TRẦN THỊ DIỆU TÂM

Tiểu sử:
  

  Sinh tại Huế, học các trường Jeanne D’Arc, Đồng Khánh. Cử nhân Chính Trị Kinh Doanh Viện Đại Học Đà Lạt. Qua Pháp cùng với gia đình năm 1987.
Hiện định cư tại Pháp.

Những tác phẩm đã xuất bản:

 Người Về, 1992
(Nhà xuất bản Nam Á, Paris)
Rong biển, 1997 (tự xuất bản)
Phía bên kia mặt trăng, 2001
(Nhà xuất bản Văn Mới, Hoa Kỳ)
 Cầu ” Pont- Neuf “, 2008
(nhà xuất bản Văn Mới, Hoa Kỳ)
Những Mẫu Chuyện Đời
Kính mời quý vị bấm vào những tựa đề dưới đây để thưởng thức các tác phẩm của nhà văn Trần Thị Diệu  Tâm
Tìm Chốn Thanh Bình
Nhớ Ngày Di Tản
Chốn Cũ
Người Đàn Bà Giết Con
Thánh ca
Nhà Văn Nữ
Hột Soàn
Thiếu Nữ và Con Mắt Trái
  An Hiên Quán
                              Ngày tháng cũ
                                                  Ký Sự Trần Thị Diệu Tâm



Đang làm việc tại một cơ sở thuộc nhà sách Hachette, tôi đành bỏ ngang để làm nhà hàng với ông xã ở phố quận 13, Paris. Nghĩ rằng mở một cái tiệm ăn nhỏ tự đứng ra cai quản, coi bộ khỏe hơn đi làm nhân viên dưới quyền điều khiển của sếp đầm khó chịu .
  Chọn cái tên cho tiệm ăn giống như tìm đặt tên cho đứa con của mình. Chợt nhớ quê nhà quê mình có một biệt phủ xưa tên gọi An Hiên. Hiên là mái nhà, an là bình an. Ai mà chẳng mong có một mái nhà an bình để sông.
 Tôi không phải là người giỏi giang chi về bếp núc. Ở Việt Nam lúc đi học thì lo học chứ đâu để ý chi chuyện làm bếp. Khi lấy chồng thì có chị giúp việc nấu nướng ngon lành. Việc chi mà phải nhọc tay chân. Qua đây liều mình mở hàng ăn , quả thật mình có lá gan to của con ngỗng béo. Ở xứ sở này, nghề bếp núc nấu nướng lại là nghề có giá trị . Tìm được một người bếp giỏi không phải là chuyện dễ dàng. Tôi phải biến thành nhà bếp, bếp chính. Như thế mình không phải phụ thuộc vào bất cứ bếp chính nào. Chủ nhà hàng sợ nhất là khi quý vị bếp chính se mình nghỉ việc.
Quán ăn nhỏ đủ cho hai vợ chổng và một người phụ bếp. Cuối tuần khách đông có con gái nghỉ học ra phụ, hạn chế phí tổn tối đa may ra mới sống nổi ở xứ Xã Hội khó khăn này. Nghĩ bụng mấy năm học “Quản trị xí nghiệp” ở Đàlạt bộ không quản trị nổi cái quán ăn bé nhỏ này sao. Thật ra nhỏ hay lớn  đều cần  phải biết cân bằng chi thu, làm nhà hàng phải cần có số thu ít nhất hơn gấp 4 lần số chi, để có thể trang trải gánh nặng về thuế má.Nếu may ra số thu có tỉ lệ cao hơn nữa mới mong có lời.  Một bài tính không dễ thực hiện với một người lơ mơ và ít tiền là tôi.
 An Hiên có địa chỉ ngay quận 13, nơi này mọi thứ vật liệu Á Đông đều có người cung cấp đưa tận nơi, chỉ cần đặt hàng qua điện thoại. Nhà tôi có khá nhiều bạn hữu quen biết xưa nay, họ đến ủng hộ khá đông. Không những khách Ta mà có cả khách Tây. Anh ấy đứng két thu tiền, vừa có tiền lại vừa gặp bạn đến chơi mỗi ngày, nên vui lắm . Đa số khách Việt ta đều trả tiền mặt. Tôi rất thích, vì được chạm, sờ và đếm, vui hơn là nhìn những con số qua chi phiếu. Đúng là nhà quê thực tình. Nhưng số tiền giấy đó không phải thuộc về chúng tôi đâu, mà thuộc về thuế má chi phí phải thanh toán .Chuyện tiền bạc bỗng dưng trở thành gánh nặng lo lắng mỗi ngày.
 Để cảm thấy cuộc sống nhẹ nhàng hơn, tôi thường vẽ vời trong trí tưởng một cuộc đời khác bên lề, nó đi song song với cuộc đời đầy mắm muối này. Đó là sáng tạo các nhân vật truyện của mình. Trong lúc nấu nướng với bếp lửa xanh phừng phực cao độ, tôi ước chi được phút giây rảnh rổi, tiếp tục viết tiếp câu nói trong câu chuyện ngắn dở dang. Không ai ngờ rằng thời gian làm bếp là thời gian tôi mê viết nhất, viết nhanh và viết gọn. Có lẻ viết là một cách thoát ra đời sống thường nhật với những tính toán tiền bạc vật chất, để đến với thế giới khác của riêng mình, cùng đem theo đôi điều suy nghĩ không thể nói ra trong cuộc đời thường. 
Nếu cho rằng viết văn là một nghệ thuật, thì nấu bếp cũng là nghệ thuật vậy. Một bên là sản xuất món ăn  cho cơ thể, một bên là sản xuất món ăn cho trí tuệ. Món nào cũng thấy cần thiết cho đời. Muốn nấu món ăn ngon, điều quan trọng là nêm nếm gia vị. Muốn viết hay cũng cần gia giảm tình tiết chữ nghĩa. Cả hai loại nghệ thuật này đều cần sự tận tâm tận tình. Một người bạn đến chơi nói đùa “ nhà văn bây giờ trở thành nhà ăn”. Tôi chẳng phải nhà văn mà cũng chẳng phải nhà ăn, chỉ là mảnh ván cho tôi bám vào  trôi nổi trên biển động trăm năm này.
 Và hình như cái nhà vững chắc hơn cả đó là Nhà Tôi.
Điều làm cho hai vợ chồng chúng tôi phấn khởi làm việc là sự lui tới thường xuyên của thân hữu thuộc nhiều giới khác nhau. Những người ở xa ghé đến ăn không chỉ vì món ăn mà còn là dịp gặp gỡ . Nhà Tôi là người dạy học ở Saigon, Đàlạt, do đó học trò cũ khá đông. Có học trò cũ mắt ứa lệ khi thấy ông thầy giáo mình ngưỡng mộ  năm xưa, nay vất vả kiếm sống nơi quê người. Nhưng làm viêc tốt hơn thất nghiệp xin trợ cấp, trả lời đơn giản. Chúng tôi là những người không hề có mặc cảm, trước kia không tự tôn, nay không tự ti.
Người ta cho rằng quán ăn của chúng tôi là quán ăn nghệ sĩ, cũng đúng. Đa số người có “tâm hồn nghệ sĩ” thích đến đây, ăn xong thêm một tách cà-phê, có thể ngồi chuyện trò cà kê đến chiều với ông chủ quán. Những vị nào độc thân hay gần như độc thân (vì một lý do nào đó không tiện nói ra) thường đến vào buổi tối ít bận rộn hơn, và chúng tôi xin họ ngồi gần nhau để cùng ăn bữa cơm chung như trong một nhà. Như thế giá vừa rẻ cho mỗi người mà tiện cho việc nấu nướng. Vì đứng bếp vào buổi tối , tôi và anh phụ bếp cũng đều oải lắm rồi.
Từ lúc mở An Hiên quán, trong không gian nhỏ bé, chúng tôi được tiếp xúc khá nhiều nhân vật, những vị lãnh đạo cao cấp của quân đội, những nhân vật chính trị, những người giàu có của thời VNCH. Xưa kia dễ dầu gì chúng tôi được diện kiến họ. Những người Bên Ni, Bên Nớ khi đến Paris đều có lần đến “diện kiến” An Hiên !
Cô đầm lai TinTao (giống tên của một loại bia tàu), rất dễ mến thường đưa những bạn bè Pháp đến, có khi là một tác giả cuốn sách nổi tiếng, hay một đạo diễn xi-nê đi tìm vai diễn Á Đông cho phim. Có khi cô  đưa một anh đàn ông hào phóng chịu chi cho chai rượu đắt tiền. Cô có duyên nói năng dịu dàng. Buổi tối, trong ánh đèn lung linh, người ta dễ dàng tâm sự đôi ba điều tình cảm. Những quán ăn ở xứ này đều có chung một khung cảnh ánh sáng trữ tình buổi tối. Có mấy lần Cô Tintao đưa bà Monique, vợ cuối của Hoàng Đế Bảo Đại đến ăn. Sau khi vua chồng mất, bà Monique thấy gầy ốm. Tôi hỏi sao lúc này bà gầy. Bà trả lời rằng ” buồn vì chồng mới mất”. Nhưng rồi bà đến hỏi riêng Nhà Tôi ” trong tương lai, khi nào tôi có thể có chồng khác ? ” ! Bà tặng tôi một tấm hình bà chụp cùng ông Bảo Đại. Tôi cất vào album. Dù sao bà này cũng là một chỗ dựa cuối đời của một vì vua nước tôi. Trước đây hoàng tộc cũng gửi cho chúng tôi một tấm hình của Vua với hoàng hậu Nam Phương rất đẹp chụp thời còn vương triều ở Huế. Tôi luôn mong muốn giữ mãi trong lòng sự cung kính đối với hoàng đế, nên đã từ chối lời đề nghị của một người  quen, muốn tổ chức bữa ăn món Huế mời Ngài ngự ở An Hiên Quán. Nghĩ rằng khung cảnh quán không đủ sang trọng xứng đáng mời Ngài.
Chị Bích Hồng có ông chồng về ở Việt Nam, mỗi năm chỉ trở lại Pháp một lần để khai báo thuế má.  Cũng xem chị như sống độc thân. Chị thường đến ăn buổi tối, và ở lại cho đến 11 giờ đóng cửa tiệm, chúng tôi đưa xe chị về luôn vì tiện đường. Chị đi du học Pháp từ lâu, gia đình rất giàu có xưa kia ở thành phố Đà Nẵng. Chị là người căn cơ có nhà cao cửa rộng, và thích đầu tư vào nhà cửa.  Có một hai ông khách độc thân muốn ngắm nghé chị , nhưng chị dững dưng. Chị nói “chán đàn ông”. Chồng chị về Việt Nam có nhân tình. Một hôm chị bắt được lá thư của cô bồ viết đòi hỏi chồng chị phải thế này thế nọ. Chị bèn đem lá thư sao photocopy, thuê tủ sắt ở ngân hàng để lưu trữ. Chị nói sau này ly dị, chị có bằng chứng tố cáo chồng có lỗi. Chị là người tính toán tiền bạc rất giỏi, tôi thường hỏi han chị nhiều điều không biết. Vì cùng giọng nói, lại là người dễ chịu, chị cần có bạn, tôi cũng vậy. Để giải khuây, chúng tôi thường đảo qua các phố phường Paris thượng vàng hạ cám lúc rổi  rảnh.
Sau thời gian sang bán quán ăn năm 2000, tôi ít gặp chị. Rồi chị gọi điện thoại hỏi tôi có thể cho chị ở tạm một phòng trong nhà được không. Tôi ngạc nhiên, mời chị đến chơi ở lại ăn cơm trưa, nhưng không thể làm theo đề nghị. Chị nói rằng chị rất đau, tôi thật thà hỏi chị đau gì, đau ở đâu ? Chị khóc trả lời  “sợ cô đơn và không muốn sống một mình”. 
Không biết vì buồn chuyện tình hay buồn chuyện tiền, nói chung là buồn chuyện đời, chị Bích Hồng đã tìm đến cái chết một cách quyết liệt không chút luyến lưu. Và bức thư chị lưu giữ trong cốp nhà băng nay không còn hữu dụng.
 Một vị khách quen thuộc khác, chúng tôi thường gọi bác Bửu, bác lớn tuổi du học Pháp từ rất lâu, sau khi thành tài về nước giữ chức vụ giám đốc đầu tiên của “Trung Tâm Quốc Gia Điện Ảnh VN”. Người vợ của bác là chị ruột của bà Ngô Bá Thành, chủ tịch ” Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống”, nổi đình đám chống đối chính quyền thời tổng thống Nguyễn văn Thiệu. Bác giận vợ chi đó, thuê nhà ở riêng tại phố quận 13, vậy là bác độc thân như ai. Bác xem An Hiên như một nơi chốn tìm về không khí ấm cúng, thân tình để hàn huyên những mẫu chuyện đời lý sự. Có chuyện chi vui buồn bác cũng kể cho chúng tôi nghe. Bác đề nghị trả trước hằng tháng số tiền ăn mỗi ngày, nhưng tôi từ chối.  Bác hay kể chuyện xưa, cho biết có mấy cô ca sĩ nổi danh đã qua tay bác. Bác cao lớn, làm giám trung tâm điện ảnh, thiếu gì cô muốn ngã vào lòng. Thỉnh thoảng bác kể về mối tình cũ xa xưa, tôi nhớ nhất là : ” Thời trẻ ở Huế, có nhiều buổi chiều tui phải bơi dọc trên dòng sông Hương, chỉ để ôm lấy đôi bàn chân của một mỹ nhân đang ngồi đong đưa bên bến sông vắng người “. Chao ơi là tình. Tôi hỏi bác thế chắc chắn là phải hẹn hò trước chứ. Bác trà lời: Thì cũng có, nhưng thành thói quen, hai người ai cũng muốn gặp gỡ như rứa mỗi chiều “.
 Nhà tôi cứ nhớ mãi và lạ lùng cho cuộc hẹn hò trên sông nước này, cho rằng chỉ có thể xảy ra ở cái xứ lãng mạn Huế mà thôi. Tuy chưa bao giờ về thăm quê vợ, nhưng anh ấy  thuộc hầu hết các tên tuổi  giai nhân quê tôi, và cho rằng không ở đâu các cô gái có những cái tên đẹp và kỳ lạ như xứ Huế.   
 Sau thời gian không còn An Hiên nữa, bác Bửu ra đi về bên kia, nơi đó, linh hồn bác không còn chơi vơi giữa khoảng đời chập choạng tuổi già cô quạnh.  Một ý kiến cho rằng nếu An Hiên còn, có lẻ bác hay chị BH  không ra đi vội như thế. Có những nguyên nhân không đâu lại đưa người ta đến cái chết bất ngờ.
 Một hôm buổi tối trời mưa buồn, vắng khách , bỗng một vị khách ăn xong về nhà đem cây đàn guitar đến, vừa đàn vừa hát “La paloma”, chao ơi nghe mà lòng rưng rưng. Ông khách Tây bàn bên kia  thích thú vỗ tay khen ngợi.
Chúng tôi nhớ đến nhà văn Duyên Anh mỗi lần từ Mỹ vể, ông kéo lê chiếc vali nhỏ vào quán ăn uống trước khi về nhà. Dù tay bị liệt, sức khỏe yếu  sau vụ bị hành hung ở bên đó, nhưng ông vẫn luôn vui sống xem nhẹ mọi chuyện. Tay phải liệt, ông viết tay trái thành thạo. Làm nhà văn ở bên nhà xưa kia rất được chú ý quý trọng, nhất là những người nổi tiếng. Họ đi đâu cũng được chú ý theo dõi. Có lần ông Duyên Anh vào quán ngồi ăn, tôi giới thiệu cho một thực khách về ông. Anh ta trả lời : “Tôi không biết ông ấy là ai” nên không đến chào hỏi. Nhà văn bèn tỏ ý thắc mắc, tại sao lại có một người Việt không biết đến mình, tên tuổi Duyên Anh.
An Hiên cũng từng tiếp đón các tên tuổi khác trong văn học nước nhà khi đến Paris. Chị Thụy Khuê (nhà phê bình văn học) có mấy lần đưa Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp đến ăn cơm tối, hai nhà văn này đã làm dậy sóng một thời trong xã hội văn học VN. Nhà văn NHT có nét mặt khắc khổ rắn rỏi, nước da ngăm như dân tộc miền núi. Tôi khoái  truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chữ nghĩa trần trụi, và ác. Đọc chân thiện mỹ hoài chán, đọc cái ác cái xấu thấy hay, vì xã hội luôn tồn tại xấu ác. Viết thiện dễ, viết xấu ác mới khó.
 Nhà thơ Cù Huy Cận, tác giả của Tràng Giang, Sóng gợn Tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song/ Thuyền về nước lại sầu trăm ngã/ Củi một cành khô lạc mấy dòng . Các câu thơ tôi thuộc nằm lòng lúc còn bậc trung học. Ông đi Paris cùng với phái đoàn, đến An Hiên ăn cơm tối. Ông gọi hai món ăn với nhiều thịt.  Trong lúc mọi người trong đoàn chuyện trò râm ran, ông rất lặng lẽ, rất chú tâm vào món ăn không nói một lời nào. Ông ăn đến hết cọng rau cuối cùng phần mình, trong khi người khác bỏ lại vì quá no nê . Ông có dáng mập mạp hơn người, nên chuyện ăn nhiều là tốt là phải cách. Nhưng sao tôi cảm thấy thất vọng quá. Còn đâu hình ảnh cô liêu củi một cành khô lạc mấy dòng.
Vào một mùa thu năm nào, nhà soạn nhạc Tôn Thất Tiết, người sáng lập Hiệp Hội Âm Nhạc Pháp- Việt đến gặp chúng tôi, cho biết sắp đưa một đoàn văn công và ca nương sang trình diễn “Nhã Nhạc Cung Đình Huế”, đề nghị giá tiền tối thiểu bữa ăn cho khoảng 20 người trong thời gian ở tại Paris. Ông cho biết vì ngân sách khiêm tốn, nên phải tiết kiệm tối đa. Nặng tình với quê nghèo, tôi bằng lòng với giá ông đề nghị. Ông Tôn Thất Tiết là người soạn nhạc nền cho các phim của đạo diễn Trần Anh Hùng (Mùi đu đủ xanh, Xích Lô, Mùa Hè Chiều Thẳng Đứng ).                
 Ông là người có tâm huyết phục hồi cho nhạc dân tộc truyền thống  mà chính quyền trong nước bỏ quên không đoái hoải tới. Sau khi trình diễn một vòng qua  các nước Âu Châu, đoàn về Paris. Tôi có tham dự một buổi, khán phòng đông nghẹt, đa số là tây đầm bản xứ. Khi nghe và nhìn thấy những bản dân ca cổ truyền và điệu nhạc xưa quê mình, lòng tôi nức nở. Nước mắt cứ chảy dài trong bóng tối. Sau mỗi màn kết thúc, tất cả khán thính giả đều đứng dậy vỗ tay vang dội không dứt. Bên cạnh chỗ tôi, một cặp vợ chồng người Pháp luôn miệng khen ngợi, cho thấy họ rất trân trọng yêu quý giá trị cổ nhạc Việt Nam. Không như người Việt trong nước, rất thờ ơ giá trị ấy của dân tộc.
Buổi tối mùa thu khá lạnh, đoàn đến ăn cơm nóng với  món cá kho, canh rau cải, ai nấy suýt soa. Bao ngày qua đi trình diễn các nước Âu Châu, bữa nay mới được ăn bữa cơm quê nhà. Chúng tôi hỏi thăm tin tức chuyện trò. Chị ca nương Thanh Tâm lấy trong xắc một hủ mắm ruốc Huế trộn với cơm ăn cho đậm đà mặn miệng. Chị nói đi đâu tui cũng đem theo hủ mắm ni. Có hôm tôi đề nghị đổi món, ăn bánh mì với thịt nguội Pháp, ai nấy đều lắc đầu. Thấy mấy nhạc công lớn tuổi co ro, chúng tôi về nhà kiếm áo len dạ đem biếu mặc cho ấm, chứ tiền đâu sắm nổi áo quần ở đây. Họ sẽ đem về dùng tại xứ sở suốt đời mưa lạnh. Mấy anh nhạc công trẻ tuổi ăn xong ra ngoài ngồi kiểu “nước lụt” trước quán, miệng hút thuốc lá phì phèo. Báo hại mấy ông Tây cảnh sát đi ngang qua tưởng có chuyện gì không ổn, định biểu tình chăng. Chúng tôi kéo họ vào gấp, một anh nói trọ trẹ: chi mô mà sợ.  Có lẻ đấy là lần duy nhất họ được ra nước ngoài trình diễn. Sau này không nghe nói đến nữa.
 Nguồn thực khách đến thường xuyên hằng ngày là giới tài xế taxi, vì trước quán là parking của taxi, đa số người Việt. Họ thích những món ăn ít dầu mỡ, và cùng nhau chuyện trò về công việc. Chúng tôi xem họ nhữ những người thân gia đình, nên các bữa cơm thắm thiết hơn ( sau này khi chúng tôi bán cửa tiệm, gặp chúng tôi họ cứ tiếc và nhớ các món ăn của An Hiên, mong chúng tôi mở lại nơi khác, có anh nói nếu cần vốn thêm họ sẻ góp phần vào, vài người khác cũng muốn ủng hộ như vậy.)
Ngoài thực khách Việt, còn những khách Tây bản xứ. Những người Pháp có gia đình ông bà xưa kia đã một thời sống tại Viêt Nam, từng yêu mến nước non Việt. Các con cháu từng được nghe kể lại thời vang bóng vàng son ấy. Yêu mến đất nước Việt và yêu luôn món ăn Việt. Một buổi sáng vừa mở cửa , một anh Tây da đen vào, tôi nói nhỏ với phụ bếp :Sáng nay chưa chi mà thấy đen rồi. Tức thời, anh ta quay lại nói tiếng Việt : Đen nhưng ăn cũng trả tiền! Tôi vội vàng cười giả lã, tỏ vẻ thân thiện hỏi thăm: Sao anh nói tiếng Việt giỏi quá vậy? Trả lời: Tôi sinh tại Saigon trước đây, qua Pháp theo diện con lai. Anh ta thường dẫn các bạn da màu đến ăn cơm Việt, ( nên nói da màu cho tế nhị hơn, mình không kỳ thị chủng tộc).
Nói về tiệm ăn mà không nói về món ăn là vô cùng thiếu sót. Mấy món tôi chú tâm thực hành là những món bình dân quê nhà: Bún bò Huế, bánh Bèo, bánh Nậm và bánh Bột Lọc. Đặc biệt món bành bèo, tôi không muốn khiêm tốn, vì đó là món được nhiều người hâm mộ. Bánh được làm theo lối cổ truyền công phu, mỏng tang trong bóng,  sắp đều đặn trên dĩa, điểm xuyết một lượt tôm tươi giã nhuyễn hồng nhạt, thêm chút hành lá xanh và tóp mỡ vàng óng. Khách ăn một lại muốn ăn hai. Bánh Nậm  hay bánh bột Lọc đều được gói với lá chuối tươi chứ không gói bằng giấy nylon . Những loại bánh này do cô con gái út làm ở nhà đem ra tiệm . Cô bé khéo tay làm rất nhanh và gọn gàng. Món bún bò cũng thường được thực khách gọi tên.
Chúng tôi cũng chú ý một bà khách lớn tớn tuổi thường đến tiệm một mình, chỉ luôn gọi ăn món Bún Bò Huế, bà người miền Bắc có dáng quý phải. Nhà Tôi cho biết đó là phu nhân của ông Trịnh Xuân Ngạn, vị chánh án của Tối Cao Pháp Viện thời VNCH, và là thân mẫu của học giả về vật lý thiên văn Trịnh Xuân Thuận  nổi tiếng trong lãnh vực này. Sau thời gian đến thường xuyên bỗng không thấy nữa, nghe nói bà đã mất. Kể ra như thế cho thấy rằng cái món bún bò Huế của An Hiên Quán cũng không tệ.  
 Có hôm chúng tôi vừa đỗ xe xong vào mở cửa, thấy một ông khách đứng chờ. Tôi cho biết tiệm chưa đến giờ mở cửa đón khách. Ông nói :Tôi từ xa đến đây, thôi chốc nữa tôi ghé lại. Sau đó, ông vào ăn bún bò Huế. Vị khách đến sớm này hỏi : “Đây có phải là quán của nhà văn TTDT không ? Tôi muốn gặp”. Khi nghe đến tên mình dưới cái vỏ bọc nhà văn, tôi rất e dè, nhất là lúc mình đầy gia vị tiêu hành mắm muối tỏi ớt cay nồng. Hình ảnh thực tế này chẳng có chút nào thơ mộng, chẳng có chút gì bay bỗng trên nền trời văn chương nghệ thuật cả. Nhất là dưới cái nhìn của một độc giả từ phương xa tới. Ông nói chuyện cho biết là độc giả ở đâu đó bên xứ Hoa Kỳ, tôi nghe mà ái ngại, tôi chỉ Dạ, rồi vô bếp làm việc. Hiện giờ mình là nhà bếp chứ không ai khác. Có lẻ thất vọng, ông một đi không trở lại.
 Một người khách đăc biệt, chúng tôi rất yêu mến, đó là giai nhân xứ Huế có cái tên gợi cảm Diệm My. Người đẹp này thường đến ăn cơm tối sau buổi chiều đi làm về ở cơ sở thuộc bộ Ngoại Giao. My là thiếu nữ có vẻ đẹp rất thanh tú, dáng dấp thanh nhã, là một nhan sắc tôi rất ngưỡng mộ lúc nàng học cùng trường Đồng Khánh, dưới tôi hai lớp. Sắc đẹp của một mỹ nhân không thể dùng những chữ tầm thường diễn tả. Ta chỉ nên cảm nhận, chiêm ngưỡng. Nàng là người thiếu nữ mà Nhà Tôi nhớ mãi, dù anh chỉ  được thấy một lần ở Saigon trong hiệu sách Khai Trí trên đường Lê Lợi.
 Bây giờ My là khách thường xuyên của An Hiên, tha hồ ngắm giai nhân. Mỗi tối đến ăn, nàng đều có một chút quà để dành cho chúng tôi như một nhánh hoa, vài cây bút chì mới, hay một thứ lặt vặt nào đó, thật dễ thương. Trong ánh đèn lung linh của tiệm ăn, nhan sắc nàng khiến cô đầm ngồi bàn bên cạnh đã suýt soa khen ngợi. Buổi tối sau khi ăn xong, My trở về nhà với xe bus gần tiệm, nhiều tối trời đổ tuyết lạnh, tôi e ngại cho nàng. Một vị khách quen biết xin đưa nàng về bằng xe hơi. Nhưng nàng từ chối. My là một người không dễ tính . Nhìn dáng người đẹp lầm lủi bước trong đêm lạnh, thực tình chúng tôi rất thương cảm.
Họa sĩ Trịnh Cung ngồi ăn kể lại: Thời trẻ tuổi lúc ở Huế, hôm đó, khi bắt gặp nàng lúc tan trường, tui đã hấp tấp dựng chiếc xe đạp bên bờ tường (quên không khóa ) để nối gót theo sau nhìn bóng giai nhân. Sau khi nàng vào nhà, tui trở lui lấy xe thì xe đã biến đâu mất, khổ thân tui, chiếc xe đó tui đi mượn của bạn mà!
Một chị bạn có lần kể, chị vào thăm một anh bạn nằm bệnh viện vì cơn bệnh Alzheimer giai đoạn cuối. Chị hỏi ” Anh nhớ tôi là ai không ?” Anh bạn nhìn chị một hồi bèn thốt lên : “Diệm My”. Trong bóng đêm đen của căn bệnh mất trí nhớ, não bộ của người đàn ông này lại biết gìn giữ bóng hình và tên của một mỹ nhân. Nghe nói dạo nàng ở Paris du học, các anh sinh viên Việt rất đỗi ngưỡng mộ nàng. Ngưỡng mộ, nhưng khó ai thân thiết được nàng. Một lần lấy chồng một lần ly dị dỡ dang. Tôi chợt nghĩ e nàng là một tiên nữ trên cõi trời cao, vì một phút lầm lỡ, bị Ngọc Hoàng Thượng Đế đày xuống trần gian này. Do đó, đôi lúc thấy nàng chợt vui chợt buồn, đôi mắt đen huyền nhìn về cõi xa xăm nào, như nhớ nhung chốn thiên tiên của mình đã đánh mất. Ôi những người sống lẻ loi một mình…
Có một chuyện, nhớ lại mà cười. Một cặp vợ chồng trẻ quen vói con gái chúng tôi đến ăn cơm tối, cô vợ đến chào nhà tôi. Ông chủ quán tỏ ra thân thiện hỏi thăm sao lâu nay ít thấy, dạo trước hai cháu đến ăn luôn. Cô vợ trả lời ngay: Cháu mới đến đây lần này là lần đầu. Sau đó con gái cho biết anh chồng gọi điện kể lể sự tình : Khi về nhà họ gây gỗ nhau, vợ truy cho ra chồng đã dẫn ai nhiều lần đến quán An Hiên? Rồi con gái dặn bố: Ai đi với ai mặc kệ người ta, mấy lần trước anh đó dẫn cô bạn gái đến ăn, nay dẫn cô vợ thì cũng mặc, cốt giữ lấy khách. Ông nhà tôi nói tĩnh bơ: Tao làm sao phân biệt được đứa nào là bồ đứa nào là vợ, lắm chuyện ! An Hiên không còn thấy họ đến nữa, người chồng, cô bạn gái và cô vợ.
Có một câu chuyện có vẻ hi hữu nhưng lại xảy ra tại An Hiên Quán. Đó là cuộc gặp mặt của nhà văn Vũ Thư Hiên, tác giả của tác phẩm nổi danh Đêm Giữa Ban Ngày xuất bản năm 1997. Sau khi ông Vũ Thư Hiên được định cư tại Pháp, ông cũng có nhiều dịp đến quán, và ông đã gặp bà Diệm Song, bà là vợ của ông Tôn Thất Tần. Ông Tôn Thất Tần là một bạn tù lâu năm của ông Vũ Thư Hiên ở trại tù Tân Lập miền Bắc. Đó là một người sống suốt 1/4 thế kỷ trong bóng tối trại giam. Trang 515 của tác phẩm Đêm Giữa Ban Ngày, tác giả kể lại cụ Tôn Thất Tần là một người tù già nua nhất của trạị, cụ bị bắt vào năm 1946 ở Phan Thiết vì rải truyền đơn chống đối Hiệp Ước của Hồ Chí Minh, và bị đưa ra Bắc. Cụ ở chung phòng giam với ông Vũ Thư Hiên. Cụ Tôn Thất Tần bị giam lâu  vì không ai còn biết cụ có tội gì để xét xử, vả lại cụ không có thân nhân gia đình ở ngoài Bắc, nên cụ xem nhà tù như một nơi chốn nương thân suốt đời mình. Sau năm 1975, cụ Tôn Thất Tần tìm cách liên lạc với gia đình cô con gái ở Sàigòn và cụ được tha về Nam. Xin nói thêm con gái cụ là Tôn Nữ G.T vợ của nhà thơ Trần Mạnh Hảo.
 Bác Diệm Song sau đó có gia đình khác, và định cư tại Paris. Ông Vũ Thư Hiện gặp mặt bác  tại An Hiên quán đôi ba lần. Bác Bửu có lần cho biết: Bà Diệm Song xưa có đôi mắt huyền đẹp lắm. Quý danh Diệm Song nhăc nhở nét thanh nhã của Huế xưa.. Bác Diệm Song mất sau khi Quán An Hiên không còn trên đại lộ Masséna quận Paris 13.
Đến năm 2000, vào một mùa hè, chúng tôi đi ăn đám cưới ở ngoại ô xa Paris. Tai nạn xảy ra bất ngờ trên con đường đến lâu đài đám cưới, khiến tôi phải nằm nhà ba tháng liền. Xương vai, xương sườn gãy tuốt luốt. Nếu cái xe cam nhông kia tông mạnh hơn một chút, một chút thôi, có thể cột sống sẽ bị gãy đôi, hay tôi phải chết ngay trên ghế xe bên phải. Nằm bất động trên giường suốt thòi gian ấy, tôi mới ngộ rằng chết và sống liền kề nhau trong một tích tắc đồng hồ. Vậy chuyện chi mình phải lo toan cho cuộc đời này ? Hãy rủ bỏ hết mọi thứ ràng buộc.
Thứ ràng buộc lớn nhất hiện tại của chúng tôi là cái quán nhỏ này. Đấy là huyết mạch làm ăn buôn bán kiếm sống. Nhưng giờ đây, tiền bạc cũng chẳng có giá trị gì trước hố đen thăm thẳm của cái chết. Mỗi tối sau khi nuốt trọn mấy viên thuốc giảm đau chứa chất morphin, tôi chìm vào cơn mê. Trong đó nhiều lần tôi thấy những người thân gia đình chết từ rất lâu, đến bên giường lay tôi thức dậy, bảo tôi đi theo họ. Tôi có vùng vẫy thoát thân. Tỉnh dậy mới biết mình còn sống.
 Kề cận với “La mort”, tôi chẳng còn thiết tha chi với  chốn bụi hồng này nữa. Vì chết là hết, khỏe ru, đơn giản. Ham chi nữa !
Cảm thán chuyện tai nạn, tôi kể lể sự tình qua bài “Còn lại với đời” như đôi lời tâm sự cho chính mình. Chúa hay Phật đều là nguồn an ủi tôi trên giường bệnh. Và trong lúc thấy được cái phận người mong manh bé nhỏ, tôi quyêt định bán tiệm. Đó là một cú sốc đối với Nhà Tôi, và là cú sốc của bạn bè thân hữu. Bảng hiệu An Hiên biến mất không một lời giã biệt.
 Sau khi thoát gánh nặng trên vai, tôi bình tĩnh sống thảnh thơi, như luôn chờ đợi một ngày ra đi. Có thời gian nhìn lại cuộc sống gia đình với các con các cháu. Riêng tôi có thời gian đọc sách báo tin tức TV. Thời gian này, qua sự giới thiệu, ông Nguyễn Thanh Hoàng( Hồ Anh), chủ nhiệm tờ Văn Nghệ Tiền Phong” đề nghị tôi viết “Lá Thư Ba Lê”, mỗi tháng hai kỳ gửi qua Mỹ. Đây là một tờ báo gây nhiều tranh cãi nhất tại hải ngoại vào thời kỳ có bỉnh bút Lê Triết. Trong thời gian viết báo, vì phải đọc tin hằng ngày qua báo chí Pháp để viết sang tiếng Việt, nên quá bận bịu theo dõi thời sự. Quên bén mất những suy nghĩ về những dự tính viết riêng cho mình. Tôi để mất khoảng thời gian dài nhiều năm mà không “dzăn” ra một câu chuyện lãng mạn nào.
An Hiên Quán là một miền không gian chứa đựng nhiều kỷ niệm của chúng tôi, trong đó biết bao khuôn mặt, biết bao nhân vật nay còn nay mất. Dù không nhắc đến trên khuôn giấy hạn hẹp, nhưng chúng tôi luôn ghi nhớ họ, từng người một, hiện diện trong miền ký ức xa xăm  thương nhớ ấy.
Người ta thường nói rằng thời gian đi mất không bao giờ trở lại, nhưng với tôi, thời gian không mất, vẫn luôn ở với chúng ta.
 Trần Thị Diệu Tâm
Paris, tiết Sương Giáng, 2019.
Bóng Cha
Trần Thị Diệu Tâm
Từ lúc bắt đầu biết nói, hình như tôi không biết gọi tiếng ” Cha ơi” như các đứa trẻ khác . Tôi chỉ thấy và biết mỗi mình mẹ tôi, vì thế tôi từng cho rằng mình được sinh ra đời do chỉ một người là mẹ.

