THOÁT VÒNG OAN NGHIỆT (TỔ CHỨC THOÁT KHỎI CS)-Nhật Quang Phi Hồ

THOÁT VÒNG OAN NGHIỆT (TỔ CHỨC THOÁT KHỎI CS)
 Thấy Việt Nam Cộng Hòa bỏ Cao Nguyên, rút lui hỗn độn và tan rã, Hữu nghĩ Cộng Sản sẽ chiếm cả Miền Nam nên lo tìm cách thoát thân. Đã từng sống 9 năm dưới sự cai trị của CS, Hữu biết kinh sợ chế độ này. Hữu theo giúp một chủ bào chế ở Sàigòn, âm thầm chuẩn bị xong một chiếc tàu sắt nhỏ, trước dùng chở hàng đi biển, đậu ở bến Chương Dương. Nhưng phải chờ đúng giờ thứ 25, khi quyền chính Quốc Gia vừa tan và Cộng Sản chưa kịp kiểm soát mới mong thoát được. Có người đi sớm đã bị Quốc Gia chận bắt. Đi trễ Cộng Sản cũng không tha, đằng nào cũng mất hết phương tiện, không đi được, khốn khổ đau thương.
Đến giữa tháng 4 năm 1975, Mỹ đưa ra chương trình di tản 130,000 người Việt có liên hệ ra khỏi nước. Hữu xoay qua lo chạy theo đường bay Mỹ cho chắc ăn. Hôm 24/4/1975, ông bào chế đó và gia đình đã nhờ được một viên chức Mỹ đưa lên máy bay. Hữu đứt liên hệ với chiếc tàu. Được vào danh sách đưa đi, sáng chiều theo giờ làm việc, Hữu đến chi nhánh Phòng Tùy Viên Quân Sự Mỹ (DAO) ở đường Pasteur Sàigòn chờ phiên gia đình mình trong buổi đi kế tiếp, để về chở cả nhà vào lên xe buýt Mỹ. Tình hình càng lúc càng suy sụp, đúng như chữ trúc chẽ ngói tan. Đã hơn vài ngày, mỗi buổi hai chuyến xe buýt đến đó chở đầy các gia đình di tản vào Tân Sơn Nhất. Quân Cảnh và Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn gây trở ngại, nên chính viên Đại Tá Mỹ và Thượng Sĩ Mỹ tùy tùng phải đứng ở cửa mỗi xe, khéo léo đưa xe vào cổng Tân Sơn Nhất. Hữu chứng kiến sáng 27 tháng 4, khi xe buýt sắp lăn bánh, viên Thượng Sĩ Mỹ lên xe giật đầu tóc giả, lôi hai cô gái mặc áo dài, son phấn đẹp đẽ xuống xe, thì ra là hai lính Việt Nam Cộng Hòa tóc húi ngắn, bị giữ lại đuổi về. Tình hình càng thêm khẩn trương, nóng ruột hỏi đến phiên mình, Hữu được biết Đại Tá Mỹ nhận lệnh phải dành ưu tiên cho các người độc thân và gia đình ít người đi trước. Thấy gia đình mình khá đông, Hữu vô cùng lo lắng. Hữu chạy ra Hàng Xanh thì thấy đường ra cầu Sàigòn đã bị cô lập. Cơ sở Ciment Hà Tiên trên xa lộ Biên Hòa đã bị trúng pháo, Tân Sơn Nhất bị pháo, phản ứng của Việt Nam Cộng Hòa yếu ớt, rất khác với hồi Mậu Thân. Hữu theo đường Chi Lăng qua Gia Định trở về nhà.
Đến chiều, quay trở lại chiếc tàu biển ở bến Chương Dương, Hữu thấy nhiều Cảnh Sát Quốc Gia đang bố ráp, lục soát, lôi đồ đạc trên đó. Hữu thấy cả viên Đại Tá hải quân Việt Nam, người đã hợp tác với chủ tàu để điều khiển tàu đó, mặc thường phục, đứng cách đó không xa, đang lặng lẽ nhìn vào. Hữu lo sợ, hốt hoảng chạy về. (lệnh chính thức Tổng Thống Hương không cho đi). Hôm sau ra chiếc tàu, thấy nó đã biến mất, Hữu chạy xe kiếm cùng khắp, không thấy đâu cả. Sáng 28 tháng 4, Hữu vào chỗ chờ giấy máy bay, cũng chưa thấy tới tên gia đình mình trong chuyến buổi chiều. Hữu trở về chạy hoảng cùng khắp. Đến chiều định vào khu Hải Quân, không vào được, Hữu định chạy sang Khánh Hội tìm tàu bè. Vừa đến ngã ba Majestic, trời đổ mưa lớn, chiếc xe Ladalat phía trước thình lình ngừng gấp, xe Peugeot của Hữu ủi vào bể đèn và móp đầu. Không ai bắt lỗi ai cả. Bị đụng xe, mất tinh thần, quên không biết mình định đi đâu, Hữu lại chạy về nhà. Đến ngang chợ Thái Bình, đúng lúc máy bay Việt Cộng đánh bom Tân Sơn Nhất và về đến nhà đúng lúc cụ Tổng Thống Hương làm lễ trao quyền Tổng Thống lại cho Tướng Minh ở dinh Độc Lập. Đêm đó súng nổ vang cùng khắp bốn bên xa gần.
Sáng sớm 29/4/1975 có lệnh giới nghiêm, không ai dám ra đường. Một lát tân Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu ra lệnh yêu cầu Mỹ rút khỏi Việt Nam trong vòng 24 giờ. Hữu biết mình cùng đường rồi. Máy bay lớn không đáp xuống Tân Sơn Nhất nữa. Cuộc di tản bắt đầu bằng trực thăng, gia đình nhiều con nít chen sao nỗi. Đến chiều, mặc dầu có lệnh giới nghiêm, nhưng đông người vẫn cứ ra đường, theo đó Hữu lái xe chở gia đình trở lại chi nhánh DAO ở Pasteur. Nơi này đã bỏ ngỏ, nhưng những gia đình có tên đi ngày hôm đó vẫn cứ ngồi chờ. Đại Tá Mỹ và viên phụ tá nói đi một lát sẽ trở lại, nhưng không bao giờ trở lại nữa. Biết không thể nào đem cả đám trẻ con chen lấn trong cảnh hỗn độn giờ thứ 25 này, Hữu chạy xe trở về nhà.
Một lát, lại nóng lòng bảo mấy con, đứa nào dám theo bố chạy liều. Chỉ có đứa con gái lớn chịu chạy theo. Hữu lái xe chạy hoảng khắp chỗ Mỹ, đều thấy đông người chen nhau tràn ra bên ngoài. Hữu lại chạy đuổi theo các xe buýt Mỹ di tản, chờ chúng ngừng sẽ nhào lên. Cuối cùng Hữu và đứa con gái nhào được vào bên trong một chiếc xe buýt gần Tân Sơn Nhất. Lúc đứng trong xe rồi, Hữu lại nghĩ, ra đi chỉ hai cha con như thế này, còn vợ con còn ở lại biết làm sao. Đường bị kẹt, Hữu lại giắt con xuống và chạy tìm lại xe mình. Rồi lại tiếc, Hữu lại tiếp tục chạy theo xe buýt nữa đến cổng Tân Sơn Nhất, xe cộ kẹt cứng, quân cảnh gác ở đó chỉ cho xe bus Mỹ vào mà thôi. Ngay cả những xe jeep do lính lái chở Đại Tá Việt Nam Cộng Hòa quân hàm, súng ống tác chiến oai phong, cũng bị lính gác nổ súng đuổi ra chạy vòng khu lộ tam giác ở trước cổng Tân Sơn Nhất. Hữu lại chạy về.
Trên đường hướng về Sàigòn – Chợ Lớn, Hữu thấy rất nhiều đám hôi của. Người ta vác quạt máy, khiêng nệm, khuân máy lạnh, lấy màn cửa, bàn ghế. Hữu nghĩ, khốn đến nơi rồi mà họ lấy những thứ đó làm gì. Tối hôm đó, Hữu điện thoại Thiếu Tá Hoa, hải quân, người đồng hương lanh lợi, giỏi chuyện thuyền bè, đã từng giữ chức giám đốc điều hành hải vận Sàigòn trước đó. Mừng thấy hắn còn ở lại, như người đang bơi chới với, bỗng vớ được miếng gỗ. Hắn cho biết đêm này, các tàu Hải Quân sẽ ra đi, các Đề Đốc có rủ hắn, nhưng hắn không đi, vì hắn sợ sẽ xảy ra một thủy lộ kinh hoàng trên sông Nhà Bè như đại lộ kinh hoàng ở Quảng Trị năm 1972. Sau Hữu mới biết hắn đã lo sợ quá đáng. Trước đó Hữu cũng như vài đồng hương khác đã lầm khi bỏ công hội họp bàn việc tổ chức cùng đi với hắn. Hắn chỉ hứa hẹn qua chuyện, chứ thực lòng hắn đã quyết định ở lại, có lẽ vì tiếc căn nhà lầu 4 tầng cao rộng, lại thêm khi còn nhỏ hắn thuộc thành phần bần cố nông ngoài Trung chưa từng bị Cộng Sản gọt giũa, nên hắn nghĩ có thể mánh mung chung sống được. Đêm này súng và đạn pháo nổ lung tung quanh vùng và đâu đó trong phạm vi Sàigòn.
Sáng 30 tháng 4 vẫn giới nghiêm, không còn tiếng máy bay và trực thăng di tản nữa. Radio Sàigòn liên tục phát bài Tiếng Hát Ân Tình: “tình Bắc duyên Nam… cùng là cùng chung sống…”. Đến khoảng 10 giờ sáng, qua radio, Tướng Minh ra lệnh ngưng bắn tại chỗ và sau đó đầu hàng. Quân lực Việt Nam Cộng Hòa vất vũ khí, quân phục đầy đường và tan biến. Một quân lực nói là mạnh nhất Đông Nam Á nay đã tiêu ma. Hữu lấy Honda chạy ra Sàigòn, đường vắng xe cộ, thấy trẻ con Sàigòn lượm súng M.16 bắn chơi lên trời như đốt pháo, băng đạn M16 nổ nhanh như một phát, khiến có nhiều người bị đạn rơi lạc. Hữu trông trúng một viên cho chết ngay để đỡ phiền. Ra đến hông nhà thờ Sàigòn, thấy quân Cộng Sản đồng phục màu rêu, nón cối, đã đứng đầy công viên trước dinh Độc Lập.
