| Tháng Tư với người lính: Nguyễn Thế Giác Vượt khói Tương Tàn Cánh Nhạn hoài Xuân “Nước tôi đó vỏn vẹn đầy đôi thúng Đòn gánh buồn kẽo kẹt nghiến bờ vai” Vũ trụ tâm tư cá nhân nào cũng ấp ủ một bầu trời đa cảm sâu thăm thẳm với nhiều góc cạnh phức tạp chứa đựng sự hân hoan, thất vọng, thỏa mãn, buồn tủi, ước mơ, hoài tưởng, nhớ nhung, chờ đợi… Bầu trời tâm sự đó dẫu đương đầu với bão tố tình cảm hay cuồng phong thời cuộc hoặc tuyết sương thử thách vẫn dễ dàng chuyển sắc thay đổi với nắng ấm trong lành khi cánh nhạn xuất hiện đem đến thông điệp của mùa Xuân, mùa của tình thương bừng sáng, chân lý trồi sinh và hy vọng vươn lên. Xuân Hạ Thu Đông vương vấn lưu luyến tao ngộ mỗi năm theo chu kỳ chung niên 365 và một phần tư ngày hay 8 ngàn 766 giờ tức là 525 ngàn 960 phút đồng nghĩa với 31 triệu 557 ngàn 600 giây. Mỗi giây phút tĩnh lặng quý báu có được của hoài nhân trên đường đời lưu vong biền biệc hình như được trân trọng giữ gìn trọn vẹn để hồi tưởng nhớ nhung lại những khoảng khắc khả ái của quá khứ thăng trầm được ấp ủ bởi quê hương sông nước nơi đất Việt xứ Nam xa thăm thẳm bên kia trời Á châu. Cạnh bờ Thái Bình Dương bao la trên dãi đất dáng cong uốn theo đồ hình thái cực thâm thúy là những dòng sông ngọt ngào đậm nét ấn tình yêu. “Em nhớ cho anh giòng sông xưa Có vầng trăng ấp ủ bóng dừa Lung linh đọt mạ sương còn đọng Rạo rực men tình cũ đong đưa” (Một chuyện tình) “Bước em thơm ngọt thùy dương Dáng em ngàn liễu ngậm sương vóc gầy Tóc em là ngọn heo may Một thời thu biếc vùi say giấc nồng Em về tôi đợi bên sông Thuyền tình lơ lững theo giòng nhân gian” (Chiêm bao người tình) Tình yêu cá nhân có lẽ ban đầu lúc nào cũng bắt đầu với sự cảm nhận thật bỡ ngỡ rồi đưa lối đến tương tư trong “chiêm bao” chan chứa tình tự để “buồn thiu” khi chia tay, hạnh phúc lạ lùng khi gặp mặt dẫu chỉ là chợt thoáng. “Chiều qua sông cuộn đìu hiu Thuyền ai lơ lững buồn thiu lạc giòng” (Tâm sự một giòng sông) . “em lẳng lặng rụt rè bỡ ngỡ nụ hôn đầu e ấp tuổi hoa niên những bàn tay hiền diệu thần tiên lùa mái tóc bềnh bồng trôi trước gió . mùa Xuân trong em . dường đâm chồi nẩy ngó . anh đam mê mầu đỏ mọng môi em” (Em là giòng suối nhỏ) “Nhè nhẹ ru em một thủa nào Mơ hồ êm dịu giấc chiêm bao Nhớ chăng vụng dại lời âu yếm? Thung lũng mùa xuân rót ngọt ngào” (Giòng sông dĩ vãng) Đất nước xứ Nam của tình thương xa xôi đó và những con người sinh tồn trên dãi đất cạnh bờ Thái Bình Dương đó không bao giờ chấp nhận trở thành quận huyện của bất cứ đế quốc nào cho nên chấp nhận hy sinh to tát để giữ gìn quyền tự chủ trong khoảng trời tuy hạn hạn hẹp nhưng chứa đựng đầy tình tự dân tộc: “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc” (Trần Bình Trọng). Noi theo tấm gương hy sinh hào hùng đó vô vàn chiến sĩ đã cống hiến sức sống cũng như sinh mệnh nhằm bồi đắp lớp phù sa quý