Lớn lên bất đầu đi học chữ, tôi nghe mẹ nói “Con cũng có một người cha”. Điều này làm tôi ngạc nhiên áy náy vô cùng, nó làm thay đổi thói quen suy nghĩ lâu nay. Tôi luôn hỏi “Cha là ai hở mẹ ?” Câu hỏi của một đứa con nít đơn sơ như vậy, nhưng sao mẹ không trả lời được, mẹ nói lấp lững :” Cha đi rồi “.
Tôi thấy càng khó hiểu thêm, cha đi rồi có nghĩa là đi mất là chết. Sau đó mẹ không hề nhắc nhở đến cha nữa. Nhưng bà nội thì hay kể về cha. Bà nói: “Cha mi là người hay chữ”.
Tôi vụt hỏi: “Cha ở đâu hở bà ?”
Bà trả lời “Chắc cha mi còn sống “
Câu trả lời của bà cũng như của mẹ làm tôi ấm ức, vì cả hai đều không trả lời rõ ràng về người đàn ông có tên gọi là Cha, hoặc là tôi chưa đủ thông minh để hiểu. Có mấy hôm liền, tối nào nằm ngủ đến nửa khuya, mẹ cứ hay thức dậy đi tiểu. Ngủ với mẹ quen hơi ấm, nên khi cảm thấy lạnh tôi biết mẹ không còn nằm bên nữa, tôi tỉnh ngủ. Căn nhà vẫn tối om, sao mẹ không thắp đèn cho sáng. Tôi nằm im tai lắng nghe tiếng động từ nhà bếp chen lẫn tiếng người nào đó đang nói chuyện . Tiếng chén bát lạch cạch rồi im lặng. Tôi nghe tiếng cửa bếp đóng lại, mẹ trở về giường ngủ, tôi thấy ấm lại. Những lần như thế tôi cố nhắm mắt thật kín tỏ cho biết là mình đang ngủ say không biết gì cả.
Nhưng sáng hôm sau tôi dậy sớm xuống bếp ngay, những mo cơm trắng tối hôm qua mẹ gói đã biến mất, cả nồi khoai lang luộc hết, chỉ chừa hai củ nhỏ dành cho tôi ăn buổi sáng đi học. Vừa sợ vừa tức tối, vì tưởng hôm nay mình được ăn cơm bới mo cau với muối sả thơm nồng cả mũi chiều qua. Lâu nay bà chỉ nấu cơm độn với sắn khô ăn nghẹn cả cổ, chỉ mong được nhai miếng cơm mềm dẻo, không sắn không khoai không bắp lổn nhổn trong miệng. Thế mà tối hôm qua mẹ cả gan đem cho người ta hết các mo cơm trắng, hết cả lon muối sả . Tôi nghẹt thở, nước mắt chực trào ra. Nhưng tôi nào dám mở miệng hỏi ai.
Người đến trong đêm tối là bóng đen bí ẩn, huyền hoặc kỳ bí không thể nào giải thích trong tuổi thơ tôi.
Có lần mẹ cho tôi mấy cuốn vở tập viết có in hình ba cô gái Trung Nam Bắc ở ngoài bìa, lại căn dặn đừng đem đến trường. Vì lời dặn dò đó mà tôi đâm ra tò mò hơn, một hôm tôi đưa cao mấy trang giấy vở ra nắng , thấy liền hình tròn trắng mờ in hai chữ VM. Tôi vừa sợ vừa thích thú vì phát giác điều bí ẩn đó . Tôi biết VM là Việt Minh, là những người bí mật. Tôi thấy mình gần gủi với mẹ trong bí mật đó. Những hôm trời mưa lạnh, mẹ cho tôi ở nhà tập viết. Thay vì tập viết chữ, tôi thích vẽ hơn. Bức hình đầu tiên vẽ, mẹ khen đẹp đó là hình một đứa bé là tôi đang cầm sợi giây diều, người đàn bà đứng cạnh là mẹ, người đứng xa là bà nội. Mẹ, tôi tô màu xanh, bà, tôi tô màu lá chuối khô. Mẹ bỗng dưng nói :” Còn thiếu một người, nếu con vẽ được thì mẹ cho tiền mua bong bóng thổi”.
Suy nghĩ mãi tôi mới tưởng tượng ra thêm một người.
Người ấy ở trong ký ức của bà tôi, đó là người hay chữ.
Tôi vẽ một người có tay cầm cán bút to, cái đầu không có tóc.
Mẹ hỏi ” con vẽ ai đó ?”
Tôi trả lời ” đó là con của bà nội”.
Mẹ cười lại hỏi ” sao con không vẽ mắt mũi miệng của người đó ?”
Tôi trả lời: ” Con chưa hề thấy mặt người đó “.
Mẹ làm thinh có vẻ buồn, nhưng cũng cho vài đồng bạc. Có tiền tôi dành mua bong bóng cao su đủ màu. Ôi những chiếc bóng thổi căng phồng niềm mơ ước tuổi thơ, và đôi khi vỡ toang như tiếng đạn trên mái nhà về đêm . Cuộc sống của ba người đàn bà trong một mái nhà ủ dột không êm đềm như vậy mãi. Biến cố xảy tới.

Một buổi sáng mẹ đi chợ về sớm nói với bà nội ” họ bắt bãi chợ” . Mẹ lo cơm nước sớm hơn thường lệ, mẹ đong rất nhiều gạo biểu tôi đem đi vo, thay vì vo gạo ở bếp, tôi đem ra bến sông nước trong vắt ngồi nhởn nhơ, sàng qua sàng lại làm gạo trôi đi khá nhiều. Mẹ nhìn rá gạo chỉ nói, ” ngày mai phải ăn cháo thôi” . Bà nội ra vườn khều lượm mấy tàu cau khô đem vào ngâm nước . Mọi người không ai nghĩ rằng tôi chú ý những chuyện vặt vãnh như thế. Tối đó cả nhà đi ngủ sớm cho khỏi thắp đèn tốn dầu.
Chừng khoảng nửa đêm, tôi cảm thấy lạnh đưa tay qua ôm mẹ, nhưng giường trống. Ngồi bật dậy, tôi thấy phía nhà bếp lờ mờ ánh đèn . Lần này tôi phải quyết tìm cho ra ai là người đến lấy cơm nhà tôi một cách dễ dàng như thế. Vén mùng lên tôi mò mẫm, cánh cửa nhà bếp đóng kín, khe cửa lọt ra chút ánh sáng vàng vọt u ám. Tôi áp tai vào cửa bếp đầy bụi bồ hóng.
Tiếng người lạ:” Ngày mai bọn anh phải di chuyển vào trong xa lắm, không chắc có về thăm được không “.
Tiếng mẹ : ” Em chỉ nấu được ít cơm chừng này, hôm qua con bé vo gạo làm đổ mất ít nhiều, anh đem theo khoai khô và đường “
Người đàn ông: ” Con bé ra sao, anh muốn gặp nó “
– ” Thôi, đừng cho nó biết gì về anh thì hơn, miệng nó thèo lẻo lắm, dạo này mật thám khám xét hoài”.
-” Em có mua được thuốc ký ninh giùm cho họ không ?”
-” Dạ có, nhưng không nhiều như họ dặn, em mua thêm đá lửa “.
Tôi chú ý tiếng người đàn ông lạ :” Không biết khi nào mới về lại “. Rồi tiếng mẹ tấm tức sụt sùi, tiếng người đàn ông hỏi : “Mệ có biết tối nay anh về đây không ?”. – Có, Mệ hỏi khi nào thì hết giặc “.
Im lặng trong đêm, ánh đèn thu nhỏ lại.
-Thôi đừng anh.
– Anh thương em quá, một mình lo liệu nuôi mệ nuôi con, biết bao giờ đền ơn em.
– Nói chi ơn nghĩa, mong anh về sớm.
– Em cởi ra đi, cho anh xin, một lần thôi, mai anh đi xa rồi.
– Em sợ.
-Sợ chi, anh tìm mọi cách xin về nhà tối nay, vì muốn ngủ với em lần cuối”.
Có tiếng thở mạnh, có người ngã xuống nền đất.
Sao em thắt lưng quần chặt quá vậy.
-Để em cởi.
Tiếng mẹ khóc thút thít chen lẫn tiếng thì thầm sảng khoái của người đàn ông.
Rồi gà gáy sang canh làm tôi co rúm người lại, mò mẫm chun vô giường ngủ nhắm mắt thật kín, tim đập mạnh.
Sau đó mẹ trở vô mùng nhẹ nhàng nằm xuống, tôi hé mắt nhỉn thấy tóc mẹ xổ tung, chiếc áo cánh chưa kịp gài lại để hở cả khoảng ngực trần.
Có phải hình ảnh này do ánh sáng bên ngoài dọi vào từ ô cửa kính trên mái ngói, hay tôi vẽ vời trong trí tưởng của ngày hôm nay. Điều này tôi không rõ, nhưng mọi tiếng động mọi âm thanh giữa hai người ấy như còn vang dội trong tôi suốt thời mới lớn. Âm vọng của thể xác con người đàn ông và đàn bà, cũng như sự tận tụy của mẹ đối với đòi hỏi của một người đàn ông từ miếng cơm dành dụm cho đến thân xác mình . Mãi mãi âm ỷ như đống tro luôn bốc khói.

