thoải miền Nhớ đang rê bóng dọc biên Bỗng dưng lật cánh điềm nhiên ghi bàn Nhớ Xuân tự buổi chạp tàn Nhớ mai vườn mộng , hỏi han trăng thềm Nhớ ngày dẫn tuốt vào đêm Ngóng xơ võng mạc, nấc rêm cơ hoành Lúc nào nhớ cũng mới toanh Nhớ như bầy sóc chạy quanh vườn lòng Nhớ như một gánh hàng rong Bán rao kỷ niệm, lãi ròng ngu ngơ Nhớ như mìn đã hẹn giờ Im lìm chợt nổ, sững sờ lao đao Đôi khi nhớ cũng vượt rào Buồn đang thủ phận, nhớ vào tấn công Bến đời , gạo chợ nước sông Bủa câu biển nhớ , bềnh bồng phao thơ Houston, 24/1/2023 CHIỀU ĐÃ QUÀNG VAI Đọt nắng ngủ yên Trong mùa đợi chờ Tình đã đổi phiên Không cần hẹn giờ Xuân còn ngủ vùi Trăng vui cồn biếc Mắt nào ngậm ngùi Nhìn chiếc hôn say Em gầy hạ buồn Còn chút thơ ngây Mơ về cội nguồn Lòng nhớ khôn khuây Đong đầy, đong đầy Nụ tình xa xôi Hao gầy, hao gầy Từng mùa tinh khôi Một cành thu đơm Trong vườn mơ lấm Một bờ môi thơm Nụ hờn nở chậm Một làn thu biếc Còn vờn trên sông Một vùng hối tiếc Vừa tràn mênh mông Gọi mùa, gọi mùa Trong vô vàn nhớ Cợt đùa, cợt đùa Em vui rạng rỡ Nhịp đều sông trôi Sóng chao từng thớ Gọi tình trên môi Xôn xao nhịp thở Tình càng sâu lắng Bùi ngùi hân hoan Ngày còn xa vắng Vụng về môi ngoan Nhìn bàn tay vói Van tình phục sinh Ngàn lời thơ gói Trong miền hoài trinh Rời vùng yêu trói Mang tình rời ngai ….. Ngọt nắng mùa phai Chiều đã quàng vai Houston, 30/9/2022 KHÉP VỪA HOÀNG HÔN Anh về chiều mưa. Nắng mùa đã tạnh. Nỗi buồn thấm lạnh. Giữa lòng tay thưa Tóc ngày đã thở Thơm mùi trăng xưa Hạt buồn khẽ nở Trên vàng thu chưa Em kiều diễm đứng Bên vùng nguyên sơ Anh chìa tay hứng Giọt buồn bơ vơ Tay ngà ngọc xinh Em nâng thế giới Nỗi buồn vời vỡij Trải lòng trang kinh Buồn vương, buồn vương Cây ngô đồng gió Sầu thương, sầu thương Một tinh cầu nhỏ Hắt về xa xăm Thời kinh Tịnh Độ Nối chiều đăm đăm Bóng mờ hoang lộ Tóc chờ mênh mang Bàn tay sám hối Môi buồn thênh thang Nụ hôn cầm vội Chìm thu, chìm thu Một vùng trăng nhớ Mịt mù, mịt mù Khói lùa , nắng trở Em về qua mùa Cơn đau đã tạnh Nỗi niềm được thua Anh đưa vai gánh Anh gầy đi chăng Qua vùng nhớ bộn Vòm mi của nắng Khép vừa hoàng hôn Houston, 2022 CHÙM BẠCH LẠP KHUYA Anh ngồi xuống Mịn như một dấu chấm Nhớ vừa đâu đây Lửa của cây chôm chôm Đã thắp mùa hè nồng nàn Băng qua trảng cỏ yểu điệu Anh hái màu bơ vơ Từ tầm nhớ di động của nắng Anh với chiếc phao thơ cứu sinh Nghe mùa Xuân đang tản cư Ngoài cửa sổ của căn phòng tĩnh mịch Nghe lao xao màu xanh Chuyện vãn với màu vàng Mới hay mùa yêu gầy như vọng khói nhớ Thổi qua truông Biển và viên sỏi nâu vẫn còn lăn trong trí Mà hương Xuân đã bay mút cánh đồng rộn rã gió lập phương Gió bắt đầu kéo dài đêm Trong ống nghiệm của thời gian ra khỏi ngưỡng xanh xao Thổi miên viễn hong khô màu trăng ướt Vịn vào khoảng trống hụt hẫng của nỗi nhớ Anh đẩy cánh cửa chờ mong Bước ra hành lang hun hút ký ức Trong sự kham nhẫn tinh luyện Cây cối thương anh và chảy choàng màu lục diệp xuống vai Nỗi nhớ tròn xoe Lệ đọng trong hốc mắt của dỗi hờn Khói lan tỏa băng qua bờ môi dấu nhẹm tiếng thở dài Chìm vô vọng Đây đó tiếng guốc khua trên hành lang Còn vang quyện lồng vào Độ chao lung linh Của chùm bạch lạp khuya Viết bên máy laser CNC Houston, 22/2/2023 LỖI TẠI GHẾ ĐÁ Đôi lúc vầng trăng khuyết tật Lại xinh hơn một nụ rằm Mở ché rượu đời chưng cất Men sầu thơm suốt trăm năm Sầu cũng khoanh vùng nhật nguyệt Buồn còn ăn vạ câu thơ Tuổi gần chạm chân mộ huyệt Vẫn còn lắm lúc ngu ngơ Điêu tàn trong ta là mấy Cứ như dao lụt chặt cành Em soi gương đời lộng lẫy Tình rơi đáy vực mong manh Cây sầu mọc quanh xóm nhớ Trái buồn rụng suối phong ba Nụ chờ nở bung hết cỡ Tương phùng mộng dệt nguy nga Gọi trăng bên bờ thiên kỷ Gọi thơ dòng chảy mơ màng Gọi môi trong chiều định vị Gọi ngày giữa cuộc lang thang Ghế đá nhận mình có lỗi Bài thơ trong túi anh ngồi Công viên chiều em chẳng tới Nên dòng thời gian mồ côi Viết bên máy Laser CNC Ngày 20 / 6 / 2023 Đặng Toản Copyright © biển khơi & tác giả 1998-2023 |
