Tác phẩm tháng Bảy 2023

 TÌNH QUÊ – Thơ : Lê Thị Nhị Nhạc : Văn Duy Tùng Ca sĩ : Minh Trang Diễn ảnh : Trúc Tiên
Nhớ Trưởng Việt Bể CUNG GIŨ NGUYÊN
sóc lanh lợi

Trang viết nầy, tôi đặc biệt gọi Trưởng Cung Giũ Nguyên là Thầy vì trong nhiều lãnh vực, Vịt Bể, xứng đáng bậc thầy của rất nhiều người. Với tư cách là một Hướng Ðạo Sinh có thời gian sinh hoạt ở Ðạo Khánh Hòa, hình ảnh Thầy Cung Giũ Nguyên càng đậm nét trong tôi – Sóc Lanh Lợi – Tên rừng của tôi được Ðạo Trưởng Nguyễn Thám, 1962, đặt tên trong một cuộc trại dài ngày của Tráng Ðoàn, Trưởng Vĩnh Hầu là Tráng Trưởng. Hình ảnh và lời nói cũng như những bài giảng về Ngành Tráng của Trưởng Cung Giũ Nguyên thời bấy giờ là con đường sáng dẫn dắt tôi vào với cuộc đời.
             Ðạo Khánh Hòa có một Ðạo Quán ngay cạnh Trường Lê Quí Ðôn do Thầy Cung Giũ Nguyên là Hiệu Trưởng. Có những chúa nhật đến sinh hoạt trong Ðạo Quán nầy và thỉnh thoảng được Tr Vịt Bể đến thăm qua. Hình dáng ấy rất gần gũi và cũng rất tôn kính. Không biết tại sao, lòng tôn kính của tôi đối với Thầy Nguyên rất đậm đà mà nhiều khi tôi có cảm giác thần tượng! Với tuổi Tráng sinh, trước một con người có đầy đủ Trí Thức, tri thức, một nhà văn nổi tiếng trong thế giới nói tiếng Pháp, một trong bốn Trưởng có bằng rừng Gilwell đầu tiên, một Trại Trưởng Bạch Mã và sau nầy là Trại Trưởng Trại Huấn Luyện Tùng Nguyên Ðà Lạt… Thì còn gì nữa mà không phải là thần tượng chứ!
             Sinh tại Huế, 1909, Họ Hồng, gốc Phúc Kiến, tổ tiên lập nghiệp tại Việt Nam kể từ Thế Kỷ thứ 19. Gia đình cha mẹ nghèo và đông con, Tốt nghiệp Quốc Học Huế. Năm 1928, Thầy Cung Giũ Nguyên được bổ nhiệm Trợ Giáo tại Nam tiểu Học Nha Trang. Hoạt động chính trị một thời, nhưng sau 1941 trở lại Nha Trang dạy học. Thầy phụ trách Việt Văn, Hán Văn, Pháp Văn, La tinh, anh văn, sử địa, văn học, triết học tại tất cả các trường Trung Học, College de Nha TRang, Phansicô. Từ năm 1955 đến 1975 là Hiệu Trưởng Trường Trung học Lê Quí Ðôn Nha Trang. Ông cũng là Giáo Sư Thỉnh Giảng tại Ðại Học Cộng Ðồng Duyên Hải. Sau 1975 Thầy được mời là Giáo Sư Thỉnh Giảng môn ngôn ngữ và văn chương Pháp tại khoa Pháp ngữ Trường Cao Ðẳng Sư Phạm Nha Trang.