Trong những tháng mưa tầm tã, mẹ tôi có vẻ mệt nhọc hơn trước, mẹ chuyển sang nghề chằm nón lá không phải đi sớm về trưa hàng chợ.
Buổi chiều ấy tan học chạy nhanh về, đi thẳng vào bếp tìm xem có chi ăn, bà tôi thường để dành một củ khoai hay một cái bánh bột sắn đường đen.
Tôi nghe tiếng bà hỏi mẹ:
-Vậy con hết thấy tháng từ lúc nào ?
– Gần ba tháng nay.
– Từ ngày nó về lần cuối phải không ?
-Dạ.
– Sao mi dại dột chìu nó vậy ?
– Mẹ tôi trả lời trong nước mắt :
Dạ, anh ấy là chồng mà.
Từ đó mẹ ít khi ra khỏi nhà, sống lầm lũi như một chiếc bóng, mà không phải bóng của mình, nhưng với chiếc bóng của người đi xa đi mất. Mẹ sống với nỗi ngậm ngùi chua xót trong lòng. Vì thế bụng mẹ mỗi ngày mỗi lớn, lớn như chiếc nón mẹ chằm trên tay mỗi ngày.
Bà tôi thay mẹ đi chợ, lưng bà còng nay còng thêm, làn da khô nay sạm khô hơn. Mẹ không còn muốn ngồi gần để nhìn tôi vẽ hay ê a đánh vần. Hình như mẹ không muốn nghe hay hiểu chuyện gì khác. Tuy thế tôi cũng được mẹ chằm cho chiếc nón lá nhỏ mười bốn vành xinh xắn đội đi học .

Một tối trời mưa tầm tã, mà quê tôi có bao giờ tạnh mưa đâu.
Mẹ nhìn tôi hỏi ” Con có thương mẹ không ?”.
Tôi gật đầu tựa vào mẹ, bụng mẹ căng cứng.
Mẹ nói mẹ đi vắng vài ngày, ở nhà ngoan giúp bà nấu cơm, nhớ đừng ra sau bến rửa mặt nữa, ma rà lúc này nhiều lắm.
Nói xong mẹ dúi cho mấy đồng mua kẹo.
Bà nói: “- Để tao đi với “.
Mẹ lắc đầu :” Xa lắm, Mệ ở nhà với nó”.
Bà tôi cho biết mẹ đi sanh em bé, tôi chờ đợi để ôm em vào lòng , để ru em à ơi.

Những ngày chờ đợi ôm em làm lòng tôi nôn nã, tôi thổi một hơi nhiều chiếc bong bóng cho em chơi. Nhưng sau đó mẹ trở về một mình với thân hình gầy ốm mặt mũi .xanh xao . Bà hỏi: “-Nó đâu rồi?”. Mẹ trả lời mệt nhọc :”- Con trai, nhưng con đã gửi bà xơ nuôi rồi”. Bà sững sờ ” -Sao mi ác vậy, đem cháu tao về đây tao nuôi, nhưng mi có nhớ đặt tên cho nó không ?” – Dạ có, tên Phúc, đem về lấy ai chằm nón bán ?.
Bà tôi tức giận đâm ra ngờ vực:
” Có phải đúng là cháu tao không ?”
-” Mệ còn nói vậy, thì người ta chửi con thúi đầu nếu con đem nó về.”
Bà nội ngồi ủ rũ trên tấm giường tre, lấy lai quần chùi nước mắt, mẹ trông như cây củi mục. Tôi nhìn mấy chiếc bóng bóng yểu xìu. Ngày hôm sau mẹ đi lãnh lá về chằm nón, tay mẹ run run cầm cây kim đâm qua đâm lại cơ hồ như đâm vào chính thân phận mình. Thời gian sau có người báo cho mẹ biết đến đón con về, em Phúc chết rồi, mẹ tất tả ôm xác em về chôn, cuốn em trong chiếc áo len độc nhất của mẹ . Suốt ngày hôm đó tôi chỉ biết thổi bong bóng xanh đỏ, cái nào cũng vỡ toang, nhờ vậy tôi không khóc thành tiếng như bà .

Sau khi đậu bằng tiểu học, tôi được vào lớp đệ thất trường công, đó là niềm hãnh diện vô cùng của mẹ. Đi đâu mẹ cũng khoe. Dạo này yên ổn hơn, mẹ xoay sang đi buôn hàng chuyến có tiền, mẹ đem tôi đi phi-dê tóc cho đẹp và chụp bóng căn cước . Nhờ cái đầu phi-dê này mà tôi có nhiều bạn hơn, chúng thích đến gần tôi lân la trò chuyện và đưa tay sờ vào đầu tóc. Có đưa ghen tỵ nói tóc gì mà như ổ bìm bịp, hay tóc ổ quạ.
Vào lớp đệ thất, mọi chuyện thật khác lạ và nhiều rắc rối. Thầy giáo phát sổ học bạ mới cho học trò điền tên cha mẹ , và dán bóng vào. Tôi thay ngòi bút lá tre mới, nắn nót viêt tên mình sau hàng chữ Tên Học Trò. Tiếp theo phải điền tên họ người cha, tên họ người mẹ, nghề nghiệp … Ổ cái mục nghề nghiệp người cha, tôi thật lo lắng băn khoăn. Tôi nào biết cha tôi ở đâu làm gì bây giờ. Đem sổ về nhà hỏi mẹ, mẹ ngẫm nghĩ mãi, nói ” Cha con cũng là người có học”. Nhưng học bạ đâu có hỏi để trả lời như vậy. Bà nội thì luôn nhớ cha mi hay chữ. Không ai cỏ thể trả lời rõ ràng để tôi điền vào nghề nghiệp của người gọi là cha tôi. Tôi hỏi -” Vậy con ghi nghề nghiệp của mẹ là chi ?” mẹ trả lời rắn rỏi -” Con ghi nghề nghiệp của mẹ là buôn bán, mẹ buôn bán đủ tiền nuôi con, đâu cần nghề nghiệp của cha !”
Tên cha thì có, nhưng ở đâu nghề gì, đành bỏ trống. Khi thầy giáo xem sổ không bằng lòng, thầy nói mấy trò không nên e ngại về nghề của cha mình, có nghề chân lấm tay bùn như làm ruộng cực khổ để cho cơm gạo chúng ta ăn hằng ngày thật là cao quý, các trò có thể ghi là nông dân nói chung. Rồi thầy hỏi “- Sao trò X. không ghi địa chỉ của mình vô? X. đứng dậy trả lời -” Dạ thưa thầy con không có nhà” Thầy ngạc nhiên “-Ủa trò ở đâu?” -” Thưa gia đình con ở đò ” -” Vậy thì trò ghi là vạn đò, số ghe thuyền”.
Lần đầu tiên tôi mới biết có trò không ở trên đất như mình mà ở trên sông nước, điều này làm tôi thích thú vô cùng, X cũng ở một cảnh ngộ khác biệt, trên sông thì tha hồ bơi lội, muốn đến bãi bờ nào cũng được. Sau này tôi chơi thân với X, một phần vì nó học giỏi . Đến lượt xét sổ của tôi, thầy hỏi ” – Sao trò này không ghi nghề nghiệp của cha?” Tôi nói “- Thưa thầy con quên”.Thầy la tôi thật vô ý. Tôi nói liều -“Dạ mẹ con nói ghi nghề nghiệp của mẹ con là đủ rồi, không cần phải có cha đi làm” . Cả lớp cười ồ, thầy cũng giận “- Trò này thật cứng đầu cứng cổ!”. Nói xong thầy phát sổ bắt tôi điền vào ngay để chuyển qua văn phòng cho kịp làm sổ sách.
Tôi ngồi cắn chiếc cán bút tre đến nát ra, nếu cắn vào tay có lẻ đã chảy xuống dòng máu đỏ. Người đàn ông ấy ở đâu làm nghề gì sao không hiện ra đây trả lời dùm cho đứa con này ? Còn sống hay đã chết? Nhiều câu hỏi xáo trộn trong đầu óc non nớt trẻ thơ tôi. Thực sự tôi không còn muốn bị thầy la rầy, không muốn cả lớp cười ồ chế nhạo nữa, sau hàng chữ “Nghề nghiệp của cha “… tôi nắn nót viết một chữ chết đậm nét và rõ ràng. Tôi thực sự khai tử cha tôi chính thức trên giấy tờ. Chết, không còn ai thắc mắc hỏi han tra khảo nữa. Không có nghề nghiệp để trích dẫn . Ghi chữ chết xong, tôi thấy nhẹ người yên ổn, nhưng sau này tôi lo lắng lỡ ông trở về như cha của thằng bạn nhà hàng xóm, cái tội tự ý khai tử này chắc chắn không được mẹ hay bà nội tha thứ. Tôi lại bênh vực mình, nếu ông là cha tôi, sao ông không trở về lo lắng cho tôi, dạy dỗ nuôi nấng tôi, ông là kẻ vô hình vô bóng thì sống hay chết cũng đều như nhau.

Lâu lắm, không ai nhận được tin cha, một người đàn ông ghé thăm nhà trong đêm tối. Không biết ông còn sống hay đã chết trên rừng thiêng nước độc nào đó. Chẳng một ai thắc mắc nữa. Nhưng riêng bà tôi, cho rằng con mình vẫn còn sống, cứ buổi chiều, bà hay ngồi ở hiên nhà nhìn ra đường cái . Hình ảnh một người mẹ già nua tuổi tác chờ con từ chiến khu trở về ám ảnh tôi khôn nguôi. Tình thương con luôn đem hy vọng tốt lành cho người mẹ . Bà nói ” dạo này nghe có nhiều người trở về nhà làm ăn tử tế “. Riêng mẹ tôi nghĩ khác, cho rằng chồng mình không còn sống nữa, nếu còn thì lo về với vợ con chứ, biệt tăm đã hơn mười năm. Đó là lý do để mẹ lấy chồng khác sau này. Bà tôi bị bệnh mất trong một ngày mưa tầm tã, khi mê man trên giường, bà luôn miệng gọi tên cha tôi, tôi quỳ bên cạnh, cuối cùng tôi nghe bà kêu ” con ơi !” rồi tắt thở.
Tôi lớn lên trong gia đình bên ngoại có rất nhiều đàn bà, không biết tại sao đàn ông đi đâu mất biệt cả, kẻ đi lính người biệt tăm, kẻ chết trận người chết tù. Tôi không có một khái niệm suy nghĩ nào về một người đàn ông trong thực tế, cho đến khi lấy chồng. Sự hợp hôn công khai hóa sự hợp hoan giữa đàn ông và đàn bà, giữa vợ và chồng. Trong đêm tối năm xưa, sự sảng khoái của cha đem lại lòng mang nặng đẻ đau của mẹ. Rồi cha bỏ đi, quên bẵng những gì mình để lại cho gia đình vợ con. Tôi lờ mờ nhận ra rằng trách nhiệm của người vợ người mẹ thật là nặng nề, không có quyền chi cho mình. Dù có muốn nam nữ bình quyền bình đẳng, thì đàn bà muôn đời vẫn là kẻ “nằm dưới” .

Vào mùa xuân năm đó, trong khói bụi mịt mù tang thương của mọi gia đình, tôi bỗng nhận được bức thư do một người quen đưa tới tận nhà. Thư của cha tôi !
Bức thư viết với nét bút đẹp đều đặn, lời văn lưu loát trình bày dài dòng điều mà ông gọi là ” hy sinh tình gia đình cho cách mạng để có ngày giải phóng đất nước hôm nay “. Bức thư viết bởi “một người hay chữ”. Lòng dạ tôi câm lặng như đá tảng, làm sao thấu hiểu được những ngôn từ cao cả hay đẹp của ông, trong khi chồng tôi ở tù chưa biết khi nào được tha, trong khi các con tôi bữa đói bữa no, ăn cơm độn với hột bo bo. Ông trở về với tình huống thật là cay đắng khắc nghiệt, tôi không hề mong đợi chút nào. Nhờ họ hàng tôi gặp mặt ông.
Nhưng làm sao tôi có thể xem ông là cha một cách bỗng dưng, một cách ngẫu nhiên như vậy chứ ? Tiếng Cha bao gồm niềm yêu thương gần gũi quý trọng của đứa con, tiếng cha phải được thốt lên tự đáy lòng đứa con. Tình cảm yêu thương quý trọng ấy tôi chưa hề biết, chưa hề cảm nhận, làm sao tôi có thể xem ông là cha của mình . Lòng tôi trĩu nặng, vừa hận vừa ghét vừa tội nghiệp, tình cảm lộn xộn chen lấn, tôi không biết mình phải ứng xử với ông như thế nào cho phải. Tội nghiệp vì thấy ông bị cái lý tưởng gì đó nó lừa gạt. Cuối cùng tôi thương ông vì lòng tội nghiệp đó.
Nhưng ngày xưa bỏ đi để thực hiện điều tốt đẹp theo suy nghĩ của ông, ông có chút gì tội nghiệp cho bà mẹ già, tội nghiệp cho người vợ trẻ, tội nghiệp cho đứa con thơ dại ? Chắc chắn là không !
Trần Thị Diệu Tâm
Paris, tiết Lập Đông
Thiếu nữ và con mắt trái
                                              Trần Thị Diệu Tâm
 

 
Thiếu nữ ấy là bạn tôi. Cô ta có thói quen nhìn cuộc sống với con mắt phía trái. Điều này có nghĩa là cô thường nhìn sự việc phía mặt sau của nó.
Cho nên tính tình cô khó chịu, bạn bè không ai ưa vì cái tật nói thẳng, nói như đâm vào tim. Có lẻ thể nên cô chưa có chồng, dù năm nay đã gần bốn chục xuân. Tôi cũng đọc thân như cô, tuy nhiên tôi có người yêu. Người yêu tôi đang còn ở Việt Nam. Chúng tôi yêu nhau từ ngày xa xưa, lúc chưa có trại tù mọc lên như nấm trên thân thể quê hương hình chữ S. Tôi chờ chàng ra tù, vì chúng tôi đã hứa hôn.
Thiếu nữ và tôi có hai nghề nghiệp khác nhau, cô ấy hiện là y tá trong một bênh viện lớn ở Paris, phụ trách phòng hồi sinh, khi người nào sắp được ăn bát cháo lú quên chuyện đời sắp bước qua cây cầu biên giới giữa sống và chết, thì cô kéo ngược họ họ trở về, bắt họ đổ mồ hôi lẫn nước mắt cho cuộc trần ai này. Còn tôi đứng bán hàng cho một trung tâm mỹ phẩm và nước hoa danh tiếng tại đại lộ Champs-Élysées. Có lể vì ảnh hưởng nghề nghiệp nên tôi ngửi cuộc đời này với mùi hương hoa, lại còn tô thêm son thêm phấn cho đời thêm diễm ảo.
Chúng tôi thuê chung một căn nhà. Ban ngày đi làm có chuyện gì vui, tối về kể cho nhau nghe.
– Hôm nay bạn ơi, có một ông người Ý mua một lô nước hoa toàn mùi trứ danh của ba nhà Christian Dior, Chanel và Rochas, ông ta bắt phải gói thật đẹp để làm quà. Thật có ít đàn ông nào tặng vợ lịch sự như thế.
Thiếu nữ: – Người đàn ông như thế phải giàu, mà giàu thì cũng năm mươi sáu mươi. Tuổi này ít nhất là một vợ và hai nhân tình.
– Sao biết ?
– Mua ba loại nước hoa mùi khác nhau có nghĩa là tặng vợ một, còn thì tặng bồ..
Tôi ngẩng mặt, hình ảnh ông khách lịch sự ban sáng trở nên tầm thường.
Tôi cãi: – Nhưng trông ông ta đứng đắn lắm.
Thiếu nữ: –  Sự đứng đắn của đàn ông có thể ẩn dấu một khoái cảm đàn bà cao độ.
Tôi chợt hỏi : – Vậy đàn bà thì  sao?
Thiếu nữ: – Đàn bà là một thứ “Sex” có quyền lực lớn hơn hết mọi quyền lực ở đời.
 Tôi trả lời : –  Nhưng đàn bà cần tình yêu hơn quyền lực.
Cô bạn lại nói: – Trong thế giới văn minh này, người đàn bà được trau chuốt óng ả cốt để quyến rũ thu hút dâm tính đàn ông.
Tôi không còn thắc mắc tài sao lâu nay cô bạn mình sống dửng dưng với áo quần thời trang, với son phấm xanh đỏ tím vàng. Đàn ông với cô chỉ là một con thú bất trung tầm thường.
Tôi khơi niềm hy vọng: – Thế còn tình yêu ?
Thiếu nữ lãng đãng : – Đó là sản phẩm trí óc con người. Con người từng đau khổ hay hạnh phúc đều do sự tưởng tượng về tình yêu của mình. Thật ra tình yêu chỉ là sự rung động của hai thể xác, hết rung động là hết yêu.
Tôi nhìn bạn: – Không nên tuyệt vọng với đời như thế, hãy gìn giữ một điều tốt đẹp cho mình và cho người.
Thiếu nữ trả lời : – Tôi không tuyệt vọng vì không hề hy vọng bất cứ điều gì.
Rồi cô kế tiếp: – Sáng nay trong bệnh viện có một bà tự tử vì ghen tuông, đem vào cấp cứu thì đã muộn. Trong túi áo có bức thư tuyệt mệnh cho biết vì qúa yêu chồng không muốn chia xẻ tình yêu. Tự tử vì qúa tin vào tình yêu, thật khùng!
– Đó là một cách cảnh cáo chồng, chắc hẳn ông chồng ân hận lắm.
Thiếu nữ cười : – Ân hận đôi ba ngày lo chôn cất vợ xong, rồi có tình mới ngay thôi.
Tôi trầm ngâm: – Đời sống lứa đôi là một thảm kịch.
Sau một lúc trò chuyện, thấy xót xa cho chính mình, tôi là người luôn bám víu những màu mè của cuộc sống để thấy nó tươi tắn nồng nàn. Tuần này chúng tôi nhận được giấy mời dự buổi họp mặt của một hội đoàn, có văn nghệ ca hát ngâm thơ. Bạn tôi không thích đám đông, tôi trái lại vì có dịp điểm trang chưng diện, thiếu nữ nhìn toi cười;
– Coi chừng, diện đẹp thế là nguy.
– Sao lại nguy ?
– Có người tán tỉnh thêm mệt
Tôi chỉnh: -Vui chứ, không có đàn ông theo mới buồn.
Thiêu nữ ; –  Nè bạn, hãy trung tín với người đàn ông đang ở trong tù.
– Tôi luôn luôn chờ đợi.
Thiếu nữ; – Chải chuốt bóng bẩy là ngụ ý quyến rũ đàn ông, bạn chờ đợi trong manh nha phản bội.
Tôi bực mình vì cách nói cay độc, nhưng rồi cô ta xin lỗi đã lỡ nói lên điều suy nghĩ thành thật của mình. Đến buổi họp mặt, đa số đều là những khuôn mặt đàn ông đàn bà thấy nhiều lần của cộng đồng. Có ông đến gần thiếu nữ bắt chuyện:
– Có ai lọt vào mắt xanh của cô chưa ?
Tức thì bạn tôi đốp: – Xin lỗi ông, tôi là người Việt, mắt tôi không xanh, mắt tôi đen nên thấy mọi điều đen tối cả, kể cả ông.
Ông ta hoảng sợ bỏ đi. Tôi kéo tay bạn gái
–  Quái ác vừa thôi chứ, ông ta mấy lần điện thoại hỏi thăm bạn.
Thiếu nữ phân trần: – Chả ăn mặc bảnh bao đúng mốt nhưng ngu, nói năng vô duyên, đuổi thằng cha đi tán cô khác cho rảnh.
Trên bục diễn, một ông đang hùng hồn phát biểu. Thiếu nữ nói lớn;
–  Lão này có bệnh mê mi-cô
Tôi suỵt nói khẽ chứ. Hơn nửa giờ  sau cái mi-cô mỏi mệt kêu rè rè. Nghỉ giải lao, uống nước ăn bánh ngọt. Rồi lại có người lên phát biểu ý kiến về vấn đề Việt Nam, kêu gọi tình người, giúp đỡ những nạn nhân Cộng Sản.
Cô bạn cho ý kiến: – Đám đông của bạn là những người có bằng cấp cao, có tiền có bạc, trông mặt mày họ mãn nguyện quá. Họ làm việc xã hội với những toan tính cá nhân làm gi có lòng tốt để thương yêu kẻ khác chân thật, chỉ có ai đã từng đau khổ mới hiểu thế nào là tình người.
Giọng cô sắc làm mấy ông bà sang trọng ngồi cạnh khó chịu. Có bà nói :- Con này khùng!
Tôi ngượng kéo tay thiếu nữ ra về.
Mấy hôm nay trời đã sang thu, cái lành lạnh của trời đất làm tôi se mình nhớ nhung người yêu xa xôi, cảm thấy mình thật đơn độc. Tôi mua một lô sách báo Việt về nằm đọc buổi tối, không còn muốn chuyện trò với cô bạn cùng nhà. Những trang sách chứa đựng nhiều khắc khoải, bỗng dưng tôi muốn viết, thèm viết một điều gì đó. Biết đâu yêu chữ nghĩa lại sung sướng thích thú hơn yêu người.
Thiếu nữ vào phòng tôi hỏi han: –  Buồn lắm hả ? – Ừ.
– Thế đọc sách viết văn có đỡ buồn không ?
Tôi không biết trả lời thế nào, cô trả lời giùm:
– Văn chương tạo ra ảo ảnh, người viết văn bị ảo ảnh quyến rũ nên vô tình bày ra một thế giới nhắm đánh lừa độc giả, nhưng chính nhà văn là kẻ bị đánh lừa trước tiên… đau đớn thay bị lừa gạt bởi chính mình mà mình không hay.
Nói xong thiếu nữ cười lãnh lót, tiếng cười vừa cay đắng vừa ghê rợn. Tôi co người lại không dám nhìn cô bạn mang tính ác quỹ. Cô vừa làm chết đi nguồn hy vọng đang chớm nở trong tôi.
Cô nói tiếp như thương hại: – Muốn khỏi buồn, đừng mơ tưởng.
Tôi đau nhói, mơ tưởng là điều quý giá nhất khi người ta còn lại một mình. Tôi mỉa mai cô ta: – Bạn là một người bệnh, trước hết nên đến bác sĩ chữa mắt, võng mô trong mắt bạn bị cấu tạo ngược chiều khác thường.
Thiếu nữ lại cười như trêu cợt :- A ! chính nhờ con mắt ngược ấy mới thấy được sự giả hình của người đời .
– Để làm gì chứ ? Tôi chậm rãi hỏi.
– Làm gì à, để thương cho họ.
Lòng tôi chùng lại khi nghe xong. Tôi thấy mình cách biệt với bạn. Tôi luôn đi tìm cái ưu tú nơi người để yêu thương, còn cô, cô luôn tìm thấy sự tầm thường thấp kếm để yêu thương họ. Đó là một cái nhìn vững chắc về đời sống, về con kiếp làm người hèn kém. Do đó thiếu nữ không bao giờ tuyệt vọng, cô luôn thản nhiên trước mọi điều tệ hại xảy đến.  Và tôi nhận ra rằng trước khi cô có con mắt ác quỹ, cô đã là một thiên thần.
Một hôm thiếu nữ trở về nhà mặt mày thờ thẫn, tôi thắc mắc tại sao, cô cho biết:
–  Vừa mới hồi sinh một ông tự tử !
– Vậy bạn nên mừng vì đã cứu một mạng người.
Cô lắc đầu: –  Nếu không vì cái lương tâm vô lý của nhân đạo mà người ta bày đặt ra, tôi để chết luôn cho được việc. Ít ra ông ta cũng thành công trên đời một lần trong việc chấm dứt cuộc sống của mình.
– Thật đáng thương, bạn nên chăm sóc ông ta.
Thiếu nữ nhún vai :- Ông ta la hét om sòm khi biết mình còn sống, ông thù hận tôi mỗi khi tôi đến gần, và bị ông mắng nhiếc thô bỉ. Nghĩ cho cùng, tôi đã phạm tôi với ông ấy như người ta giết chết một kẻ đang muốn sống, vì ông cho rằng sau cái chết ông được an toàn hạnh phúc.
Lần đầu tiên tôi thấy cô bạn băn khoăn. Băn khoăn vì phạm tội cứu sống một con người, vì tự hỏi công việc đang làm thực sự đúng hay sai. Đời sống của hai chúng tôi trãi qua những buổi tối như thế, Tôi chẳng bao giờ giải đáp được điều gì cho cả hai.
Có lúc tôi chợt nói:-  Chúng mình sống, như thiếu thiếu một cái gì.
Cô bạn cười vang :-  Thiếu đàn ông.
– Ừ đúng. Tôi nói
Cô ấy khuyên: – Hãy sống như chẳng bao giờ có đàn ông.
Tôi cười nói: – Nhưng thượng đế sinh ra đàn ông trước khi sinh ra đàn bà.
Thiếu nữ nhắc đến thượng đế : Đó là cái nhìn của thánh kinh Thiên Chúa giáo, bạn không biết rằng kẻ hậu sinh giải thích thánh kinh cho hợp với xã hội. Trước kia giáo hội Công Giáo buộc đàn ông đi tu thì không được lấy vợ, vì cho rằng ông Chúa không có vợ. Bây giờ xảy ra nhiều vấn nạn của mấy ông tu hành, biết đâu mai mốt cũng cho phép họ lấy vợ. Để được hợp thức chính đáng, biết đâu người ta dựa vào thánh kinh dẫn chứng, xưa kia Chúa cũng có người yêu thì sao, đó là thánh nữ Madeleine. Người yêu trở thành vợ mấy hồi. Người ta khá thông minh dùng chữ nghĩa linh thiêng biện luận sự sống trần thế. Tôn giáo cũng chỉ là một phương tiện cho đời sống thôi.
Rồi như muốn khẳng định một điều gì đó, cô nói thêm:
– Chúa hay Phật hơn ai hết mong muốn con người đau khổ. Vì nếu không đau khổ, chẳng ai đến quỳ lạy dưới chân họ.
Tôi xót xa :- Vậy niềm tin tìm nơi đâu?
Cô ta nói bâng quơ : – Không có gì vĩnh cữu, cũng không có gì tuyệt đối. Mình tự cứu mình để sống.
Thời gian qua đi . Vào một chiều thứ bảy, trời nắng đẹp, tôi đang dọn dẹp áo quần và các đồ dùng trang điểm, thiếu nữ qua phòng tôi hối hả:
– Ê, bạn ơi qua đây nhờ chút việc.
– Gì thế ?
– Vào chọn dùm tôi bộ áo quần nào thích ý nhất.
– Đi đâu ?
– Mặc đi ăn tối nay
Chuyện lạ, lần đầu tiên cô hỏi han tôi về cách ăn mặc. Mọi ngày cô chỉ jeans, pull, trời lạnh khoác blouson.
– Nhanh đi kẻo trễ.
Tủ áo cô toàn màu tối đen, nâu hay vàng úa như lá khô rụng trên đất. Tôi chọn cho cô bộ màu xanh đen, có lẻ mua từ kiếp nào. cái váy ngắn và chiết vét. Tôi cho cô mượn chiếc sơ- mi lụa hồng nhạt mặc bên trong. tôi đưa cho cô đôi tai vàng óng ả, thiếu nữ lắc đầu sợ nữ trang. Tôi thuyết phục:
– Đàn bà phải có nữ trang, bạn không muốn mình là đàn bà sao? Ít nhất tối hôm nay.
Sau khi diện áo quần, đeo bông tai, trông thiếu nữ lạ hẳn đi. Trong gương hiện ra người con gái mặn mà duyên dáng. Tôi đề nghị phớt lên đôi má cô chút phấn hồng. Thiếu nữ đưa tay sờ vào gương như muốn tìm xem đây có phải thân xác thật của mình hay không. Tôi vui vui nói;
– Đó là hình ảnh phản chiếu con người thật của bạn, không phải là ảnh ảo.
Tôi chải lại mái tóc ngắn” à la garçonne” cho cô và bơm nhẹ một thoáng Chanel. Thiểu nữ sợ hãi né tránh mùi hương giả tạo, cô vội vã phân bua:
– Tôi muốn đến với anh ấy bằng bộ mặt thật của mình không hương phấn.
Lòng tôi bừng nở: – Có một người đàn ông rồi, ai?
Do dự một lát, thiếu nữ cầm lấy tay tôi nói chậm rãi:
– Người đàn ông mà tôi đã phạm tội cứu sống.
Im lặng, rồi tôi tiếp lời: –  Sau lần thất bại không được chết, lần này ông ta thành công .
Thiếu nữ gật đầu :-  Đó là người hiểu rõ tình thương và giá trị thật của nó.
Từ đấy, tính tình thiếu nữ có vẻ dịu dàng hơn, tươi mát hơn. Môi luôn sẵn sàng cười, nói những câu làm  mát lòng người nghe. Cô nhìn cuộc đời bằng hai con mắt phải và trái với một chiều rộng nhân ái. Tâm đạo chìm sâu dưới đáy lòng cô nay thoát hiện, bắt đầu bén rễ trên mảnh đất bụi bặm này.
Bởi vì thiếu nữ đã yêu.
         Paris, 1992.
Trần Thị Diệu Tâm
Hột Xoàn                               
    