Hữu chạy ra Hàng Xanh định rủ Hoa tìm cách chạy. Qua khúc đường xa lộ ra đó, xác chết, quân trang, vũ khí lựu đạn ngổn ngang phải luồn lách mới qua được. Hữu đến nhà, Hoa vẫn còn đang ngủ trưa như không có chuyện gì xảy ra. Đứng ở cửa nhà Hoa, Hữu nhìn quân Bắc Việt phần đông đều quá trẻ, tiến vào Sàigòn như sông chảy. Dân chúng hai bên đường đứng nhìn đầy vẻ lo âu.
Tối 30 tháng 4, lối xóm nơi Hữu ở, người ta lục đục, ồn ào suốt cả đêm. Người ta làm heo, giết gà ăn thịt. Người thì bảo là ăn mừng hết chiến tranh, người thì bảo là không ăn, sau này sẽ bị kiểm kê hoặc tịch thu làm sao còn có mà ăn nữa. Buồn vui, âu lo, sợ hãi lẫn lộn.
Sau 30 tháng 4, dù Cộng Sản đã vào cai trị rồi, Hữu vẫn chạy đây đó tìm mọi cách đưa gia đình trốn đi, càng sớm càng tốt, lúc Cộng Sản còn chưa kịp siết chặt kiểm soát. Hữu thấy Cộng Sản bắt đầu kiểm kê tịch thu tài sản của nhiều gia đình giàu có, lớn trước, nhỏ sau. Rồi chắc mọi người sẽ nghèo xơ xác và lúc đó chẳng còn ai có thể đi đâu nỗi nữa. Nhìn đám con mặt mày sáng sủa, Hữu đau lòng nghĩ chúng phải sống đen tối, phải học và nói những lời lẽ giả dối, ngược ngạo, không tưởng của Cộng Sản như thế sao? Hữu thấy mình có đủ từng trải và kinh nghiệm để dư sức qua cầu, chứ tụi nó tính bộc trực, dễ tin làm sao qua nỗi sau này, tương lai chúng sẽ ra sao, đời đời kiếp kiếp sẽ lầm than vô vọng (Hồi đó Hữu không nghĩ Cộng Sản sẽ sụp đổ hoặc biến thể thành tư bản đỏ). Hôm 2/5/1975, Hữu chở gia đình đi Rạch Giá, đến Bến Lức không đi được nữa, phải trở về. Hai hôm sau lại đi Gò Công, ra gần đến nơi biết Cộng Sản đã kiểm soát kỹ rồi, nhưng có người vẫn đến dụ ở lại, để tối hắn chở thuyền ra hạm đội Mỹ còn chờ. Biết có thể bị lừa để lấy hết tiền bạc, Hữu vội quay về. Xe hỏng thắng, suýt lao xuống phà Rạch Miễu. Như một phép lạ, xe không thắng vẫn chạy về đến Sàigòn mà không đụng ai cả. Thả gia đình ngoài đường, rồi Hữu đem xe cất. Lúc đến chỗ cất xe, một bộ đội mang súng chận xe. Hữu hoảng kinh, có thể bị bắt và tư trang giá trị có thể bị tịch thu. Nhưng Hữu thở phào, như chết đi sống lại khi hắn hỏi: “Anh có mua xăng không?”.
Trong khi tìm phương tiện để chạy, Hữu không thấy người nào thực tâm, có tài tổ chức hay có phương tiện gì cả, nhưng lại gặp nhiều người bày trò gạt gẫm. Ngay cả bạn chơi thân, quen biết lâu lúc trước cũng kiếm cách lường gạt nhau. Đầu óc đã loạn, hết khôn, Hữu đã bị lừa mấy lần, mất một số vốn. Lại còn nghe nói ai lạ mặt đến vùng bờ biển đều bị bắt. Cuối cùng, Hữu phải nghĩ cách tự tổ chức lấy.
Hữu bày cho Ngà, con trai lớn, ăn mặc lôi thôi, mang gói hàng lặt vặt và võng nylon ra các bến cá ở Phước Tĩnh, Vũng Tàu bán rong cho bộ đội để thăm dò an ninh Cộng Sản, móc nối dân chài, xin theo đi đánh cá vài lần, thâu thập tin tức và làm quen với nghề này, nhờ thế mới biết thủ tục lúc đó, phải là dân địa phương mới được mua thuyền. Về sau, Ngà cũng đã tìm biết manh mối mua nhà và thuyền. Giúp Hữu quyết định phải về miền duyên hải, làm ngư dân, quen sóng gió rồi mới tính xa hơn.
Vào Sàigòn, Cộng Sản liền đưa ra chính sách dãn dân, cốt đuổi dân Sàigòn về quê làm nông nghiệp. Dựa theo đó, Hữu dùng giấy tờ hộ khẩu phụ, lúc trước làm phòng hờ khi khẩn cấp, để xin giấy di chuyển ra Phước Tuy. Hữu cho vợ con đứng tên mua căn nhà sàn ở Rạch Dừa, nằm gần quốc lộ 15, phía sau có rạch thông ra biển Cần Giờ. Đăng ký hộ khẩu làm dân địa phương hợp pháp, để hợp lệ mua thuyền. (Nhớ xưa Thương Ưởng nước Tần sáng kiến ra giấy tùy thân, hộ khẩu, kiểm soát dân chúng gắt gao. Sau ông bị truất phế bỏ chạy và chết lạnh vì chính ông không có những giấy đó cho chính mình, nên dân không dám chứa. Vì vậy ông phải  chết cũng vì thế đó. Về sau các chính quyền độc tài lại bắt chước để kiểm soát dân. Ở đâu cũng phải có hộ khẩu, đi đâu cũng phải có giấy phép di chuyển thật rất phiền hà. Biết vậy, Hữu đã thường làm sẵn dư ra vài cái trước để phòng hờ và dễ tùy cơ khi ngộ biến).
Ngà (con trai lớn) tìm được đến ông Hà, chủ hai chiếc thuyền câu ở Xóm Lưới, Vũng Tàu. Ông vừa được người em, cán bộ tập kết về thăm, thấy ông có 2 chiếc thuyền lớn. Theo kinh nghiệm ngoài Bắc, như vậy là tư bản rồi, khuyên ông lo thu vén, nếu không sẽ bị tố bóc lột, thuyền bị tịch thu và còn nhiều rắc rối, nên bán dẹp bớt một chiếc trước. Nhờ thế, Ngà gặp lúc, mua của ông một chiếc mới đóng nhờ tiền vay viện trợ Mỹ độ vài năm. Thuyền đóng theo kiểu Thái Lan, cỡ 4m5 x 17m, gắn máy Yanmar ba lốc đầu xanh nhỏ, chạy bằng dầu diesel.
 Cộng Sản cho phép mua thuyền, có ủy ban phường chứng nhận, thâu thuế 10%, đăng ký hợp lệ.  Nhưng buổi sáng hôm sau, hai anh em Ngà, Hiển và ngư phủ An cùng lái chiếc thuyền mới mua, trống rỗng, đậu sau nhà, định đem chạy thử để chỉnh trang. Thuyền mới chạy chưa ra tới Bến Đá, đã bị ghe máy Công An phường đuổi theo, nổ súng AK bắt quay về, đậu lại như cũ. Hữu biết chuyện chẳng lành, vội lên Honda chạy về Sàigòn. Công An lục soát thuyền và nhà, từ nóc xuống đến sàn, tịch thu radio, cassette, sách vở, 60 ngàn đồng quốc gia và một bao gạo nhỏ. Vài chiếc nhẫn vàng giấu trong bao than, chúng không thấy. Tất cả đồ bị tịch thu chỉ có thế. Chúng còn hỏi đến chiếc Honda và ông Tàu đâu rồi. Chúng nghĩ Hữu là một người Hoa giàu có. Chúng thích bắt ông Tàu để lấy chiếc Honda. Thật hú vía cho Hữu.
Về Sàigòn, Hữu đưa vợ là Mai, người đứng tên chủ thuyền ra ứng phó. Mấy ngày sau mới biết 3 cậu trai đều bị nhốt chung ở Công An phường, ngày bị bắt làm tạp dịch cho viên Công An Trưởng từ Bắc vào. Công An ra lệnh Mai đem cơm nước nuôi hằng ngày và bảo phải canh giữ thuyền, còn hăm rằng nếu thuyền đó đi mất, ba cậu trai sẽ bị bắn bỏ. Cộng Sản giam người, không phải tốn cơm, mà có lao nô làm việc. Với cách đó, chúng có thể giam giữ vô hạn định. Hữu đã phòng hờ lo dặn từ trước, Ngà và Hiển phải khai lý lịch như thế nào, nếu trường hợp bị bắt. Còn An là dân Vũng Tàu vô gia cư được mướn làm ngư phủ mới vài hôm, chưa biết chuyện của chủ, nên không phải dặn.
Trong buổi hỏi cung chính yếu, Công An thẩm vấn Ngà sắp xong, ngoài đường xảy tai nạn lưu thông. Công An phải bỏ dở để ra lập biên bản. Đến ngày hôm sau, mới hỏi đến Hiển. Hiển được Ngà cho biết đã khai những gì, nên lời khai của Hiển được phù hợp. Công An lập hồ sơ điều tra, muốn kết tội vượt biên, nhưng tụi nhỏ chỉ khai là mua thuyền để đánh cá, lao động sinh nhai thôi. Không có bằng chứng rõ ràng để buộc tội, vì tất cả sự cư trú, thuyền mua đăng ký hợp pháp và thuyền lại không dầu, không nước, không lương thực, không chở người. Đáng lẽ phải thả ra, thế mà Công An phường vẫn cứ giam hết tháng này sang tháng khác.
Ở Sàigòn, Hữu đến thăm và kể chuyện thuyền mình cho Hai Nho, người anh em cô cậu, theo đảng Cộng Sản từ trước 1945, đi tập kết, nay về làm Giám Đốc và mơ chức Thứ Trưởng. Lúc hắn mới vào tay trắng, Hữu cũng giúp hắn tài vật, nói là cho mượn, rồi khỏi trả. Lấy tình anh em, may ra hắn có cách gì giúp không. Trong vài lần anh em tâm sự trước đó, hắn đã biết tư tưởng và hậu ý của Hữu. Hắn giận như muốn giết Hữu, nghiến răng bảo: “Đã biết Cách Mạng mà còn phản Cách Mạng, cố tình tìm cách chạy theo địch, tội đáng tử hình. Anh về mua gà vịt ăn một bữa, rồi mai xuống đó trình diện thú tội, may ra còn được khoan hồng chỉ đi tù. Đừng đến đây nữa, liên lụy tôi”.
