TẢN MẠN SUY TƯ NHÂN CUỘC DIỄN HÀNH VĂN HÓA QUỐC TẾ 2023 TẠI NEW YORK… Bài viết của giáo sư NGUYỄN ĐỨC CUNG ̣(Dân Biểu VNCH 1971-1975)

TẢN MẠN SUY TƯ NHÂN CUỘC DIỄN HÀNH VĂN HÓA QUỐC TẾ 2023 TẠI NEW YORK…
 
Bài của NGUYỄN ĐỨC CUNG
Joachim Peiper, một tác giả Tây phương đã từng xác quyết: “Lịch sử luôn
được viết bởi người chiến thắng…”. Thê thảm hơn, một câu ngạn ngữ La Tinh có
trước đây hơn hai nghìn năm từng được xác nhận như là một chân lý của lịch sử:
“Khốn khổ thay những người bại trận” (Vae victis. – Malheurs aux vaincus).[Petit
Larousse illustré, 1987, Locutions Latines, Grecques et Étrangères, page XIII]. Sau
ngày 30-4-975, tờ báo lá cải Sài Gòn Giải Phóng của Cộng sản trong bài xã luận ra
ngày 16-5-1975 đã gọi quân dân cán chính VNCH là những “con thú” (Huy Đức,
Bên thắng cuộc, quyển I, OsinBook, 2012, trang 66).
Ai là những con thú? Ai là kẻ thắng cuộc thì ngày nay, sau gần nửa thế kỷ lịch
sử đã lần lượt trả lời.
Ngày thứ Bảy, 10/6/2023, Cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế do Cộng Đồng
Việt Nam Quốc Gia khắp nơi trên thế giới tổ chức, đã quy tụ rất đông người Việt hải
ngoại về tại New York để hân hoan viết lại trang sử oai hùng của dân tộc với chủ đề
lịch sử “Hai Bà Trưng”.
Quả thật trong quá khứ vẫn xảy ra nhiều sự kiện rất oái oăm bằng chứng rõ
nhất là trong phạm trù văn hóa rất nhiều trường hợp người chiến thắng lại phải cúi
mình nhận lấy những lời dạy dỗ qua nền văn hóa của kẻ chiến bại đó là trường hợp
người chiến thắng Mãn Thanh trong năm 1645 khi tiến vào Nam Kinh đã phải chấp
nhận nền văn hóa của Trung Hoa của các triều đại phong kiến về trước làm khuôn
vàng thước ngọc trong việc cai trị một đất nước rộng bao la, từ việc nhỏ cho tới việc
lớn, thuộc nhiều lãnh vực. Kinh nghiệm đó nay đã được lặp lại trong lãnh vực văn
hóa khi nhiều cây bút ở hải ngoại, thí dụ nhà văn Trần Hữu Thục đã từng có những
bài viết nói lên sự ưu thắng của nền văn hóa Việt Nam Cộng Hòa cũng như các nhà
văn chân chính trong nước như Hoàng Hưng, Vương Trí Nhàn, Phạm Xuân Nguyên,
Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Đình Cống, rồi Dương Thu Hương v.v… đã không hết
lời khen ngợi, tán dương nền văn hóa rực sáng của VNCH với ba tiêu điểm đó là
dân tộc, nhân bản và khai phóng. Tất cả các văn hóa phẩm của Miền Nam Việt Nam
đã được người dân Miền Bắc tìm đọc, trước lén lút thì nay công khai, nhiều ấn phẩm
được in lại, sao chép để chuyền nhau đọc. Rõ ràng nhất, nhạc vàng trước đây bị cấm
đoán, tịch thu, ngăn cản nhưng nay cả nước từ nam chí bắc đều đua nhau nghe trong
các dịp lễ tết, tiệc tùng, đình đám riêng tư.
Nói về sự “thống trị” của ca nhạc VNCH (một lãnh vực của Văn hóa VNCH)
qua sinh hoạt giải trí hiện nay trong cả nước, nhà thơ Hoàng Hưng vốn là người được
đào tạo dưới chế độ CS, đã viết: “Nhu cầu hát, một trong những nhu cầu tự nhiên
nhất của con người, sau nhiều năm bị “nhạc đỏ” độc quyền thống trị đã bùng lên
với “nhạc vàng” khắp phố phường ngõ xóm(…) Đến mức bây giờ, nhạc “boléro”
một thời vốn không được đánh giá cao lắm bởi giới có học ở Sài Gòn, nay đang
“tràn ngập lãnh thổ”, chiếm lĩnh không gian âm nhạc cả chính thống lẫn tự phát.”
Nếu mùa xuân là thời điểm mở đầu của một chu kỳ của trời đất, thì Điệp Khúc
Mùa Xuân của nhạc sĩ Quốc Dũng của VNCH được những người Cộng Sản đứng
đầu thành phố Sài Gòn, “bấm bụng bấm gan” chọn làm ca khúc mở đầu cuộc triển
lãm “Đường hoa Nguyễn Huệ” năm Nhâm Dần 2022. Nói cho đúng họ không thể
làm gì khác hơn!
Và như nhà thơ Đỗ Trung Quân của miền Bắc phát biểu, sự thắng thế của nhạc
miền Nam là cuộc “phục thù ngọt ngào” của bên thua cuộc. Muốn nó chết, dễ thôi!