                                                    Trần Thị Diệu Tâm
 Trong đời sống đơn sơ tầm thường giản dị ở chốn bếp núc, người đàn và như chị biết rất nhiều loại ngũ cốc, nôm na là biết nhiều loại hột, kể sao cho xiết. Nhưng thật tình mà nói, chị chỉ thích có một thứ, loại này không có khả năng nẩy mầm cho hoa cho trái, nhưng có khả năng làm sảng khoải tâm hồn chị.
Đó là hột xoàn.
Hột xoàn là thứ hột cho ánh sáng lấp lánh, nhìn nó phát mỏi mắt, nhìn nó mà mê tơi. Không có ánh sáng nào đẹp bằng thứ ánh sáng của hột xoàn. Đàn bà ai chả thích, đâu phải một mình chị. Trong lúc ngồi ăn cơm, chị thật thà đem chuyện thích hột xoàn nói với chồng cho vui. Chồng chị gắt “ Chồng không yêu, lại đi yêu hột xoàn, đừng có dại !”
Chị cụt hứng, nhưng chị không dại mà cũng không điên. Vì khi biết biết mình còn ham mê, nghĩa là biết mình còn ham sống, còn yêu cuộc đời này lắm. Niềm ham mê ấy chị giữ riêng, một mình chị biết một mình chị hay. Chị dành dụm tiền mặt mỗi tháng một ít, vì chẳng bao giờ biết dùng chi phiếu hay thẻ ngân hàng, chồng đưa tiền mặt cho chị đi chợ mỗi đầu tháng. Như con kiến tích trữ lương thực, suốt hai năm liền. Các tủ nhà đều không có chìa khóa, chị phải dấu số tiền ấy mỗi nơi một ít, không nên để chung một chỗ. Nhưng sau thời gian hai năm, trí nhớ của chị có đôi chút lãng đãng, vì có nhiều góc khuất kín đáo. Thấy mẹ lục lọi như tìm kiếm, cô con gái hỏi mẹ “Mẹ tìm gì vậy? nói con tìm cho “. Chị trả lời ” Dọn dẹp đồ đạc cho gọn gàng thôi”. Chồng chị thắc mắc “Em sao cứ dọn hoài vậy”. Chị không trả lời, cho biết làm gì chứ, con, chị không tin, huống chi tin chồng. Chờ dịp cả hai không có ở nhà, chồng đi làm, con bận đi học, chị sắp xếp lại tất cả các tủ áo quần, các ngăn kéo. Cái gì không dùng nữa còn tốt chị cho vào một xắc riêng đem cho hội từ thiện. Chị thấy cũng có lý do tốt cho việc tim kiếm. Thật là một công đôi việc. Và rồi chị cũng tìm ra hết những gói tiền cất dấu lâu nay. Chị thở ra ” thật mừng như tiền ai cho”. Sau khi kiểm kê tài sản, chị xếp lại mớ tiền theo thứ tự mặt trước mặt sau. Bản tính vốn cẩn thận với những tờ tiền chi tiêu, chị rất thích tiền giấy ơ-rô, vì nó có nhiều kích cở và màu sắc khác nhau, nếu sau này mắt mù, mình cũng có thể đếm được tiền. Đếm đi đếm lại cũng được vài ngàn. Chị cuộn tròn xấp tiền lấy sợi giây thun buộc lại cho gọn, cử chỉ này làm chị nhớ ngày xưa quê nhà mẹ chị cũng cất giữ tiền như thế.
Chị sẽ thực hiện điều ao ước bấy lâu nay, chị sẽ mua chiếc nhẫn hột xoàn lấp lánh ấy. Chiếc nhẫn nằm trong tủ kính cửa hiệu có tên Eternelle. Chị vốn không mấy giỏi tiếng bản xứ, nhưng cũng lờ mờ hiểu rằng có nghĩa là mãi mãi. Ai mà không quý trọng những gì có tính mãi mãi, bất diệt. Biết bao nhiêu cặp tình nhân, bao nhiêu cặp vợ chồng đám cưới đều tặng người mình yêu dấu chiếc nhẫn kim cương hột xoàn lấp lánh, hy vọng chiếc nhẫn  sáng ngời soi sáng cho tình yêu họ đến suôt cuộc đời. Nếu họ có bỏ nhau, không phải tại chiếc nhẫn xinh đẹp vô tội kia, mà vì chính họ là người thay lòng đổi dạ. Chứ chiếc nhẫn hột xoàn là một thứ thủy chung muôn đời bất diệt.
Trước đây, mỗi lần vào trung tâm mua sắm, chị luôn đến trước cửa hiệu Eternelle, ngắm nghía mãi mê mấy chiếc nhẫn lóng lánh kia, ước chi một ngày nào đó, chị sẽ đeo một chiếc vào ngón tay mình. Chị không hề biết loại nào tốt nhất, nước sáng            xanh hay sáng tím, nhưng chiếc nhẫn sẽ kèm theo một một hóa đơn ghi giá trị số tiền. Từ ao ước đến khi được chiếm hữu là một tiến trình tâm lý rất tự nhiên của con người, không có chi lạ. Do đó nó phải ở trong tay chị, chì là sở hữu chủ, chị không cần phải đi qua mấy chuyến tàu mê-trô mới gặp nó nằm yêu kiều trong tủ kính.
Chị đi vào cửa hiệu một cách tự tin, không e dè như trước đây. Cô gái bán hàng trông như thờ ơ, có lẻ biết người đàn bà Á Đông này đã nhiều lần đến xem, cô nhiều lần đón tiếp, nhưng bà ta chỉ  lắc đầu đi ra. Nhưng lần này thì khác. Chị chỉ vào chiếc nhẫn đã từng chọn sẵn, thích hợp với số tiền trong túi, hình như nó đang chờ đợi chị, không ngoài ai khác. Cô bán hàng liền nở nụ cười tươi, nhẹ nhàng mở tủ kính, duyên dáng hỏi chị rất lịch sự:
– Thưa bà, muốn chiếc này?
Chị cười gật đầu, cô ân cần đưa chị đến ghế ngồi có đèn chiếu sáng rất rực rỡ. Cô lại ân cần cầm bàn tay chị, xỏ chiếc nhẫn vào ngón tay chị, thật là vừa khít, tuồng như chiếc nhẫn được tạo ra đúng khuôn.
 Cô bán hàng reo lên: Ồ, chiếc nhẫn thật là thích hợp với tay bà!
Đúng, đó là sự thật không chối cãi, chị rất mãn nguyện, lại cảm thấy như mình là một thượng đế trong giây phút ấy, được đối xử trang trọng và lịch sự. Chị hân hoan đưa xấp tiền và đếm một cách cũng trang trọng không kém. Thực hiện điều mơ ước bấy lâu nay, chị vui thú biết bao. Khoảng đường từ Eternelle về đến nhà là thời gian chị được sống hạnh phúc nhất, mãn nguyện nhất. Về đến nhà chị vẫn còn đắm đuối với chiếc nhẫn tuyệt với đó.
 Nhưng thời gian sau, mỗi lần đeo vào ngón tay, chị nhận thấy chiếc nhẫn lóng lánh kia làm nổi bật bàn tay xương xẩu nhiều gân xanh, một bàn tay nhiều công việc vất vả. Bàn tay của những tháng năm mòn mỏi bổn phận. Bỗng dưng bàn tay co lại như muốn che dấu, chị xúc động toàn thân, nhận thấy rõ bàn tay mình không có ngón tay  thuôn đẹp để mang chiếc nhẫn kim cương tuyệt với ấy. Viên kim cương này có thực sự làm tăng thêm  giá trị cho người đeo không? Chị mơ hồ, mình không thích hợp. Tuy nhiên chị nghĩ rằng đó chỉ là cảm giác nhất thòi trong lúc mệt mỏi.
Để đánh tan mặc cảm, chị luôn đeo nó khi đi chợ ra phố xá, tuy nhiên chẳng một ai trên đường phố biết rằng chị đang đeo trên ngón tay một chiếc nhẫn có giá trị cao. Niềm mơ ước ấy nay có giá trị thực không. Chị nghi hoặc về nó và hoài nghi luôn cả về chính mình, đúng hay sai. Có thể chị nhầm lẫn, nhầm lẫn điều gì, chị không biết trả lời cho mình. Chỉ thấy hơi buồn. Bao nhiêu kỳ vọng về một ước mơ, nay mơ ước đạt được, nó đang ở trước mắt, nó đang thuộc về mình, bỗng dưng soi rõ một điều bất ngờ vô cùng, chị không thuộc về nó. Một mâu thuẩn khó giả thích. Có lẻ chị không phải là một mẫu người sang trọng, quý phái thích hợp loại trang sức đắt tiền kia.
Và, chị thấy nó không còn hấp dẫn như trước đây. Có một buổi tối, chị đem chiếc nhẫn ra ngắm nghía, trong bóng đêm, viên hột xoàn không còn chiếu sáng, chị tức thời hiểu ra, chiếc nhẫn chỉ có thể lấp lánh chói lòa khi nhận được ánh sáng từ bên ngoài chiếu vào. Tự thân nó không có hào quang, nó phải nhờ, phải phụ thuộc vào ánh sáng đèn hay ánh sáng mặt trời để có thể khoe khoang vẻ đẹp. Nó thật sự chỉ là một viên sỏi đá, chị nghĩ như thế. Lúc chiếc nhẫn nằm ở trong tủ kính, sao đáng mê thế, bây giờ nằm trong lòng bàn tay chị, không còn quyến rũ nữa. Chị thấy mình bỗng dưng thở dài khi nhớ đã mua với số tiền dành dụm không nhỏ.
Không gian nhà bếp là nơi chốn thân thương nhất với chị, chị sống trong đó nhiều giờ nhất trong mỗi ngày, nên chị muốn cất chiếc nhẫn nơi này cho dễ nhớ, khi cần thì lấy ra dễ dàng. Chị bọc nó vào túi ny-lông nhỏ nhét vào lon bột nếp dùng làm bánh, chắc chắn bọn trộm cắp không bao giờ nghĩ ra. Nghe nói dạo này bọn nó cứ tìm đến các nhà có đàn bà Á Đông tấn công.
Thời gian sau, nhân dịp cùng chồng đi dự đám cưới con nhà bạn, chị lo chuẩn bị áo quần, chợt nhớ tới chiếc nhẫn quý báu, nhủ thầm ít ra mình cũng có chút gì đeo vào cho nhấp nháy với đời. Dạ tiệc cưới đầy ánh sáng, chắc hẳn chiếc nhẫn của chị sẽ rực rỡ hơn ngày thường gấp bội, chị thấy phấn khởi. Nhưng tìm mãi không thấy lọ đựng bột nếp nằm nơi đâu, tìm suốt buổi sáng, nhưng nó biệt tăm.  Chị nghi ngờ về trí nhớ của mình, lo sợ một chứng bệnh quyên lãng đến sớm.
Buổi chiều khi cô con gái về nhà, Chị nói: Mẹ định làm bánh bột nếp, nhưng tìm mãi không thấy lon bột, con vô bếp tìm giúp mẹ”. Tức thời con gái trả lời:
–  Mấy hôm trước con thấy lon bột có con gián bò vào, nên đem vất ra thùng rác rồi ! Mẹ cẩn thận phải xịt thuốc trừ gián gấp.”
Câu trả lời của con làm chị hoảng hốt, bần thần, nhưng chị không dám nói ra sự thật. Đã dấu thì dấu luôn, nếu không sẽ bị chồng con chỉ trích là khờ dại. Chị  nghẹn ngào muốn khóc, thấy mình đã làm vợ, đã làm mẹ rồi mà sao ngu quá.
Lỗi tại mình. Đáng lý ra chị không nên mơ tưởng nó, nó không phải là thứ thích hợp cho phận mình. Nó có ý nghĩa thực sự gì cho chị ? Mơ ước làm vui cho tâm hồn, nhưng giờ đây chị không dám mơ ước. Chị vừa trải qua một thứ thử thách đắt giá làm chị đau xót, cả về vật chất lẫn tinh thần đúng nghĩa. Một nhầm lẫn tai hại cho chính chị. Trước mặt chị, đối mặt chị là căn phòng bếp thân thương hằng ngày, là nơi đem lại ấm áp cho chị và gia đình, là chủ nhân thưc sự. Nơi đây các thứ gia vị nấu nướng được bày biện trong những chai lọ thủy tinh trong suốt cũng bắt mắt cho người đàn bà nội trợ. Hiên tại là điều gì đáng quý nhất, đáng trân trọng nhất. Hiện tại mới là cuộc sống thực sự của chị. Tại sao chị đi tìm đâu xa xôi cái bóng bẫy lấp lánh huyễn hoặc không thuộc đời chị. Chị tự hỏi và cũng không biết câu trả lời.
Paris,Trần Thị Diệu Tâm
Nắng Chiều Na Uy