Hữu cũng không trách hắn. Tuy là con nhà địa chủ, có học đến Trung Học, nhưng đã vào đảng Cộng Sản lâu năm, bị nhồi sọ, lại ham danh vọng quyền lực, có tài nói thuộc lòng các nghị quyết, nói nhanh và dai như máy, thuyết rằng chủ nghĩa Cộng Sản sẽ tạo một thiên đường ở thế gian, và Mỹ – Ngụy đã là kẻ thù độc ác, chạy theo kẻ thù là đáng giết chết. Hắn nói đã chết hụt B52 vài lần, nên thù ghét những kẻ không hoan nghênh chế độ của hắn. Tương tự như thế, các chỉ huy Cộng Sản khác không thương tiếc, khi đuổi theo, nã đạn vào những chiếc thuyền chở người vượt biển, hoặc đã bắn vào đầu những kẻ đứng tổ chức, khi chúng bắt được quả tang xuống thuyền. Biết vậy, nên có người vượt biển rủi bị bại lộ, phải nhảy xuống biển chết. Sợ Cộng Sản còn hơn sợ chết dưới biển sâu.
Lúc mới vào, phần lớn cán bộ Cộng Sản cực đoan, lý tưởng, thù hận, và chưa biết hối lộ, nhưng chưa nhiều kinh nghiệm ngăn chận, nên vẫn có thuyền lọt thoát. Về sau, theo chính sách đuổi người Hoa, Công An lần biết ăn hối lộ, tham nhũng ngày càng lớn.  Đời sống dân chúng quá khổ sở, đủ hạng người ai cũng muốn trốn đi. Người đã ra nước ngoài cũng không gây nguy hại gì chúng, mà còn gởi quà về, nên về sau cán bộ Cộng Sản bớt sắt máu, thông cảm hơn, bán bãi, nhận vàng cho đi, nhưng lại có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc tuần tra, ngăn chận, bắt bớ và hối lộ để làm giàu. Cho nên việc vượt biển mỗi khi, khó mỗi khác, và đã có nhiều người, ngay cả đàn bà cũng đã bị nhốt tù nhiều năm về tội vượt biển này.
 Hữu cũng làm đơn khiếu nại, gởi đến ty Công An Vũng Tàu, nêu lý do là hồi trước nhà Hữu buôn bán lặt vặt ngoài chợ, nhưng nay được biết đường lối cách mạng, cho việc buôn bán là trung gian bóc lột, nên phải chuyển qua lao động sản xuất. Không có chỗ canh tác, sẵn ở gần biển nên định chuyển qua nghề chài lưới sản xuất. Vừa mua ghe hợp pháp, chưa kịp làm gì cả thì đã bị bắt, xin nhờ cứu xét khoan hồng. Đơn nạp lâu rồi, cũng chẳng ăn thua gì (Lý thuyết Cộng Sản Marxist chủ trương rằng: “Mọi phương tiện sản xuất, tổ chức sản xuất và việc phân phối sản phẩm đều thuộc về nhà nước”. Có thể diễn dịch thêm ra buôn bán là phân phối sản phẩm, tư nhân sẽ không được đụng vào, chỉ còn ra sức lao động mà thôi. Vì thế cái gì Cộng Sản cũng chận đường, kiểm soát tịch thu. Nhưng sau khi tịch thu của dân chúng và tài nguyên Miền Nam, cán bộ các cấp trở thành quá giàu. Khi đã giàu sang, không ai trong chúng còn tin vào lý thuyết hay làm theo sách Cộng Sản nữa, nhưng vẫn cứ quen miệng nói theo luận điệu cũ, vá chắp thêm vào ngôn từ, cố độc tài, giữ vững quyền lực và tham nhũng lâu dài mà thôi).
 Công An Vũng Tàu cũng đã cho người lên Sàigòn điều tra, nhưng thấy nhà Hữu ở trong chung cư lao động, nên lời khai của Ngà là Hữu làm thợ chụp hình dạo, Mai bán hàng ngoài chợ có thể tin được. Nhưng chúng vẫn không thả.
Sau Hữu lại nhờ người anh con bà cô của Mai, cũng một cán lớn ở Thành Phố Hồ Chí Minh, cũng trình bày như thế. Anh này không biết tẩy của gia đình Hữu, nên liền viết văn thư, xưng chức vụ, gởi các đồng chí ở ty Công An Vũng Tàu nhờ cứu xét, nếu vô tội thì tha ra, cho người ta làm ăn. Thư này cũng chẳng công hiệu gì. Ngoài ra Hữu còn chạy lung tung nữa, nhưng chẳng đâu vào đâu. Tình trạng này kéo dài đã ba tháng. Chẳng biết tính sao, để lâu thuyền sẽ hư nát. Nhà không làm ăn gì được, núi cũng phải lở.
 Lúc trước năm 1975, cuối tuần Hữu thường cùng bạn bè ăn nhậu. Hữu quen nhiều hạng người. Họ đã cho nhiều thông tin mà Hữu có thể sử dụng trong đời sống. Bạn cũ rũ thêm bạn mới, nên Hữu được quen Quát, Bắc di cư, cựu Trưởng Ty Thông Tin thời Quốc Gia. Sau tháng 4 năm 1975, Quát đến thăm, tình cờ khoe là có người em rể bà con, Trung úy vừa đổi vào làm trưởng đồn Công An biên phòng ở Bãi Dâu, Vũng Tàu. Nhớ ra, Hữu liền đến nhờ Quát đem quà cáp ra ngoài đó, tìm cách liên lạc xin xỏ. Nhưng chỉ mất công, tốn của. Trung Úy Công An này không nhận can thiệp và nói là thuyền ở dưới nước có thể đi mất bất cứ lúc nào, ai dám nhúng vào.  Riêng Hữu không dám ra đó vì sợ chúng bắt. Sẵn đà, Hữu tiếp tục nhờ Quát hằng tuần đi lại Vũng Tàu để thăm dò may có cách nào khác. Quát thường ngồi vá vỏ xe ở góc đường, thâu nhập không đáng kể. Giờ có việc nhờ đến, Quát được đi chơi đổi gió, mà mọi chi phí và đền bù đều do Hữu lo, nên Quát chẳng ngại nhận lời. Sau gần ba tháng, hằng tuần tới lui, chiều hôm đó Quát về Sàigòn báo Hữu một tin không ngờ được:
Quát kể, đang nằm trên gác nhà cụ Cữu, người bà con ở Bến Đình, Vũng Tàu, phê vài điếu với cụ và đem chuyện thuyền Hữu ra kể, để hỏi thăm. Bỗng có một lão ở lối xóm bước vào xin hột mướp giống. Nghe lóm được cuộc đàm đạo trên gác, lão dọa Quát là đã âm mưu vượt biển thế nào, phải khai rõ ra, không thì sẽ cho Công An bắt nhốt. Cụ Cữu giới thiệu đó là chú Lê, bảo Quát không sao đâu, chú Lê cũng là chỗ thân tình, cứ nói hết cho Lê nghe. Nghe xong, Lê bảo có thể can thiệp thả ra được, chỉ với điều kiện là để cho Lê được làm việc trên thuyền. Thấy Lê không đòi hỏi số tiền lớn mà chỉ đòi được làm việc như vậy, Hữu thấy tay này khôn ngoan hợp thời, như vậy coi như lão muốn kiểm soát và cùng sử dụng chiếc thuyền, thế cũng tốt thôi.
Hữu mừng rỡ bảo Quát trở lại Vũng Tàu nhờ Lê giúp và chịu nhận mọi điều kiện Lê muốn. Hai hôm sau, Mai được Công An phường ở Rạch Dừa kêu tới cho nhận lại chiếc thuyền và bảo lãnh An, Ngà, Hiển ra về. Thật ra chiếc thuyền này chưa phạm điều gì có cớ kết tội, để tịch thu hoặc giam giữ lâu dài. Chỉ tình nghi vượt biển. Công An phường chỉ lo bắt trước cho chắc ăn, nhưng đã không tịch thu được gì đáng giá. Công An phường có thể giam giữ lâu tùy thích, mà cũng có thể thả ra bất cứ lúc nào. Trong chế độ Cộng Sản, các công an phường cũng đã đầy quyền hành sinh sát như vua một cõi, có quyền bắt người giam vô hạn định.
 Lê, năm đó 41 tuổi, Bắc di cư, lấy vợ Công Giáo và tân tòng, làm trung sĩ quốc gia, một tay chân thân tín của đại tá, tỉnh trưởng ở Vũng Tàu trước tháng 4 năm 1975.  Không hiểu sao hắn lại quen biết với vợ chồng Chị Tư Việt Cộng, đặc công nằm vùng ở Đất Đỏ. Chị đã từng nổ mìn ở câu lạc bộ sĩ quan Vũng Tàu và đã có lần bị Cảnh Sát Quốc Gia bắt quả tang tội dấu mìn trong trái mít đem vào Vũng Tàu. Lúc chị bị giam, Lê đến nhà chị, thấy con cái Chị Tư gần như chết đói. Lê chở gạo cho ăn và nhỏ to xin ông Tá ra lệnh thả Chị Tư về. Hồi tháng 4 năm 1975, đáng lẽ Lê đã đem gia đình theo ông Tá đi Mỹ. Nhưng vợ chồng Chị Tư lại móc nối, khuyên Lê ở lại và hứa sẽ che chở cho gia đình Lê. Sau tháng 4 năm 1975, Chị Tư qua làm an ninh Bến Đá, Kiên em trai chị Tư lại chỉ huy phường đội Rạch Dừa. Lê đến nói Chị Tư. Chị Tư nói Công An phường Rạch Dừa thả ra ngay. Không đòi tiền bạc gì cả, chỉ riêng những tài vật đã bị tịch thu thì không được trả lại. Hữu nhờ Lê bày một bữa tiệc nhỏ tại nhà Lê, đãi Anh Chị Tư để vợ chồng Hữu tạ ơn và biết mặt.
 Thấy ra, Lê là một kẻ thủ hạ thân tín của một vị cao cấp bên này mà lại thân tình giúp đỡ người phía bên kia, chẳng khác nào một người cho nước vuốt ve một lúc hai con gà đá nhau. Bắt cá hai tay, bên nào thắng Lê cũng tốt cả. Đó cũng là một phần nhỏ trong những nguyên nhân Miền Nam thất thủ.