             Ðó là ta mới chỉ nói về hoạt động hàng ngày của Thầy Nguyên chứ chưa nói về những sáng tác mà tác phẩm và tác giả được Hàn Lâm Viện Pháp trân trọng ghi công. Những tác phẩm của Thầy được các nhà xuất bản Việt, Pháp, Ðức, Anh, Canada, Mỹ phát hành! Về tiếng Việt có các tác phẩm: Một người vô dụng (Tin Ðức Thư Xã, Saigon-1930), Nhân tình thế thái (Tập truyện ngắn, Phổ thông thư xã, Gia Ðịnh- 1931), Nợ văn chương ( Nhà in Châu Tịnh, Vinh-1934), Những ngày phiêu bạt (Ký), Nửa gánh tang bồng, Một chuyến về… Tác phẩm viết tiếng Pháp: Thầy Cung Giũ Nguyên nổi tiếng và được kính nể trong văn giới Pháp  vào những năm 1950-1960 như: Le fils de la Babaine (tiểu thuyết, Paris-1956- Dịch sang tiếng Việt tựa là Kẻ thừa tự ông Nam Hải, Nhà xuất bản Văn Học, Hanoi 1955), Le Domaine Maudit (tiểu thuyết, Fayard, Paris-1961), tiểu luận Volontés d’existense (France-Asie, Saigon 1954; dịch sang tiếng Việt là Những ý chí sinh tồn), Le Boujoum( do Roman Dallas, Texas USA tái bản 2002; dịch sang Việt Ngữ là Thái Huyền), Tập Thơ Texte Profane (Bản Văn Trần tục).
             Ngoài ra Thầy còn là một nhà Báo, đã viết hàng ngàn bài báo đăng trong và ngoài nước VN. Ông đã cùng với Raoul Serène -Tiến Sĩ khoa học, từng là Giám Ðốc viện Hải Dương Học Ðông Dương – Chủ trương ra nguyệt san Tạp Chí Tuổi Trẻ (Le Cahiers de le Jeunesse, 1938-1940); Ở Nha Trang, là Chủ Bút Nguyệt San Song Ngữ Tương Lai Tạp Chí, Nhatrang 1939 và  Chủ Bút nhật báo Châu Á Buổi Chiều (le soir d’Asie, Saigon 1939-1942); Chủ Bút Tuần báo Báo Chí Viễn Ðông (Le presse d’Extrême-Orient-Saigon 1954..
             Là một Hướng Ðạo Sinh đầu tiên của Phong Trào Hướng Ðạo Việt Nam, Trưởng Cung Giũ Nguyên đã tham gia sớm nhất Trại Trường Quốc Tế Gilwell mà sau nầy Trưởng chính là Phụ Tá Trại Trưởng Gilwell. Năm 1944 đảm nhiệu khóa huấn luyện chót ở Trại Trường Bạch Mã thay cho Trưởng Tạ Quang Bữu bận việc riêng. Năm 1958, là Trại /Trưởng Trại Huấn Luyện Quốc Gia Tùng Nguyên tại Ðà Lạt. Nơi đây cũng là cái nôi của hầu hết các trưởng Bằng Rừng phục vụ phong trào từ 1956-1975. Những bài thuyết giảng, những kinh nghiệm, những tác phẩm về Hướng Ðạo của Trưởng Vịt Bể để lại cho chúng ta rất nhiều, nhất là những bài viết cho Ngành Tráng. Trong Trại Thẳng Tiến 8, 2006 vừa qua, chúng ta thấy có một cuốn sách dày 477 trang, mang tên  Câu Chuyện Ngành Tráng, tác giả là Trưởng Cung Giũ Nguyên được lưu hành (Cung Giu Nguyen Center, Dalas, Texas USA xuất bản). Trong cuốn sách nầy có nhiều tiết mục và nhiều chương rất hay, có thể là sách gối đầu giường của các Trưởng vào đời, của những ai đang là Trưởng Niên.