Các anh hãy làm nhạc hay hơn nó, có tài năng hơn nó để vĩnh cửu như nó… Dèm
pha, mai mỉa, xúc phạm nó vô nghĩa! Nó càng bất tử! Chỉ vậy thôi!” (Trích từ ấn
phẩm Xuân Đại Việt Nhâm Dần 2022,Tổng Bộ Báo Chí thuộc Đại Việt Cách Mạng
Đảng thực hiện, do Nguyễn Lý Tưởng & Nguyễn Đức Cung, TS Lê Đình Cai chủ
biên, trang 18-19).
Những năm tháng gần đây lại xuất hiện Nhóm nghiên cứu lịch sử với con
chim đầu đàn là Tiến sĩ Vũ Tường, Trưởng Khoa Sử Học thuộc Viện Đại Học Oregon
cùng một loạt nhiều vị tiến sĩ trẻ tuổi được đào tạo rất bài bản trong nhiều trường đại
học tại Hoa Kỳ, Nhật Bản v.v… xếp hàng bên cạnh ông như TS Alex-Thai Dinh Vo,
Nguyễn Lương Hải Khôi và phu nhân là TS… Tôi có cơ duyên gặp gỡ nhóm này
qua hai cuộc ra mắt sách một được tổ chức từ trung tuần tháng Tư, tại Hoa Thịnh
Đốn và một tại Thành phố Houston ngày 3 tháng Sáu năm 2023. Số ấn phẩm xuất
bản của họ khá nhiều và được giới thiệu nhiều lần trên các trang điện tử lớn đặc biệt
trên trang mạng tiếng Việt của BBC, VOA. Hiện tôi chỉ có trong tay các cuốn sách
như Building A Republican In Vietnam, 1920-1963 edited by Nu-Anh Tran, The
Republic of Vietnam, 1955-1975 – Vietnamese Perpectives on Nation Building edited
by Tuong Vu and Sean Fear, và Toward A Framework For Vietnamese American
Studies (History, Community, and Memory, edited by Linda Ho Peché, Aex-Thai
Dinh Vo, and Tuong Vu). Tôi nghĩ rằng nhóm của GS Vũ Tường là một Think tank
về sử học, có năng lực và với vốn liếng thời gian rất dài để đào sâu nghiên cứu về
chủ đề Cộng Hòa cùng nhiều lãnh vực nghiên cứu khác trong công cuộc tranh đấu
giành lại chính nghĩa của sự thật cho Việt Nam Cộng Hòa đã bị nhóm sử gia thiên
Cộng trong các đại học Hoa Kỳ được mua chuộc bằng tiền bạc mà viết sách, viết
báo để nhục mạ, hạ bệ Miền Nam trong mấy chục năm qua. Triển vọng làm việc của
nhóm GS Vũ Tường sẽ mang lại rất nhiều hy vọng và rất cần được đồng bào Việt
Nam tại hải ngoại nâng đỡ, khích lệ.
Đây là một ghi nhận thoáng qua trong suy tư về Cuộc Diễn Hành Văn Hóa
Quốc Tế. Tổ chức các cuộc diễn hành về văn hóa hằng năm như vậy của Người Việt
Quốc Gia khắp nơi trên thế giới và trên đất Hoa Kỳ chính là có đủ bằng chứng để
nói lên lý do chiến thắng tất yếu của nền văn hóa chúng ta.
Trên chiếc xe 15 chỗ ngồi dành cho Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại
Philadelphia và Phụ Cận do bà La Cẩm Tú làm Chủ Tịch cùng các thành viên, Hội
Văn Hóa Việt Nam và Hội Cao Niên Người Việt tại Pennsylvania, Hội Cầu Nguyện
Philadelphia cùng với một số thân hữu mà tôi nhớ tên như chị Ngô Việt Quyền, chị
Hoàng Ken, chị Hạt Cát, chị Diệu Thông, anh Tư Điệu, anh Hồ Dũng, anh Jimmy
Huỳnh và một số khác tôi không biết tên; rất nhiều hội viên của các tổ chức này đã
dùng phương tiện di chuyển riêng để đi trước.
Trong câu chuyện trên xe, một người bạn đã hỏi tôi: “Có người đã nói với tôi
rằng nước Việt Nam có bốn nghìn năm văn hiến, vậy anh nghĩ thế nào? Việt Nam có
bốn nghìn năm hay hai nghìn năm văn hiến?” Tôi trả lời: “Lịch sử phải học và phải
nghiên cứu đến nơi đến chỗ mới biết tường tận, chứ không thể đọc qua mà biết được
nên có khi nói sai lạc hoặc ấm ớ. Khi học để lấy được các học vị MA hay Ph.D tại
đại học, người ta phải trải qua nhiều năm tháng học hỏi, nghiên cứu”. Một nhà văn
nổi tiếng trong nước Nguyễn Hiến Lê đã nhận định rằng : “Trong giới biên khảo, sử
gia giữ một địa vị đặc biệt vì sức làm việc phi thường của họ. Họ kiên nhẫn, cặm cụi
hơn hết thảy các nhà khác, hi sinh suốt đời cho văn hóa, không màng danh vọng, lợi
lộc, bỏ ra từ ba đến năm chục năm để lập nên sự nghiệp. Họ đọc sách nhiều, du lịch
nhiều, suy tư nhiều, và nếu họ ít có thành kiến, thì tác phẩm của họ càng lâu đời
càng có giá trị; hiện nay ở phương Tây, loại sách về sử được phổ biến rất rộng, có
cái cơ muốn lấn át tiểu thuyết.” (Lịch sử Văn minh Ấn Độ của Will Durant, Nguyễn
Hiến Lê dịch, Lời nói đầu, T&T 1989, trang VII).