bút ký
Khi biết tin vợ chồng anh Điều và chị Trung ở San Diego sẽ qua Paris chơi, sau đó đi Na Uy vài hôm ghé thăm thân hữu ở đây, tôi chợt nghĩ ” tại sao mình không qua Na Uy, đi theo anh chị ấy coi bộ cũng tiện lợi đôi bề.” Tôi hỏi ý kiến Nhà Tôi, anh ấy “Ừ, thì đi”.
Hỏi thăm anh Điều qua Net, anh gửi cho biết ngày giờ chuyến bay của hãng Norwegian, thấy còn nhiều chỗ, tôi “búc” (book) ngay. Búc xong mới thăm dò tình hình Na Uy, ở đấy có vợ chồng anh chị Thanh Tâm và Khánh Hà quen biết qua Net. Anh Thanh Tâm là nhà văn Tâm Thanh từng viết nhiều truyện ngắn trong báo Văn Học, từng nghe chị nhà văn Bùi Bích Hà ca ngợi. Anh cũng là một dũng sĩ trong trận chiến Bảo Vệ Cờ Vàng cách đây hai năm. Bài viết của anh với lý luận sắc bén làm độc giả tôi hứng thú . Chắc là học Triết ở Viện Đại Học Đà Lạt. Thế thì vui rồi. Gặp người trong giới viết văn cũng như gặp bạn đồng hương, đồng nghiệp, đồng cảnh, đồng tình … Chữ nghĩa giúp người ta dễ nhìn nhau thân tình hơn. Chữ nghĩa soi rõ lòng dạ nhau, chẳng cần phải dùng lời khách sáo nọ kia. Xa cũng gần, nếu không, gần cũng thành xa.
Lại phải nghờ ông Google tìm thủ đô Oslo ở đâu trên vùng Bắc Âu, tìm khách sạn, tìm bản đồ. Thời đại này, muốn tìm gì cũng có, ông Google thông minh nhanh nhẹn đáo để, có thể gọi ông là đấng siêu nhân độ thế, giúp cho người biết bao chuyện đời chưa hiểu chưa thấu. Ông giúp tôi giải tỏa biết bao thắc mắc, cái gì không hiểu ông cho biết ngay, không hề than vãn mệt mỏi. Do đó tôi hỏi xem có khách sạn nào tốt giá tiền vừa phải, ở địa điểm gần ga tàu, ông chỉ ngay ” Comfort Hotel Borsparken”. Vào xem giá tiền gặp lúc hạ giá “flash” tôi búc ngay. Ngài Google thật là siêu !
Đáng lý ra vợ chồng anh Thanh Tâm đến phi trường đón chúng tôi, nhưng vì anh có ” Rendez-vous” quan trọng với bác sĩ nên không đón được. Do đó nhờ anh P.T.A N. Đáng lý ra, chúng tôi gồm hai cặp vợ chồng bốn người đến Na Uy, nhưng giờ chót hiền thê của anh Điều cũng bận công việc bất ngờ, không đi được. Chúng tôi chỉ còn lại ba.
Máy bay hạ cánh xuống thủ đô Oslo sau hơn hai giờ bay, khỏe re . Chẳng bù qua Cali, xem đồng hồ hoài, kim chạy chậm như rùa. Người ra đón chúng tôi trông còn trẻ, nhanh nhẹn và có vẻ tháo vát . Mặc dù đang đêm hôm, nhưng sân bay ở đây vẫn nhộn nhịp người qua lại. Chúng tôi rất cảm động thấy lòng nhiệt tình của anh PTAN. Đứng trong phòng khách sạn, nhìn ra phía trước là vịnh Oslo, đầy những du thuyền đang chờ ra khơi. Tôi chợt nhớ đến câu quãng cáo của một hãng du lịch ” hãy đưa em đến tận chân trời góc biển ” . Câu này đập mạnh thích thú vào trí tưởng của tôi những ngày đi làm việc Paris, làm cho những hành lang metro dài hun hút ngắn lại. Đến bây giờ, câu chữ ấm áp đó hiện ra mỗi khi nhìn thấy du thuyền, tưởng chừng thấy những chân trời bờ bến xa xôi. Bây giờ, tuy không đi đâu nhiều như mơ ước, nhưng bù lại tôi được quen biết với những các tác giả viết truyện. Phải chăng con người họ cũng là những miền đất, những bãi bờ, những nơi chốn khác biệt sinh ra biết bao nhiêu hoa thơm cỏ lạ bên trong tác phẩm của họ. Trên vịnh, những ngọn đèn thắp sáng nhấp nháy với sao đêm.
Na-Uy là một xứ sở giàu có nhờ tài nguyên thiên nhiên là khí đốt, dầu hỏa, đất rộng người thưa, dân chúng làm việc được hưởng mức lương khá cao. Na Uy là một trong những nước thịnh vượng nhất của Đại Lục Xưa . Như phần đông các nước Âu Châu, xứ này vẫn còn vua hoàng hậu và công chúa, hoàng tử, nhưng có một chế độ chính trị Xã Hội Dân Chủ khá tân tiến và cởi mở. Oslo còn là nơi phát giải thưởng Nobel Hòa Bình thường niên cho thế giới . Hèn chi thấy dân cư sống coi bộ tà tà, ung dung nhàn hạ, có lẻ nơi này ít ai hiểu chữ “stress”. Nhà Tôi và ông bạn suốt ngày kề cà bên nhau kể chuyện xưa, chuyện quá khứ trên trời dưới đất, nhân vật này nhân vật kia. Tuổi già không còn tương lai để lo nghĩ, nên họ luôn trở về với qúa khứ.
Vì có quý danh là Phạm Tín An Ninh làm hướng dẫn viên nên chúng tôi không còn lo sợ gì nữa. Anh đưa chúng tôi đến các địa điểm nổi danh, trong đó có công viên Vigeland, rất nhiều đoàn du khách thế giới ghé thăm, nơi đây chưng bày hàng chục pho tượng khổng lồ bằng đồng đen và đá gra-nít, được điêu khắc mô tả theo các động thái sinh hoạt của thân thể đàn ông đàn bà và trẻ em. Các bức tượng trình bày những giai đoạn của đời người, từ lúc sơ sinh cho đến khi lớn lên và cuối cùng già yếu trước cái chết. Một người cha, một người mẹ đang vòng tay che chở các con mình, hai người nam và nữ đang âu yếm nhau, cho đến lúc hai vợ chồng già nua ngồi bên nhau kể chuyện đời xưa… Tất cả đều khỏa thân, trông thật hùng vĩ, nhân loại trở nên cao cả đẹp đẽ vô cùng . Trong ý hướng ghi lại sự tiến hóa đời sống con người, công trình này được xây dựng do nhà điêu khắc Gustave Vigeland (1869-1943).
Bức tượng đá người đàn ông dang tay ôm lấy các con cháu mình Sau đó anh Ninh đưa chúng tôi về nhà anh chị Thanh Tâm để ăn cơm chiều tại đây. Anh vừa lái xe vừa kể cho chúng tôi nghe chuyện đời lính, chuyện đời tù rất linh hoạt. Là quân nhân ở chốn sa trường trận mạc, đối diện với cái chết thường trực, anh có cốt cách hào hùng chen lẫn nét văn nhân. Anh chị Thanh Tâm và Khánh Hà đón tiếp chúng tôi với bữa cơm chân tình, thịnh soạn vói món cá Hồi đặc sản của Na Uy, cá Hồi nướng cuộn bánh tráng với các thứ rau sống mới ngon làm sao. Đặc biệt hơn, Na Uy có một loại tôm rất ngon, tuy bé nhưng cho thịt ngon ngọt và dai. Paris tuy có nhiều tôm cá từ khắp nơi đưa về nhưng không có loại tôm này . Tôi muốn hàn huyên với anh chị Thanh Tâm nhiều, nhưng nghĩ mình phận đàn bà, nên ngồi nghe qúy ông phát biểu lời châu ngọc. Chị Khánh Hà có cùng sở thích, chăm hoa phong lan. Lan Cattleya là loại lan khó cho hoa lần thứ hai trong nhà, nhưng nhà chị đã có hai chậu màu tím và trắng nở lần thứ hai rất đẹp. Hoa là một phần sự sống quan trọng như ăn uống hơi thở của những ai đam mê cây cảnh. Thế giới Hoa là thế giới của những tâm hồn trầm tĩnh lắng đọng . Hoa nở luôn đem tới niềm hoan hỷ cho người trồng, vì cuộc đời này mấy khi được hỷ hoan .
Nhà văn Tâm Thanh là người nói ít, kiệm lời, nhưng tôi biết anh chu đáo trong từng suy nghĩ. Anh cho tôi xem bức hình chụp cùng bạn đồng môn ở Viện Đại Học Đà Lạt xưa kia, có ông cậu Bùi Xuân Bào ( dạy văn chương Pháp) đứng bên, làm tôi bồi hồi . Thấy hình chị Khánh Hà xưa cùng ra trường Quốc Gia Hành Chánh với anh, thật là duyên hạnh ngộ. Ôi những tấm hình bất tử. Chị cho biết ” dạo này anh Tâm rất yếu, có các anh chị ghé chơi, anh rất vui , anh có thêm sinh lực “.
Để cất giữ lâu dài kỷ niệm buổi gặp mặt hôm nay, gia chủ đề nghị chụp chung một tấm hình bên ngoài vườn lúc trời chiều còn nắng . Chúng tôi bốn ông và ba bà, chị Khánh Hà, chị Thức hiền thê của anh Ninh và Diệu Tâm tôi, được ống kính rất “pro” nghệ thuật của gia chủ ghi lại khoảnh khắc “hình ảnh một buổi chiều”. Tấm ảnh cho thấy mọi người đang ở trong một khu rừng xanh mát, có nắng chiều lung linh từng đốm sáng . Ánh nắng chiều như đọng trên tóc trên vai áo mỗi người. Tấm ảnh làm tôi chợt nhớ bản nhạc Nắng Chiều của Lê Trọng Nguyễn với cung bậc dạt dào đầy xúc cảm . Tấm hình sau này sẽ gợi cho chúng tôi nhiều vấn vương kỷ niệm. Tấm hình chất đầy ” nắng vương thềm” của một buổi chiều quạnh hiu và thơ mộng, nơi cư ngụ của đôi văn nhân và thi nhân Tâm Thanh và Khánh Hà.
Tôi cho rằng nắng buổi chiều là thời gian đẹp nhất của kỷ niệm, thời gian của một ngày sắp tàn, ấp ủ và luyến tiếc… Nắng buổi chiều thường đậm đà hơn buổi sáng, và luôn gợi lên niềm nhớ thương trong lòng người . Qua hôm sau, hướng dẫn viên đưa chúng tôi đến thăm Nhà Việt Nam, một cơ sở của cộng đồng người Việt tỵ nạn ở Oslo. Nơi đây chúng tôi được gặp nhiều vị
xưa là những nhân vật của VNCH, lại một phen nghe nghe kể chuyện chúng mình. Nghe nói ban ẩm thực có nấu phở, Nhà Tôi như buồn ngủ mà gặp chiếu manh, ăn một lèo cạn hết bát phở khen ngon thật ! Oslo ít người Việt hơn Paris thế mà cũng xây dựng gìn giữ được một ngôi nhà làm nơi hội họp cho cộng đồng VN xa quê . Thật là đáng khâm phục ! Paris chia năm xẻ bảy các nhóm hội đoàn, ít ai ngồi lại với nhau, mỗi người là một cõi trời riêng ta.
Tôi chợt nhớ tới ông bà Nguyễn Hữu Nhật và Nguyễn Thị Vinh cũng ở Na -Uy, hỏi một vị ở Nhà Việt Nam, xin cho hỏi thăm. Qua điện thoại tôi được biết bà Nguyễn Thị Vinh già yếu đang ở nhà hưu dưỡng, còn ông Nguyễn Hữu Nhật bệnh hoạn sức khỏe yếu kém một mình ở nhà. Hai ông bà lấy nhau không có con cái, về già thật là neo đơn chiếc bóng. Mới hai ba năm trước, ông Nhật qua Paris ra mắt tác phẩm văn xuôi “Hoa Đào Năm Ngoái”, ông có nhờ tôi giới thiệu. Sách ông viết như một thứ nghị luận thời thế lịch sử VN từ thời vua Quang Trung Nguyễn Huệ đến thời Nguyễn Ánh lên ngôi, nghi ngút chữ nghĩa. Tôi đọc năm lần bảy lượt để hiểu nội dung, thôi thì thuận đâu viết đó. Đọc sách để cảm nhận, tôi ô-kê, nhưng để giới thiệu cho tử tế, không phải chuyện dễ dàng. Những kẻ tài hoa của một một thời, văn nghệ sĩ VN nổi tiếng đã mất đi rất nhiều, chết vì bị tù đày, chết vì bệnh tật già yếu. Tuy đời người tàn dần qua năm tháng, nhưng họ lưu hương cho văn hóa đời sau.
Hôm sau anh Ninh mời chúng tôi đến ăn cơm gia đình. Hiền thê của anh Ninh vui tính, nhanh nhẹn, người gốc Ninh Hòa xứ sở nổi tiếng làm nem. Tôi hỏi chị cách làm nem nướng, xứ lạnh bên đây làm nem khác với bên nhà, cần phải biết bí quyết. Quả nhiên chị Thức là người nhiều kinh nghiệm. Anh chị ấy đông con cháu, nên bữa cơm thật là vui vẻ. Nhất là khi Nhà Tôi trổ tài “hùng biện” về Tử Vi, khiến ai nấy đều chăm chú nghe. Tử Vi là môn “dự đoán thời tiết” của đời người, đề phòng bão táp mưa sa. Tôi không dám lạm bàn, vì phức tạp như sao trên trời.
Trước khi về lại Paris, chúng tôi được anh Thanh Tâm tặng cho hai cuốn sách tựa đề “Thiên Nga Giữa Cõi Người” do Văn Học xuất bản 1999, và cuốn “Thiên Hương Về Trời” do tác giả xuất bản 2010. Anh Phạm Tín An Ninh tặng tập truyện “Ở Cuối Hai Con Đường” , tác giả xuất bản lần thứ ba. Chúng tôi đọc khi ngồi trên máy bay. Hai tác giả có hai lối kể chuyện khác nhau nhưng đều thu hút người đọc. À, hôm trước, đang ngồi ăn điểm tâm ở khách sạn, thấy tivi chiếu đi chiếu lại một chiếc máy bay bị rớt xuống đất lửa còn bốc cháy, thấy có người lượm lên mấy cái passeport màu nâu của hành khách. Tôi sững sờ, nhưng không hiểu tivi nói tiếng NaUy, nhìn quanh xem có du khách nào chú ý như mình không, để có thể hỏi vài câu tiếng Pháp, nhưng không một ai chú ý cả. Hình như mọi người đều không muốn nhìn cảnh tượng hãi hùng đó, nhất là đang du lịch. Sau đó về nhà Paris mới hay tin tức chiếc máy bay của Malaysia Airline bị bắn rơi ở miền đông Ukraine , trong chuyến bay có ba mẹ con người Việt Nam ở Hà Lan, xứ sở của hoa tu-líp, về Hà Nội thăm gia đình.
Đến sân bay Gardermoen, thiên hạ đi Paris đông như kiến cỏ. Anh chị NinhThức tiễn chúng tôi ba người đến tận cửa kiểm soát hành lý. Anh chị Thanh Tâm buồn tiếc không thể đưa chúng tôi về. Lần này dịch vụ kiểm tra khá kỷ lưỡng tận tình. Có lẻ tôi bị nghi ngờ đem theo trong người hàng quốc cấm nên bị rà soát tận tình, người kiểm soát nói gì đó bằng tiếng địa phương, chẳng hiểu mô tê chi, tôi nói bằng tiếng Pháp , anh ta cũng chẳng hiểu mô tê chi, nên cho qua . Nước Pháp dạo này bị đám Hồi Giáo quá khích hăm dọa đủ điều. Dọa thì dọa, đi chơi cứ đi, chẳng ai sợ, sống chết có số .
Yên vị trên máy bay, nhìn ra bên ngoài ô vuông cửa sổ, trời buổi chiều vẫn còn nắng. Nắng rất nhẹ. Mấy đám mây đan dính vào nhau trên bầu trời, nhìn mãi không thấy mây bay đi. Tưởng chừng như mây lưu giữ cho chúng tôi một mảnh trời trong ký ức. Và có lẻ nắng chiều nơi đây ngừng trôi trong giây phút này …
Trần Thị Diệu Tâm
Paris tháng 8/2014
Nghiêng Mình Xuống Thời Gian
Trần Thị Diệu Tâm
 
 Thời gian ?

   Thời gian thường được vẽ như một đường thẳng,
    trong đó quá khứ nằm ở bên trái, còn tương lai nằm
    bên phải phía trước, hiện tại đứng ở giữa. Khái
    niệm đó thật là dễ hiểu. Nhưng vẽ một đường thẳng
    rồi phân định ba điểm qúa khứ hiện tại và tương lai,
    cho rằng đó là biểu tượng thời gian, thú thật qúa
    đơn giản. Đơn giản để tìm thấy sự giải thích hợp lý.
   Có người sợ súng sợ đạn, sợ chết. Riêng tôi thì sợ…
    thời gian.
   Thời gian chỉ là một ý niệm, phi vật chất, nhưng chính nó làm tàn tạ bao điều tốt đẹp về vật chất lẫn tinh thần. Chính nó làm quên lãng nhiều điều chúng ta cần phải nhớ. Do đó thời gian ít khi chiếm được cảm tình của con người. Nhưng dù bị ghét bỏ hay được trân trọng, nó vẫn đương nhiên tự tại, vì nó là một thứ uy quyền vũ trụ.
Tôi sợ, vì nó ra đi không bao giờ quay về hay trở lại ghé thăm mình lần thứ hai. Buổi sáng 8 giờ ngày hôm qua, không giống như buổi sáng 8 giờ ngày hôm nay, vì mọi chuyện đã đổi thay. Sự thay đổi phải chăng là do thời gian tạo ra. Nếu không thay đổi, chắc chắn chúng ta không biết thời gian là gì. Nếu không có bốn mùa thay đổi trong một năm, thì chúng ta làm sao có mùa Xuân cho hoa nở, mùa Hạ cho nắng reo vui, mùa Thu cho thi nhân than thở, và mùa Đông lạnh tưởng nhớ nhau ?
Có người cho rằng thời gian chạy qúa nhanh, nhưng có lúc không hiểu vì lý do chi lại nói thời gian sao đi chậm qúa. Đúng là miệng lưỡi con người, khi nói này, khi nói khác, không biết đâu mà theo.
Với tôi, có lẻ như một số người khác, đến một giai đoạn nào đó, thích trở lại với qúa khứ mình bằng cách này hay cách khác. Có nghĩa là muốn quay lùi về phía sau bên trái con đường thẳng. Phải chăng, vì con đường bên phải phía trước sắp bị nghẽn, không tiến bước được.
Tìm về qúa khứ, kỷ niệm, là một cách sống lại lần nữa chính đời mình. Cũng thú vị lắm.
Trong văn học Pháp, Marcel Proust, tác giả của bộ tiểu thuyết độc nhất, nhưng độc đáo, Đi tìm thời gian đã mất, làm sống lại những hoài niệm về tuổi thơ, tuổi trẻ, về tình yêu trong sự cảm xúc sâu lắng của trái tim, và trong vẻ đẹp triết học. Để rồi tác giả than vãn thiên đường thật sự chính là thiên đường đã đánh mất.
Từ ngày còn trung học, tôi thắc mắc rất nhiều về cái tựa đề À la recherche du temps perdu, mặc dù không học văn chương Pháp, không biết tác giả là ai. Nhưng đã cảm nhận một nỗi niềm sâu xa thầm kín về ký ức một đời người, vì « thời gian đã mất ».
Nhà văn nhà thơ thường bi quan với hiện tại. Tôi không thuộc đẳng cấp với những người bi quan . Nhưng muốn nhớ kỷ niệm để thấy mình sống thêm lần nữa đời mình .Và chính mùi thơm của các loài hoa đã dẫn dắt tôi trở về vùng ấu thơ đầy những hình ảnh sống động, tưởng chừng như đang xem một cuốn phim quay chậm, nhân vật chính là tôi.
Ôi những nụ hoa, xin cám ơn món qùa tặng thiêng liêng của Đất Trời.
Xin kể rằng, tôi mua cây hoa Lài ở phố Tàu quận 13, Paris. Một cây cuối cùng còn sót lại lăn lóc, với những chùm nụ trắng nõn đang đưa mắt nhìn tôi cầu cứu. Nếu qua ngày mai không ai mua, cây sẽ chết, chùm nụ sẽ héo. Sau một tuần chăm sóc, các chùm nụ mạnh mẽ vươn ra ngoài ánh nắng cửa sổ ban mai. Những nụ non trắng tinh khôi tỏa nhẹ một mùi thơm thoang thoảng…
Dạo ấy còn học tiểu học, bài vở không chi nhiều, nhưng gia đình Ngoại luôn bắt con cháu phải cố gắng học hành chăm chỉ khuôn phép, từ đứa nhỏ cho đến đứa lớn. Tôi là con bé chúa lười, buổi tối ăn cơm xong, tôi giả vờ để cuốn vở trước mặt, nhưng đầu óc lơ mơ. Gió mùa hè mát rượi thổi qua cửa sổ, gió đem theo cả một mùi thơm ngào ngạt. Tôi hỏi người Dì đang ngồi bên cạnh,
– Dì ơi mùi chi thơm quá ?
Dì đang lén lút đan áo len cho ông bồ nhà binh sắp về phép, Dì cũng giả vờ để một cuốn vở trước mặt, thỉnh thoảng Dì đọc to lên những câu Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt, xếp bút nghiêng theo việc đao cung, thành liền mong tiến bệ rồng./ Chí làm trai dặm nghìn da ngựa, gieo thái sơn nhẹ tựa hồng mao… cho mọi người biết Dì đang học hành chăm chỉ. Tôi biết tỏng, nhưng không nói cho Ngoại, tôi thương Dì. Tôi thuộc lòng những câu thơ Dì học, mặc dù tôi chỉ mới học lớp ba.
Dì giật mình ngừng đọc, trả lời :
– Ừ, đúng là mùi bông Lài bên nhà bà Tham.
Nhà bà Tham cũng gần, gió đưa hương làm tôi ngây ngất, ai mà chẳng thích mùi thơm. Tôi lại thích bắt giữ nhốt kín mùi hương trong tay đừng cho nó bay đi trong gió đêm.
– Dì ơi, Ngọai có hỏi thì nói cháu qua nhà con Hường mượn sách nghe Dì.
Dì gật đầu, vì luôn bao che tôi, và lẽ dĩ nhiên tôi không cho ai biết về chiếc áo len đặc biệt kia.
Thế là tôi lách mình ra ngoài, nhón chân chạy nhanh qua phía ngõ nhà bà Tham, như con mèo con. Len vào được cổng rào, tôi tiến về phía mùi hương, nhờ ánh đèn hắt ra từ cửa sổ, tôi thấy mấy bụi bông Lài đầy bông trắng xóa. Đưa hai tay vuốt nhẹ, bức sạch hết cho vào hai bọc áo. Xong, mèo con chui khỏi hàng rào thong thả vào nhà.
Ngồi trở lại trên bàn học, người tôi toát nồng hương hoa. Dì mĩm cười :
– Con ni đi hái trộm bông Lài phải không.
Tôi làm thinh, chia cho Dì một nắm bông trắng tươi :
– Dì ướp vô áo len đó cho thơm.
Dì ngạc nhiên nhìn tôi, sững sờ với lời khuyên rất hữu lý của con cháu bé học lớp ba.
– Coi chừng bà Tham biết.
– Không, chỉ có cháu và Dì biết thôi.
Tôi định bụng sáng mai vào lớp chia cho mấy con bạn ướp vô sách vở, vừa thơm vừa học bài mau thuộc. Tôi không dám đưa cho Ngoại bỏ vô trà như lời Ngoại thường nói, trà ướp lài ướp sen thơm lắm.
Từ sáng tinh mơ hôm sau, tôi nghe giọng mụ người làm nhà bà Tham đứng ở cổng chưởi đổng:

Con ranh mô đồ yêu qủy đến nhà người ta hái hết bông lài, ban đêm không ngủ ngáy mà đi phá làng phá xóm, có hái thì cũng phải để chừa cho người ta một ít chớ, đứa mô mà ác đến rứa tề…