báu cho trường thành phòng thủ ngăn cản làn sóng xâm lăng ý thức hệ cộng sản khốc liệt. Bao kiếp trai đã hãnh diện rũ đời thư sinh để lên đường đáp theo tiếng gọi của non sông. “Giũ áo thư sinh làm lính trận Bỏ bút, bỏ nghiên, bỏ bạn bè Người yêu bé bỏng hay hờn giận Anh dỗ hoài, em chẳng chịu nghe Và anh theo tiếng gọi sông hồ Gối đầu định mệnh dựa hư vô Đêm nay ray rức nhớ trăng mười sáu Hình ảnh giai nhân mãi tôn thờ” (Giòng sông dĩ vãng) “Đời lính trận tháng .. năm .. dài buồn tủi Mong Quê Hương đất vỡ trổ ân tình Đem khí tiết đáp đền ơn sông núi Mơ một ngày nhìn được ánh quang minh” (Rồi Tổ Quốc đi vào cơn giông bão) Có người ra đi trong thuơng yêu tức là có người ở lại trong nhớ nhung. Nơi hậu phương người tình mong chờ, ngoài trận địa khi có được khoảng khắc tĩnh lặng giữa làn pháo đạn rung trời chuyển đất là người lính vội kê ba lô hạ bút họa thơ tình. “Kê chiếc ba lô viết thư tình Mới ngày nào đó tuổi thư sinh Giờ ôm báng súng ghì lồng ngực Còn lại hôm nay bóng với hình” (Một chuyện tình) Trên quãng đường đời thực tế đầy gian nan của người lính tác chiến ít khi cho phép sự lãng mạn được trỗi dậy tồn tại lâu dài. Giữa những bình minh chuyện trò với chiến hữu là bóng đen đợi chờ của thương tích chiến tranh tan tóc. Giữa những ngày giờ sống là sự tính toán đa đoan của tử thần rình rập sau làn mưa pháo đạn. Giữa những giây phút bình an tĩnh lặng là sự hiểm nghèo chập chờn giăng bẫy. “Mưa đêm xào xạt bờ lau sậy Mơ dáng Cao Nguyên đất đỏ đường Rồi thấy tiền đồn rực hỏa châu Pháo bầy .. pháo lũ .. chụp lên đầu Đứa con lạc giọng gào quân viện Ra .. rả điện đàm nuốt khổ đau” (Ray rứt) “Nhớ những đêm vượt Trường Sơn đón giặc Nhìn Hỏa Long sưởi ấm cả núi rừng Đốt điếu thuốc nghe khói cay lòng mắt Ôm bản đồ nhìn mãi trục tiến quân .. Nhớ những ngày dài nằm chờ tiếp tế Mưa đầy trời gió cuốn lộng Poncho Súng lên đạn vẫn nụ cười ngạo nghễ Xé tan tành tuyến thép rực trận đồ” (Chỉ còn là kỷ niệm) Dự đoán thời khóa biểu sinh dưỡng có lẽ dễ dàng nhưng không ai có thể tính toán được thời điểm của cái chết vốn có thể lâu dài hay bất ngờ quá thình lình khó tưởng tượng. Sự bức tử của Việt Nam Cộng Hòa cũng không ra khỏi công thức tự thủy chí chung này (tự thủy chí chung: từ đầu tới cuối). “Hà Nội xót xa buồn phản bội. Sài Gòn tức tưởi hận thơ ngây.” (Mùa Thu trong lòng người hải ngoại) “Mất Thủ Đô một chiều mưa ray ráy Bến bạch Đằng tàu vội vã nhổ neo Làm Lính chiến chưa một lần trốn chạy Nên vụng về chết lặng đứng nhìn theo” (Hồi tưởng) “Chưa một lần biết giương ngọn cờ hàng Quyết tử chiến thi gan, không chùn bước … Nhưng Kỷ Luật là sợi giây oan trái Trói tay chân trang dũng sĩ một thời” (Thế là xong hồ mã nản chân bon) Đất nước bị tước quyền quyết tử, dân tộc bị bắt buộc phải đầu hàng. Đồng bào bị xua vào địa ngục cai trị bởi lũ quỷ cà rồng chính trị* chủ trương “tru di” ý chí dân tộc, bòn rút sinh lực tổ quốc để cống hiến cho ngoại bang. “Ôi Việt Nam! Mẹ còng lưng nắng cháy Quảy lên vai nghiệp nước truân chuyên Máu đổ thành sông tưới cả ba miền Cho dân tộc đứng trên bờ tự quyết” (Ôi Việt Nam! Mẹ còng lưng nắng cháy) “Cứ đến ngày này xin gục mặt Cho đời khỏi thấy nét u mê Mẹ ơi! Con lỡ làm mất nước Biết một lần đi là bặt lối về Cứ đến ngày này đau chữ nghĩa Nhai từng tiểu luận Chuyện Ba Mươi Tháng Tư năm ấy buồn thấm thía Từ đó trên môi tắt nụ cười” (Khóc hận) Lưu vong xa đất nước, mỗi giây phút tĩnh lặng trong 525 ngàn 960 phút hay 31 triệu 557 ngàn 600 giây của một năm thường vô tình dẫn dắt hoài nhân hồi tưởng trở về với thôn xưa vết cũ bên kia bờ Thái Bình Dương nơi những giòng nước đan chéo chuyên chở tình người đậm đà. “Anh vẫn nghe nhung nhớ ngập hồn Từ ngày đất nước tắm hoàng hôn Chân lê theo tiếng hờn Sông Núi Ray rứt từng đêm chuyện mất, còn!” (Người yêu ngày xưa của lính) “Quy nhơn ơi . Quê hương xưa trôi bềnh bồng . trên giòng đời bàn bạc . ký ức hằn sâu mảnh vụng cuộc đời . tiếng sóng biển rập … rình buồn man mác ngậm ngùi đi chừng thương tiếc đầy … vơi” (Chuyện tình ngày xưa của lính) “Chắt chiu mãi nôi miếu đường cổ kính Buồn ly hương theo ngày .. tháng .. bềnh bồng Trong huyết quản vẫn trung kiên Người Lính Sẽ trở về bơi lội cả giòng sông” (Bên giòng sông Côn) Người lính trận ngày nào tranh đấu bảo vệ quê hương trước làn sóng đỏ vẫn không nhụt chí “dù chiến bại linh hồn chưa bạc nhược, đã chắc chiu từng đóm mắt hỏa châu” (Là chứng nhân một bài học đau thương). Người lính đó vẫn luôn ấp ủ giấc mộng “Đất Việt trời Nam nhạn sẽ về.” “Chỉ mong góp sức gầy Quê Mẹ Cũng muốn lê chân dạo phố phường Ôm dáng Sài Gòn chiều xế bóng Gội giòng sông Cửu sáng tinh sương” (Giao Cảm) “Vẫn hoài niệm mãi ngày quang phục Chuộc lại bao nhiêu những lỗi lầm Văng vẳng đâu đây rộn nẻo đường! Nhìn theo con nước Thái Bình Dương Ta mơ đi giữa lòng Dân Tộc Quân Phục hiên ngang khắp phố phường” (Ngày này năm đó) “Là chinh nhân tôi khẩn nguyện với lòng Khi tôi chết ôm ngọn cờ chung thủy Bạn bè tôi, ngày giã từ vũ khí Phủ ngọn cờ yên nghỉ một đời trai Từ đó Giang Sơn vọng tiếng thở dài Hoa địa ngục giữa trần ai nước Việt Đất tạm dung chạnh lòng đau thương tiếc Lá Quốc Kỳ bất diệt ở trong tôi.” (Đời ta chỉ có ngọn cờ) Lịch sử cận đại của Việt Nam chứng giám hàng chục năm chiến tranh tàn khốc với cái chết đau thương hình như cư ngụ rất gần và đồng hành sát cánh với cuộc sống tình cảm của con người. Biết bao người lính oai hùng một thời đã hy sinh mạng sống để bảo vệ quyền tự do của dân tộc trước cơn thác lũ tấn công man rợ của cộng sản quốc tế. Biết bao chiến sĩ đã hiến thân đền nợ nước trong đó có cả thi nhân người đã sáng tác những vần thơ đậm đà tình đời kể trên. Trong một cuộc hành quân tái chiến đầy máu lửa, thi nhân đã bị bắn