             Chúng ta thử đọc lại một đoạn ngắn trong thư của Trưởng Vịt Bể gởi đến Trại Thẳng Tiến 8, năm 2006 để thấy rỏ con người thật của một Huynh Trưởng kỳ cựu có cái nhìn như thế nào đối với Phong Trào Hướng Ðạo. Ðây là nét chấm phá rỏ nhất của một Trại Trưởng “Khai quốc công Thần” Hướng Ðạo Việt Nam của chúng ta:
     “…Như các bạn cũng biết, một bộ đồng phục nói lên một người theo phong trào Hướng Đạo nhưng  không  đủ để làm nên một Hướng Đạo thật sự, cũng như tục ngữ đánh thức người mê muội nơi dấu chỉ, danh từ, phù hiệu, hình thức, hào dáng, bao bì. Cái áo dòng không làm nên thầy tu. Ta thử hỏi một cách nôm ma hay trắng trợn, khi ta lột đồng phục ra, ta không còn phải theo luật Hướng Đạo nữa chăng?  Một nhà tu hành, không thể cởi áo dòng – vì trời quá nóng bức  và nói “Thôi, ta nghỉ tu vài bửa để đi tắm biển đã”.  Không thể so sánh hay đặt ngang hàng sắc phục bậc tu hành với áo quần Hướng Đạo Sinh, dù cho hai hạng người đều có điểm chung, là đã tuyên xưng giao ước tu thân. Hướng Đạo Sinh có vẽ tự do hơn nhiều với đồng phục, cái võ bọc của mình. Chúng ta thường quên là áo quần Hướng Đạo bất cứ ai cũng có thể mặc;  xưa nay không thiếu gì người hay đoàn thể, chẳng phải Hướng Đạo hay xi-cút gì cả, cũng từng dùng áo quần,  mủ bốn u,  khăn quàng cổ như  Hướng Đạo Sinh vậy, mà chẳng luật pháp nào ngăn cấm, trừng trị, chẳng có bia miệng nào  chê cười. Điều không phải dễ làm như với thứ đồng phục mà một nhà nước hay xã hội trật tự quy định cho một  tư cách, một  chức năng, chức vụ, hay địa vị nhất định, như đồng phục của cảnh sát, công an, quân nhân, quan tòa, thầy tu  v.v. Cái gọi là đồng phục Hướng Đạo từ nguyên thủy không hề có giá trị về tư cách mhư các đồng phục nói trên. Kiểu áo quần Hướng Đạo dùng, không có giá trị gì đối với những người chung quanh mà chỉ do sự đòi hỏi của các sinh hoạt của Hướng Đạo Sinh.
     Áo quần phải dùng thứ vải  dày, như áo quần của người lao động , trong nhà máy hay ngoài đồng áng,  vì phần lớn sinh hoạt của người Hướng Đạo là ở ngoài trời, nơi bờ biển, đồng hoang, rừng núi. Áo quần phải có khả năng che chở con người khi có tiếp cận bất ngờ với gai gốc, đá sỏi, trên đường thám du hay trong các trò chơi, nhỏ , lớn. Áo, khi cần, phải đủ sức chịu đựng để góp phần trong việc làm cáng chở người bị thương từ nơi chẳng có phươmg tiện nào khác. Sau đó đồng phục mới dùng luôn cho các buổi hội họp, lễ nghi thuần túy Hướng Đạo, và khó mà chấp nhận lối dùng một số đồng phục Hướng Đạo đi làm hàng rào danh dự  chào với bàn tay ba ngón một quan lớn triều đình nào đó, không phải Hướng Đạo (trừ khi như đã nói, quan lớn ấy đến dự một lễ Hướng Đạo như Trại Họp Bạn chẳng hạn). Tương  tự như vậy, khăn quàng cổ  của Hướng Đạo không thể làm bằng tơ lụa cho sang hay đẹp khi chỉ biết nghĩ đến việc trình diễn, phô trương, mà Hướng Đạo thường nghĩ đến ích lợi khi cần hơn. Màu sắc của khăn, cũng như màu viền của khăn, vàng, lục, đỏ hay tím, đã được dùng để phân biệt các liên đoàn, đạo, nói lên ngành, Ấu, Thiếu, Tráng của cơ quan Hướng Đạo Quốc Tế. Khăn quàng Hướng Đạo có thể có những công dụng khác, như  khi đi trại nhiều ngày, gặp rủi ro, thiếu hay hết dụng cụ, có thể dùng làm dây treo một cánh tay bị gãy hay bị thương. Đối với người Việt, một khăn quàng, khi lỡ không có nồi (và không kiếm được ống tre) có thể dùng  để nấu cơm được.  Các bạn làm được việc ấy không? Hay đã thử làm lần nào chưa? Có ai đó, trong số các  bạn, để đùa chơi, sẽ cười, và la lên : Xưa quá rồi, từ lâu chúng tôi theo chế độ ăn uống Tây phương, không còn nghĩ đến chuyện ăn cơm và nhất  là nấu cơm nữa. Nấu cơm có nồi điện rồi.  Đi trại, chỉ  đem theo bánh mì và thức ăn liền  (fast foods) không có vấn đề nấu nướng dơ bẩn, mất thì giờ. Nếu có ý kiến như vậy, tôi muốn   hỏi bạn ấy dùng thì giờ để làm gì ở trại gọi là Hướng Đạo? Tôi nhận thấy không theo  kịp thời thế. Xã hội công nghệ hóa, hiện đại hóa làm cho các trang lịch sử tiến hoá loài người  bị  lật quá nhanh, đến  rách cả lề. Tôi không còn ngạc nhiên khi nghe nói chuyện một người Việt, ngũ tuần, tốt  tướng, bụng phệ,  khi  thấy đĩa rau muống luộc trên bàn ăn, hỏi chủ nhà, cũng người Việt, một bạn lâu đời nhưng không được may mắn dự phần cảnh  “phồn vinh giả tạo”:”Rau gì lạ vậy, tôi chưa bao giờ ăn thứ nầy.”….
             Trưởng Vịt Bể đã nằm xuống, đã lìa rừng với số tuổi 100! Ðây có phải là một “Lảo Ngoan Ðồng” của phong trào Hướng đạo không? Dĩ nhiên là nói theo một nét nào đó thì sự trẻ trung của người Hướng Ðạo, tính vui tươi lành mạnh đã kéo dài tuổi thọ! Vịt Bể đã ra khỏi rừng chơi cuộc đời. Chắc chắn Trưởng Vịt Bể cũng đã là kim chỉ nam cho những ai từng là học trò của Thầy về rất nhiều lãnh vực từ Hướng Ðạo và ở ngoài đời, trong văn học… Nhớ về Thầy Cung Giũ Nguyên  để chúng ta có được một hãnh diện là Việt Nam đã sản sanh được một trong những danh nhân. Phong trào Hướng đạo hãnh diện có được một HÐS tiêu biểu!
letamanh
(Sóc Lanh Lợi)
Nhịp Tình Tango-Thơ: Lê Hữu Minh Toán Nhạc: Hà Lan Phương Trình bày: Hà Lan Phương Đệm nhạc: Nguyễn Hải
Tôi Không Là
 