Thuyền Hữu được thả ra, đem trang bị lại. Nay nhờ quen Lê, Lê dựa hơi Chị Tư, Hữu quay lại Vũng Tàu, xin được sổ thuyền, vào danh sách ngư phủ, lúc đó có cả tên của Quát, Lê, Hữu, Ngà, Hiển, An và Thu (một thanh niên ở Bến Đá), được giấy phép đánh cá trên vùng biển từ Vũng Tàu đến Côn Đảo. Nên thuyền không dám chạy ngoài tuyến đường này. Nhưng Hữu chỉ dùng thuyền cào tôm ngoài cửa Vịnh Cần Giờ, sáng đi chiều về. So với những thuyền dã cào tôm khác, thuyền Hữu trông lớn hơn, dễ nhận ra.
Quát đi biển được hai chuyến rồi bỏ cuộc, vì không kham nổi sóng gió và lão cũng sợ bị bắt ở tù Cộng Sản. Coi Quát như ân nhân, Hữu có đến nhà Quát vài ba lần, nghĩ Quát không đi, nhà nghèo, lớn tuổi, ở lại sẽ khổ nhiều, nên khuyên Quát tiếp tục để cùng chạy với nhau. Nhưng Quát dứt khoát từ chối, vì con gái lão có người yêu, không muốn đi, lão cũng không chịu đi một mình.
Lê đi được ba bốn chuyến, học biết thả dã, kéo dã, lái thuyền, rồi đòi tách riêng, yêu cầu Hữu giúp tiền để mua một chiếc thuyền nhỏ hơn, để ra làm riêng, và nói thuyền nhỏ này sẽ giúp chuyển gia đình ra thuyền lớn cho Hữu (được gọi lóng là taxi). Lê thông minh và nhạy bén vì lúc bấy giờ có thuyền là có thể bắt tôm cá và quan trọng hơn: câu được người. Hữu chỉ đưa một phần và khai là không có nữa, chỉ có căn nhà hai tầng, toàn bằng gỗ dầu, lợp tôn nhôm, còn mới ở Sàigòn sẽ tặng cho Lê. Lê chịu. Hữu lại về Sàigòn khai xin dở nhà đi kinh tế mới, phường ở Sàigòn cho phép. Hữu cùng Lê dở căn nhà, mướn xe tải ra Vũng Tàu cho Lê tùy ý sử dụng. Ngồi chung cabin, lão tài xế hôm đó kể lại rằng lão chạy đường Đà Lạt có gặp quân Phục Quốc chận xe, nói chuyện, khiến Hữu thấy bớt buồn.
 Không biết vận động thêm từ đâu, Lê cũng mua một chiếc thuyền cỡ bằng 2/3 thuyền Hữu, cũ hơn. Cũng đem chạy dã tôm, máy Kobuta đã lỏng, chạy phun khói và nổ vang trời. Hữu không dám đến gần thuyền Lê để xem thế nào.  Hữu thấy thuyền này ồn ào không thể taxi được. Từ khi quen Lê, Hữu thấy Lê tuy không có cơ hội học hành tốt, nhưng không là người xấu, chịu khó, khôn ngoan, mưu trí hơn người, cũng có thể tin cậy được. Lê biết mưu lợi cho mình, nhưng không đến nỗi hại người. Xưa Lã Bất Vi buôn vua, để đoạt thiên hạ. Nay Lê cũng đã nhanh biết, chụp cơ hội toan buôn người vượt biển để có phương tiện sống còn. Lê nghĩ đã nắm được Hữu, sẽ dùng thuyền Hữu và thuyền Lê mới mua để rủ được và sẽ dụ được thêm người nữa ở Sàigòn. Lê đã có lần nói với Quát rằng Hữu đi được hay không phải qua tay lão.  Hồi đó ở Vũng Tàu đời sống rất khó khăn, nhiều người đói. Kẻ lanh lợi, có thế nương dựa, gặp cơ hội này, chắc phải làm vậy.
Vào giữa tháng 11 âm lịch, Hữu định đi câu giăng ngoài khơi Côn Sơn. Năm sáu thùng dây câu và mồi mực đã chuẩn bị. Tối hôm đó, trên thuyền có Hữu, Ngà, Hiển, An và Thu, trình giấy xong vừa ra khỏi cửa Bến Đá, bỗng thuyền không chạy tới nữa, máy kêu ầm ĩ, như chấu răng (gears) trong đó đang nhai nghiến lẫn nhau. Hữu vội cho tắt máy, không biết sao sửa chữa, nên thả neo ngủ ở đó chờ sáng. Đó là điều may mắn nhất cho Hữu, chứ nếu bị trục trặc ngoài khơi trong mùa sóng gió này, chắc phải bị trôi dạt và chết chìm thôi. Sáng sau, Hữu nhờ thuyền đi ngang lôi trở lại bến, gọi thợ máy quen từ Rạch Dừa đến mở hộp số ra, thay đĩa tục kết phòng hờ (embrayage de secour) vào, thuyền chạy êm tốt trở lại. Trong lúc sửa chữa, người thợ máy phê bình về chiếc thuyền của Lê mà hắn cứ gọi là thuyền của Hữu mới mua thêm. Nhờ thế, Hữu biết mọi động tĩnh liên hệ gì đến Hữu, dân cả vùng đều biết. Công An tất biết và họ đang giăng bẫy. Hữu nghĩ nếu mình nhờ Lê taxi, sẽ như tự đưa đầu vào lưới.
Hữu lại tiếp đi dã tôm để thử hộp số có chắc ăn không. Sau đó 5 hôm, thuyền Hữu lại đi câu Côn Sơn nữa. Sáng sớm rời Vũng Tàu ra khơi độ khoảng 6 giờ, thấy sóng gió lớn quá. Chỉ trừ An, còn tất cả ói mữa, mê mệt. Hữu nắm lấy thừng cuốn vào tay, nằm mê mệt trong khoang lái. Tùy theo thuyền nghiêng ngã qua lại, mắt Hữu thấy toàn trời, rồi thấy toàn biển sóng. Một lát thì mê man, mộng mị, bỗng cái đàn guitare gát bên trên văng xuống đập trúng đầu. Hữu tỉnh dậy, biết dù có ra xa ngoài biển Côn Sơn cũng chẳng có ai đủ sức câu kéo gì được. Hữu bàn với An quay về. Trở về đến Vũng Tàu cũng vừa hết trọn một ngày trắng tay, nhưng cũng biết thêm về biển một chút nữa.
 Vài lần đến nhà thăm Lê, bàn chuyện, Hữu thấy vợ Lê sợ, không muốn đi. Lê lại muốn chờ gặp ông anh ngoài Bắc vào. Việc sẽ cùng nhau đi không biết đến chừng nào. Thêm nữa, giờ có thuyền riêng, Lê quen biết, móc nối một vài người giàu có ở Sàigòn hứa tổ chức cho họ và biến việc vượt biển này thành một dịch vụ thương mại. Đông người càng dễ bại lộ. Họ đi, Lê cũng thâu được vàng. Còn cứ lừng khừng, không ở, không đi, Lê cũng có vài ba con bò sữa để nặn lai rai. Nên Lê chơi hàng hai, không khẩn trương lo chạy như Hữu.  Nên từ đó Lê bàn kế hoạch hợp tác, giúp taxi từ bờ ra cho Hữu, hay sắp xếp đi hai chiếc một lúc, Hữu chỉ lịch sự ừ hử cho Lê vui lòng mà thôi. Hữu phải nghĩ kế riêng, không thể nghe theo Lê được. Đến đây, Hữu thấy mình hợp tác với Lê chỉ còn là việc “Minh tu sạn đạo” cốt để cho Công An theo dõi. Đường sạn đạo sẽ không dùng được, nhưng phải lai rai sửa sang chuẩn bị, nhưng khổ nổi là Hữu chưa tìm đâu ra lối “Trần Thương để ám độ”.
 Trên thuyền lớn, Hữu là người đầu tiên đặt thợ hàn dùng những miếng tôn gợn sóng loại nửa ống cống tròn (lúc trước do Mỹ đem qua dùng trong các căn cứ quân sự), hàn thành hai thùng phuy dài 2m, mỗi thùng chứa cả ngàn lít diesel nối thông nhau, lóng, lọc, rồi chuyền vào máy. Thùng đặt nằm hai bên hông trên máy thuyền. Sau nhiều ngày tích lũy, hai thùng này đã có đầy dầu, đủ để đi xa hằng tháng trời. (Về sau Công An biết mánh, thường bắt ngay những ai đặt hàn loại thùng dầu này).
 May một hôm vào khoảng giữa tháng Chạp âm lịch Ất Mão (đầu 1976), thuyền mắc cạn trên bờ đá cảng. Đang chờ triều lên cho thuyền nổi, Hữu lên bờ gặp và làm quen một ngư ông khoảng 60 tuổi, người gốc Bình Định, đầu bạc trắng. Người ta quen gọi là Già Năm Đầu Bạc. Ông này giúp Hữu thực hiện một chuyến câu ngoài khơi Côn Sơn. Sau đó, ông giúp việc cào tôm trên thuyền và trở thành người bạn chân tình của Hữu. Hữu tin cậy và nhờ ông đóng vai tiên ông cứu nạn cho gia đình Hữu sau này.
Hôm Tết âm lịch (1976). An nghĩ việc về Phước Tỉnh thăm người quen. Sẵn đó, dẫn theo một thanh niên tên Sự qua giới thiệu với Hữu. Cho biết hoàn cảnh cũng giống An. Lúc đi lính về thì cha mẹ đã sang Mỹ rồi, hắn muốn xin hợp tác để cùng đi. Hữu tin, đưa lên Sàigòn dẫn ra quán nhậu, đãi đằng rồi đưa một cây vàng đem về Phước Tỉnh mua một chiếc ghe nhỏ để đưa taxi mấy đứa con gái của Hữu rồi cùng đi. Sự về rồi biệt tăm luôn.
 Mấy tuần sau, một thanh niên lạ ở Phước Tỉnh qua Bến Đá gặp Hữu trên thuyền, xin đem vợ con đi nhờ vượt biển và kể rằng Sự đã đem tiền về ăn nhậu say sưa với bạn bè, chẳng mua ghe thuyền gì, mà còn tiết lộ chuyện của Hữu cho nhiều người, nên cậu ta mới biết mà qua đây xin cùng đi. Hữu vừa giận vừa hoảng hốt, lấy cớ thuyền đang bị theo dõi và từ chối cậu ta. Nghĩ mình đã xài gần hết vốn liếng rồi, cực khổ sống chết mấy lần, còn chưa đi nổi, nay tay vớ vẩn nào đâu tới xin đi khơi khơi.