Tôi trả lời người bạn : “Chỉ có hai nghìn năm văn hiến thôi, còn những hai
nghìn năm trước thì theo vua Tự Đức trước đây và các sử gia chân chính hiện tại,
đa số đều là những chuyện hoang đường, chuyện “ma trâu thần rắn” nói theo chữ
Hán mà vị vua này đưa ra đó là “ngưu quỷ xà thần”.
Người bạn ấy lại hỏi tiếp: “Anh nghĩ thế nào về Hai Bà Trưng?” Tôi không
trả lời vội bởi vì trong đầu tôi lúc bấy giờ hiện ra một lúc hai “loại chuyện” về Hai
Bà Trưng: một thuộc loại huyền sử xen sự thật và một loại chuyện xây dựng theo
tinh thần khoa học mà tôi gặp thấy trong nghiên cứu ở cấp đại học.
Tôi trả lời: “Những sự hiểu biết của tôi về Hai Bà Trưng khi tôi còn ở cấp
Trung học thì khác nhưng khi đi vào ngành Sử ở cấp Đại Học thì Hai Bà Trưng lại
khác và khác hẳn từ nguồn gốc cho đến hành trạng của Hai Bà.”
Miên man theo dòng tư tưởng, tôi nhớ lại trong trí đoạn thơ viết về Hai Bà
Trưng của hai tác giả thế kỷ XIX là Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái trong tác phẩm
Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca được soạn chung năm 1860-1870 vốn đã thuộc lòng khi
còn tuổi ở trung học như sau:
Bà Trưng quê ở châu Phong
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương-tử, thay quyền tướng-quân.
Ngàn Tây nổi áng phong trần,
Ầm ầm binh mã tới gần Long biên
Hồng quần nhẹ bước chinh yên,
Đuổi ngay Tô Định dẹp tan biên thành.
Đô kỳ đóng cõi Mê Linh,
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta,
Ba thu gánh vác sơn hà,
Một là báo phục, hai là bá vương.
Uy thanh động đến Bắc phương,
Hán sai Mã Viện lên đường tiến công.
Hồ Tây đua sức vẫy vùng,
Nữ nhi chống với anh hùng được nao?
Cấm khê đến lúc hiểm nghèo,
Chị em thất thế cũng liều với sông.
Phục Ba mới dựng cột đồng
Ải quan truyền dấu biên công cõi ngoài.
Trưng vương vắng mặt còn ai?
Đi về thay đổi mặc người Hán quan.
Khi theo học ngành Sử ở Viện Đại Học Huế từ năm 1962, tôi được học với
các giáo sư Sử nổi tiếng của VNCH là Linh mục sử gia NGUYỄN PHƯƠNG (1921-
1993), một người mà Tiến Sĩ Wynn Gadkar-Wilcox đã gọi là : the historian and
political scientist Father Nguyễn Phương (1921-1993) [Tham khảo sách Toward A
Framework For Vietnamese American Studies của Linda Ho Peché, Alex-Thai Dinh
Võ và Tuong Vu, 2023, trang 64] và Giáo sư NGUYỄN THẾ ANH (1936-2023),
người được Tiến Sĩ Wilcox gọi là “The eminent Vietnamese historian” (Sách đã dẫn,
trang 72). Tinh thần khoa học và tự do đã được đưa vào trong phong cách giảng dạy
tại Trường Văn Khoa Huế qua chứng chỉ “Phương Pháp Sử Học” được trình bày cụ
thể trong cuốn Phương Pháp Sử Học của Nguyễn Phương xuất bản năm 1964 và
cuốn Nhập Môn Phương Pháp Sử Học của Nguyễn Thế Anh in năm 1973 tại Sài
Gòn. Cần nói thêm là Giáo sư Nguyễn Thế Anh đã mất tại Pháp ngày 19 tháng Ba
năm 2023, để lại một kho tàng đồ sộ hơn 120 ấn phẩm gồm sách và bài viết bằng
tiếng Anh, tiếng Pháp, và tiếng Việt về lịch sử VN, cùng lịch sử Đông Nam Á, đã
được nhiều giải thưởng quốc tế về sử học. Một sử gia Hoa Kỳ nổi tiếng là Keith
Weller Taylor đã viết trong Monde du Vietnam: Hommage à Nguyễn Thế Anh, được
trích lại trong cuốn sách Nguyễn Thế Anh theo dòng lịch sử của Nguyễn Q. Thắng
(in năm 2017, tại trang bìa sau) rằng: “Với lòng biết ơn đối với cuộc đời và sự nghiệp
của Nguyễn Thế Anh, những khảo luận trong tập sách này là để dành tặng ông và
vinh danh ông với hi vọng rằng chúng tôi, dù còn thiếu sót, song vẫn là những người
được chứng kiến sự hiện diện của một học giả lớn trong thế hệ chúng tôi.” Linh mục
sử gia Nguyễn Phương khi đứng trên lập trường khoa học và tự do đã đưa ra nhiều
luận điểm sử học chứng minh về sự hiện diện của Hai Bà Trưng với những quan
điểm khác biệt với các nhà viết sử trước đây dưới các triều đại quân chủ như Lê Văn
Hưu, Ngô Sĩ Liên, Lê Quý Đôn, Cao Xuân Dục ngay cả đối với các nhà văn gần
chúng ta như Ngô Tất Tố, Nguyễn Tường Phượng, kể cả các sử gia mác xít như Đào
