Tản – Mạn – Dzui – Ba – Ngày – Tết-    Phong Châu- Hoàng Kim Châu

 
Tản – Mạn – Dzui – Ba – Ngày – Tết
 
Trước hết xin “tản mạn” về mấy chữ “Tản Mạn”, “Dzui” và “Ba Ngày Tết”. “Tản Mạn” là “viết tản mạn”. Theo ngu ý là viết những chuyện (hay những mẩu chuyện) rời rạc, không tập trung vào một chủ đề nhất định, nghĩ gì viết nấy, thấy gì viết nấy, nghe gì viết nấy…biết gì viết nấy và lắm khi không biết gì cũng viết như kẻ viết đoạn “tản mạn” này. Viết không đầu không đuôi, không kết không mở…hay nói cách khác là viết rất ư “linh tinh chợ trời”.                                                                  
Kế đến là chữ “Dzui”. Dzui là dzui dzẻ ấy mà. Xin quý độc giả hiểu cho rằng kẻ viết “tản mạn” này sống chung dzới dzợ trên 50 năm là dân Nam Kỳ quốc nên mấy chục năm qua ở trong nhà thì chỉ dzòng dzo dzung dzích dzui dzẻ dzề…đến khi có dziệc ra ngoài thì phải chỉnh lại cái lưỡi để phát âm cho đúng là vòng vo – vung vít – vui vẻ – về. Sao mà cực quá đỗi…Đọc đến đây chắc quý độc giả thấy cũng dzui dzui rồi…Thế mới gọi “Dzui – Ba – Ngày – Tết”.                                                                                      
Bây giờ chuyển sang ba chữ “Ba Ngày Tết”. Người ta vẫn thường nói “Ba Ngày Tết”. Nào là “nghỉ ba ngày tết” “ăn chơi ba ngày tết”, “cờ bạc ba ngày tết”. Không ai nói “nghỉ bảy ngày tết” hay “ăn chơi mười ngày tết…”. Chuyện ăn chơi suốt bảy ngày, muời ngày hay thậm chí cả tháng, đó là chuyện “lòng thòng” của “Ba Ngày Tết”, vẫn thường xảy ra. Ai trong chúng ta mà chả từng được nghe…Tháng giêng ăn tết ở nhà. Tháng hai cờ bạc tháng ba rượu chè…như trong hai câu ca dao đã được các cụ tiền bối đưa vào chương trình Việt văn ở năm thứ nhất bậc trung học trong tiết mục ca dao tục ngữ. Hoặc đã từng nghe đâu đó câu này: Giêng hai là tháng ăn chơi. Ăn cho sập tiệm đi đời toàn gia (ca dao mới). Tết đây là tết Ta. Gọi là tết Ta để phân biệt với tết Tây. Tây, theo ngu ý là Pháp – nước Pháp. Chưa nghe ai gọi nước Tây cả, nhưng có thể nói “đi Tây” như dân ta hồi xưa vẫn hay gọi đi Tây, dân Tây, trường Tây, tiếng Tây, chồng Tây, giày Tây, cơm Tây, bồi Tây, giặc Tây…cái gì cũng Tây cả. Nhưng khi lấy bà vợ mắt xanh mũi lõ thì không gọi là “vợ Tây” mà gọi là “vợ Đầm”. Chưa từng nghe ai nói tết Mỹ, tết Úc, tết Đức hay tết Húng Gà Ri (Hungari) hay Án Bà Ni (Albani) bao giờ. Nhưng lại có nghe mấy tiếng “tết Công Gô” là nói đến những vịêc không bao giờ xảy ra hoặc có trên cõi đời này. Nghĩ cũng lạ thật! Tại sao người ta không nói tết Angola, tết Algerie hay tết Ba Tư nhỉ? Thỉnh thoảng cũng có nghe đến tết “Ma Rốc”. Bộ bên Phi Châu không bao giờ ăn tết hay sao? Xin quý độc giả nào biết trả lời dùm. Cám ơn nhiều…Trên thế gian này, số lượng các quốc gia đón mừng tết Tây nhiều lắm nên tết Tây ở đây có nghĩa là tết của người phương Tây. Còn nếu như gọi “ăn tết ở Tây phương” có nghĩa là ăn tết ở trên thiên đàng hay niết bàn rồi đó!