Trong câu chửi xéo chửi xiêng của mụ, mụ cho rằng chỉ có con chứ không có thằng. Vì con gái mới thích đi bẻ bông trộm bông, còn thằng thì thích trộm… gà trộm vịt.
Tôi đi đến trường phải qua một lối khác xa hơn, tránh nhà bà Tham, lỡ có ai nhận ra tôi là thủ phạm chăng. Tuy bị nghe chửi đổng, nhưng việc lén lút hái trộm bông trộm hoa ban đêm gây cảm giác thích thú kỳ lạ. Có lẻ tại vì mùi thơm nồng nàn của hoa, hay tại vì đêm tối thường phát sinh ra ý tưởng mạo hiểm mà ban ngày không dám nghỉ tới. Hay cũng tại vì những ngôi nhà vườn Huế đầy hoa đầy trái, rất quyến rũ cho tuổi thơ dại.
Đó, hoa Lài của tôi ngày xưa. Giờ đây đem chậu Lài về nhà, vẫn chính mùi hoa ngày ấy, vẫn chính mùi thơm xưa. Có lẻ nó theo ông bà cha mẹ dạt qua xứ này gặp tôi chăng ? Người biết có luân hồi , cây cỏ có sự sống biết đâu cũng tái sinh.
Nhìn hoa, hít mùi thơm vào lòng, như hít cả một trời quê hương tự ngàn xưa.
Còn mùi hoa gì cho lòng tôi xao động nhớ quê nhớ nhà tha thiết ? Xin thưa, đó là hoa Mai. Cây hoa Mai tôi đem về từ Cali, gói ghém cẩn thận cầm tay lên máy bay, giấu ở dưới gầm ghế ngồi, không cho cô tiếp viên Américain Airlines thấy. Người đi trên máy bay về rất mệt, nhưng cây Mai về đến nhà vẫn còn đầy nụ và lá xanh non.
Qua hai tuần sau đúng như dự đóan, hoa Mai nở ngay trong phòng khách. Tôi nhớ sáng hôm ấy, một buổi sáng thật kỳ diệu. Tôi bỗng chợt tỉnh, như có ai đánh thức mình dậy. Nhìn đồng hồ thấy còn sớm qúa mà, nhưng tôi không thể ngủ tiếp. Như thói quen thường lệ, việc đầu tiên trong một ngày mới, ngắm hoa. Vì hoa thường nở vào không khí đêm tĩnh lặng. Cả hai chùm nụ đang hé môi cười tình, dù bình minh chưa đến hẹn. Tôi hiểu ngay rằng hoa thức giấc tôi để báo hiệu nó đang mời gọi chào đón. Mỗi đài hoa có sáu cánh mỏng như cánh bướm non mới rời kén, màu vàng đẹp như giấc mơ. Tôi cúi xuống gần, hương Mai nhẹ nhàng biết bao, ấm áp và êm đềm. Đó là hương của mùa Xuân, của ngày Tết quê nhà.
Ôi ngày Tết quê nhà. Tôi quay nhìn lên bàn thờ gia tiên, đốt một nén nhang. Dù sáng hôm ấy không còn Tết nữa, nhưng trầm hương chen lẫn hoa hương làm tôi rưng rưng nước mắt chạnh nhớ quê xa, xa trong không gian và xa cả thời gian.
Tôi tưởng chừng như mình đang mọc đôi cánh trắng, nhẹ nhàng bay ra khỏi nơi này, trở về chốn cũ.
Vườn cây bên nhà Nội tôi có một gốc Mai thật đặc biệt, già nua cằn cỗi, thân cây nổi từng u gỗ như những con mắt lồi, thỉnh thỏang đe dọa hay canh chừng khi tôi mãi mê đánh đu trên mấy nhành ổi non. Nghe Nội nói ông Cố trồng từ khi tạo dựng khu từ đường này, trước khi cha tôi sinh ra, Cố làm thượng thư trong triều, nổi tiếng thanh liêm. Dạo ấy tôi chẳng hiểu thanh liêm là nghĩa chi chi, nhưng biết nó đi theo với chữ nghèo.
Tôi nhớ vào dịp trước Tết, cây Mai ra nụ chen chúc đầy nhánh, nhánh nào cũng đầy ắp nụ mập ú và bóng mẩy. Có người hàng chợ trên xuống thăm Nội, nhìn ngắm cây Mai hòai không chán. Sau đó họ cho người đến cưa phần trên cả chục nhánh, Nội dành lấy một cành đẹp nhất. Người mua đưa Nội một ít tiền, Nội thở dài. Nghe Nội chép miệng dành tiền mua gạo. Cành Mai cuối cùng chưng trong nhà Nội, nở đầy hoa thật đẹp vào đúng ngày mồng Một, làm tươi thắm gian nhà âm u những âm hồn. Những bàn thờ đầy hình đầy ảnh cố ông cố bà, chú bác bà cô chết non chết trẻ. Tôi rất kinh sợ khi nhìn họ, chỉ chăm chăm nhìn những dĩa trái cây và các dĩa bánh khảo bọc giấy xanh giấy đỏ. Tuy thèm những chiếc bánh đẹp mắt, tôi không dám trộm một cái nào, vì thấy hình một bà cô luôn đưa đôi mắt sắc sảo nhìn tôi đăm đăm. Nội nói bà cô rất đẹp, Cố ông định tiến cung vua, nhưng chưa tiến thì cô chết yểu. Chạy ra vườn, cây Mai trước nhà trơ trụi, hoa không lá không. Trông như một người đàn bà bị gọt đầu bôi vôi, buồn dã dượi. Nội cho tiền mừng tuổi, có lẻ trong đó có cả tiền bán cây Mai. Ngoài sân lúc bấy giờ hình như không có nắng, chim chóc thôi về ríu rít, nắng đi mất rồi. Đó là một ngày Tết thật buồn tẻ. Nhà đã vắng người nay còn trống vắng hơn nữa. Cây Mai trước nhà như một ông hộ pháp gìn giữ từ đường này qua bao nhiêu năm tháng, qua bao nhiêu biến động, để con cháu tụ họp vào những ngày giỗ chạp. Thấy tôi ngẩn ngơ nhìn cây Mai trọc đầu, Nội nói sang năm nó sẽ trổ bông đẹp hơn nữa. Nhưng sau đó, tôi không còn ở với Nội. Vùng quê ấy mất an ninh, Nội vào chùa tu ẩn, ngôi từ đường hoang phế, thỉnh thoảng có ông già trong họ đến rẫy cỏ, quét nhà. Trong ký ức tuổi thơ tôi, dầy đặc biến động chiến tranh, cùng với những mất mát, có cả mất mát về một cội Mai ngày Tết năm ấy. Giờ đây, cây Mai bé nhỏ nâng niu đem từ xứ Mỹ về chỉ sống sau bốn tuần, khi đã nở hết tất cả các nụ xinh xắn cho tôi ngắm cho tôi giữ vào lòng hơi ấm mùi hương. Rồi cây bắt đầu gầy guộc, lá rụng xuống, tôi lo lắng chạy chữa đủ mọi phương cách. Trong lúc thẫn thờ nhìn cây Mai đang dần dà gục xuống, tôi nghe như có tiếng thì thầm tuyệt vọng: “Chị đem em từ bên kia qua sống bên này là không phải cách, không đúng với luật sinh tồn Trời Đất. Chị tưởng rằng em có thể sống được nhờ ánh nắng, nhưng đâu phải ánh nắng nơi nào cũng giống nhau. Đừng tưởng rằng trái đất chỉ có một mặt Trời và cùng một thứ nắng. Nắng quê em không phải là nắng ở đây, gió quê em không phải là gió quê người. Em động lòng vì tình yêu của chị đối với em, đưa em qua ngàn dặm về đây, xin nở cho chị chỉ một lần thôi vào sáng hôm ấy, em đem tất cả sinh lực còn lại để trao tặng chị những chùm hoa thơm đầu tiên và cuối cùng”. Từ đó cây Mai kiệt sức, khô héo. Biết không thể trồng Mai ở xứ lạnh này, tôi có ý định mua một chậu mai giả đem về nhà cho đỡ nhớ. Nhưng hoa giả không có sự sống, nên ngần ngại. Dù không còn hiện diện cùng tôi mỗi ngày, nhưng cây Mai bé nhỏ ấy luôn xuất hiện trong tâm hồn với mùi thơm dịu dàng êm ấm của nó. Cũng như cội Mai già ở từ đường ngày xưa vẫn luôn hiện diện sinh động, và thỉnh thoảng lại nhẹ nhàng trổ bông trong ký ức qua mấy mươi năm. Tôi cũng nghiệm ra một điều tuy tầm thường, nhưng làm tôi chú ý : Chính sự sống của hoa đã giải thích cho tôi biết thế nào là chuyển dịch của thời gian. Cùng với cách giải thích này, hoa cũng là một người bạn rất tốt giúp tôi làm sống lại bao điều, trí óc tôi lành lại với những thương tổn do đời biến động. Mỗi khi tôi chợt thức giấc sớm hơn thường lệ, biết rằng sáng ấy có một bông hoa nào đấy đang nở trong nhà. Tưởng chừng như có một giao cảm nào đó giữa người và hoa. Vì đời người cũng như đời hoa, có chung một luật định của tạo hóa qua thời gian. Sống và chết. Nở và tàn. Người yêu hoa và hoa yêu người. Sự hỗ tương thật đáng qúy.
Trái tim người có khi không đập cùng nhịp với người, nhưng luôn cùng nhịp với trái tim hoa.
Tôi xin khẳng định điều này. Trong tình tự của một loài hoa nở, tưởng như tầm thường, tôi học được bao điều tốt đẹp, làm hân hoan cho đời sống bình thường lặng lẽ này, và cũng hoàn tất phần nào cái bất toàn của cuộc sống. Mỗi tuần, tôi lang thang vào vườn bán cây cảnh, tìm hoa quê mình, như tìm người thân thất lạc sau cuộc đổi đời. Xứ sở này có biết bao nhiêu kỳ hoa dị thảo, sao tôi cứ mê mãi tìm hình xưa bóng cũ ?
Trên khái niệm đường thẳng thời gian, nhờ hoa, tôi có thể bẻ cong thời gian thành vòng tròn. Để làm gì ư ? Thưa để trở về một thời điểm quá khứ bắt gặp hay sống lại những hình ảnh êm đềm trên quê hương mình. Một vòng tròn luân hồi, luân hoán, vòng tròn của tử sinh sinh tử.
Nhưng bên cạnh những hình ảnh được cho là êm đềm ấy, cũng sống lại bao điều đắng cay buồn thảm, như thể những đau đớn ấy lớn lên gấp bội trong hiện tại, theo tuổi người tuổi thời gian. Nhiều điều bất hạnh không làm mình buồn khổ trước kia, nay bỗng dưng tràn ngập xót xa khi nhớ lại. Đời sống đâu chỉ là niềm vui mà không có nỗi buồn.
Thời gian ơi, tuy biết thời gian làm tàn tạ bao điều, làm quên lãng những điều thương mến của chúng ta, nhưng thời gian làm cho cây cỏ nẩy mầm, cho hoa nở nụ, và cho người biết qúy trọng giây phút hiện tại để tận hưởng cuộc sống muôn màu muôn vẻ…
Trần Thị Diệu Tâm
Paris tiết Sương Giáng
Nhớ Ngày Di Tản