Duy Anh, Văn Tân, Văn Tạo, Trần Huy Liệu v.v… Câu chuyện về Hai Bà Trưng cho
chúng tôi nhiều thích thú, chẳng hạn tên chồng của Bà Trưng Trắc là Thi chứ không
phải Thi Sách. Ông Thi này không bị Tô Định giết mà đã cùng với Bà Trưng khởi
nghĩa chống nhau với Tô Định. Cả hai bị Mã Viện chém đầu và đưa đầu về Lạc
Dương chứ không hề có chuyện “Bà Trưng” nhảy xuống sông Hát Giang mà tự tử…
như lời kể của Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca được nghe ở trên và sau này được nhiều
người viết sử dùng lại. Các chuyện ấy do thời sau truyền lại, đó là thói quen “dĩ ngoa
truyền ngoa”. Chủ đề của cuộc diễn hành văn hóa năm nay là “Hai Bà Trưng” cho
tôi nhớ về các công trình nghiên cứu của sử gia Nguyễn Phương qua cuốn sách xuất
bản năm 1965 tại Huế nhan đề Việt Nam Thời Khai Sinh nói rõ về nguồn gốc dân tộc
Việt Nam được dạy tại Viện Đại Học Huế trong gần suốt hai mươi năm (1957-1975)
và trong cuốn di cảo của ngài để lại cho tôi có tên “Cổ Sử Việt Nam Trong Ngoại Kỷ
Toàn Thư”với rất nhiều tư liệu quý giá chưa xuất bản mà tôi hiện có. Trong các sách
của Linh mục sử gia Nguyễn Phương như Phương pháp sử học, xuất bản năm 1964,
trang 95-97; Việt Nam Thời Khai Sinh, xuất bản năm 1965 trang 174-184; The
Ancient History of Vietnam, A New Study, 1976, page 76-92 và Cổ Sử Việt Nam Trong
Ngoại Kỷ Toàn Thư (di cảo), trang 48-57), những sự kiện về danh xưng của chồng
Bà Trưng, hành trạng, sự nghiệp đã được cẩn án lại theo tinh thần khoa học.
Để thấy rõ về những sự kiện liên hệ tới Hai Bà Trưng, xin đọc lại một bài báo
trong nước có tên “Chồng bà Trưng Trắc là ai?” đăng trong tạp chí Kiến Thức Ngày
Nay số 274 ra ngày 10/3/1998 của tác giả Lê Thí, như sau:
“Lâu nay trong tất cả tài liệu sách báo chúng ta đều nói rằng chồng của Trưng
Trắc là Thi Sách, con trai quan Lạc tướng huyện Châu Diên. Thi Sách bị Thái thú
Giao Chỉ là Tô Định giết chết. Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị nổi dậy đánh đuổi
Tô Định chạy về Tàu để trả thù cho chồng, rửa hờn cho nước. Sự việc xảy ra vào
năm 40 Công nguyên.
Nhưng cách đây hơn 30 năm, tôi có đọc một tài liệu lịch sử viết một cách rất
nghiêm túc lại cho rằng thực tế chồng Trưng Trắc tên là Thi chứ không phải là Thi
Sách. Đó là quyển Phương pháp sử học của Nguyễn Phương do Viện đại học Huế
xuất bản năm 1964.
Trong tài liệu đó tác giả Nguyễn Phương đã đưa ra những chứng lý hết sức lý
thú và rất chặt chẽ để biện dẫn cho ý kiến của mình và giải thích nguyên nhân dẫn
đến sự sai lầm này.
Theo tác giả Nguyễn Phương thì tài liệu sử đầu tiên nói về cuộc khởi nghĩa
của Hai Bà Trưng là quyển Hậu Hán thư do Thái thú Phạm Việp viết vào thế kỷ thứ
V. Trong tài liệu này không hề đề cập đến tên của chồng bà Trưng Trắc. Sách chỉ
viết: “Hữu Giao Chỉ nữ tử Trưng Trắc cập nữ đệ Trưng Nhị phản công dịch kỳ quận”.
Tạm dịch: “Giao Chỉ có nữ tử Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị làm phản
đóng chiếm (ở) quận ấy”.
Tiếp theo Hậu Hán thư, vào thế kỷ thứ VI, Lệ Đào Nguyên là người đầu tiên
đề cập đến tên chồng bà Trưng Trắc trong tác phẩm Thủy kinh chú. Lệ Đào Nguyên
viết “châu diên lạc tướng tử danh thi sách mê linh lạc tướng nữ danh trưng trắc vi
thê trắc vi nhân hữu đảm dũng tương thi khỉ tặc mã viện tương binh phạt trắc thi tẩu
nhập kim khê” (Đoạn này trích nguyên Thủy Kinh chú không viết hoa và chấm phẩy
ngắt câu theo tinh thần chữ Hán cổ).
Đến thế kỷ thứ 8, Thái tử Hiền đã chú thích cho bộ Hậu Hán thư và đã dùng
đoạn trên trong Thủy kinh chú để nói rõ hơn về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.
Sau các chữ “Trưng Nhị phản…” của Hậu Hán thư như vừa trích ở trên, Thái
tử Hiền viết thêm lời chú: “Trưng Trắc giả Mê Linh huyện Lạc tướng chi nữ giá vi
Châu Diên Thi Sách thê, thậm hùng dũng”. Tạm dịch: “Trưng Trắc, con gái của Lạc
tướng huyện Mê Linh, (là) vợ của Thi Sách người Châu Diên, rất hùng mạnh”.