Tết Ta chỉ còn lèo tèo mấy nước ở Á Châu trong đó có nước Việt Nam với một trăm triệu dân và nước Ba Tàu chỉ con thiếu vài mống nữa là đủ một tỉ rưởi người. Nghe con số đã thấy khủng khiếp rồi huống hồ chi nếu phải chen lấn trong cái đám người lúc nhúc xí xô xí xào đó để tranh nhau leo lên tàu lên xe về quê ăn tết thì quả là khiếp! Đứng sau chữ Ba Tàu còn có mấy chữ Ba xạo, Ba láp, Ba que, Ba chớp, Ba nháng, Ba trật, Ba duột, Ba phải, Ba hoa, Ba trợn, Ba đía, Ba đá…Có điều không biết Tàu Lạ có phải là Ba Tàu hay không mà mấy cha nội đầu bướu chết tiệt trong nước lâu lâu lại hô hoán lên là có Tàu lạ đâm vào ghe thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam. Kết luận: Tàu lạ Tàu quen cũng đều là Tàu cả. Miễn bàn thêm.
Hình ảnh tưởng tưởng để quý độc giả thử hình dung xem cảm giác của quý vị nó ra làm sao. Đó là hình ảnh vào đúng ngày mồng một tết có một tỉ rưởi con người đứng quanh một bàn ăn trên đó có cả triệu món ăn được chế biến từ cá – cua – heo – bò – trâu – dê – ngựa – chuột – mèo – rắn rết – khỉ – cóc nhái – dơi – chim chóc – bọ hung – bọ cạp – rận – rệp… thì chắc chắn quý vị sẽ ôm đầu mà cao bay xa chạy. Hình ảnh tưởng tượng (hay thực?) đó đủ giải thích tại sao từ mấy nghìn năm trước mấy trự lãnh đạo dân ba Tàu lại cứ xua quân đi chiếm các nước khác. Thế kỷ 21 này và mãi mãi về sau chúng cũng không bao giờ từ bỏ ác tâm của tổ tông chúng. Ngay nước Hoa Kỳ, chúng cũng đã lên kế hoạch xâm chiếm bằng nhiều hình thức khác nhau. Muốn hiểu thêm vụ này, quý vị có thể tìm đọc một bài viết của cựu bộ trưởng quốc phòng tên là Trì Hạo Điền sẽ rõ, trong đó có câu: “tiêu diệt nước Mỹ bằng vũ khí nguyên tử thì không được vì Mỹ hơn ta về lãnh vực này. Vậy ta sẽ tiêu diệt nước nước Mỹ bằng vũ khi sinh học…”. Không biết có phải vì thế mà con Corona Virus/Covid19 đã được thả vào Mỹ và nhiều nước trên thế giới đầu năm 2020 hay không?                   
Tiếp tục chuyện Ba Ngày tết. Tết bắt đầu từ ngày mồng một tháng giêng. Tháng trước đó gọi là “Tháng Chạp”. Năm dương lịch tức năm Tây thì có từ tháng 1 đến tháng 12, toàn xài con số để đếm tháng. Năm âm lịch hay năm Ta thì khác. Cũng có 12 tháng nhưng chỉ từ tháng 2 đến tháng 11 là gọi bằng số, còn tháng đầu tiên của năm gọi là tháng Giêng và tháng cuối cùng của năm gọi là tháng Chạp. Thật là nhiễu nhương! Đôi khi còn nghe gọi tháng 11 là tháng 1 nữa, nghe nói các vị ở miền Bắc hay nói tháng giêng, hai, ba, tư, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười, một, chạp. Thấy chưa! Một Chạp là tháng 11 và tháng 12 âm lịch nên trong ca dao xưa có những câu:                                                                                                                                 
  Tháng giêng ăn tết ở nhà                                                                
  Tháng hai cờ bạc tháng ba hội hè                                                              Tháng tư đong đậu nấu chè                                                                      Bước vào mùa vụ làm nghề tháng năm                                                     Tháng sáu buôn nhãn bán trăm                                                              Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân                                                      Tháng tám chơi đèn kéo quân                                                                       Trở về tháng chín chung nhân buôn hồng                                                     Tháng mười buôn thóc bán bông                                                      Tháng một tháng chạp  nên công hoàn toàn
 
Nhưng tại sao lại gọi tháng Giêng và tháng Chạp? Thì ra cũng tại mấy cái chú Ba tàu. Chuyện là ngày xửa ngày xưa, cái học của Ta là học theo lối của Ba Tàu, viết chữ của Ba Tàu rồi chế ra chữ Nôm cho đến khi có ông Cha Cố Alexandre De Rhodes sáng chế ra chữ Quốc Ngữ bằng cách dùng các ký tự La Tinh thì ta mới bớt lệ thuộc ngôn ngữ Tàu trừ mấy đại cán thâm nho như đồng chí anh hùng lao động Vũ Khiêu, nhờ Hán thâm nên biến thơ của Lý Bạch thành thơ của mình để tặng cho em huê hậu miệt giường – phát âm theo giọng Nam kỳ quốc, nếu không thì ngày nay, toàn dân ta hễ ra đường gặp nhau thì xổ toàn nho chùm thì mệt lắm!                                                                              
Vẫn nói chuyện tháng Giêng và tháng Chạp. Mấy chú Tàu gọi tháng 1 âm lịch là ‘Nguyên Nguyệt’ và tháng 12 âm lịch là ‘Lạp Nguyệt’. Mấy chữ này khi truyền vào Việt Nam, dân ta nói riết đọc riết thì trại ra thành ‘tháng Giêng’ và ‘tháng Chạp’. Sách vở xưa nói thế chẳng biết đúng sai. Thôi thì ta cứ ghi nhận như thế đi. Còn nữa, theo các Cụ của ta ngày xưa (lại ngày xưa, miễn bàn cãi) tháng Chạp được gọi là “tháng củ mật”. Nghe mấy chữ “tháng củ mật” cũng ngồ ngộ và được các Cụ giải thích như sau: củ là củ soát, tức là kiểm soát, còn mật là cẩn mật. Lý do có “tháng củ mật” tức tháng Chạp, tháng giáp tết thì nạn trộm cắp chôm chỉa thường xảy ra bởi đám đạo chích cho nên chính quyền làng xã ở các miền xa phố thị phải thường xuyên nhắc nhở cho dân chúng lúc nào cũng cảnh giác đề phòng kẻ gian. Hiện nay được biết 12 tháng tại Việt Nam đều được gọi là tháng “củ mật” cả! Nạn chôm chỉa này cũng được “xuất khẩu” ra nước ngoài nhưng các nước này không biết tháng “củ mật” là gì nên chưa biết làm cách nào để “củ mật”. Năm này là tết Con Rắn, không biết chúng dân Nhật Bổn có biết cách đề phòng như ông cha ta ngày xưa hay không?  Rắn cả bầy cứ bò khắp hang cùng ngõ cụt e cũng khó lòng mà “củ mật” được!        
Kẻ viết “tản mạn” này trộm nghĩ…không biết có phải chữ Chạp trong tháng Chạp đã biến thành động từ “chạp” hay từ động “chạp” biến thành tháng Chạp khi mà trong tháng 12 âm lịch, người Việt Nam ta thường rủ nhau đi đến các nghĩa trang, hoặc nơi chôn các người thân đã quy tiên để “chạp mộ, chạp mả” tức là người ta đến đó sửa sang lại các ngôi mộ cho thoáng đẹp, không còn cỏ cây um tùm quanh mộ rồi đốt nhang và dâng lễ vật cúng kiến để coi như chuẩn bị mời những người đã quá cố về ăn tết với người còn sống. Chạp mả hay dẫy mả cũng thế. Ta còn có chữ “dẫy cỏ” tức làm cỏ, cuốc cỏ cho sạch ở nương rẩy, vườn sân…Không nghe ai nói “chạp cỏ”. Có lẽ “chạp” gắn liền với tháng Chạp và động từ “Chạp” chỉ dùng để chỉ công việc làm đẹp mồ đẹp mả mà thôi.