gục bởi hai (2) viên đạn, một trúng vào cổ và một giữa bán cầu não. “Người trai ấy: . Vất nửa hình hài trong lòng Dân Tộc . Nhưng Quê hương đã vuột khỏi tầm tay Đong nước mắt ngậm ngùi theo cơn lốc Bão trong hồn Bố chấp nhận đắng cay” (Cho con một giòng sông) “Bất đắc chí nghẹn ngào ôm súng gãy Trái tim đau hai mảnh máu chảy ròng Viên đạn địch đốt lân tinh nồng cháy Nhìn ngọn cờ vàng bão táp cuồng phong” (Mất một nửa nghĩa là còn tất cả) Nhưng Trời không cho anh chết, Chúa chưa chịu nhận anh về có lẽ bởi vì.. “Trời toan đại dụng nên rèn chí, Chúa giúp thành công ắt có thời Ví thử đường đời bằng phẳng cả Anh hùng, hào kiệt cũng thường thôi” (Phan Bội Châu) Thi nhân bị bắn gục nhưng Trời không cho chết Chúa chưa gọi về, tác giả của những bài thơ đa cảm khí phách hào hùng trong thương tiếc nguyên là Đệ Nhất Phó Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Nguyễn Thế Giác. Từ đống tro tàn chiến tranh cánh nhạn Nguyễn Thế Giác đã vươn lên cất cánh trỗi dậy nhắc nhở gia đình, bằng hữu, chiến hữu, văn hữu, đồng bào cũng như ngoại nhân về sự hy sinh cao cả cho tự do của dân tộc Việt Nam và cất cao tiếng nói yêu nước chân tình qua các án văn, vần thơ đa cảm khẩn hứa với quê hương bên kia bờ Thái Bình Dương: “Đông Âu ngọn gió Xuân vừa đến, Đất Việt trời Nam nhạn sẽ về” (Ngày xuân ngẫu cảm). “Dẫu nước mất nhưng Quê Hương bất diệt Vững niềm tin tha thiết với Non Sông Triệu linh hồn ai oán tận biển Đông Ôm tiếc nuối sụt sùi trông Quê Mẹ” (Khi nước mắt) Nếu một mai có ai về đất Việt Mang thật nhiều hạt giống yêu thương! Gieo lên cả ba miền mầm tâm huyết Mọc thành cây Nhân Bản rợp Thiên Đường” (Nếu một mai) Văn hữu Nguyễn Thế Giác nguyên là Tiểu Đoàn Trưởng QLVNCH và được trao tặng nhiều huy chương cùng Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương với Nhành Dương Liễu trước 1975. Trước khi bước vào quân ngũ anh từng sáng tác cho Đặc San của Ty Thông Tin tỉnh Bình Định, các báo Con Ong, Phổ Thông, Thời Nay, Sinh Viên Huế, Lập Trường, và sáng lập Thi Đoàn Hoang Đảo tạo diễn dàn cho các cây bút trẻ ở miền Trung. Tại hải ngoại VH Nguyễn Thế Giác cộng tác với hầu hết các báo Việt ngữ và xuất bản nhiều tác phẩm văn thơ như Chiều Tỉnh Lẻ Miền Trung, Nắng Quê Hương, Gió Nam Bình Định, Giọt Nước Mắt Cho Quê Hương, Trên Đỉnh Buồn Miền Đông, Tâm Sự Một Giòng Sông, Trên Lưng Trường Sơn, Đứa Con Không Quốc Tịch, Buồn Lên Mấy Đốt Ngón Tay, Ba Mươi Mùa Xuân Trên Lưng Người Tị Nạn, v.v. Ngoài trách nhiệm quan trọng trong Văn Bút VNHN anh còn là một trong các sáng lập viên Hội Văn Nghệ Sĩ Việt Nam Tự Do và cũng từng giữ vai trò chủ bút cho nguyệt san Tự Do Dân Bản. ![]() Đệ Nhất Phó Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Nguyễn Thế Giác Houston @ 2016 Tôi gặp VH Nguyễn Thế Giác lần đầu tiên tại Đại Hội 10 ở California vào tháng 12/2014 và lần thứ hai