Hữu lo sợ mất ngủ, biết nguy đến nơi rồi, chưa biết tính sao, nhưng Hữu nhớ lại chuyện trước đó không lâu: Công An Phước Tĩnh đã xin bên Vũng Tàu mấy chiếc thuyền mắc cạn, vô chủ, nằm ở ngoài Bãi Sau Vũng Tàu.
Chiều đó bên Phước Tĩnh đem theo một số Công An và ngư phủ chạy thuyền qua, định lôi về sửa lại dùng. Nhưng gặp lúc triều cạn chưa lôi được, cả đám lên quán uống bia, chờ tối, triều lên sẽ lôi ra. Tối đến cả đám đang hè hụi lôi thuyền. Công An Vũng Tàu được báo là có đám vượt biển, vội kéo đến, nổ vào nhiều loạt AK và hô xung phong ào tới, làm thương vong gần hết. Nên Hữu nghĩ là hai bên họ làm việc thiếu phối hợp, nên tạm yên tâm và sau đó quên hẳn chuyện bị Sự lừa phản.
 Sau một thời gian trên thuyền, Hữu thấy việc lái thuyền không khó. Tuy bể rộng mênh mông, chỉ trời nước, không thấy đất liền bờ bến, nhưng không lạc, ngày có mặt trời giờ giấc, đêm có trăng sao. Khi trời mù có hải bàn chỉ hướng và học thuộc lòng bản đồ biển Đông trong trí nhớ là đủ. Nhưng đánh bắt tôm cá dưới đáy biển mới khó. Lái thuyền chạy qua Nam Hải cũng như lùa một con trâu lội qua cánh đồng rộng, còn làm nghề chài lưới cũng như đem con trâu đó cày bừa cho có mùa màng. Phải đánh bắt được tôm cá bán cho Hợp Tác Xã theo giá rẻ, mới có sổ mua dầu chạy máy. Sức khỏe kém, không quen kham khổ, nên rất khó khăn, lâu ngày nhọc nhằn chịu hết nổi.
 Đằng nào thuyền Hữu cũng như trong tay Công An rồi, thả ra rồi bắt lại lúc nào chả được. Như mèo bắt được chuột, thả ra đùa dỡn một lát cho vui, rồi cũng bắt lại. Công An đã thả ra và theo dõi, rình rập, giăng bẫy chờ bắt đúng lúc đem người, đem của xuống thuyền khởi hành, sẽ tịch thu được tài vật. Công An Vũng Tàu đã từng bắt những thuyền khác trước đó, ngay lúc nạn nhân xuống thuyền. Có khi bắn chết người tổ chức, tịch thu nhiều vàng bạc, châu báu. Có người hoảng quá nhảy xuống biển chết vì sợ Cộng Sản hơn sợ biển sâu. Những gia đình bị giam giữ thì nhà cửa ở Sàigòn bị tịch thu, lúc về thì mất cả cơ nghiệp, trắng tay, phải ở vỉa hè.
 Người địa phương cũng như Công An đều nghĩ Hữu là tay Ba Tàu đến tổ chức cho những người Sàigòn, Chợ Lớn giàu có vượt biển. Nên theo dõi rất kỹ từng giờ, từng ngày. Cộng Sản mới vào đã tổ chức những tài xế xe ba bánh, xe đò, Honda ôm, phường đội, an ninh phường khóm, con nít nghèo đói chạy rông làm mật báo viên, giả vờ lên thuyền xin ăn. Trên thuyền có gì, làm gì là chúng biết và báo cáo ngay. Trước đó đám người nào lạ xuống đến bến xe Ngã Tư Vũng Tàu, Công An đã biết và theo dõi, trú ngụ ở đâu, tối đến bắt trước hoặc chờ ngay khi xuống thuyền. Công An còn cho người tổ chức vượt biên giả, lường gạt, để gài bắt, tịch thu tài sản và nhà cửa. Thật đúng là bức màn sắt, không khác gì thiên la địa võng. Mọi người ở Bến Đá và Rạch Dừa đều nghĩ rằng gia đình Hữu thực sự không phải làm nghề biển, sẽ trước sau gì cũng vượt biển và sa lưới. Công An cũng nghĩ thế và đang giương bẫy chờ giờ bắt cho được một mẽ đáng kể.
 Thấy mọi việc khó khăn, nghĩ hoài, khảo sát nhiều nơi mà không có kế gì khả thi, an toàn để đem 8 đứa con gái, cách đều tuổi nhau từ 15, 13, 11, 9, 7, 4, 2 và 9 tháng xuống thuyền mà khỏi bị bắt. Chúng đang được cô người làm, trông coi lo cơm nước hằng ngày ở Sàigòn. Hữu cũng đã hỏi cô có muốn đi không. Cô sợ không dám đi, Hữu không dám rủ nhiều vì chuyến đi sẽ thập tử nhất sinh, chết nhiều hơn sống, nên sắp đặt để cô có phương tiện ở lại, tạm thời coi giữ hậu cứ, rủi đi không thoát được còn có chỗ trở về, vì nhà vắng người là bị tịch thu ngay.
Ngà là con lớn, được việc nhất trước sau, nhưng nay thấy việc chài lưới đã quá mệt mỏi, hao tốn mà không có cách gì đem mấy em gái xuống thuyền an toàn được, đã bắt đầu nản chí, buồn bã nói với Hữu: “Hay là bán quách chiếc thuyền, dọn về Sàigòn ở”. Còn Hiển không có ý gì muốn đi, vì thấy anh em đông, lo sợ ra xứ lạ, không rành ngôn ngữ sẽ cực khổ, và trước đó người nhà đã khuyên ở lại. Hiển không tích cực trong việc chuẩn bị và thường khó chịu, gây gổ với An. Còn An được mướn làm việc trên thuyền, lại sợ nguy hiểm, sợ bị bắn, bị bắt, không dám tính đi, mà muốn cố giữ gia đình Hữu ở lại để có chỗ dựa sinh sống.
 An, nguyên là con một gia đình chài lưới nghèo ở Vũng Tàu, lớn lên gia nhập Thủy Quân Lục Chiến, dự trận ở Quảng Trị. Đến tháng 3 năm 1975, đơn vị rút lui về Thuận An trong hỗn loạn, không chen kịp xuống tàu để về Nam, bị Cộng Sản bắt làm tù binh. Đến tháng 7 năm 1975 được thả về. An không còn gặp lại cha mẹ nữa, vì họ đã ra đi. An bơ vơ, không cửa nhà, vừa bị sốt rét, vừa phải làm biển vất vả, kiếm cơm cho khỏi đói mà thôi. May gặp được Ngà rủ làm trên thuyền Hữu. Hữu đưa Fansidar và Chloroquine cho An uống, hết sốt rét và khỏe mạnh lại. Một hôm, bàn việc đưa mấy đứa nhỏ xuống thuyền, Hữu có nói đến kế hoạch nhờ Lê taxi từ bãi Chí Linh phía Bắc Bãi Sau (Vũng Tàu) ra thuyền lớn. An hỏi Hữu: “Cậu có súng không?”. Hữu hỏi lại: “Chi vậy?” An đáp: “Để bắn ông Lê”. Hữu hỏi: “Tại sao?”. An đáp: “Để ông ấy khỏi về báo cáo”.
 Hữu giật mình, thấy An tàn ác hơn cả Tào Tháo, coi mạng sống con người không ra gì, huống chi Lê còn là ân nhân của tất cả. Vả lại Hữu còn thấy An suy nghĩ ngu xuẩn nữa, vì nếu Lê có ý báo cáo, thì Lê sẽ báo cáo cho Công An bắt cả đám trước khi Lê taxi, đâu phải chờ lúc taxi xong để cho An bắn. Còn nếu như Lê taxi xong rồi, mới về báo cáo Công An thì cũng chẳng hại gì, vì lúc đó thuyền Hữu ít ra cũng đã chạy được một vài giờ trên biển. Ban đêm làm sao Công An thấy đâu mà đuổi bắt.
Từ đó, Hữu đâm ra lo ngại An, và nghĩ rằng kẻ ác tâm và vô mưu sẽ làm những điều bất nhân, không cần thiết, mà người bình thường không ngờ hoặc hiểu nổi. An thấy Hữu cần mình, vì An biết nghề chài lưới, trong khi gia đình Hữu không rành nghề này. An không muốn vượt biển, lại biết tẩy của Hữu, nên càng làm khó dễ. An cố ý không cho Ngà hay Hiển dự vào việc chạy máy, không nghiêm chỉnh nghe lời Hữu. Hắn còn công khai đòi ưng gấp đứa con gái lớn 15 tuổi của Hữu. Cho nên Hữu phải khó khăn đối phó, dỗ dành để khỏi bị An phản. Hữu phải mua chuộc, lương tiền trả dồi dào và còn sắm sửa quần áo, giày da, đồng hồ Seiko, đàn guitare, cà phê, thuốc lá đầy đủ cho An, đãi đằng như một công tử. Đáng lẽ, ở với Cộng Sản, An phải có vẻ lam lũ, nghèo khổ thì mới tốt. Từ đó Hữu không bàn chuyện ra đi với An nữa.
Nhưng dầu sao, Hữu cũng nghĩ mình thành công 50% rồi: Hai vợ chồng Hữu và 2 con trai lớn đã có giấy phép làm ngư phủ, và đứa con trai nhỏ 5 tuổi cũng đã cho ở sẵn trên thuyền. Thường ngày CA vẫn thấy thằng bé phơi nắng đen đủi này những lúc thuyền trình giấy ra vào cảng mà không nói gì. Gia đình người ta dù muốn kiếm thuyền cho một người đi còn không được, còn gia đình Hữu có đến 5 người đã ở sẵn trên thuyền, muốn đi giờ phút nào cũng được. Nếu trường hợp khẩn cấp phải thoát được người nào hay người nấy thì cũng phải vậy thôi. Đã đến được thế này, dại gì bỏ cuộc. Dù mấy đứa gái kẹt lại cũng có phương cách sắp đặt cho chúng sống và chờ hai nước bang giao sẽ tính sau. Tuy nhiên, Hữu vẫn đang nghĩ nhiều cách để đem đi tất cả, nhưng vẫn thấy nhiều rủi ro bị bắt, hoặc không khéo cả thuyền bị hứng đạn AK. Đem 8 bé gái này xuống thuyền mà không ai thấy, để không bại lộ, là một bài toán khó giải.