Lúc còn ở với cha mẹ, cứ đến ngày rằm tháng Chạp là phải vác cuốc theo cha và mấy người bà con: bác, chú, cô, anh chị… đến nghĩa trang để dẫy mả. Gần hai chục ngôi mộ nằm rải rác, cỏ mọc tứ bề, mộ bia xiêu vẹo trông hoang tàn, có mộ bị sụp vài mảng do mấy chú bò dẫm lên. Năm sáu người chạp mả từ 10 giờ sáng cho đến hai ba giờ chiều mới về nhà. Nói chung thì ngày đi chạp mả hay dẫy mã không nhất định là ngày nào trong tháng Chạp mà tùy theo từng gia đình, từng giòng tộc miễn sao nội trong tháng Chạp phải làm cho xong nghĩa vụ này, bất luận ngày nào cũng được.                                                                                                                                     
Nhân đây cũng xin nhắc đến hai chữ có liên quan đến chạp mả, dẫy mả. Đó là hai chữ “Tảo mộ”. Tảo mộ cũng là việc là dẫy cỏ, dọn dẹp khu mộ cho sạch sẽ và thắp nhang và đốt giấy vàng bạc cho người ở địa phủ có tiền mà xài như hai câu trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du:                                            
 
Ngổn ngang gò đống kéo lên.                                                                      Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay                      
 
Cũng nhờ Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du tôi lại biết thêm là lễ tảo mộ đi liền với hội “Thanh Minh” thường gọi là hội “Đạp Thanh” ở bên xứ Tàu. Đạp thanh là đi chơi giẫm trên đám cỏ xanh theo giải thích của hai cụ Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim. Đây là một lễ hội có từ xa xưa của người Tàu. Ở Việt Nam từ xưa hình như không có hội “đạp thanh” này mà chỉ có “tảo mộ” nhưng chẳng phải là ngày hội lễ gì ráo. Đọc lại Truyện Kiều của Cụ Nguyễn Du thấy có mấy câu thơ nói đến chuyện này xảy ra vào năm “Gia Tĩnh Triều Minh”…                                                                                                                      
Ngày xuân con én đưa thoi                                         
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi               
Cỏ non xanh tận chân trời                                         
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa                         
Thanh minh trong tiết tháng ba                                     
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh…
Theo đó, chuyện rõ như ban ngày là việc “tảo mộ” ở Việt Nam không phải là “những ngày lễ”. Còn bên xứ các chú các thím Ba là ngày lễ, ngày hội. Một điều nữa là “tảo mộ” của người Việt nhằm vào tháng cuối của năm “âm lịch” trong khi “lễ tảo mộ” của mấy anh Ba rơi vào những ngày đầu của mùa xuân, cách nhau những ba bốn tháng.
Chưa hết. Đến ngày 23 tháng Chạp, theo tập tục (kẻ viết tản mạn này không gọi là truyền thống), đó là ngày đưa Ông Táo về trời để ông thần bếp này lên tận thiên đình tường trình mọi việc đã xảy ra trong năm dưới trần thế cho Ngọc Hoàng rõ (xin mở ngoặc: sau bài tản mạn này tôi sẽ ngồi thiền ba hôm để nhớ lại một số sự liện đã xảy ra trên thế gian hầu viết một Sớ Táo Quân nộp cho Văn Bút Tao Đàn của bác Định).