trong Hội Ngộ Văn Bút Hè 2015 ở Florida. Tôi nhớ mãi câu nói của anh: “Các anh đi bằng đôi chân, tôi đi bằng cái đầu.” Đôi cánh ngọc ngà, vững chãi ôm ấp chân tình, của cánh nhạn Nguyễn Thế Giác chính là hồng nhan tri kỷ của anh, chị Đinh Thị Hồng Lê. VH Nguyễn Thế Giác có khả năng sáng tác rất dồi dào và đậm đà tình cảm. Tôi từng hạ bút nhận định về anh trong bài Thoảng nhớ Hội Ngộ Văn Bút Hè 2015 ở Orlando như sau: “VH Nguyễn Thế Giác với trí nhớ tuyệt vời đã ngâm vài bài thơ thật đáng ngưỡng phục bắt đầu với ấn tượng “Ba dãi núi đen, hai dòng sông trắng.” Thú thật là tôi thấy anh Nguyễn Thế Giác ngâm thơ quá truyền cảm, phải công nhận thật là hay!” Tôi được VH Nguyễn Thế Giác “Mến chú em, tặng chú một ít tác phẩm của anh” từ hè 2015 nhưng mãi đến gần đây mới có thời gian đọc hết chín (9) tác phẩm của anh (ba cuốn dày hơn 600 trang). “Sài Gòn ơi! Dễ gì quên Mưa chiều nhạt nắng buồn chênh vênh buồn Phố khuya ngủ muộn đêm suông Trăng thao thức chở về nguồn diễm xưa Giòng Đồng Nai gió trở mùa Phù sa Quê Mẹ phèn chua mặn nồng” (Sài Gòn ơi dễ gì quên) “Ngồi đan ký ức sương mù Lẻ loi cánh nhạn, phiêu du lưng trời Gọi thầm đất mẹ tôi ơi! Lưng đeo vết nhục rã rời hồn đau” (Có những mùa thu) Bàn bạc trong những án văn, các vần thơ của VH Nguyễn Thế Giác là chân tình ái quốc bất diệt. Cốt lõi sâu sắc của dòng thi văn của anh là lòng yêu nước thương nòi được biểu hiện rõ nét qua ước mơ vinh danh Mẹ Việt Nam: “Nước tôi đó vỏn vẹn đầy đôi thúng, Đòn gánh buồn kẽo kẹt nghiến bờ vai” [đôi thúng Bắc Nam, đòn gánh Trung (Là chứng nhân một bài học đau thương)]. “Nếu một mai có ai hỏi tới Anh ước mơ gì khi chợt thỉnh cơn say? Tôi đạo mạo không bao giờ nghĩ ngợi Muốn trái tim người Mẹ Việt Nam Được liệt vào kỳ quan thế giới mai sau.” (Nếu một mai) Cảm ơn hoài nhân Nguyễn Thế Giác vẫn tiếp tục hồi tưởng về quê hương yêu dấu và giữ gìn trọn vẹn tình tự với quốc gia cùng ý chí mong muốn góp phần mang lại hạnh phúc cho dân tộc trong giấc mơ “Đông Âu ngọn gió Xuân vừa đến, Đất Việt trời Nam nhạn sẽ về” để đem mùa Xuân đến sớm trên đất nước thân yêu. Cánh nhạn Nguyễn Thế Giác đã và đang sống xứng đáng một đời người, xứng đáng với tinh thần Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương của anh. “Nổi lửa lên bạn để chúng ta cùng cầu nguyện Ngày mai tốt đẹp sẽ đến và phải đến Để trả lại niềm tin cho nạn nhân, tự do cho nô lệ Địa ngục hận thù sụp đổ trước sức mạnh của tình thương Giữ lửa ấm lòng để chúng ta thầm ghi khắc Tình yêu nhận được và tình yêu gởi trao Tình người, tình chiến hữu, tình bằng hữu Tình đồng bào, tình núi sông, khí tiết quê nhà Giữ lửa, mãi giữ lửa trong lòng để con tim không bị băng giá để vẫn biết yêu và để nhớ mãi cần sống xứng đáng một đời người.” (trích từ “Thắp Lửa Lên Bạn” của Vịnh Thanh) Vịnh Thanh Mùa lễ Giáng Sinh 2015 T.B.: (1) Bản thảo thứ nhất đã được hoàn tất vào đầu tháng 12/2015 với tựa đề Trời Sông Phố Nước Ấp Ủ Chân Tình lấy ý từ các bài thơ trong thi phẩm Tâm Sự Một Giòng Sông của anh Nguyễn Thế Giác và câu “Nàng mỉm cười giữa trời sông phố nước, gởi người ướm tình vạn đóa thủy tiên” trong bài thơ Nàng của tôi. Vào lúc đó Liễu Anh – Nàng của tôi – có việc qua Florida cho nên tôi phải trông con mấy ngày thật vô cùng khó khăn (vì hiếm khi tôi trông con, chăm lo bài vở bằng tiếng Pháp, ngôn ngữ LA thông suốt mà tôi lõm bõm), có lẽ vì vậy mà tự dưng bài Trời Sông Phố Nước vô tình bị “saved over” cho nên mất hẳn do đó đau thật là đau. Không truy lại được bài Trời Sông Phố Nước cho nên tôi phải bắt đầu viết lại. Cấu trúc, hình thức lẫn nội dung mới hoàn toàn khác hẳn với bài Trời Sông Phố Nước vốn có những câu mà tôi vẫn còn nhớ như “Từ sông Hồng qua sông Thạch Hản đến sông Hương ghé sông Trà Khúc về sông Cửu Long trùng trùng điệp điệp, nơi đâu cũng thấy những câu hò tình cảm đậm đà cùng tiếng ngâm ái quốc Nam quốc sơn hà vang vọng khắp nơi để mãi nhắc nhở: Mẹ Việt Nam ơi chúng con vẫn còn đây!” (2) Khi viết được hơn một nửa, đọc sơ lại tự dưng tôi cảm thấy hiếu kỳ cho nên cộng thử các con số trong 8 ngàn 766 giờ và 525 ngàn 960 phút rồi 31 triệu 557 ngàn 600 giây. Sự hiếu kỳ này đưa đến một kết quả thật tình cờ 8+7+6+6=27 5+2+5+9+6=27 3+1+5+5+7+6=27. Thật là sự kiện toán học ngẫu nhiên khá thú vị phải không quý văn hữu [thật ra không có gì lạ vì nhân 24 giờ cho 360.25 ngày 2+4+3+6+5+2+5=27)]. Tôi viết là một năm có 365 1/4 ngày bởi vì nếu chỉ tính 365 ngày mỗi năm như thường lệ thì cứ đến năm thứ tư chúng ta có thêm ngày thứ 366 đó là ngày 29 tháng 2 DL. (3) *Cà rồng chính trị:Khi được hỏi về tình hình Việt Nam tôi chỉ nhận xét là những người nắm quyền sinh sát chính trị ở các nước cộng sản hiện hình là những kẻ vô thần vô cảm đối với nỗi khổ của đồng bào cho nên tôi ghép chữ zombies vào chữ chính trị để chế ra chữ political zombies mà tôi dịch ra Việt ngữ là cà rồng chính trịchủ trương “tru di” ý chí dân tộc, bòn rút sinh lực tổ quốc. (4) Sau 1975 xuất hiện rất nhiều “tiên tri” cả ta lẫn tây mỹ lý giải theo tài liệu giấy được giải mật để viết tràn giang đại hải phân tích sự bức tử của Việt Nam Cộng Hòa là một chuyện bất khả kháng y hệt như là họ đã bấm độn biết trước từ lâu. Các “tiên tri” này lại quên là chính quá khứ của họ biểu hiện vai trò nạn nhân của sự mù quáng quờ quạng trên bàn bói toán bấm độn tương lai và sự chân thật của sự thật ít khi được ghi nhận trọn vẹn trong các dữ kiện giải mã. Hiếm ai dám nhận trách nhiệm về mình để học hỏi rút tỉa kinh nghiệm mà chỉ thích bàn luận lung tung để đổ lỗi cho kẻ khác. Nhìn đời tôi thấy thắm thía câu “Mẹ ơi! Con lỡ làm mất nước, Biết một lần đi là bặt lối về” trong bài thơ Khóc hận của VH Nguyễn Thế Giác. “Mẹ ơi! Con lỡ làm mất nước”! |