 Hữu đã sai Mai về miền Trung mua một cái thúng chai, mà ngoài ấy người ta thường chèo giăng rớ hay vớt củi lụt, đem vào và mua hai cuộn dây dù dài cả 2000 mét, dự tính ban đêm cho thuyền đậu xa ngoài bãi ngang (bờ biển có bãi cát), cho người theo sóng chèo vào, đón mấy đứa nhỏ chờ sẵn trên bãi lên thúng và ngoài thuyền kéo thúng ra. Nhưng một đêm thử kéo dã ở Bãi Sau, ban tối không ước lượng được khoảng cách, thuyền vào gần có thể bị sóng đánh mắc cạn, mà xa quá thì thúng có thể bị sóng đánh lật, nguy hiểm. Còn có thể mấy đứa nhỏ bị lộ, khi từ Sàigòn xuống Vũng Tàu và một đoạn đường độ 2 km từ lộ xuyên qua bãi gai gốc, rẫy mì, đụn thông và bãi cát rộng, làm sao chúng đi qua nổi. Công An có thể bố trí bắt hay xả đạn vào và hô xung phong như họ đã quen làm, thương vong sẽ khủng khiếp. Kế hoạch đó Hữu thấy không ổn.
 
 
Hôm sau Tết, Hữu đã xin giấy phép đi đường xuống Rạch Giá lấy lý do mua ngư cụ, tìm người quen. Người quen không gặp. Người gặp không dám tiếp, hoặc không dám nói thật. Họ cũng đoán biết dụng ý của Hữu nên sợ liên lụy. Hữu qua Hà Tiên, vừa xuống Bến Xe thì đã thấy người theo dõi. Người lái xe Honda ôm, hình như đã biết dụng tâm của Hữu rồi, như đã muốn giăng bẫy gài bắt.  Không dám tin vào ai cả, Hữu nhắm không có chỗ nào để con nít có thể tạm trú chờ xuống thuyền được.
Hữu cũng đã từng đi xe đò ra miền Trung, quan sát mũi Cà Ná là nơi quốc lộ 1 chạy sát mé biển. Nhưng nơi nào cũng có Công An kiểm soát. Vả lại việc ráp nối thủy bộ xa như vậy, đối với hoàn cảnh kỹ thuật của Hữu lúc bấy giờ khó phối hợp, không thể nào làm được, nhất là ban đêm, lại không biết rõ địa thế và canh phòng của Công An.
 Vào khoảng cuối tháng chạp âm lịch (3/1976), gió Đông Bắc vẫn còn thổi mạnh. Thuyền Hữu ra biển kéo dã, vất vả với sóng gió, nhưng không được mấy tôm cá, mọi người mỏi mệt nên về sớm. Bán tôm xong, thuyền Hữu thả neo chỗ nước sâu, nơi đầu bến, chỉ cách trạm nổi Công An Biên Phòng vài chục mét về phía bên trong. Cơm tối xong, ngồi ưu sầu trong khoang lái nhìn ra, Hữu thấy một vật nổi, trên có đèn bóng nhỏ, trước có kiến chắn gió như xe Jeep chạy vào trạm nổi Công An Biên phòng. Sau đó vật này tiến vào gần thuyền Hữu. Có người trên đó hỏi: “Bến Đá ở đâu anh?”. Ngạc nhiên, Hữu đáp: “Bến Đá chính là đây, chứ mấy người ở đâu mà không biết Bến Đá?”. Nghe nơi đây là Bến Đá, vật nổi ngừng hẳn và cặp sát vào hông thuyền Hữu. Hữu mới nhận ra là chiếc canô nhỏ cũ có mui vải bố che, loại trước kia thường chạy chơi trên sông Sàigòn.
Hữu thấy trên canô có hai cặp vợ chồng trẻ và 4 đứa con gái cỡ 5, 7 tuổi, tất cả quần áo đều ướt mèm. Một trong hai người đàn ông than: “Chiều nay gió to quá, sóng tạt vào ướt tất cả, suýt không qua nỗi vịnh Cần Giờ”. Thấy vậy, chắc đám này thế nào cũng đang đói, Hữu bảo Mai đưa khăn cho họ lau, pha sữa lon cho mấy đứa nhỏ uống, và nấu cháo cho mấy người này ăn tạm đỡ đói.
Biết những người này không là dân địa phương, chắc cũng có hoàn cảnh sao đó, Hữu tỉ tê hỏi han, gốc từ đâu đến mà không biết Bến Đá? Sao lại chạy ca nô đến đây?. Hai người đàn ông kể rằng, họ là bạn với nhau cùng ở Thủ Đức. Lúc trước làm cho nhà thầu Quản Thị Hiền ở Tân Sơn Nhất, rồi bị động viên ra Hạ Sĩ Quan Biệt Động Quân. Sau 30/4/1975, đi cải tạo xong, về tuân theo lời Cộng Sản đi kinh tế mới ở Phương Lâm. Hai anh xin tiền cha mẹ, hùn nhau mua một chiếc máy cày để thiệt sự khai khẩn làm ăn. Đem máy cày lên đó, cày được vài tuần, hai anh bị cán bộ ở đó làm khó dễ, tịch thu luôn máy cày. Hai anh thấy sống không nổi với mấy ổng, nên bỏ về và tính chuyện làm ăn khác.
Trở về, hai anh tìm bãi phế thải, mua chiếc vỏ canô cũ, sửa sang lại, rồi mua một máy Yanmar F10, gắn chân vịt vào, xong xin giấy phép làm nghề câu, mua được 20 lít diesel và ra đây. Được hỏi chuyện lai rai, hai người cho Hữu biết là đã khởi hành từ sáng tại bến Cư Xá Thanh Đa và trên thủy lộ từ Sàigòn ra đây chỉ có vài trạm kiểm soát. Công An chỉ chận xét những thuyền lớn, còn những ghe nhỏ như của hai anh, họ không cần hỏi đến.
Nghe thế, Hữu mừng là trời đã giúp mình, sai hai anh này vô tình mách bảo cho thủy lộ Nhà Bè, để đem đám con nít ra khỏi Việt Nam viễn du Nam Hải. (Cũng như lão tiều phu đã chỉ cho Hàn Tín con đường Trần Thương để ám độ (kín đáo đi qua) ra khỏi Bao Trung, để rồi tung hoành thiên hạ, đánh bại Sở Bá Vương.)   Đó là con đường duy nhất ngay trước mắt có thể thực hiện, tương đối an toàn hơn cả, mà Hữu không biết, lại vớ vẩn tìm chỗ xa xôi khó khăn. Thấy mình thật là đần, bây giờ mới nghĩ ra rằng sông nào dù xa, dù gần, cũng đều thông ra biển, nếu tổ chức xuống thuyền sâu trong nội địa sẽ ít bị nghi ngờ, theo dõi hơn.
Sớm hôm sau thức giấc, nhìn sang chiếc canô cột vào thuyền mình, Hữu thấy bốn đứa nhỏ đều mặc áo ấm dài tay, màu sắc đỏ, vàng tươi thắm và hai người đàn bà đang ngồi soi gương nhỏ, tay như đang trang điểm. Tất cả mặt mày đều xinh đẹp, sáng sủa. Hữu hoảng hốt, vội nói: “Xin lỗi các anh chị, tôi rất mến và mong muốn được làm bạn với các anh chị, nhưng nguy lắm, thuyền tôi đã bị bắt mới thả ra, bị tình nghi tổ chức vượt biển, có thể bị bắt lại bất cứ lúc nào. Nếu các anh chị gần tôi, tất cả có thể bị bắt và gắn cho tội cùng tổ chức vượt biển, ở tù mút mùa lệ thủy, không nói chơi đâu, phải xa nhau đi”. Nói xong, Hữu vội mở sợi thừng ra khỏi thuyền mình. Gặp lúc triều lên mạnh đưa nhanh chiếc canô tách xa thuyền Hữu và trôi sâu vào bên trong cảng. Lúc đó, Hữu thực rất ngố vì không nghĩ xa về những người này. Về sau nghĩ lại đám này cũng có thể trong tổ chức vượt biển nào đó, bị gạt hay bị tổ chức kém không nối kết được, hay họ định ra đó rồi chờ cơ hội móc nối, chứ không phải đi câu gì cả (Thời đó, không hiểu sao có những tin đồn huyễn hoặc, nên đã có lần một người đàn bà rất nghèo khổ, dắt con nhỏ, tay ôm theo một đầu máy may, đến gần thuyền Hữu, nhờ chở ra biển đón tàu Mỹ đến vớt và đề nghị trả công bằng chiếc đầu máy này). Sau Hữu thấy chiếc canô đó bỏ không ở Bến Đá và Bãi Trước vài lần, không thấy người đâu cả. Hữu đã bỏ lở cơ hội thăm dò họ thêm vì họ có thể hợp tác tốt, hai bên cần và giúp nhau.
Sử dụng thông tin vừa có, ngay sáng đó Hữu phái Ngà và Già Năm (ông già đầu bạc) lúc bấy giờ cũng đang làm trên thuyền Hữu về Sàigòn, xin giấy phép đi đường để ra Cần Giờ mua cá khô. Lấy được giấy phép, Ngà và Già Năm đáp đò dọc từ Sàigòn theo sông Nhà Bè ra Cần Giờ, để ý quan sát sự canh gác và kiểm soát của Công An trên đoạn sông này. Hai người tìm cách lưu lại Cần Giờ một đêm để khảo sát thêm. Sáng hôm sau, hai người đáp đò máy đi từ Cần Giờ sang Bến Đá VũngTàu. Ngà kể lại những điều đã tìm biết trong chuyến đi cho Hữu rõ.
 Kế đến, Hữu lại phái Già Năm và Ngà về Sàigòn, tìm vùng sông nước chung quanh, mua một ghe nhỏ. Và cuối cùng đã mua được một chiếc nhỏ mới đóng tại bờ Thủ Thiêm. Ghe đóng bằng ván gỗ dài khoảng 4m, rộng khoảng 1.2m, có trang bị một máy Kohler 6HP cũ, có gắn máy đuôi tôm. Già Năm đứng tên mua. Hữu cũng có về Sàigòn cùng đi lấy ghe. Thấy Hữu, người ở gần đó nói chiếc ghe này có thể chạy tới Mã Lai. Không hiểu họ nhìn sao, cứ mỗi khi thấy Hữu, ai cũng nói mánh là Hữu vượt biển, khiến Hữu chột dạ và hơi lo. Chẳng lẽ Hữu có nét lộ tướng của một kẻ sắp vượt biển ai cũng thấy sao?. Hình như ai cũng đọc được ý định của Hữu. Ghe mua xong được giao cho Già Năm chạy về Gia Định cất giữ, sửa soạn thêm, đăng bộ chủ quyền và xin giấy phép hoạt động.