Ở đây câu văn nguyên của Thủy kinh chú đã bị rút ra khỏi ngữ cảnh và vì thế
khi đọc lên người đọc thấy ngay rằng ý của Thái tử Hiền lấy Thi Sách làm một tên
riêng.
Sai lầm bắt đầu từ đây.
Về sau các sử gia Việt Nam khi viết về cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng đều
dựa vào Hậu Hán thư để viết, vì vậy đều cho rằng: chồng của bà Trưng Trắc tên là
Thi Sách. (Có thể chỉ một mình Lê Văn Hưu dựa theo Hậu Hán thư có lời chú của
Thái tử Hiền sai, sau này Ngô Sĩ Liên dựa theo Lê Văn Hưu nên cũng sai nốt – nên
nhớ Lê Văn Hưu viết Đại Việt sử ký vào thế kỷ 13, còn Ngô Sĩ Liên viết Đại Việt sử
ký toàn thư vào thế kỷ 15. Còn các sử gia sau này cứ tiếp tục theo Lê Văn Hưu và
Ngô Sĩ Liên mà viết, nên cứ đinh ninh rằng chồng bà Trưng Trắc tên là Thi Sách cho
mãi đến bây giờ).
Để hiểu rõ lý giải của Nguyễn Phương xin mời đọc lại ý kiến của ông trong
tác phẩm đã dẫn ở trên trang 96, 97.
“Các học giả Việt Nam như Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên cũng như nhiều người
khác chắc ít khi đọc đến những bộ sách dài dằng dặc và ít hứng thú như bộ Thủy
Kinh chú, trái lại họ chỉ đọc có Hậu Hán thư và cứ đinh ninh rằng Thi Sách là tên
chồng bà Trưng Trắc. Nhưng giả sử họ có biết đến đoạn văn chính thức của Thủy
Kinh chú như vừa trích lại ở trên thì nhất thiết họ phải nhận thấy rằng tên ông đó chỉ
là Thi mà thôi chứ không thể nào là Thi Sách được. Quả thế nếu chấm phẩy cho đúng
và hiểu cho đúng thì câu văn của Lệ Đào Nguyên phải viết ra Hán Việt như thế này:
“Châu Diên Lạc tướng tử danh Thi, sách Mê Linh Lạc tướng nữ danh Trưng Trắc vi
thê. Trắc vi nhân hữu đảm dũng tương Thi khỉ tặc. Mã Viện tương binh phạt. Trắc
Thi tẩu nhập Kim Khê” nghĩa là “Con trai của vị Lạc tướng Châu Diên tên là Thi,
lấy con gái vị Lạc tướng Mê Linh tên là Trưng Trắc làm vợ. Trắc là người có đảm
dũng đem Thi nổi dậy làm giặc. Mã Viện đem quân sang đánh. Trắc và Thi chạy vào
Kim Khê”. Chúng ta thấy rằng tác giả Thủy Kinh chú khi gọi bà Trưng Trắc (cả hai
chữ) khi thì gọi bằng Trắc (một chữ) và khi gọi bằng một chữ như vậy ông gọi với
chữ sau (Trắc) chứ không phải với chữ trước (Trưng). Vậy giả sử tên chồng của bà
Trưng là Thi Sách thì khi gọi tắt bằng một chữ, ông sẽ phải dùng chữ Sách chứ không
phải chữ Thi, ấy thế mà hai lần sau ông vẫn cứ dùng chữ Thi chứ không còn lặp lại
chữ Sách. Đàng khác chiếu theo nghĩa của câu văn thì phải hiểu rằng tên chồng bà
Trưng là Thi mà thôi mới đúng bởi vì “sách vi thê” có nghĩa là lấy làm vợ” (Sđd,
trang 96-97).
Nguyễn Phương cũng cho rằng không phải ông là người đầu tiên phát hiện ra
sự sai lầm này. Người đầu tiên đề cập đến cái sai của Thái tử Hiền chính là Huệ
Đống, một cụ đồ nho người Tàu. Huệ Đống đã đề cập đến sai lầm này khi bổ chú
cho Hậu Hán thư. Lời bổ chú này được đăng trong phần phụ lục của chuyện Mã
Viện, với nội dung như sau: “Cứu Triệu Nhất Thanh viết: Sách thê do ngôn thú thê.
Phạm sử tác “Giá vi Châu diên nhân thi sách thê” mậu hĩ; án cứ Thủy kinh chú ngôn
tương Thi, ngôn “Trắc, Thi” minh chỉ danh Thi” (nghĩa là: Xét Triệu Nhất Thanh nói
rằng Sách thê còn có nghĩa là cưới vợ, quyển sử của Phạm chép “Gả làm vợ người
Châu diên tên là Thi Sách” là lầm vậy, xem Thủy Kinh chú thấy nói “tương Thi” rồi
nói “Trắc và Thi” chỉ rõ rằng tên ông đó là Thi). (Sđd, tr 97)
Hàng năm cứ đến ngày 8/3, Ngày quốc tế phụ nữ cũng là ngày kỷ niệm khởi
nghĩa của Hai Bà Trưng chúng ta thường lặp đi lặp lại ở khắp nơi chồng bà Trưng
Trắc tên là Thi Sách; vả lại cho rằng bà Trưng nổi dậy trước để trả thù chồng sau để
rửa hờn cho nước là không đúng sự thật và hạ thấp ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa. Nếu
Nguyễn Phương nói đúng (hay đúng hơn Thủy kinh chú nói đúng) thì cả gia đình bà
Trưng đã vì “nghĩa lớn” mà nổi dậy chứ không phải chỉ vì “tình riêng”.