Tục truyền vào ngày đó ông Táo leo lên lưng cá chép vượt vũ môn để bay về trời. Ông ta ở suốt tuần trên thiên đình ăn nhậu với Ngọc Hoàng cho mãi đến ngày 30 tháng Chạp, nếu tháng thiếu là ngày 29 mới trở về trần thế để kịp ăn tết với vợ con. Không biết ông Táo có con hay không nhưng ông ta có một bà vợ và thêm một anh chồng nhỏ (hay chồng lớn?) nữa nên thiên hạ hay nói “hai ông một bà” là như vậy…Một chuyện nữa được loan truyền bấy nay rằng ông Táo (cả hai ông?) chỉ mặc áo chứ không bao giờ mặc quần. Theo “nghiên kíu” của kẻ viết tản mạn thì khi hai ông ở trong đống rơm đang cháy, vì nóng quá nên cởi quần ra để dập lửa cho nên khi người ta kéo xác hai ông ra chỉ thấy một mảnh áo che thân còn hai chiếc quần đã biến thành tro… Bà Táo cũng nhảy vô đống rơm đang cháy phừng phừng nhưng chẳng biết bà có dùng quần để dập lửa hay không? Chuyện này chưa thấy ai thét mét cả. Thế rồi từ đời này tiếp sang đời khác, người ta cũng bắt chước ông Táo để viết những bài gọi là Sớ Táo Quân (như tôi đây) tâu đủ mọi chuyện của dương thế đến Ngọc hoàng. Mỗi năm có cả trăm cả nghìn bài sớ nhưng không biết Ngọc hoàng có nghe và đọc được hay không mà chỉ thấy xuất hiện trên các tờ báo xuân. Ngày nay, sớ Táo quân xuất hiện trên internet để truyền đi khắp năm châu bốn bể, ai ai cũng đọc được bởi chúng ta đang ở trong thời đại “toàn cầu hóa” – một thứ chữ nghĩa khác phát xuất từ bốn chữ “thế giới đại đồng” do cụ Các Mác và các hậu duệ Lê Nin (ông cố của TBT Lê Duẩn), Mao Xếnh Xáng, Hồ  Chủ Tịt…khởi xướng và thực hiện từ hơn một thế kỷ nay….                                                                                                                                       
Viết đến mấy trang rồi mà vẫn còn lẩn quẩn ở mấy ngày trước tết. Thế nhưng đã hết đâu! Trước ngày mồng một có nhiều chuyện diễn ra lắm. Có một việc phải làm trước tết. Đó là công việc chỉ được giao cho bọn con trai, đám con gái trong nhà không được đụng tới (không biết trong nhà không có con trai thì ai làm đây?). Đó là việc dọn dẹp trên các bàn thờ, đặc biệt là chùi các bộ lư hương, bát nhang, bình cắm hoa và nhiều món linh tinh khác. Công việc nặng nhất là chùi bộ lư hương bằng đồng, phải làm cả buổi mới xong. Sau một năm ngồi trên bàn thờ, các bộ lư đồng do bị oxy hóa nên biến thành màu đen, nhiệm vụ của mấy đứa con trai trong nhà là phải chùi cho nó trở lại màu vàng đồng bóng loáng. Cũng không có gì khó cả, chỉ cần dùng cát hoặc đất bôi lên rồi dùng một miếng vải thấm nước chà lui chà tới, chà đủ mọi góc mọi cạnh là màu đen sẽ biến ngay, sau đó bôi lên một lớp dầu chùi bóng và dùng vải sạch chà lui chà tới là OK. Dạo ấy nhiều nhà có những bình cắm hoa cũng bằng đồng được làm từ những vỏ đạn cà nông 105 ly nên cũng phải chùi cho bóng láng như các bộ lư hương, nếu là bình làm bằng sành thì dễ dàng làm sạch hơn nhưng nếu lỡ tay làm bể thì đại nạn sẽ tới, ít nhất là nghe những lời rầy la rất nặng cho hai cái lỗ tai. Sau đó còn phải dọn vệ sinh trên các bàn thờ nữa, công việc tuy không nặng nhọc nhưng đôi lúc chùi sạch và chà láng không đúng mức nên bị lôi đầu bắt phải làm lại. Cũng khổ thân cho bọn con trai lắm chứ!             
Ngoài những chuyện vừa kể, lại còn phải nhắc tới việc chuẩn bị phục vụ cho “Ba Ngày Tết”, nói cho dễ hiểu là chuyện ẩm thực tức là chuyện ăn và uống. Bất kể nhà giàu hay nghèo, giàu nức vách đổ tường hay nghèo mạt rệp cũng phải mua các thức ăn cho “Ba Ngày Tết”. Nào là thịt heo bò gà, các thứ cá, rau quả bông hoa, nhang đèn, bánh kẹo, bánh chưng bánh tét (bánh tết), rượu trà bia, nước ngọt…và còn nhiều món lỉnh kỉnh khác…như pháo và các hình ảnh trang trí trong nhà như câu đối hay câu “Cung Chúc Tân Xuân”, “Chúc Mừng Năm Mới”                                                        