Mọi việc Hữu toan tính, phần lớn những người thân thuộc trong đại gia đình đều biết rõ, nhưng không ai muốn, hoặc dám dự vào việc nguy hiểm, thập tử nhất sinh này. Tùy theo ý riêng, hoặc lợi ích riêng, người thì tích cực ngăn cản, người thì làm thinh. Hữu không biết mình có thành công như ý hay không, nên không dám rủ một ai cả. Lúc bấy giờ có Duy, 20 tuổi gọi Hữu bằng cậu ruột, có kéo theo bạn nó tên Cường cũng đến tá túc tại nhà Hữu ở Sàigòn. Trước đó Hữu cũng có rủ hai đứa này làm việc trên thuyền, nhưng chúng sợ hoặc thấy cực nhọc không đáp ứng. Một hôm cha Duy vào Sàigòn, nói là thăm tiễn biệt Hữu và đã kín đáo dặn Duy nhất thiết sẽ không đi, và dặn Duy sẽ lo hôi những món gì trong nhà Hữu cho ông ta. Hữu biết được nên không rủ Duy nữa.
 Chỉ có Chấn, con ông bác ruột của Mai, lúc bấy giờ đang làm giáo sư trung học muốn xin đi mà thôi. Nên phải nghe lời Hữu, Chân xin nghỉ việc để chuẩn bị sẵn mới có thể cho cùng đi được.
Chân có vợ con, nhưng gia đình không đồng lòng, nên phải quyết định ra đi một mình. Chân đem chuyện này tiết lộ với Tùng, bạn đồng nghiệp, cùng quê và nhà gần nhau ở Sàigòn. Chân giới thiệu giáo sư Tùng, xin Hữu cho thêm một mình Tùng cùng đi theo. Hữu thấy lo cho 8 đứa nhỏ xuống thuyền đã gay rồi, thêm người nữa, thêm dễ bại lộ, nhưng cuối cùng cũng bằng lòng. Vả lại có người xin đi, tinh thần Hữu vững thêm, vì Hữu cũng có mặc cảm tội lỗi và hoài nghi sự đúng đắn trong quyết định ra đi của mình do ám ảnh bởi ngôn từ của Cộng Sản, nào ra đi vì bơ sữa làm tay sai cho giặc, là đĩ điếm, là phản quốc, phản bội quê hương. Trước kia, Hữu đã từng làm nghề như hai người nầy một thời gian, thấy không khá nổi, nên phải đổi việc từ lâu, nên Hữu cũng thông hiểu hoàn cảnh của mấy anh này, cà phê, thuốc lá, rượu chè, cờ bạc, chơi bời, luôn trên răng dưới súng, nên không bảo họ phải đóng góp một đồng nào. Họ cũng không tự ý đóng góp gì được hoặc mang theo một thức gì để tự chu cấp thêm khi cần cho nhu cầu cá nhân. Họ hoàn toàn được bao miễn phí để được chở đi tìm tự do.
Sau khi Hữu tìm ra cách taxi dọc qua đường sông Nhà Bè, mùa biển êm đã gần đến, kể như là sắp đi, Hữu thấy hai anh giáo nầy đều có gia đình vợ con. Nếu mình đem họ đi, bỏ vợ con lại sẽ là chuyện bất nhẫn, dù có thành công, chắc cũng không vui và có thể là chuyện làm ơn mắc oán. Kẻ ở người đi, biệt ly buồn khổ, nên Hữu bảo Chân gọi Tùng đến nhà, trình bày kế hoạch đi thuyền nhỏ từ Sàigòn ra biển ráp nối. Hữu nói: “Thuyền lớn tôi chờ ngoài biển có thể chở hằng trăm người, có lương thực hải hành no đủ cả tháng, nhưng ghe nhỏ Già Năm Đầu Bạc chỉ đủ chỗ cho 8 đứa nhỏ cũng gần khẳm rồi. Vậy các anh tự lo một chiếc ghe nhỏ, tôi sẽ cho máy Kohler gắn vào, ra sông Sàigòn tập dượt vài lần, đến bữa đi, các anh sẽ chở đầy đủ vợ con chạy theo ghe Già Năm ra gặp thuyền lớn rồi chúng ta cùng đi vui vẻ”. Chưa kịp suy nghĩ, Tùng đã nhao nhao năn nỉ bảo: “Tôi không thể nào làm được, cứ cho mình tôi ngồi ghe nhỏ với Già Năm thôi, tôi có mệnh hệ nào, vất tôi xuống biển”. Nghe thế, Hữu xìu lòng và đành vậy, nhưng không vui.
Hữu vẫn cho chiếc thuyền lớn ở Bến Đá hoạt động cầm chừng, và phái Chân theo cạnh Già Năm, chạy thử chiếc ghe nhỏ từ Sàigòn ra biển. Lần đầu tiên, mãi đến ba ngày sau Chân mới trở lại Sàigòn báo cho biết máy trục trặc, hay tắt và đuôi tôm bị sóng dồi, không thể ra đến biển được.
Hữu cho con gái đi xe đò về miền Trung mang vào 2 chiếc máy Kohler mới. (Máy do Hữu đã mua lúc Cộng Sản mới vào để dành khi cần. Hữu chưa đi, đã bị người nhà vội lấy trước đem về ngoài đó). Hữu thuê thợ làm trục chân vịt gắn vào đáy ghe và một máy đuôi tôm mới khác gắn vào phía be sau. Lần này Chân và Già Năm chạy ra đến biển được, nhưng thuyền quá chao, có thể bị sóng đánh lật. Hữu nhờ Già Năm, dùng hai khúc tre dài, lớn kẹp kết dính vào dọc hai bên mạng thuyền như hai cái phao đỡ để cân bằng cho thuyền khỏi lật và làm một mui che phủ phần giữa của ghe, để che nắng và giấu các đứa nhỏ bên trong khỏi bị phát giác.
 Xong xuôi Hữu nhờ Già Năm chạy thử một lần nữa ra đến một tọa độ giữa biển Cần Giờ mà Già Năm và Hữu đã cùng xác định từ trước. Từ nơi đó người ta có thể nhìn thấy bờ mũi Vũng Tàu và bờ Cần Giờ lờ mờ ở chân trời. Lần này Hữu được biết là thuyền chạy tốt, không còn trở ngại kỹ thuật nữa. Xong Già Năm đem thuyền nhỏ này về Gia Định cất gần nhà, cùng lo thêm xăng nhớt.
Hữu trở lại Sàigòn bỏ mấy ngày đêm một mình hoặc cùng Chân và Già Năm quan sát sự sinh hoạt của dân chúng và sự canh gát tuần hành trên sông từ cầu Chữ Y qua Cầu Ông Lãnh đến cầu Tân Thuận và con đường Trần Xuân Soạn trên bờ Nam khúc sông này. Hữu định dùng nhiều chỗ nơi bờ sông này cho 8 đứa bé gái lẻ tẻ xuống thuyền.  Khúc Sông và khúc đường này đêm ngày nhộn nhịp ghe thuyền và xe cộ, chỉ trừ giờ giới nghiêm. Một đêm ngủ trên thuyền nhỏ với Già Năm gần cầu Chữ Y, Hữu thấy Công An cũng tuần xét trên sông. Dựa trên những điều đã quan sát được, Hữu lập ra trước một chương trình chi tiết cho ngày xuống ghe của 8 bé gái để Ngà áp dụng. Chờ lúc gió Đông Bắc sắp chấm dứt, ngày 9/4/1976, khoảng trung tuần tháng Ba Âm lịch là ngày khởi hành, diễn tiến tuần tự như sau:
Sáng 9/4/1976, Già Năm đến lúc thực hiện kế hoạch, tự thấy cũng lo lắng và cùng Chân cúng ghe, xin thần linh phù hộ để cho công việc được may mắn như ý. Chiều đem ghe nhỏ ra đậu nơi hẹn gần cầu Tân Thuận. Ngà về Sàigòn thi hành phần việc của mình theo chi tiết vạch sẵn. Chiều ngày này, Ngà dùng xe Honda hướng dẫn xích lô máy chở 4 đứa nhỏ tuổi khoảng chính giữa (từ 4 đến 11, không lớn mà không nhỏ) từ nhà ra quán nhậu bình dân “LAI RAI” gần cầu Tân Thuận, gặp Chân và Già Năm từ ghe lên, cho tất cả ăn uống no nê ở quán này. Chờ đến chạng vạng, trời vừa tối, lúc đó Công An và mọi người tan việc, đều vội vàng về nhà, không ai để ý, Già Năm thong thả dẫn chúng xuống thuyền. Tối đó Chân về kín đáo từ giã vợ con và thông báo cho Tùng để cùng theo xuống thuyền. Chiều hôm đó Tùng chưa biết, vẫn đi dạy học như thường.
Ngà dùng Honda về nhà sinh hoạt như bình thường. Nhà vẫn còn đông vì có Duy, Cường, cô người làm, hai bé gái lớn nhất, đi học về vẫn đem bài vở ra học như mọi đêm và hai bé gái nhỏ nhất vẫn ngậm chai sữa, khóc quấy.  Radio vẫn mở ồn ào. Hai thanh niên lối xóm làm Công An mật báo vẫn hay đến nhà thăm dò không thấy gì khác thường, vì không để ý đến sự vắng mặt của 4 đứa nhỏ tuổi giữa kia. Ngà rủ Duy, Cường và chúng ra quán ăn uống nên chúng không chút nghi ngờ.
Sớm hôm sau, vừa hết giới nghiêm, trời chưa sáng, Ngà dùng Honda chở một cặp, đứa lớn bế đứa bé, đưa đến điểm hẹn cho Già Năm, xong trở về chở một cặp nữa và làm như vậy. Cô người làm muốn giữ lại một đứa hơi bịnh. Nhưng theo lời dặn dù có đứa nào bị nóng sốt gì cũng vẫn cứ đem đi, mang theo thuốc ngủ cho uống khỏi la khóc và không mang theo gì khiến bị để ý. Xong Ngà theo dõi chiếc ghe nhỏ rời bến, quanh ra khỏi Cầu Tân Thuận hướng về Nhà Bè thì trời vừa sáng rõ. Ngà đem Honda về nhà cho Duy, rồi ra bến xe đò đi Vũng Tàu.