Tôi không là gió mùa thu
Làm sao giăng mắc sương mù chiều nay
Tôi không là bóng mưa mây
Làm sao tưới nước cho đầy dòng sông.
 
Tôi không là gió phiêu bồng
Làm sao xoải cánh trên đồng cỏ xanh
Tôi không là kẻ lữ hành
Viễn du thiên hạ, vòng quanh đất trời.
 
Tôi không là cánh hoa rơi
Làm sao biết được tình đời hợp tan
Cõi lòng hòa nhịp chứa chan
Chiều nghiêng xế bóng mây ngàn sơn khê.
 
Ta về dấu bụi đường quê
Phù sinh quảy gánh lối về hư không
Tìm quên trong cõi bụi hồng
Trăm năm thiên cổ một vòng trường sinh.
 
Đất trời khai mở hành trình
Tiền thân hạt bụi ân tình nở hoa
Một vùng ánh sáng chói lòa
Soi trong tiềm thức, chan hòa tình thương.
 
Lê Tuấn
(Bài thơ này đã được Nhạc sĩ Phạm Đức Huyến phổ nhạc)
Tập thơ Tình yêu Của Tôi 2019


https://youtu.be/tNgCpbaM-Xs

TA MỞ CỬA
HỒN TA

Trong cơn hổn mang
Người nhìn ta ngờ vực
Ta đáp lại người
bằng ánh mắt chan hoà thân ái
Người có hiểu gì không?
Từ những bình minh
Mùa Xuân mở hội
Cùng mặt trời soi gương trên biển
Nhìn sóng nước uống từng ngụm hào quang
Là lúc hồn ta no đầy mật ngọt
Giữa trưa rát bỏng tình người
Lọc lừa , điêu ngoa , gian trá
Gió lùa lửa giận đốt cháy tim gan
Bởi kẻ thị phi khuynh loát nhau hằng giờ hằng phút
Ta nhởn nhơ giữa lòng sông rộng
Trong buổi hoàng hôn chợ chiều mây xám
Cơn hổng thủy thịnh nộ thét gầm
Đại chủ một mình ôm cơ đồ nghiêng ngả
Trước mặt sau lưng gương đời phản chiếu
Bởi dưới hậu trường đổi phấn thay son .
Là lúc … ta đến với người
bằng chính
Cửa hồn ta mở rộng …
Trên những con đường tịch nhiên ta đi
Đứng chon von giữa cây rừng ưu tư trầm mặc
Ta thầm gọi tên ta
Giọt nước mắt cường toan nhỏ xuống mặt đường
Là ngôn ngữ
ta nói với chính mình ,
nói với người thân
Người có hiểu gì không ?
@ LÊ HỮU MINH TOÁN
– Houston 26/ 7/ 2023
Nỗi Lòng Tháng Bẩy

 
Mẹ ơi tháng Bẩy về rồi,
Mà sao nhang khói bên trời quạnh hiu.
Vẫn con, lặng lẽ trông theo,
Một vùng mây xám treo leo ngang trời.
 
Mẹ ơi! Sông núi mất rồi!
Mất quê hương, mất cả thời vàng son.
Mất vòng tay mẹ ôm con.
Mất chiều lá đổ, đường mòn hôm nay.
 
Bây giờ cuộc sống cuồng quay,
Mẹ ơi con nhớ tháng ngày xa xưa.
Hình mẹ dưới nắng vàng trưa.
Tóc con vài sợi trắng vừa rơi nhanh.
Vai thon oằn nỗi tàn canh,
Thời gian con dốc chuyển mình trong con.
Hạt mưa tháng Bẩy lăn tròn,
Lễ Vu Lan cúng oan hồn dân ta
Lê Thị ý
Xa Xứ

Em không về nữa chị ơi!
Quê hương khép cửa quãng thời ấu thơ,
Kiếp nghèo chân đất tắm mưa,
Những chiều chạy giặc gió lùa tả tơi
Đau thương vá vội cuộc đời,
Chân chim đuôi mắt, bồi hồi nhớ cha.
Mất nhau giòng lệ nhạt nhòa,
Mẹ ta gãy gánh, tuổi ta đang nồng.
Những ngày miền Bắc cuối Đông,
Căm căm cái rét, cắt lòng buốt da.
 
Nhưng không vì thế chia xa,
Mà do hệ lụy quốc gia, giữa người.
Bao năm héo úa nụ cười,
Thiếu hơi ấm áp mặt trời phương Đông.
Bây giờ tiếng biết, tiếng không!!
Bây giờ tuyết trắng mênh mông ngang trời.
Cỏ vàng gãy dưới chân người,
Nồng say, ân ái để rồi cũng qua.
Buông tay rời khỏi Sơn Hà
Con thuyền viễn xứ trôi qua bán cầu.
 