Thiết nghĩ việc gọi đúng tên một người đã có công đấu tranh giành độc lập
cho đất nước như chồng của bà Trưng Trắc là một việc cần thiết và cũng là trách
nhiệm của các nhà sử học…Đà Nẵng, tháng 2/1998.”
Đọc lại bài báo này của Lê Thí, tôi đã sửa tên Huệ Đồng ra Huệ Đống cho
đúng với tên ông này và với phần trích dẫn theo nguyên bản của tác giả Nguyễn
Phương. Thái tử Hiền hay Thái tử Lý Hiền là con thứ hai của Vũ Tắc Thiên (624-
705) được Cao tông sai lo việc nước, ông xử trí việc nước cẩn thận, đã cho mời học
giả đương thời là Trương Đại An và một số nhà sử học khác vào cung tập trung lo
việc chú thích sách Hậu Hán thư của Phạm Việp, rất nổi tiếng trong giới học giả.
(Vương Tuệ Mẫn, 100 Danh nhân có ảnh hưởng đế lịch sử Trung Quốc, Dịch giả
TS Nguyễn Văn Dương, NHà xb. Văn hóa-Thông tin, TPHCM, 2002, trang 123).
Nhân chủ đề cuộc Diễn hành Văn hóa Quốc tế tại New York về Hai Bà Trưng,
nhắc lại một vài sự kiện mới trong quá trình nghiên cứu sử học của một số học giả
đi trước tại VNCH là để chứng minh tinh thần khai phóng, nhân bản và dân tộc vốn
có trong nền giáo dục của Miền Nam trước đây.
Theo Louis Raymond, một môn sinh của Giáo sư Nguyễn Thế Anh trong bài
viết có tên “Nguyễn Thế Anh, l’historien sur le fil” (Nguyễn Thế Anh: Sử gia đi trên
lằn ranh) đăng tải trên Les Cahiers du Nem, 19/07/2021, sử gia Nguyễn Thế Anh tuy
bị vài vị đồng nghiệp thiên Cộng không thích vì cho ông là “thân Diệm” (Diêmiste),
một người ủng hộ Ngô Đình Diệm nhưng ông được sinh viên Huế cũng như Sài Gòn
kính trọng. Ông cũng bị nhóm người này kết án là “Việt gian” trong khi theo Giáo
sư Nguyễn Thế Anh, những người như GS Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Ngọc Lan
thuộc cánh tả lại là những người “gần giống cộng sản”. Theo Giáo sư Nguyễn Thế
Anh, “Có vô số điều sai sự thật về một số nhân vật, vì vậy chúng ta thường đắm
chìm trong dã sử. Nhà sử học không có nhu cầu thần thánh hóa mà phải đánh vào
lòng kiêu hãnh yêu nước mong manh nhất: Chúng ta đã bịa ra truyền thuyết để không
thừa nhận rằng giữa người Hoa và người Việt vẫn còn một cộng đồng tổ tiên.”
Cũng theo Giáo sư Nguyễn Thế Anh, vào thế kỷ 20 có một “phát minh” gọi
là tiểu thuyết dân tộc của Việt Nam, theo nghĩa như Jules Michelet [1798-1874] đã
phát minh ra tiểu thuyết dân tộc Pháp vào thế kỷ 19: theo đó quyền lực chính trị đảm
bảo rằng lịch sử phải đáp ứng nhu cầu của hiện tại, nghĩa là, lịch sử phải hợp pháp
hóa hiện tại. Phát minh này là một phần của quá trình “Marx hóa” (marxisation), đôi
khi thô thiển, về quá khứ của đất nước. “Ngay cả những nhà sử học như Phan Huy
Lê [1934-2018] hay Hà Văn Tấn [1937-2019], hai trong những nhà sử học khách
quan nhất của miền Bắc và là bạn bè của tôi, cũng không thoát khỏi điều đó: họ phải
theo đường lối của Đảng.”
Người Cộng sản dùng lịch sử để biện minh cho việc cướp chính quyền của họ
từ năm 1945 cho đến bây giờ. Những điều gì tìm thấy trong lịch sử phù hợp với
đường lối, chính sách, thể chế của họ là họ đề cao, đánh bóng, có khi bưng toàn bộ
đặt vào lịch sử của Việt Nam, thí dụ họ đề cao nhà Tây Sơn, miệt thị nhà Nguyễn,
kê tội Phan Thanh Giản, Nguyễn Thân v.v… Văn Tạo, nguyên Viện Trưởng Viện Sử
Học Hà Nội, đã từng phát biểu ở Đại Học Paris VII, năm 1988 rằng: “Chúng tôi
không viết sử để làm công trình sử học mà là để góp phần xây dựng chế độ mới.”
(Dẫn từ Hugues Tertrais của Nguyễn Thế Anh, Historical Research in VN: a
Tentative History”, trong Journal of Southeast Asian Studies, số tháng 3.1995).