“Di tản”, đó là một nhát dao chém vào thịt da còn để lại vết sẹo dài sâu hoắm trên thể xác, làm u uẩn cả tâm hồn mỗi khi mình nhớ lại. Dù mười năm, hai mươi năm hay ba bốn mươi năm, thì vết chém ấy vẫn ám ảnh suốt cả những thân phận người Việt miền Nam.
Chúng ta không ai có thể quên, tôi không thể quên. Quá khứ trôi qua đã lâu rồi, tại sao mình cứ nhớ mãi. Chuyện nhớ chuyện quên tùy thuộc vào tâm trạng ký ức mỗi người. Người ta di tản suốt cả chiều dài Bắc Nam, người ta di tản qua hàng ngàn vạn cây số, di tản trên biển rộng gào tiếng sóng vỡ toang. Riêng tôi, di tản chỉ có ba trăm cây số từ Đàlạt về Sàigòn, nhưng với tôi, chính là vượt qua thế giới đang sống bình yên để đến thế giới kinh hoàng khác.
Tôi còn nhớ sáng hôm ấy, trời đang còn xuân, hoa anh đào đang âu yếm tươi cười với nắng mai. Tôi lái xe ra phố chợ Hòa Bình thong dong lượn qua phố xá, mua vài thứ cần dùng, bỗng đâu một đám đông ồn ào làm ai nấy chú ý. Người đàn bà mặt mày hớt hãi nói lắp bắp : Việt Cộng vào Ban Mê Thuột rồi, ở đây chắc cũng không yên, lo chạy đi. Tôi vội lái xe về nhà, lòng hoang mang lo lắng . Nhà tôi từ trường Võ Bị về, hỏi ngay về tin đồn . Anh ấy im lặng cho biết, có lẻ phải đi thôi. Không nói gì thêm, thật bất ngờ, như vậy là chạy giặc rồi, xưa nay tôi nào biết có loạn ly. Đang sống cuộc sống êm đềm với ngôi nhà mới xây, với vườn tược cây cối, với mấy đứa con xinh xắn, với trời trong xanh mát của Đàlạt, mà đi đâu. Trong vườn nhà, cây bích đào đang khoe những nhành hoa thắm đỏ, cây mimosa đang nở hoa vàng dịu dàng đưa hương. Tại sao tôi phải bỏ nơi này mà đi ?
Khi tôi lo lắng thì mọi người cũng đã lo lắng, thiên hạ đua nhau chạy mua vé máy bay về Sàigòn, hình như đó là điểm tựa cuối cùng. Tôi không biết hay không thể biết sẽ xảy ra điều gì sắp tới. Mọi suy nghĩ lý trí như chết cứng, chết sững, không ai có thể suy đoán bất cứ điều gì, vì mọi dự đoán đều không chứng cớ, vậy chỉ biết làm theo giống người khác. Tôi hấp tấp ra Air VietNam hỏi vé , cô tiếp viên mặt lạnh như tiền cho biết hết vé rồi, tôi đề nghị giá gấp ba cũng không, chuyến cuối cùng không còn một chỗ trống nào. Thấy người nào mặt mày cũng lạnh tanh, chẳng ai nói với ai lời nào, biết cái gì mà nói với nhau. Ngay vợ chồng chúng tôi cũng vậy, im lặng trong sợ hãi, không biết tính toán ra sao.
Không có vé máy bay thì sao? Ở lại đây à? Cộng sản có vô đây không ? Nếu họ vô thì chắc chết hết, nhà tôi là quân nhân mà. Bao nhiêu thắc mắc dồn dập, biết hỏi ai bây giờ, ông Trời chắc cũng không biết, đừng nói Dieu seul le sait. trong trường hợp này. Mọi ngày chúa nhật, tôi đi lễ cầu xin mọi điều tốt đẹp, bây giờ tôi e rằng chúng tôi, không thuộc loại người trong số loài người được chúa yêu . Hoặc rằng, khi Chúa yêu thì cần phải khổ đau nhọc nhằn, tôi không hề muốn được yêu theo kiểu ấy.
Tối hôm đó, nhà tôi bàn bạc: ” Không có vé máy bay, thôi em lái xe đưa các con về Phan Rang hay Phan Thiết rồi từ đó kiếm máy bay quân sự về Sàigòn, đường bộ về Sàigòn đã bị cắt đứt ở Định Quán rồi “. Tôi nói trong lo sợ “Nhưng làm sao em và các con đi một mình được ?” Nhà tôi bình tĩnh “Thì em cứ lái xe như mọi ngày !” Tôi ớn lạnh, hôm nay ngày mai không còn là ngày hôm qua, không như trước nữa. Lâu nay tôi lái xe mà không qua một cuộc khảo hạch nào . Nhà tôi dạy tôi lái độ ba vòng lên xuống trên đồi sân Cù, chạy lên chạy xuống ven trường Đại Học, quanh bờ hồ Xuân Hương, rồi ông bạn ở công chánh cấp cho bằng lái xe, thế là xong ! Khả năng lái xe vậy, giờ đây tôi phải đem các con di tản , đem các con chạy giặc xuống Phan Rang Phan Thiết ! Thú thật tôi không hề biết luật lệ, không biết các bảng hiệu ra sao, chỉ biết rồ máy chạy và thắng lại, khi cần thì tắt máy, thế thôi. Những con đường Đàlạt êm như mơ, cứ thế mà lái, đâu cần mất công nhìn ngang ngó dọc với tấm bảng chỉ đường. Khi đàn bà lái xe thì những xe khác đều phải dừng lại hay tránh xa. Chưa khi nào tôi lái xe ra khỏi thành phố. Đàlạt với tôi là khu phố chợ Hòa Bình, quá đủ cho tôi một đời sống không cần nghĩ đến chuyện chi khác. Vậy mà anh ấy đành lòng để tôi một mình với đàn con dại chạy giặc sao. Anh nói thêm một lần nữa như đinh đóng cột ” Anh không thể bỏ nhiệm sở, bây giờ vắng mặt một ngày coi như đào ngũ, anh phải ở lại “.
Tôi mới nghe vài người bỏ nhiệm sở đưa vợ con ra khỏi thành phố Đàlạt rồi, tôi nói liều, nói ngang: ” Anh bỏ mặc vợ con, vì anh có trách nhiệm với trường Võ Bị, nhưng nếu em lái xe một mình lở có chuyện gì anh có ân hận không ?” Câu trách móc làm cả hai chúng tôi đều nhói đau trái tim. Cả hai chúng tôi thấy nhiều nguy cơ đang chờ đón, chưa có hoàn cảnh nào đưa vợ chồng chúng tôi vào cảnh ngộ khó xử như vậy.
Anh nói:” Về dưới ấy để tránh bom đạn, hết đánh nhau thì về lại đây thôi, có gì mà lo “. Nhưng trước sự điềm tĩnh ấy, tôi bỗng thấy tủi thân khi phải ra đi một mình. Tôi biết anh gặp nhiều điều phiền toái trong quân ngũ sau này, chỉ mong có ngày được biệt phái trở về nghề chính đi dạy học. Thế mà trong hoàn cảnh này, cơ hội có thể dứt bỏ hết được các phiền toái ấy, thì anh lại nghĩ khác . Bổn phận và trách nhiệm của một quân nhân . Bộ đồ nhà binh anh mặc thường ngày đối với anh rất nặng nề và cảm thấy không mấy thích hợp, nhưng nay anh coi trọng nó, xem trọng nó hơn cả gia đình vợ con . Anh trở nên một quân nhân mẫu mực, nói nhiều câu khó hiểu . Không khí gia đình căng thẳng. Tối hôm ấy tôi đi ra đi vào ngôi nhà rộng thênh thang mới xây, tất cả bàn ghế màn treo đều còn mới . Tôi không biết nên đem theo cái chi , bỏ lại cái gì. Phải lo cho con trước hết, chúng tôi có bốn cô con gái, đứa lớn nhất mới sáu tuổi, đứa bé nhất mới một tuổi. Cần phải ra khỏi Đàlạt sớm chừng nào hay chừng đó, lở ra Việt Cộng tràn vào, e thoát ra không kịp.
Ngày hôm sau nhà tôi cho biết có xe của anh chị B. cũng đi về Phan Rang, và gửi gắm tôi và các con cho họ. Anh chị B. quen biết với ty điện lực nơi này, có chỗ ở tạm. Tôi có thể yên tâm lái xe theo sau xe họ, nếu có chuyện gì không may xảy ra, nhà tôi cũng đở lo hơn. Lúc ấy đầu óc tôi trống trơn nghe sao thì làm vậy, không còn phản ứng gì thêm. Hai gia đình chúng tôi ăn buổi sáng ở tiệm phở Bằng dưới gốc cây thông già trước khi rời khỏi thành phố. Vợ chồng có bốn con từ giã nhau không giống như tình nhân, không có biệt ly buồn vời vợi, không có nhớ nhung từ đây, và cũng không ôm hôn nhau . Chúng tôi lặng lẽ, anh nhìn theo các con, con bé nào cũng đưa đôi mắt to đen nhìn bố cười. Chúng tưởng sắp đi chơi xa với mẹ. Để chăm lo chúng trong những ngày di tản, tôi đem theo o giúp việc ngồi băng ghế sau giữ các bé. Con bé út được buộc chặt trong cái ghế nằm của nó, ngoan ngoãn không một chút cựa quậy. Tôi bắt đầu kiểm soát máy móc như một người đàn ông kinh nghiệm, mới hay cái phanh chân không nhạy, đạp thắng đến ba lần xe mới đứng, xăng thì đầy anh nói mới đổ hôm qua. Chiếc xe Volkswagen cho anh bạn mượn vào rừng làm gỗ, mới trả lại chưa kịp đưa vào ga-ra sửa. Dạo ấy, nhiều vị thân hữu Đàlạt đều thích dùng loại xe Volkswagen đơn giản nhẹ nhàng này, gia đình anh chị B. cũng di tản trên chiếc xe màu xanh giống của chúng tôi.
Hai chiếc xe hơi giống nhau, nối đuôi chạy xuống đèo hướng Phan Rang, tôi cứ phải nhấp chân theo nhịp ba để xe chạy chậm uốn theo con đường ngoằn nghèo chữ Z . Cái nhịp ba điệu valse này không là nhịp ba mộng ảo quay cuồng tay trong tay, nếu sai nhịp chiếc xe sẽ lộn nhào xuống hố sâu vực thẳm dưới kia. Nếu lái xe mà lòng cứ hãi hùng thì thật là một thảm họa, tôi cần ung dung bình tĩnh, bám sát theo sau xe của anh chị B., không cho một xe nào chen lấn vào giữa. Hôm đó xe cộ rất ít ở đoạn đường này, có lẻ dân chúng các vùng tây nguyên chưa tràn xuống đây. Nhìn vào kính chiếu hậu, con bé lớn đưa tay quàng qua vai đứa em như tỏ ý che chở. Hình như nó cảm được điều gì đó bất thường, dù mới sáu tuổi, còn mấy đứa em ngủ gà ngủ gật. Tôi cảm nhận mình trở thành một người đàn bà không như mọi ngày, khác hẳn mọi ngày. Trước nguy cơ, bản năng con người sinh tồn luôn cứng cỏi tự tin. Tôi nhớ khoảng năm ngoái, cũng trên đoạn đường này tôi và con bé ngồi trong xe một chị bạn có chồng làm trưởng ty thuế vụ Nha Trang, theo chị về chơi thành phố biển. Lúc ấy xe xuống đèo làm ruột gan cồn cào, xe phải dừng lại để nôn ọe ra ngoài, mệt không thở nổi. Một đèo, một đèo lại một đèo, khen ai khéo tạc cảnh cheo leo … nữ sĩ Xuân Hương ơi, tôi có thể nào làm thơ diễu cợt trong cảnh ngộ này chăng . Nhà thơ là người khéo tưởng tượng, thấy chuyện này nghĩ ra chuyện nọ, nhìn cảnh thấy người, nhìn người lại nhớ ái ân. Tôi lái xe thong thả để khỏi phải nhấp chân nhịp ba nguy hiểm, chúng tôi đến Phan Rang vào giữa trưa. Mấy mẹ con được ở trong phòng dành cho khách công ty điện lực, có máy điều hòa không khí, có máy nước nóng . Ông trưởng ty không thấy đâu, có lẻ đã lo bay về Sàigòn rồi, chỉ còn lại vài nhân viên địa phương. Di tản như chúng tôi thế này cũng như đi nghỉ hè, tôi an tâm làm khách du lịch bất đắc dĩ. Nhà tôi căn dặn trước khi đi ” Về đó ở tạm rồi liên lạc người quen xin máy bay quân sự về Sàigòn ” Nhưng chờ mãi cũng không xin được máy bay quân sự. Mỗi buổi sáng tôi chở các con ra bãi biển Ninh Chữ tắm biển, về ghé chợ mua thức ăn. Gạo ở vùng này rất ngon và rẻ. Tôi hỏi bà bán gạo “Sao bác không lo chạy ? ” Bà trả lời tỉnh bơ :” Nghèo như tôi thì lo chi, sợ chi !” Đúng, người nghèo không có gì để lo mất, không có chi phải sợ hãi.
Buổi chiều, tôi ra ngoài con đường chính, thấy cả đoàn xe từ miền núi cao đổ về, ngày mỗi đông. Những chiếc xe be dùng chở gỗ nay chở các thứ gia dụng đồ đạc lỉnh kỉnh, họ đem theo cả gà vịt. Tôi sốt ruột quá, hỏi ý kiến anh chị B. thế nào.
Anh ấy nói ” Chúng ta nên tạm ở đây đi, chờ tình hình yên tĩnh rồi trở lên Đàlạt lại, không nên về Sàigòn, đó là chỗ thiêu thân ” Trong thâm tâm anh chị ấy, họ không muốn bỗng chốc mà bỏ cả cơ nghiệp Đàlạt . Vợ chồng chúng tôi cũng như anh chị ấy đều mới xây hai ngôi nhà với tất cả số tiền dành dụm lâu nay. Riêng chúng tôi có nhà ông bà nội các cháu tại Sàigòn, nhất quyết phải về. Mỗi người mỗi cảnh, mỗi người đều lý luận suy đoán không theo một cơ bản chính trị nào, chỉ dựa theo cảm tính. Ngày hôm sau, nhân viên trực công ty điện lực cho biết có người gọi điện thoại từ Đàlạt. Tôi đến bắt máy nghe.
Nhà tôi nói :” Em và các con trở lên Đàlạt ngay, anh đã mua được vé máy bay về Sàigòn rồi, đây là chuyến chót, nên đi xe đò “. Có lẻ người ta cho thêm máy bay lên Đàlạt tiếp vận. Tôi đành bỏ chiếc xe hơi thân yêu tại Phan Rang, tha đàn con dại bốn đứa theo chiếc xe đò rộng thênh thang leo dốc, trong khi đó nhiều đoàn xe ở trên đổ xuống đèo như rắn lượn. Xe chen chúc nhau đổ nhanh chừng nào hay chừng đó, tuồng như nếu chậm một giây phút người ta sẽ phải bị giết chết. Thế mà mấy mẹ con chúng tôi đi ngược dòng, trở về nơi cần phải đào thoát. (Nhưng sau đó, được về Sàigòn theo với máy bay nhẹ nhàng, còn gia đình anh chị B. rồi cũng phải trở lên Đàlạt và di tản theo đoàn quân trường Võ Bị Quốc Gia qua ngã Bình Tuy, họ phải lội qua các bãi chết, vượt qua xác chết dọc đường trong đêm tối đen, vượt qua mọi sợ hãi khốn cùng để tìm về cõi sống, một cõi sống kinh hoàng . Chị B. sau đó cứ phân bì với tôi rằng ” Số bạn đi đâu ở đâu cũng thong dong có lẻ tuổi bạn có chữ Quý ” , nghĩ lại, dù nam Nhâm hay nữ Quý cũng đều vô sổ đoạn trường như nhau sau bảy mươi lăm cả.) Tôi trở về căn nhà của chúng tôi ở Đàlạt.
Cô bé gái lớn hỏi mẹ: ” Mẹ ơi yên rồi hở mẹ, mình về nhà mình hả ?” Tôi không trả lời, lúc này không ai trả lời được điều rõ ràng, dù với một đứa bé lên năm lên sáu. Chỉ biết còn ở lại nhà này một buổi chiều nữa thôi, ngày mai sẽ ra đi. Nhà tôi chở tôi ra phố Hòa Bình trên chiếc xe máy Suzuki còn lại, vì ở nhà sốt ruột quá. Thành phố Đàlạt chiều ấy sao mà thê lương, mọi cửa nhà phố xá đều đóng kín mít, hình như ai nấy đều di tản ra khỏi thành phố rồi , hoặc ẩn núp đâu đó. Thành phố rỗng trống không, thành phố chết.
Thỉnh thoảng có một hai chiếc xe Jeep nhà binh vội vã lướt nhanh qua, một anh quân nhân đi bộ gật đầu chào nhà tôi, nhưng chẳng ai buồn nói lấy nửa lời. Bây giờ biết gì để hỏi, biết gì để trả lời. Chỉ có những người lính còn lại nơi này để ứng chiến . Ứng chiến như thế nào, không ai biết. Hình như ai nấy đang chờ đợi, chờ đợi gì ? Điều gì sẽ xảy ra trong đêm nay, hay trong tức thì ? Phải chăng đó là cái chết ? Trên đường phố vắng teo, một vài con chó hoang chạy lông bông, không biết chạy đi đâu về đâu, vì chủ đã bỏ đi rồi. Phố xá Đàlạt bất động như một bức tranh u ám, trên đó họa sĩ vẽ bằng màu sơn chết. Tuy chưa ai nghe tiếng súng mở đầu, mà chừng như mỗi ngọn cỏ xanh đang run rẫy nép mình nằm ép xuống, từng nhánh hoa đào đang thẫn thờ, ngẩn ngơ rụng những cánh tả tơi …Nhìn lại căn nhà thân yêu, tôi phải bỏ nó lại nơi này, bỏ hết mọi thứ. Phía sau lưng đồi, ráng chiều bỗng dưng đỏ ối, căn nhà nổi bật lên trong một hoàng hôn ức hiếp. Buổi chiều lạ lùng, không có một ngọn gió thổi qua, cây cối trong vườn đứng sững, như chết cứng. Một cảm xúc nức nở nghẹn ngào làm tôi khó thở. Nhìn xuống hòn non bộ trong bể nước nhỏ, đôi mắt đá nhìn tôi câm lặng chịu đựng. Thời gian ngưng đọng và nặng nề như đang vác trên vai hàng ngàn tấn sắt thép.
Một người chủ vườn rau phía sau đi ngang thấy tôi đứng trên sân nhà, hỏi: “Ông bà chưa đi sao?”
“Có lẽ ngày mai “, tôi trả lời, hỏi lại: ” Thế gia đình bác chưa đi à ?”
Bác lắc đầu ” Chúng tôi sống ở đây với nghề trồng rau, bỏ vườn tược đất đai mà đi không đành cô à, đất của mình ở đâu thì chúng tôi ở đó “. Nói xong bác lặng lẻ đi về thung lũng. Hôm ấy tôi mới thực sự hiểu thế nào là giá trị của đất đai đối với người nông dân, là mạch sống là máu thịt của chính họ. Họ không thể từ bỏ bất kỳ với lý do nào.
Tôi vào nhà, đóng lại tất cả các cửa cẩn thận, căn dặn o giúp việc vài điều và cho o thêm chút tiền công theo chân chăm sóc các con tôi trong đoạn đường vừa qua . Tôi bảo các con đi ngủ sớm. Đêm hôm ấy, thật là một đêm kinh hoàng vì lo sợ. Nằm trên giường mà mắt cứ mở thao láo. Tai tôi chờ nghe tiếng súng bên kia đồi Võ Bị vọng về, lắng nghe để biết dấu hiệu cuộc chiến bắt đầu. Lắng nghe để xem một quả pháo kích nào lệch mục tiêu rơi xuống ngay trên đầu mình ! Đêm. Đêm ma quái, đêm vô cùng thăm thẳm . Đêm không chịu chạy. Đêm đồng lõa với cái chết, nó trường mình như rắn như rết, thè lưỡi nhọn liếm khắp mặt mũi tôi. Thật chưa bao giờ tôi chịu đựng một đêm dài khủng khiếp đến vậy. Chỉ mong sao nhìn thấy tia nắng ban mai để biết rằng mình còn sống lại qua ngày hôm sau. 7 Và sáng mai tôi dậy sớm, chạy qua phòng các con lo cho chúng. Chúng chưa biết lo sợ, vì trong trí óc non nớt của trẻ thơ, chúng chưa hề biết khổ đau. Nhà tôi mượn chiếc xe jeep chở mấy mẹ con ra phi trường Liên Khương. Con bé thứ nhì luôn cầm theo con búp bê bà ngoại mua cho từ Pháp, con búp bê nhồi bông có da thịt mềm mại luôn ngủ chung không rời. Nó dấu sau lưng sợ mẹ không cho đem theo. Con bé thứ ba luôn ôm quấn theo chiếc chăn vải thân yêu, tôi bắt phải bỏ lại, nó khóc tức tưởi đem vô phòng cất dấu trong tủ. Con bé thứ tư ôm chiếc bình sữa đã cạn. Con bé lớn giản dị nghe lời mẹ, vì lên máy bay không có chỗ rộng. Con đường về Liên Khương bao giờ cũng thơ mộng, từ ngày tôi lên đây học hành cho đến khi lập gia đình. Xe chạy về trước, từng ngôi nhà từng cây thông chạy ngược về phía sau, như chạy về quá khứ. Mọi cảnh vật bị mờ xóa. Hình như chúng tôi không nói chuyện gì nhiều với nhau. Các con không đứa nào ọ ẹ điều gì, chỉ nghe tiếng gió lạnh thổi qua mau. Đến phi trường, tôi gặp vài người quen biết, có người đem theo cả đồ dùng bếp núc lên máy bay. Tôi thấy mình như một kẻ mộng du bập bềnh trong hiện tại và cả tương lai.
Từ phòng đợi ra đến máy bay là một khoảng đường tuy không xa mấy, nhưng lúc ấy sao mà xa quá. Nhà tôi đứng chờ cho cho mấy mẹ con lên máy bay. Tôi quay lại nhìn anh ấy lần nữa như nói vài lời giã biệt, trong hoàn cảnh này, từ biệt có nghĩa nào ? Còn gặp nhau hay sẽ không bao giờ gặp nhau. Các con không quay lại nhìn bố, chúng chưa biết thế nào là ly biệt.
Ngồi trên máy bay, chợt bồi hồi tự hỏi ” Chúng ta có còn gặp lại nhau ?” Phía dưới kia, người đàn ông mặc bộ đồ lính ứng chiến còn đứng đó trông theo . Người đi được an toàn, người ở lại chờ bất trắc. Sau đó chúng tôi bị cơn lốc xoáy trả thù triền miên dai dẳng của kẻ chiến thắng, cuốn hút thân phận những con đàn bà vợ Ngụy vào hố sâu thăm thẳm. Chồng tôi là kẻ bại trận, không đánh mà thua, không thua mà chạy.
Sau 30/4/75, cái mốc thời gian mà mọi giá trị đều bị đảo lộn, xoay ngược hết. Tốt thành xấu, sai thành đúng. Hèn thành sang, kẻ đi chân đất thành người ngồi xe hơi. Người không học bỗng dưng biến thành nhà thông thái đi rao giảng thông điệp cho mọi người. Cái mốc thời gian, mà ông trở thành thằng, bà trở thành con. Chính trở thành Ngụy. Còn mai vàng mai bạc trên vai trên cổ ?
Bây giờ, người còn người mất, kẻ ra đi người ở lại , kẻ còn sống người đã chết. Tất cả đều có chung nhau cả một đoạn đời đứt ruột bắt đầu với ngày di tản .
Trần Thị Diệu Tâm
Nhớ Trường Xưa

Còn một chút gì để nhớ… Đàlạt
Sau khi đỗ Tú Tài ở Đồng Khánh Huế, tôi ghi tên học thử văn khoa Pháp, thấy coi bộ không xong, văn chương Pháp đâu phải dễ dầu gì. Một năm đi dạy vớ vẫn kiếm tiền, chẳng thể định hướng được tương lai mình, bà Dì của tôi lúc ấy từ Pháp về dạy ở Couvent des Oiseaux, bèn kêu lên Đà Lạt học Chính Trị Kinh Doanh khóa 2 . Nghe cái tên CTKD thật hấp dẫn ai chẳng mê. Tôi ôkê liền. Nhất là được học tại Đàlạt, thành phố thiên đàng . Để trang trải chi phí ăn ở tại ngôi trường qúy tộc ấy, tôi phải làm thêm những việc như giám thị các buổi étude của đám nữ sinh con nhà quan, con nhà giàu. Những cô học sinh, ái nữ của các vị tướng lãnh đạo VNCH, hay các vị tên tuổi của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (sau này tôi mới biết) .Ngoài ra tôi cũng được quen biết với nhiều nhi nữ sau này là phu nhân của các chính khách nổi tiếng .
Do đó, khi ghi tên vào học phân khoa CTKD, tôi thật sự ít khi được dịp đi học ghi bài vở cho đầy đủ, may nhờ có tổ chức quay và bán cua của nhóm mấy anh SIVIDA nên đở lo. Dù không dự giờ học, tôi có đầy đủ bài vở . Từ trường Oiseaux lên đến Viện khá xa, ngồi học mà phải nhìn đồng hồ để trở vể trường làm việc. Học xong, vội vã thuê xe lam ba bánh về ngay, mắt tôi không dám liếc ngang ngó dọc anh nào chị nào cả . Tôi ao ước giá chi gia đình mình đầy đủ tiền bạc, được học hành chăm chỉ đều đặn như các bạn khác . Thỉnh thoảng có các sinh hoạt của các nhóm sinh viên được quảng bá, tôi thèm chảy nước miếng. Tuy nhiên khóa 1 và khóa 2 thường gần gủi nhau, tôi chỉ biết tên họ qua những lần nghe kháo chuyện.
Một lần, từ chợ Đàlạt đi lên Viện, qua đường Võ Tánh, trước trường Bùi Thị Xuân, bỗng có một chị chạy ra chào hỏi tôi thân tình. Tôi không biết chị, nhưng có lẻ chị biết và thấy tôi vài lần đi ngang nhà .
« Này, mình muốn nhờ bạn một việc. »
Tôi ngạc nhiên, chị giới thiệu chị trong nhóm Thanh Niên Thiện Chí, và cho biết : chị đang lo tổ chức văn nghệ ở rạp hát Hòa Bình, có mục trình diễn thời trang ,chị nhờ tôi đóng một vai cô gái VN mặc áo dài. Tôi do dự vì bất ngờ, nhưng chị nói dễ lằm, chỉ việc mặt áo dài lên sân khấu cười chào khán giả xoay một vòng rồi xong đi vô. Tôi ừ à gật đầu.
Hôm ấy, tôi lo qúa. Phải có áo dài thật là nổi mới đẹp, chị căn dặn thế . Mình chỉ toàn áo dài màu nhạt (làm việc ở trường các Bà Mẹ, đâu dám ăn mặc sặc sỡ), vậy là lo đi mượn áo. May có bạn cho mượn đỡ tấm áo màu mận chín bằng tơ lụa óng ả. Làm tóc phồng lên như tổ ong bò vẽ. Ra sân khấu, thấy phía dưới lố nhố đầy người, ớn lạnh. Tôi xoay một vòng không kịp cúi đầu chào ai cả, quên mĩm cười duyên như lời chỉ dẫn, đi vô liền . Núp trong cánh gà nghe tiếng vỗ tay, một chị nói « Ê, bồ đi ra một lần nữa đi » . Tôi lắc đầu thôi kỳ lắm .
Sau đó, một cô bạn khán giả phê bình « Tui thấy bạn xinh lắm nghe, nhưng sao mà gấp gáp qúa để cho người ta ngắm chứ ». Chẳng lẻ bạn mình lại chê mình xấu sao. Đó là một việc làm đóng góp có thiện chí của tôi . Chứ tôi chưa hề khi nào có dịp bộc lộ cái thiện chí tiềm tàng trong người. Tiếc thay !
Tôi tiếc thời tuổi trẻ mình đã không thực hiện được những điều tốt đẹp như các bạn khác. Vì thế, qúa khứ, kỷ niệm tôi chỉ toàn là chuyện vớ vẫn, chẳng đâu vào đâu, không có chi đại sự. Tháng hè là tháng tôi thích thú nhất, lợi dụng nữ học xá Viện trống chỗ, bạn bè rủ tôi vào trong đó ở chuyện trò cho vui. Có mấy chị học chờ thi khóa 2. Tôi ghi tên học thêm anh văn do một giáo sư Mỹ dạy trong tháng hè. Nhưng đi học bữa đực bữa cái. Mỗi lần đến lớp, ông Mỹ cứ bắt tôi tập đọc đầu tiên. Ông ấy nhớ tên tôi khá rõ, cho nên bữa nào vắng mặt cúp cua là ổng biết liền .
Một hôm, thấy tờ thông cáo dán trên văn phòng Viện, có tên tôi trong danh sách gặp Cha Viện Trưởng. Sợ qúa, nghĩ bụng mình đâu có mượn tiền Cha hồi nào đâu . Vì có bạn đóan mượn tiền Cha lâu qúa kỳ hạn không chịu trả . Tôi chỉ nhớ có lần đi pinic dịp hè, tụi tôi vào xin Cha cho tiền thêm để nấu nồi chè ăn cho ấm bụng. Cha vui vẻ cho ngay . Tôi không hề mượn riêng bao giờ. Tuy biết Cha Viện Trưởng là người thân thiết với gia đình bên ngoại, nhưng tôi thường tránh né Cha, vì mang mặc cảm của một học trò lười biếng sợ gặp thầy giáo cô giáo.
Đứng lấp ló sau cửa, Cha kêu vào trách cứ « Này con, Cha thuê giáo sư Mỹ dạy anh văn theo yêu cầu các con, vậy mà sao không chiụ đi học hành cho tử tế đều đặn ? » Tôi cúi đầu lí nhí nhận lỗi . Nhưng trong bụng tự biện hộ (không dám nói ra) : Buổi sớm trời còn hơi sương lạnh, nằm trong chăn ấm áp qúa, dậy sớm đi học không nổi. Vả lại, tối nào con Bích Đào cũng kể chuyện tiếu lâm cười chảy nước mắt nước mủi đến nửa đêm . Mà đâu phải chỉ mình nó, hết đứa này đến đứa khác thay phiên kể. Bích Đào là đứa kể tiếu lâm hay nhứt đám ( nghe nói đã tự tử chết sau chuyến vượt biên thất bại. Hình như gia đình này có huông tự tử . Cách đây mấy năm bà chị ruột là Bích H. ở Paris cũng đã tự vận. Trước khi tự vận, chị Bích H. than thở với tôi đủ chuyện, nhất là nỗi cô đơn, dù chị khá giàu nhà cao cửa rộng con cái thành đạt. Đối diện với cô đơn là một bất hạnh dẫn đến thảm kịch. Từ bất hạnh cô đơn đau khổ, dẫn đến sự phản kháng tận cùng bằng cái chết cho chính mình.)
Sau khi bị Cha rầy la, tôi gắng dậy sớm đi học anh văn, một thời gian ngắn là tựu trường. Tôi phải trở lại Couvent des Oiseaux. Hết hưởng được không khí sinh viên vui nhộn, bắt đầu đi đứng nghiêm trang trong những hành làng luôn có đề bảng « Silence ». Bây giờ, tuổi đời xế bóng, tôi thích đi học hơn bao giờ hết. Cái gì cũng muốn biết muốn học hỏi thêm. Tôi cắp sách đi học anh văn hằng tuần. Học hăng hái, học hăng say. Cũng như ngày xưa với ông giáo sư Mỹ, cô giáo Anh nay cũng luôn miệng gọi tôi đọc trước tiên, có lẻ vì tôi là bà học sinh người Việt duy nhất trong lớp học. Vừa học vừa nhớ chuyện ngày xưa, lòng ăn năn nếu xưa mình chăm học như nay, thì Cha Viện Trưởng vui mừng biết bao nhiêu. Cha bỏ tiền thuê giáo sư Mỹ dạy mà con bỏ học hoài ! Sau mỗi năm học, tôi đều được lên lớp, không biết nhờ may mắn hay nhờ mình cố gắng học hành. Cái môn toán kinh tế hay toán kinh thương tôi đại dốt . Trong thời gian học năm thứ 3, ngành « Quản Trị Học », tôi đi lấy chồng bỏ ngang chuyện học hành. Khi thưa chuyện lấy chồng với bà Dì nữ tu, tưởng bà mừng cho tôi có nơi có chốn tử tế, ai ngờ bà thất vọng, vì nghĩ rằng thế nào tôi cũng theo chân bà vô Nhà Dòng này !
Trời ơi, tui làm sao mà tu cho nổi.
Cũng vì nghĩ , con gái mười hai bến nước, thấy bến nào nước trong và mát mẻ thì ghé bến tấp thuyền cho xong . Chàng lúc bấy giờ nổi tiếng Đàlạt với môn dạy Toán, hào hoa phong nhã . Ông Thầy Chử Bá Anh giới thiệu trong thời gian tôi dạy ở Văn Học đường Hoàng Diệu. Thấy chàng ít nói nghiêm trang, tui chịu. Nhưng không biết chàng có chịu mình không . Cô bạn gái dặn dò , nè mi coi chừng nghe, coi chừng bị gài số de đó, nghe nói ông này đào hoa. Nghe vậy tui sợ qúa, mình chẳng hương sắc gì, bèn thưa với chàng phải xin bố mẹ dưới Sàigòn cưới hỏi đàng hoàng thì tui mới dám cho tiếp tục đón đưa. Lại thêm điều kiện vào thời gian học thi thì không được vào trường hỏi han chi cả. Tui sẽ không tiếp, dù chàng có đứng dưới gốc đào mỏi mắt đợi chờ .
Thấy tính tui coi bộ cứng rắn (giả bộ thôi), chàng y lời trình thưa với gia đình. Vậy là lễ hỏi lễ cưới. Tui quên bẵng chuyện học hành. Đến khi nghe bạn bè nói thấy tên tui trên danh sách gặp ông khoa trưởng Trần Long, mới hoảng vía, mới nhớ tới chuyện mình bỏ học nửa chừng. Bị thầy Trần Long hỏi nguyên nhân nào mà bỏ học ngang như vậy. Tui thưa thật « Dạ, em bỏ học vì… lấy chồng ». Trước kia trốn học Anh văn vì tội ham nghe chuyện tiếu lâm, nay bỏ học vì ham lấy chồng. Hai cái tội danh này khó mà tha thứ được. Nhưng Thầy khoa trưởng nhẹ nhàng khuyên bảo, chị nên cố gắng tiếp tục cho xong .
Thế là tôi cố gắng học nốt cho xong theo lời Thầy dặn. Ôm con và dẫn theo một ôsin xuống Sàigòn vào năm cuối. Và cuối cùng, tui cũng có được mảnh bằng ra trường như ai. Qua Tây, trong lúc sắp xếp lại giấy tờ cũ, hai tờ giấy mà tôi qúy nhất, đó là chứng chỉ tốt nghiệp môn Qủan Trị Học có chữ ký của thầy khoa trưởng Trần Long . Tờ kia là giấy chứng nhận phép Bí Tích Rửa Tội có chữ ký của Cha Nguyễn Văn Lập . Hai tờ giấy màu vàng uá thời gian làm tôi thẫn thờ ngẩn ngơ. Bao thời gian qua đi . Chỉ là hai mảnh giấy, nhưng lại chứa đựng bao nhiêu kỷ niệm thân yêu đời mình. Hai tờ giấy này đã tạo nên con người tôi hôm nay có phải chăng ?
Mặc dù sau khi học xong tôi không đi làm để thực hành môn QTH, nhưng cũng ít nhiều thực hiện cách quản trị một gia đình , giữ vững được mái chèo gia đình trong sóng gió sau 75. Tôi cho rằng đó là lợi ích thiết thực nhất. Còn giấy chứng nhận Rửa Tội của cha Viện Trưởng thì sao ? Giấy này thực sự là món qùa vô giá đối với tôi hiện giờ, một món qùa thuộc về Tâm Linh . Sau bao nhiêu biến động, bây giờ tôi nghĩ rằng đời sống tâm linh thật là quan trọng hơn cả. Không có gì hạnh phúc tuyệt vời khi có nội tâm bình an và tự tại. Nhận biết mình bất toàn, nhỏ bé, xin chịu nhận mọi điều thua thiệt là biết an trú ở hiện tại này. Giọng nói Quảng Trị hiền từ của Cha Viện Trưởng như còn văng vẳng đâu đây. Nhận dịp về VN thăm gia đình vào tháng 12/2011, tôi đi thăm mộ Cụ Ngoại ở nghĩa trang Bình Triệu, sau đó đem hoa huệ và nhang đến thắp trên mộ của Đức Ông Simon Nguyễn Văn Lập. Vừa khấn vừa xin Cha tha mọi tội lỗi, trong đó có cái tội trốn học, bỏ học. Trong mấy chục ngàn đứa học trò sinh viên, không biết Cha còn nhớ con không ? Con ở xa về đây, khấn nguyện xin Cha cho được ơn lành. Bên Pháp, hội Thụ Nhân đang làm lễ trang trọng vào ngày Giỗ Cha, có diễn văn diễn từ ca ngợi công đức của Cha. Có đàn ca hát xướng nhã nhạc vang lừng. Nơi này, chỉ có một mình Cha với con thôi. Trước sự ra đi về miền miên viễn, trước cái chết, mọi chuyện đời chẳng còn có nghĩa gì cả. Thôi hết thù hết hận, thôi hết tranh chấp nhau. Thôi hết danh hết lợi, hết tất cả… chỉ còn lại là một tiếng Than ôi !
Bên cạnh mộ Đức Ông Simon Nguyễn Văn Lập (hình chụp tháng 12/2011, Bình Triệu) Gió chiều thổi qua những hàng mộ chí, nén nhang trước mộ Cha gió tạt qua một bên . Bao giờ gió nghĩa trang cũng lạnh.
Tôi nhớ thầy Vương Văn Bắc, mất cách đây vào ngày 20 tháng 6/2011 vừa qua, tôi sẽ đến thăm Thầy khi trở về Pháp, để tạ tội với thầy, để thưa với Thầy điều mà tôi muốn nói, nhưng chưa nói được. Nhưng giờ đây không còn gì ngăn cách giữa người sống và kẻ chết, Thầy cũng hiểu hết mọi điều. Tôi luôn nhớ câu Thầy hỏi « Sao dạo này cô dt có chuyện gì không, mà it khi gặp cô ». Còn lại Cô H. sống một mình, nhưng luôn có học trò Trưng Vương đầy tình nghĩa thăm viếng.
Sau đó, tôi lên đi Nha Trang và lên Đàlạt theo tour du lịch. Đến thăm vườn hoa Thành Phố, thật chẳng có gì đáng xem đáng trầm trồ. Toàn là hoa mồng gà đỏ hoa vạn thọ hoa cúc, một hành lang hoa phong lan, nhưng không mấy rực rỡ. Chỉ có lan Vanda là qúy, vì bên Tây hoa này khó trồng. Tôi định bụng thuê taxi ghé vô « Viện » gần bên, chỉ cách một ngọn đồi, nhưng lại thôi. Cảnh cũ người mới, không còn gì không còn chi thích thú nữa. Từ hôm lên Đàlạt, đêm thao thức ngày ngơ ngẩn, sống mà hồn đâu đâu, như kẻ mộng du . Lạc hồn lạc vía.
Tôi không dám ghé vào ngôi trường ấy. Hãy để nó hiện y nguyên như ngày xưa, như trong tưởng nhớ của mình. Nó sẽ đẹp vô vàn trong ký ức. Ôi Đàlạt thân yêu của mình. Qua hôm sau, tôi bỏ đòan du lịch, thuê taxi đi về ngôi nhà cũ phía sau trường Yersin. Thật xúc động làm sao, ngôi nhà vẫn màu sơn ấy, vẫn còn garage để xe, nhưng chiếc xe hơi màu xanh không có. Tôi nghe chừng như có tiếng nô đùa của các con tôi chạy nhảy trong sân, rồi chợt tỉnh khi thấy mấy con bê con đang gặm cỏ non trong vườn thỉnh thoảng é ọ. Nếu không … thì giờ đây gia đình chúng tôi ở nơi này êm đềm biết bao, vợ chồng con cái cùng nhau vui vầy. Nhà tôi lúc ấy mua đất đai dự tính xây trường học, mảnh đất ở trên đồi gần hotel « Sans Souci » trước kia, nhìn xuống Hồ Xuân Hương, nay đã thấy một dinh thự mới xây cất. Tài sản tương lai sự nghiệp đã bỏ lại nơi này tất cả. Sau đó là số không. Tôi nhờ anh tài xế chạy về phía trường Couvent des Oiseaux. Tôi từ từ đi vào cỗng trường, trường bây giờ trở thành trường nội trú cho các học sinh « Dân Tộc ». Trước kia dành cho các nữ sinh xinh đẹp của giới qúy tộc , nay dành cho giới người Thượng, người Rừng, người Rú. Trường vắng tanh, không bóng người. Nhìn về dãy phòng tôi ở trước kia tầng thứ hai, Nó vẫn còn. Cây đào phía trước cửa sổ vẫn còn. Chiếc xe hơi màu xanh mà chàng thường vào đón tôi ngày chủ nhật không có nữa. Nó chạy đi đâu mất rồi . Tất cả những kỷ niệm đốt cháy tâm can tôi. Qúa khứ cũng cháy luôn hết, bị huỷ diệt hết, thì còn lại gì đây ? Phải chăng còn nỗi đau trên đống tro tàn tang thương ! Tôi vội vàng trở ra xe, không dám vào bên trong trường xưa. Tim tôi đập liên hồi như cảm ứng với nỗi u hoài « cảnh đấy người đây luống đoạn trường ». ĐàLạt đông phố xá, đông nhà cửa hơn xưa, nhưng với tôi trống không đến lạ lùng. Miền đất này chôn cất biết bao điều của đờì sống tôi, từ thuở sinh viên đến khi lấy chồng tạo dựng mái ấm gia đình, mãi cho tới ngày di tản về Sàigòn . Các bạn biết không, đến mãi bây giờ trong nhiều đêm, trong giấc ngủ tôi mơ thấy mình thuê xe Lam ba bánh lên Viện học cho xong năm cuối. Thấy mình luôn đến lớp trễ, chạy nhanh vào giãng đường Spellman cho kịp, nhưng bên trong không bóng người, không còn một ai. Không có Thầy không có học trò, chỉ có mình tôi lạc lõng và sợ hãi, tự hỏi nơi này là nơi đâu ? Cái cảm giác lạc lỏng cứ chập chờn làm tôi thảng thốt tỉnh giấc. Té ta mình không còn là cô sinh viên dạo nào, mình nay đã già, hơn nữa đời người rồi còn gì. Sao ta cứ vọng hoài về một nơi chốn cũ ?
Bây giờ bên cạnh bàn viết, một chậu lan Cattleya đang nở hai chùm hoa màu vàng, tỏa hương nhẹ nhàng như thầm nhủ rằng « Dù sao, vẫn còn những giấc mơ cho mình được thương được nhớ một Đàlạt trong tâm tưởng ».
Trần Thị Diệu Tâm
Paris tiết Lập Xuân 2012
Quận Mười Ba – Paris