 Còn tại Bến Đá, tối hôm đó, sẵn triều hạ, thuyền nằm khô trên lòng cát, Hữu cùng tất cả cạo sạch hà bám vào vỏ thuyền, để thuyền trơn tru, giảm bớt độ cản của nước, đi nhanh hơn. Lấy cớ công việc mỏi mệt, sáng hôm sau, thuyền không đi dã như thường lệ để An và Hiển khỏi nghi có điều bất thường, vì sợ chúng làm trở ngại, hoặc có sự lo sợ hiện ra trên nét mặt. Hoặc An có thể chống đối không chịu ra biển hoặc làm phản đi báo cáo. Hiển cũng không muốn đi, nên cả hai đều không được cho biết kế hoạch đang diễn tiến.
 Đến khoảng 10 giờ 30 sáng, Ngà từ Sàigòn xuống đến thuyền lớn, cho Hữu và Mai biết mọi việc đã xong xuôi như ý. Ngà kể đã nhìn theo thấy chiếc thuyền nhỏ đã chạy qua khỏi cầu Tân Thuận. Tám đứa gái đã đi đủ, tuy rằng bé Ki đang bị nóng sốt, chỉ quên việc mặc hai lớp áo quần cho chúng như đã dặn. Chân và Tùng cũng đã có mặt đầy đủ trên thuyền nhỏ. Ngà kể thêm là lúc ở quán ăn, Bình (4 tuổi) cứ bảo mấy đứa kia ăn nhanh lên rồi về chứ cô người làm đang trông đợi. Còn ở nhà Duy và Cường cứ kèm theo Ngà để xin đi, nhưng Ngà thấy thuyền nhỏ đã khẳm không thể nhận thêm hai đứa được. Ngà cũng đã được dặn trước là không cho Duy đi, như cha Duy đã dặn kỹ. Vì kẹt Duy, Ngà không thể cho Cường đi được. Lại nữa, hai đứa bấy giờ cùng rủ nhau xin đi và cùng giữ nhau ở lại cho có bạn. Sáng sớm mấy đứa nhỏ đi, cô người làm la khóc, Ngà phải dỗ dành và mở radio lớn để che lấp. Chỗ chứa hàng buôn bán vải ở Chợ Lớn đã được chỉ cho cô người làm và chìa khóa đã giao từ trước.
Hữu và Mai mừng công việc được trôi chảy như kế hoạch, sửa soạn ăn trưa và đem thuyền lấy thêm nước và mấy cây nước đá. Lúc bấy giờ thấy trẻ con hoang, cả Việt lẫn lai Mỹ chạy chơi xin ăn trên bến. Có mấy đứa được Công An gài làm mật báo, xem xét thuyền hằng ngày. Hữu biết vậy nên mỗi lần chúng đến đều được cho ăn uống tử tế. Hữu chắc những đứa này không báo cáo gì xấu và chúng cũng chỉ thấy thuyền Hữu rất bình thường như mọi ngày.  Lúc vào lấy nước, một gã trung niên trên thuyền bên cạnh, nhìn sang nói với Hữu, thuyền anh đi tốt rồi, khiến Hữu rất chột dạ. Hữu đúng là có lộ tướng là kẻ vượt biển.
 Cơm trưa xong, Hữu bảo An và Hiển rằng hôm nay đổi giờ làm, không sáng đi, chiều về như thường ngày nữa. Chúng ta đi dã buổi chiều, thử xem may ra có được nhiều hơn không. An lái thuyền ra trạm nổi cho Công An kiểm soát, Hiển nhảy qua trình giấy như mọi ngày. Cả hai đều không biết đây là lần xuất bến cuối cùng, nên không có dấu hiệu gì khác thường trên nét mặt, cả hai đều vui vẻ cười dỡn với những Công An trẻ đã quen mặt. Công An nhìn qua thuyền vẫn thấy bình thường như mọi khi nên chấp thuận cho rời cảng một cách dễ dàng. Trong khi đó chúng chận xét một ghe lưới nghề thật sự, với mấy tấn lưới bị lục lên từ đáy mất cả hằng giờ.
 Thuyền ra đến nơi thả dã, xa ngoài cửa vịnh Cần Giờ. Chiều nay cũng có rất nhiều ghe lớn nhỏ kéo dã chung quanh. Khác với những lần trước, mỗi lần kéo dã lên, được rất nhiều tôm thẻ lớn. An và Hiển rất ham thích. Nhưng Hữu chỉ mong cho trời tối để bớt hồi hộp và đi đón mấy đứa gái nhỏ.
Mặt trời còn chói nắng, Hữu bảo thôi không thả dã nữa, như thế đủ rồi, thu dọn gọn gàng để nghỉ. An phản đối, không nghe, bảo là mỗi lần ra biển khó khăn , hôm nay được tôm nhiều tại sao lại nghỉ sớm. Hữu phải ôn tồn giải thích: “Mình chỉ làm vừa phải, đủ sống qua ngày thôi, xã hội Cộng Sản giàu có là có tội. Cháu cứ nghe cậu đi, lương tiền cháu, cậu phát đủ, được nhiều ít gì là cậu chịu, cậu tính rồi đừng lo. Làm ít cũng tiết kiệm được máy móc, chậm hao mòn hư hỏng, tụi mình sẽ có việc làm hoài, khỏi thất nghiệp, khỏi đi kinh tế mới”. Năn nỉ gì, An cũng không nghe. Hữu phải giành tay lái hướng thuyền đi lại điểm hẹn trên biển Cần Giờ, vì sợ trễ hẹn, ghe nhỏ không thể chịu lâu trên biển sóng được.
 Thấy thế, Ngà đến bàn nhỏ với Hữu, thế nào một vài giờ nữa, đàng nào tụi nó cũng biết chuyện mình làm, thôi nói cho nó biết quách đi là hơn. Hữu bảo Mai dỗ nó, nếu không được rồi sẽ nói. Dỗ không được cuối cùng Mai phải nói. An vẫn không hợp tác, vào nằm ngửa bất mãn trong khoang. Ngà và Hiển lo dọn dẹp lưới dã. Lúc đến cách điểm hẹn vài trăm thước, trời đã tối hẳn, trăng đã lên lưng chừng trời, Hữu thấy một chiếc ghe nhỏ có hai càng chĩa ra phía trước như đi lưới xúc, tốc độ nhanh, rọi đèn pha chạy quanh vùng mà Hữu hẹn ráp nối với ghe nhỏ, như lục lạo cái gì mấy vòng rồi chạy biến đi nơi khác. May lúc ấy ghe nhỏ chưa ra đến đó. Thuyền Hữu đến nơi hẹn trễ mất 15 phút. Hữu cho thả neo, tắt máy và dọn cơm ăn tối, đồng thời đốt mấy bó nhang lớn trên thuyền để làm dấu hiệu cho ghe nhỏ nhìn thấy trong đêm.
Mọi người ngồi vào, ăn vừa xong một chén cơm, liền nghe văng vẳng xa xa tiếng “ro ro” máy xăng nổ. Tất cả bỏ dở bữa ăn ra chờ đón. Ghe nhỏ, nhờ gắn 2 máy, chạy nhanh, phóng qua gần hông thuyền lớn, nhấp nhô trên sóng trông như ngựa chạy. Biết là gặp nhau rồi, ghe nhỏ quanh trở lại cặp sát vào hông, ném dây qua. Hữu chụp giữ dây, mấy đứa nhỏ được Già Năm bế chuyển qua thuyền lớn. Đứa út được đặt ngồi ngơ một cục, như tượng gỗ. Còn những đứa lớn hơn tự leo qua. Hữu thấy có cả 2 đứa con trai lạ cũng đạp trên mui thuyền nhỏ bước qua. Việc chuyển người rất nhanh, trong khoảng chừng hơn 5 phút là xong. Ngà nhảy nhanh xuống hầm cho nổ máy. Tiếng máy nổ ào lên rộn rã như mừng rỡ việc ráp nối thành công. Mai lấy cốc cà phê sữa cho Già Năm đang đứng dưới ghe nhỏ uống. Xong đưa cho ông một số nhẫn vàng tính trị giá bằng số tiền công đã hứa còn chưa trả trước và tất cả số tiền Cộng Sản còn lại. Hữu định nếu An và Hiển không muốn đi thì có thể xuống ghe nhỏ về với Già Năm. Thấy đông vui, An và Hiển đổi ý, cùng đi với cả gia đình, với vẻ lo lắng không vui, không buồn. Cảm ơn, chào từ biệt Già Năm. Hữu buông dây, ghe nhỏ theo sóng tách ra xa. Hữu nhìn theo Già Năm đứng nhấp nhô trên sóng với lòng thương mến vô biên (Trước đó Hữu đã có lần rủ cả gia đình Già Năm cùng đi. Nhưng Già Năm nói chưa thể đi được vì lão đã hứa giúp một người bạn già khác trong một cuộc tương tự. Già Năm lúc đó đã 60, còn khỏe mạnh, từng rành đường sông biển, biết việc, biết đời. Hy vọng với chiếc thuyền nhỏ và các dụng cụ máy móc Hữu để lại cho ông, ông sẽ dù đi, dù ở vẫn có phương tiện khả dụng, mong sao lão có được một cuộc đời tốt đẹp hơn. Lòng Hữu vẫn mãi mãi ghi ơn và ước gì có ngày được gặp lại. Hữu nghĩ thế nào gia đình Già Năm về sau cũng đi được mà không biết ở phương trời nào).
 Hữu lên nắm tay lái, nhìn hải bàn tròng trành chỉ 180 độ, trực chỉ phương Nam, thuyền ngược gió Tây Nam ra khơi. Tiếng máy diesel nổ bùm bùm đều dặn, nhìn trước thấy sóng bổ vào mũi thuyền, trắng tung tóe, nhìn sau thấy một chiếc đuôi trắng xóa, càng xa càng tỏa rộng và mờ nhạt dưới ánh trăng. Giữa biển trời bao la, dưới trăng thanh, gió xuân lộng mát, Hữu thấy lòng mình phơi phới, nghĩ đời mình chưa có giây phút nào đắc chí hơn vì đã tổ chức ăn khớp một cuộc ráp nối xuống thuyền được thành công như vậy. Kiểm điểm lại số người trên thuyền, Hữu thấy thêm 2 người ngoài kế hoạch, đó là 2 thiếu niên con trai của Tùng. Kể như thành công hơn 100%. Hữu chúc mừng Tùng. Nhưng nghĩ cũng hú hồn, vì đông người ngồi tràn trên ghe nhỏ mà may khỏi bị Công An phát hiện chận bắt. Thuyền mang số 018 lại chở đúng 18 người tất cả, hai con số hên 9 nút, trùng hợp thật kỳ lạ.
Nhật Quang Phi Hồ