Trong cuộc diễn hành văn hóa quốc tế năm 2023, có rất nhiều người Việt từ
các tiểu bang khắp Hoa Kỳ, Nhật Bản, và Canada về tham dự, đặc biệt là các cô, các
bà, các cháu thanh niên, nam nữ trang phục rất đẹp mắt, trẻ trung, oai phong. Nhiều
vị nổi tiếng trong cộng đồng như nhà văn Nam Lộc, Khoa học gia Dương Nguyệt
Ánh, nữ danh ca Phương Hồng Quế từ California bay sang, ông Huỳnh Ngọc Ánh
từ Houston lên, BS Đỗ Đình Hữu, LS Lê Quốc Huy, LS Nguyễn Thanh Phong v.v…
Không có vị đại diện nào của các tôn giáo lớn như thường có mọi năm. Ban tổ chức
là Chủ Tịch và Ban CHấp Hành Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa
Kỳ với sự tham gia của BCH các Tiểu Bang. Cuộc lễ được tuyên bố khai mạc lúc 11
giờ trưa trong không khí trong mát của buổi trưa mùa hè thật êm dịu của vùng đông
bắc Hoa Kỳ.
Trước khi khai mạc cuộc diễn hành quốc tế này có rất nhiều vị khách mời
trong giới truyền thông như các đài SBTN với cô Hương Lê ở Philadelphia, đại diện
đài SBTN tại Washington, ông Sean Le thuộc đài Sean Le TV. Tiếng nói Tự do, cô
Bích Phượng, ái nữ của Cựu Thiếu Tướng Lê Minh Đảo. Trong số những người được
phỏng vấn có Bà La Cẩm Tú, cựu Dân biểu VNCH Nguyễn Đức Cung đến từ
Philadelphia.
Khi được mời phát biểu trong cuộc phỏng vấn của Sean Le TV, tôi nói đôi lời
rằng: “Về sức mạnh của nền văn hóa dân tộc vốn được thai nghén và tài bồi qua quá
trình lịch sử. Văn hóa bao gồm nhiều phạm trù như ngôn ngữ, văn tự, nghệ thuật,
tín ngưỡng, tôn giáo, chính trị, kinh tế, xã hội v.v… Tất cả là sức mạnh của dân tộc
với sự đóng góp của nhiều thế hệ, sắc dân và địa phương. Đối với thế hệ đang qua
đi như chúng tôi, bổn phận trước mắt là chúng tôi phải tìm người để trao lại tài sản
văn hóa để họ tiếp tục bảo lưu, trân quý. Đối với thế hệ trẻ nối tiếp chúng tôi, họ
phải kiên nhẫn học hỏi để thấu triệt cái tinh hoa, tinh túy trong nền văn hóa Việt
Nam dù ở bất cứ nơi đâu. Hiện tại về văn hóa dân tộc, chúng ta đã dẫn trước và dẫn
xa kẻ thù của chúng ta trong lãnh vực này. Đây là một triễn vọng tốt đẹp cần khai
thác, thể hiện qua các ấn phẩm viết về văn hóa, lịch sử, văn học của các nhà văn,
nhà báo, nhà nghiên cứu sử học ở hải ngoại mà mọi người nên lưu tâm hỗ trợ về
tinh thần cũng như vật chất. Có như vậy đà thắng lợi của chúng ta trong lãnh vực
văn hóa ngày băng nhanh hơn về phía trước”.
Có rất nhiều người được mời lên phát biểu như nhà văn Nam Lộc, bà Dương
Nguyệt Ánh, ông Huỳnh Công Ánh, và các vị đại diện khác tôi quen như nhà văn
Trần Quán Niệm, ông Nguyễn Tường Thược, chủ tịch Cựu tù nhân CT New Jersey,
một vài vị được xướng tên (nhưng không có mặt) trong hàng ngũ quan khách vị vọng
với rất nhiều các vị đại điện các cộng đồng, tổ chức, đoàn thể, hiệp hội chính trị, văn
hóa và xã hội v.v…
Trong số các diễn giả xuất hiện trước máy vi âm, có hai bậc nữ lưu lừng lẫy
tên tuổi mà tiếng nói của họ vẫn còn vang vọng trong tâm thức của tôi cho đến mãi
hôm nay đó là bà Dương Nguyệt Ánh, khoa học gia đến từ Thủ đô Hoa Thịnh Đốn
và bà La Cẩm Tú, tức nhà thơ Xuân Thiên Vị, Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt
Quốc Gia kiêm chủ tịch Cộng Đồng Mỹ Việt Tiểu Bang Pennsyvania đến từ Thành
Phố Cựu Đô Hoa Kỳ Philadelphia.
Bằng một giọng nói mà âm thanh trong trẻo, mạnh mẽ, bà Dương Nguyệt Ánh
nói rằng:
Hai Bà Trưng đã lãnh đạo thành công cuộc khởi nghĩa chống xâm lăng, đánh
đuổi Tàu ra khỏi quê hương của mình, cởi xích nô lệ cho toàn dân trước khi hai bà
xưng vương, và đạt nên đế nghiệp. Chỉ một điều đó đủ cho tất cả chị em phụ nữ Việt
Nam hãnh diện đến muôn đời, huống gì là nhờ cái gương quật cường đó, cái lòng
can đãm, tinh thần phấn đấu đó mà cả một ngàn năm sau, khi chúng ta đã bị rơi vào
Bắc thuộc cả gần một ngàn năm dài rồi mà người Việt chúng ta vẫn không bị đồng
hóa, không chịu trở thành người Tàu và rốt cuộc giành lại được độc lập. Đó là nhờ
tinh thần Trưng Vương còn tồn tại trong lòng chúng ta. Hôm nay chúng tôi nhân dịp
này để muốn nhắn nhủ tới người trẻ chúng ta tổ chức diễn hành tại New York là nơi
đặt trụ sở của Liên Hiệp Quốc, là nơi mà quốc tế luôn luôn nhìn vào. Lát nữa chúng
ta sẽ nâng cao lá cờ vàng ba sọc đỏ của người Việt Quốc Gia thay cho cờ đỏ của
Việt Nam Cộng Sản sẽ được tự do tung bay trong thành phố New York sẽ là một nhắc
nhở đối thế giới về căn cước tự do của chúng ta, của những người Việt Nam tự do tị
nạn cộng sản…” Diễn giả cũng nhắn nhủ đến các thế hệ trẻ nối tiếp tinh thần đấu
tranh của Hai Bà Trưng cương quyết không để cho CSVN tiếp tục những hành vi
nhượng đất, nhượng biển hay mở các đặc khu kinh tế có lợi cho ngoại bang v.v…
Bà La Cẩm Tú, Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Philadelphia và Phụ Cận đã
phát biểu ý kiến đúng vào chủ đề với nội dung như sau:
“Văn hóa là nền tảng giá trị của người Việt Nam. Làm thế nào để chúng ta tự
giáo dục bản thân và con cháu?