Rồi đây tro bụi về đâu?
Ngôi sao bé nhỏ thay màu, đổi ngôi.
Đành thôi khuất bóng xứ người
Em không về nữa, ngậm ngùi nơi đây
Lê Thị Ý
BIỂN KHƠI
SỐ 99 – THÁNG 7 NĂM 2023
thơ Đặng Toản
BỐN MÙA NGU NGƠ
Bến và ngày đã miên man
Bao con thuyền ngược trên làn nước xuôi
Gọi mưa cho phiến gió chuồi
Tóc vui ngày muộn chưa nguôi lạc loài
Bóng chiều vừa đổ sóng soài
Cỏ lau nhắc với trăng ngoài mặt sông
THU vừa rớt hột mênh mông
Mây và sương khói chất đồng vị thơ
Lá buông mình ngủ trên bờ
Một miền nghi hoặc tình cờ sóng xô
Mắt nghiêng liếc trộm cơ đồ
Thấy ta một chú ngựa thồ không cương
Lưng đeo túi nặng vô thường
Chất bao kỷ niệm vào rương nhớ đầy
Có XUÂN trong phím nhạc gầy
Có ta mục tử chăn bầy chữ ngoan
Hát cùng HẠ vắng nhặt khoan
Mõ chuông bày tụng không toan tính gì
Trong ta thơ đã ngủ khì
Cùng khoai lang, bắp, củ mì đầy niêu
Hát cùng truông vắng cô liêu
Trọn về ĐÔNG một đôi điều ngu ngơ
Bảo Lộc
1997
BỒNG BỀNH THƠ
Nhớ chi mà bắt nhớ hoài
Nhớ như mưa thấm lạnh ngoài vô trong
Nhớ, thương ngược chiều song song
Thương như lửa ấm từ trong ra ngoài
Nhớ thao thức, khó nguôi ngoai
Chân theo dốc nhớ dài thoai thoải miền
Nhớ đang rê bóng dọc biên
Bỗng dưng lật cánh điềm nhiên ghi bàn
Nhớ Xuân tự buổi chạp tàn
Nhớ mai vườn mộng , hỏi han trăng thềm
Nhớ ngày dẫn tuốt vào đêm
Ngóng xơ võng mạc, nấc rêm cơ hoành
Lúc nào nhớ cũng mới toanh
Nhớ như bầy sóc chạy quanh vườn lòng
Nhớ như một gánh hàng rong
Bán rao kỷ niệm, lãi ròng ngu ngơ
Nhớ như mìn đã hẹn giờ
Im lìm chợt nổ, sững sờ lao đao
Đôi khi nhớ cũng vượt rào
Buồn đang thủ phận, nhớ vào tấn công
Bến đời , gạo chợ nước sông
Bủa câu biển nhớ , bềnh bồng phao thơ
Houston, 24/1/2023
CHIỀU ĐÃ QUÀNG VAI
Đọt nắng ngủ yên
Trong mùa đợi chờ
Tình đã đổi phiên
Không cần hẹn giờ
Xuân còn ngủ vùi
Trăng vui cồn biếc
Mắt nào ngậm ngùi
Nhìn chiếc hôn say
Em gầy hạ buồn
Còn chút thơ ngây
Mơ về cội nguồn
Lòng nhớ khôn khuây
Đong đầy, đong đầy
Nụ tình xa xôi
Hao gầy, hao gầy
Từng mùa tinh khôi
Một cành thu đơm
Trong vườn mơ lấm
Một bờ môi thơm
Nụ hờn nở chậm
Một làn thu biếc
Còn vờn trên sông
Một vùng hối tiếc
Vừa tràn mênh mông
Gọi mùa, gọi mùa
Trong vô vàn nhớ
Cợt đùa, cợt đùa
Em vui rạng rỡ
Nhịp đều sông trôi
Sóng chao từng thớ
Gọi tình trên môi
Xôn xao nhịp thở
Tình càng sâu lắng
Bùi ngùi hân hoan
Ngày còn xa vắng
Vụng về môi ngoan
Nhìn bàn tay vói
Van tình phục sinh
Ngàn lời thơ gói
Trong miền hoài trinh
Rời vùng yêu trói
Mang tình rời ngai
…..
Ngọt nắng mùa phai
Chiều đã quàng vai
Houston, 30/9/2022
KHÉP VỪA HOÀNG HÔN
Anh về chiều mưa.