Việc làm sau đây cũng diễn ra trước ngày tết. Đó là việc quét vôi cả trong lẫn ngoài nhà cho mới để ăn tết. Những nhà xây bằng gạch hay ắc lô (không hiểu chữ ắc lô do đâu mà có, là những viên gạch màu xám được đúc bằng xi măng với cát bởi một cái khuôn có 6 lỗ, lớn khoảng gấp 4 lần những viên gạch bằng đất nung. Ắc lô đúc xong đem phơi cho khô cứng là dùng được) tráng xi măng bên ngoài mới quét vôi chứ như nhà của kẻ viết tản mạn này dạo đó chỉ làm toàn bằng gỗ thông nên bớt đi một việc nặng nhọc. Nhưng thỉnh thoảng cũng được mấy đứa bạn Hướng Đạo ới đến nhà chúng để phụ quét vôi như là một việc thiện cần phải tham gia và đó cũng là cơ hội chơi đùa với bạn bè, đặc biệt là được các ông bô bà bô của bạn tặng cho một bữa ăn ngon và còn có màn cho uống nước cam hiệu Birley nữa…                                                                                                                                      
Càng gõ thấy càng lòi thêm lắm chuyện. Một trong những chuyện không kém quan trong là chuyện mua sắm áo quần. Ai sao không biết chứ kẻ viết tản mạn này lúc bé cứ mong cho đến tết để được một bộ quần áo mới, thường là chiếc chemise màu trắng, đôi lúc áo có hình ca rô đủ màu; một quần khaki màu xanh hoặc vàng đất, lên trung học thì được mặc áo xịn vải tetoron và một đôi sandale bằng da màu nâu cũng mới toanh. Đà Lạt vốn lạnh nên đôi khi cũng có được một chiếc áo laine hoặc một áo blouson mới, học đến đệ nhị đệ nhất thì tự mình để dành tiền để sắm một chiếc áo vest hoặc một áo manteau và đôi giày Tây màu đen hoặc màu nâu với một đôi vớ duy nhất. Ngày thường đi học thì chỉ mang giày vải hiệu Bata màu trắng hoặc sandale, lắm lúc cũng lê đôi dép Nhật vào lớp…Việc ăn mặc thấy cũng “đoạn trường” lắm vì mình là con nhà nghèo. Lúc còn bé, khi nhận được bộ áo quần mới thì việc đầu tiên là mang ra ngắm nghía cho mãn nhãn, thử tới thử lui, sau đó mới xếp cẩn thận rồi đem đặt dưới chiếc gối cho nó thẳng, đến sáng mồng một mới kéo ra mặc vào người. Trên bộ quần áo mới thấy những nếp gấp rất vô kỷ luật. Lúc đó làm gì có bàn ủi để ủi cho thẳng nếp, mãi sau này bà cụ mới thỉnh cho một chiếc bàn ủi bằng sắt nặng trình trịch có một chú gà trống Gaulois ở đầu nắp như một cái chốt để mở lên đóng xuống. Muốn ủi phải lấy than đốt lên rồi cho vào bàn ủi, chờ cho thật nóng mới ủi. Nếu gặp than xấu bị nổ văng ra thì trên áo quần có vài lỗ cháy li ti.                                                  
Ngày cuối cùng của năm âm lịch tức là ba muơi tháng Chạp hoặc hai mươi chín tháng Chạp nếu là tháng thiếu, nhiều gia đình theo đạo thờ cúng  ông bà hay những người theo đạo Phật đều có cúng tất niên. Việc cúng này là để mời những người đã khuất về xơi “Ba Ngày Tết” với thân nhân còn sống, cho đến cuối ngày mồng ba mới có một lần cúng nữa gọi là “cúng đưa ông bà”.
Tôi. Giờ này trên đầu chẳng còn một sợi tóc nào cho ra đen, ấy vậy mà ngồi “tản mạn”, có lúc tưởng chừng như mình đang còn là cậu bé mười hai mười ba tuổi với bao nhiêu háo hức của tuổi thơ khi chuẩn bị đón “Ba Ngày Tết”. Lòng bỗng tràn trề bao niềm vui. Nghĩ lại, làm sao để có được đoạn đời vô tư hạnh phúc như thế nữa! Những ngày thơ dại ấy đã bay qua (không phải trôi qua) một cái vèo. Lắm lúc ngoái cổ nhìn lại thì thấy những đám mây màu hồng đẹp lảng đảng ở một nơi thật xa xôi…xa vô tận.
Tản Mạn – Dzui – Ba – Ngày – Tết” nhưng mới chỉ nhắc đến vài mẫu chuyện trước tết chứ chưa nói chuyện mồng một mồng hai mồng ba. Chắc phải hẹn đầu năm viết tiếp. Viết đến đây thì nghe đì đùng pháo nổ bên tai (tưởng tượng), vợ con đang bày hoa trái để cúng giao thừa, mấy đứa cháu cũng đang treo mấy thước pháo hồng trên cây nêu trước sân nhà để chuẩn bị đốt. Thế là “vèo một cái” – năm cũ dzọt qua, năm mới chồm tới. Năm cũ là năm ông Rồng. Năm mới là năm em Rắn…                                                               
                                          
 
 
            Phong Châu- Hoàng Kim Châu