Chúng ta phải khẳng định văn hóa là tinh hoa của dân tộc và đã được tổ tiên
thâu nhập, lưu trữ, và lưu truyền cho con cháu.
Là người Việt Nam, chúng ta phải am tường về văn hóa Việt Nam. Chúng ta
phải duy trì, phải tự hào để không hỗ thẹn khi nhắc đến câu nói, “Con cháu Rồng
Tiên với bốn ngàn năm văn viến.”
Văn Hóa còn; Quê Hương còn.
We must affirm that culture is a quintessential tradition of Vietnamese people
that has been preserved, refined, and passed on by our ancestors.
As Vietnamese, we must be knowledgeable about Vietnamese culture. We
should proudly say, “We are the descendants of the legend Dragon and Fairy and
continue to prosper our four thousand years of civilization.”
Culture is alive; the homeland will thrive.
LCT
2023 Internatioal Cultural Day
Một câu chuyện bên lề tưởng cũng nên được chia xẻ ở đây là khi đi vào một
tiệm cà phê gần đó, La Cẩm Tú đã gặp một bà người Việt lớn tuổi ngồi đó. Bà ấy
nói: “Khi nãy nghe bà phát biểu ý kiến rất rõ ràng, mạch lạc và đúng chủ đề về văn
hóa, tôi rất thích. Trái với một vài người khác là cứ nhắm vào mục tiêu chính trị, tôi
cảm thấy như họ nói xa hẳn với chủ đề văn hóa là “Hai Bà Trưng”. La Cẩm Tú
khiêm tốn góp ý: “Nhưng tất cả mọi ý kiến cũng đều nhằm tô điểm cho mục tiêu văn
hóa của VNCH của chúng ta,” và chấp nhận lời khen ý nhị của vị đồng hương cao
tuổi bằng một nụ cười thân hữu.
 
 
Một ghi nhận rất phấn khởi của cuộc diễn hành văn hóa năm 2023 là có rất
nhiều khuôn mặt của giới trẻ hiện diện trong nhiều bộ sắc phục lộng lẫy và đủ nhiều
mầu sắc rất đẹp, quyến rủ, cách tân đó là những tà áo dài phụ nữ với vóc dáng truyền
thống nhưng may theo kiểu mới với cổ tay, thân áo, quần dài, sít sao ôm lấy những
tấm thân mảnh mai, duyên dáng đầy gợi cảm và rất bắt mắt. Rất nhiều người ngoại
quốc, Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Ấn Độ, nhiều người thuộc sắc tộc Á Châu, Phi Châu vợ
chồng, con cái, trẻ em dẫn nhau đi dọc theo hai đại lộ dành cho đoàn diễn hành đã
vẫy chào đoàn diễn hành Việt Nam trên hai chiếc xe hoa trang trí công phu, đẹp đẽ
và có ý nghĩa. Rất nhiều chiếc áo dài VN cách tân của thanh niên và thiếu nữ, đủ
màu sắc đỏ, vàng, xanh hoặc tím, thêu rồng phượng sặc sỡ, thanh tú, rất mỹ thuật đã
được mang trên nhiều vóc dáng nhanh nhẹn, những khuôn mặt đẹp trai hay những
tấm thân ngà xinh xắn, tươi vui nói lên niềm hãnh diện của người Việt Nam tại hải
ngoại trong cuộc diễn hành này. Tôi ngước mắt nhìn một thanh niên mang biển “Ban
Trật Tự” với chiếc áo dài mầu đỏ thêu hình con rồng vàng dày cộm trên ngực mà
thấy vui trong lòng…
Hình như hai chiếc xe hoa được trang trí theo chủ đề “Hai Bà Trưng” cũng
chưa đủ nói lên được tính lịch sử của biến cố chống xâm lược, một đoàn xe mô-tô
Harley tiếng nổ vang trời đi cuối đoàn diễn hành với lá cờ vàng ba sọc đỏ cùng với
quốc kỳ Hoa Kỳ làm chấn động cả một vùng đường phố rộng rinh của thành phố
thương mãi New York…
Chúng ta học sử, nghiên cứu lịch sử là để học hỏi kinh nghiệm và tôn trọng
sự thật, như Cicero (106-43 trước Công nguyên) một chính khách và nhà hùng biện
cổ La mã đã từng nói: “Luật đầu tiên của lịch sử là không được nói gì mà không
đúng với sự thật, và không có gì thật mà không nói đến” (Primam esse historiae
legem, ne quid falsi dicere audeat, ne quid veri non audeat).
 
Nguyễn Đức Cung
Philadelphia
15/6/2023