Nắng mùa đã tạnh.
Nỗi buồn thấm lạnh.
Giữa lòng tay thưa
Tóc ngày đã thở
Thơm mùi trăng xưa
Hạt buồn khẽ nở
Trên vàng thu chưa
Em kiều diễm đứng
Bên vùng nguyên sơ
Anh chìa tay hứng
Giọt buồn bơ vơ
Tay ngà ngọc xinh
Em nâng thế giới
Nỗi buồn vời vỡij
Trải lòng trang kinh
Buồn vương, buồn vương
Cây ngô đồng gió
Sầu thương, sầu thương
Một tinh cầu nhỏ
Hắt về xa xăm
Thời kinh Tịnh Độ
Nối chiều đăm đăm
Bóng mờ hoang lộ
Tóc chờ mênh mang
Bàn tay sám hối
Môi buồn thênh thang
Nụ hôn cầm vội
Chìm thu, chìm thu
Một vùng trăng nhớ
Mịt mù, mịt mù
Khói lùa , nắng trở
Em về qua mùa
Cơn đau đã tạnh
Nỗi niềm được thua
Anh đưa vai gánh
Anh gầy đi chăng
Qua vùng nhớ bộn
Vòm mi của nắng
Khép vừa hoàng hôn
Houston, 2022
CHÙM BẠCH LẠP KHUYA
Anh ngồi xuống
Mịn như một dấu chấm
Nhớ vừa đâu đây
Lửa của cây chôm chôm
Đã thắp mùa hè nồng nàn
Băng qua trảng cỏ yểu điệu
Anh hái màu bơ vơ
Từ tầm nhớ di động của nắng
Anh với chiếc phao thơ cứu sinh
Nghe mùa Xuân đang tản cư
Ngoài cửa sổ của căn phòng tĩnh mịch
Nghe lao xao màu xanh
Chuyện vãn với màu vàng
Mới hay mùa yêu gầy như vọng khói nhớ
Thổi qua truông
Biển và viên sỏi nâu vẫn còn lăn trong trí
Mà hương Xuân đã bay mút cánh đồng rộn rã gió lập phương
Gió bắt đầu kéo dài đêm
Trong ống nghiệm của thời gian ra khỏi ngưỡng xanh xao
Thổi miên viễn hong khô màu trăng ướt
Vịn vào khoảng trống hụt hẫng của nỗi nhớ
Anh đẩy cánh cửa chờ mong
Bước ra hành lang hun hút ký ức
Trong sự kham nhẫn tinh luyện
Cây cối thương anh và chảy choàng màu lục diệp xuống vai
Nỗi nhớ tròn xoe
Lệ đọng trong hốc mắt của dỗi hờn
Khói lan tỏa băng qua bờ môi dấu nhẹm tiếng thở dài
Chìm vô vọng
Đây đó tiếng guốc khua trên hành lang
Còn vang quyện lồng vào
Độ chao lung linh
Của chùm bạch lạp khuya
Viết bên máy laser CNC
Houston, 22/2/2023
LỖI TẠI GHẾ ĐÁ
Đôi lúc vầng trăng khuyết tật
Lại xinh hơn một nụ rằm
Mở ché rượu đời chưng cất
Men sầu thơm suốt trăm năm
Sầu cũng khoanh vùng nhật nguyệt
Buồn còn ăn vạ câu thơ
Tuổi gần chạm chân mộ huyệt
Vẫn còn lắm lúc ngu ngơ
Điêu tàn trong ta là mấy
Cứ như dao lụt chặt cành
Em soi gương đời lộng lẫy
Tình rơi đáy vực mong manh
Cây sầu mọc quanh xóm nhớ
Trái buồn rụng suối phong ba
Nụ chờ nở bung hết cỡ
Tương phùng mộng dệt nguy nga
Gọi trăng bên bờ thiên kỷ
Gọi thơ dòng chảy mơ màng
Gọi môi trong chiều định vị
Gọi ngày giữa cuộc lang thang
Ghế đá nhận mình có lỗi
Bài thơ trong túi anh ngồi
Công viên chiều em chẳng tới
Nên dòng thời gian mồ côi
Viết bên máy Laser CNC
Ngày 20 / 6 / 2023
Đặng Toản
Copyright © biển khơi & tác giả 1998-2023