Quận 13 là một trong số 20 quận của thủ đô Paris nước Pháp, một quận có dân cư đông đảo buôn bán khá sầm uất, trục chính của quận là Place D’italie. Đa số người Á Đông thường sinh hoạt suốt dọc hai con phố chính là Avenue D’ivry và Avenue de Choisy, nơi có nhiều siêu thị lớn nhỏ và các cửa hàng ăn uống nổi tiếng.
Trước đây, khoảng 1975, nghe nói khu phố này quán xá lèo tèo, vài cửa hàng người Ả Rập buôn bán không mấy phát đạt, đa số dân cư ngụ thuộc giới lao động bình dân .Nhưng từ khi có dòng người tỵ nạn xuất hiện, vùng này bỗng thay da đổi thịt. Cả khối Việt Miên Lào của Đông Dương xưa, tụ về nơi này sinh sống cùng nhau. Nhớ xưa kia cả ba đều con dân thuộc địa mẫu quốc Pháp, và sau này cùng là nạn nhân của chế độ Cộng Sản, một đàng là Khờ -Me Đỏ, một đàng là Bắc Việt. Người Ả Rập làm sao cạnh trạnh nổi, phải bán nhà cửa đi chỗ khác chơi. Người Việt đến Pháp định cư, đa số gia đình là dân Tây trước kia, hay là nhân viên làm việc cho cơ sở Pháp tại Sàigòn, hoặc có thân nhân con cái du học trước 1975. Số người đến Pháp theo giấy tờ như vậy ít ỏi không nhiều, dòng người boat -people khi đến đảo đều khoái American Dream, ít ai thích French Dream. Hoa Kỳ muốn đền bù cho dân miền Nam vì sự bỏ rơi tháo chạy của mình, đã ô-kê cho nhập cư vào Mỹ hầu hết thành phần cựu quân nhân theo diện H.O. Pháp không có H.O. Vì không có một lực lượng đông đảo đồng hương, nên Paris không thể xây dựng một khu phố Việt Nam riêng biệt như Little Saigon của California .Người Tàu đến Pháp cũng không nhiều lúc ban đầu, nhưng họ biết tạo thành một tập hợp vững mạnh phát triển với mục đích kiếm tiền sinh lợi, không chia rẽ vì mục đích chính trị. Người Tàu thích buôn bán hơn thích học chữ, phi thương bất phú mà, người Việt thích học chữ hơn thích bán buôn, nên người Việt cứ mãi làm thuê, người Tàu luôn làm chủ.
Đất lành chim đậu, người qua trước bảo lãnh người qua sau, đó là hợp pháp, người Tàu không cần hợp pháp, họ có luật lệ riêng của cộng đồng họ, lúc nào đưa người qua cũng được miễn là chịu chi tiền đậm. Trước đây nghe nói giấy tờ của người Tàu chết được dùng cho người Tàu sống. Trong việc kinh doanh, các người chủ Tàu thuê nhân công, trả lương thấp làm nhiều giờ. Mặc dù luật pháp xứ này luôn bảo vệ người lao động, thường cho người thanh tra kiểm soát nhân viên làm việc có được khai báo đúng theo luật lệ hay không. Tuy nhiên họ không lo bị thanh tra, các chủ nhân ông phớt tỉnh, họ có hậu thuẫn cửa sau. Làm gì được nhau. Mấy ông Tây trước đây không hiểu, không biết hối lộ, nhưng từ lúc có người Tàu hiện diện, họ bỗng dưng hiểu và khoái. Khu phố Á Đông này trở nên béo bở đối với nhân viên hành chánh thuế vụ, nhân viên ngân hàng.
Họ không cần phải học nói tiếng Pháp, người Pháp phải học nói tiếng nước họ, vậy mới là ghê chứ. Các dịch vụ cơ bản đều do người Tàu nắm giữ. Các ngân hàng cũng phải viết phụ thêm ngôn ngữ Tàu. Nhà băng bây giờ rất cần nhân viên biết tiếng Tàu, hay người gốc Tàu để giao dịch. Có tiền mua tiên cũng được, ai cũng sợ ai cũng nể. Đừng cho rằng tiền không mua được hạnh phúc, xưa rồi Diễm. Tiền mua được tất, mua được hết.
Người Á Châu về đây, giá nhà cửa tăng phi mã, dân bản xứ thấy lời liền bán ngay dọn về nơi khác, vả lại người Pháp lấy làm ngại ngùng không quen với cách nói năng của mấy ông Tàu, ồn ào xi lô xi la, không hề biết pác- đông, méc-xì là gì. Hết đất xây cất thêm, nhà đầu tư bèn tạo dựng các cao ốc ngất trời mấy chục tầng. Chỉ lo thang máy hỏng. Một bà bạn đầm nói mỗi khi đến đây, bà có cảm tưởng đang ở Hong Kong, không còn là xứ Pháp của bà, bà hơi sợ hãi khi bước chân vô khu vực ăn uống này. Tôi hỏi sợ gì ? Trả lời sợ cái văn hóa lạ của người Tàu ! Người Việt sống chung với người nước khác dễ dàng, hòa nhập với người bản xứ. Nhưng Tàu thì không, họ chỉ sống cùng, sống với người cùng xứ sở, họ tạo ra một thứ quyền lực ngầm bảo trợ bao bọc nhau, chính quyền có khi cũng chào thua. Người Tàu chủ yếu hoạt động ở lãnh vực ăn uống và các dịch vụ mua bán thực phẩm, ngành nghề này phát triển tối đa. Giàu nghèo chi cũng cần phải ăn để sống. Giàu ăn ngon, nghèo ăn no. Mấy chuyện khác không quan trọng bằng, cái bao tử mới là trung tâm sự sống.
So sánh nhân dạng các chủng tộc miền Đông Á sống nơi này, người Việt có ngoại hình đẹp hơn cả, kể cả đàn ông lẫn đàn bà, kể cả thanh niên lẫn người lớn tuổi. Và dĩ nhiên phụ nữ Việt xuất sắc hơn cả về nhan sắc. Không phải vì chủ quan, nếu vài người đàn bà cùng độ tuổi đứng cạnh nhau, trong đó có một chị Việt, thì chắc chắn người ta sẽ biết người xinh đẹp hơn cả chính là Việt Nam ta. Đó là chưa nói tới trí óc thông minh của người mình. Đó là chưa nói tới chuyện phát âm giọng nói, nói tiếng Pháp thì người Việt phát âm chuẩn hơn cả, nhờ chữ quốc ngữ viết theo mẫu tự La Tinh. Người Việt phát âm tiếng Anh hay tiếng Pháp đều khá hay và rõ ràng.
Các bạn Pháp có vẻ yêu mến dân VIệt hơn, và các dân tộc khác ở quận 13 này cũng có lòng nể trọng chúng ta. Có học có văn hóa cao, tuy nhiên kém tiền cũng thua kẻ ít học mà giàu tiền giàu của. Vào năm 2015, bà đầm Anne Hildalgo, đô trưởng của Paris cho xây một chiếc cổng kiến trúc khắc họa theo nét viết của chữ Môn ( theo chữ Hán là cổng, xem hình kèm theo), cái cổng màu đỏ này tọa lạc tại ngã ba phố Avenue de Choisy, phố Vistule và phố Rue de Frères d’ Astier de la Vigerie. Cổng môn có tên Pháp là “Arche de la Fraternité Franco- Asiatique “, nhịp cầu huynh đệ Pháp Á. Kiến trúc theo lối chữ Tàu có hậu ý. Nịnh tiền thấy rõ!
Gia đình chúng tôi ở vùng phụ cận trung tâm Á Đông này, trong một thị trấn nhỏ . Nếu không lái xe hơi, có thể trèo lên trụt xuống mươi bậc cấp mê-trô là tới. Phương tiện giao thông công cộng ở Paris có thể nói là number one trên thế giới. Nhờ di chuyển bằng đôi chân nhiều, nên đa số không bụng phệ. Mấy đầm con, dáng cô nào cũng thon thả, đầm lớn tuổi còn diện váy ngắn. Nhìn hình đệ nhất phu nhân Pháp mà xem, váy ngắn trên gối cả gang tay, trông bắt mắt lắm dù nay đã 68 cái xuân xanh, lớn hơn tổng thống phu quân 24 mùa đông lạnh. Trong thị trấn này, khi chúng tôi mới định cư, rất hiếm hoi gặp một cư dân người Hoa, nhưng hiện nay, mấy con đường chính đều mọc lên các tiệm ăn với bảng hiệu Restaurant Céleste, Dragon, Sinostar… rồi đến các cửa hiệu bán sách báo, lô-tô, đều vô tay người Tàu.
Tuy nhiên, với chúng tôi, quận 13 là nơi chốn thân thương nhất, đi đông đi tây đi mô cũng tìm về ăn uống. Đó là nguồn sống sinh động nhất, vì nơi đây chúng tôi có thể gặp gỡ bạn bè đồng hương qua buổi đi chợ mua các thực phẩm Việt Nam Châu Á, hay chuyện trò ấm lạnh trong các quán ăn Việt Nam thân mật. Qua đây bao nhiêu năm rồi mà không ăn nổi các món ăn Tây, dù ẩm thực của xứ sở này nổi tiếng là tinh tế. Chỉ ăn được mỗi món bò bíp- tếch, lạt nhách phải thêm maggi, nước mắm. Thú thật chúng tôi cảm thấy mình rất nhà quê khi phải ăn những bữa tiệc cưới Tây, muỗng nĩa, thìa nhỏ thìa lớn, cái dùng trước cái dùng sau, ly nhỏ ly lớn cái rượu này cái rượu kia. Món ăn Pháp chỉ được cái trình bày đẹp mắt, thức ăn có chút xíu mà ngự trên cái đĩa men trắng to chà bá, cho vào mồm hai miếng là hết. Dân Pháp chuộng cái đẹp, cái thẩm mỹ. Ăn món Ta, chỉ cần mỗi một đôi đũa mà gắp được hết. Có khi bốc tay còn ngon hơn nữa đấy! Trở về với con người tự nhiên, rủ bỏ bớt những lỉnh kỉnh phiền toái của thứ gọi là con người văn minh, có khi còn sống vui sống khỏe là khác ! Hẹn hò nhau ở quân 13, để nói tiếng Việt với nhau, để còn thấy nhau, kẻo mai kia mốt nọ ra đi mà không bảo gì nhau. Hẹn gặp nhau hôm nay, vì ngày mai biết ở nơi nao, miền Vĩnh Cữu, miền Vĩnh Hằng, miền Tây Phương Cực Lạc, biết bạn phiêu diêu nơi mô mà tìm. Những nơi ấy có phở tái gầu gân không ? Có bún bò giò heo không ?
Ông bạn Nho gia Phạm Xuân Hy định cư ngay ở trung tâm phố thị 13 nhộn nhịp này, ai cũng biết ông là dịch giả nổi tiếng của pho truyện Tàu Liêu Trai Chí Dị, trong đó kể về các thư sinh bị các hồ ly tinh biến thành gái đẹp đến chọc ghẹo vào ban đêm, làm chuyện mây mưa suốt khiến các chàng quên học hành bỏ thi cử mang họa vào thân. Không biết trời xui đất khiến sao mà gần khu vực đấy, xuất hiện mấy hang động của hồ ly tinh. Đầu đường phố Avenue D’ivry, xế đối diện siêu thị Paris-Store, các hồ ly này không cần phải chờ đêm tối, họ biến thành các cô môi son má phấn ngay cả ban ngày ban mặt, xi xô tiếng Tàu đứng tụm năm tụm ba nói cười ra vẻ hồn nhiên ngây thơ, họ thả mồi, câu vía đàn ông. Ngày nào cũng đứng lóng ngóng công khai liếc ngang liếc dọc các ông đi qua, các chàng đi lại, ngang nhiên như đây là lãnh địa của hồ ly. Mấy ông có vợ đi kèm chắc không bị chài mồi. Tuy nhiên thằng con trai chúng tôi kể lại, có lần đi ngang qua bị một cô kéo tay, nó ngac nhiên hỏi lịch sự :Cô cần gì phải không ? Cô gái liền cười duyên trả lời a-mu ! Thằng con trai bỗng hiểu, a-mu là amour, liền dứt tay ra vội băng qua đường tránh. Nghe nói ông già đầu bạc họ cũng không tha.Tôi thắc mắc mấy cô không có các xe bít bùng như ở rừng Boulogne hay rừng Vincennes, thì hành sự chỗ nào, có người cho biết các cô thuê phòng chứa đồ đạc của cư dân Tàu gần đó ở dưới tầng hầm các tòa bin-đinh. Giá cả có lẻ rẻ hơn so với hồ ly Đông Âu, không biết giá bao nhiêu, vì ai dám cho biết chuyện này. Các bà nội trợ đi ngang qua chỗ mấy hồ ly đứng, đều tránh ra, đi nhanh hơn cho khuất mắt. Thấy cô trông còn trẻ lắm, da trắng mỡ, áo quần diện kiểu ba đồng một mớ. Vào mùa đông lạnh ngắt, cô mặc áo choàng ngoài phủ xuống gót chân, hở ra bên trong chỉ mặc đồ lót .Có cô chân cong vòng lùn tịt, xức nước hoa ba đồng một lít. Khi đi ngang qua đám hồ ly đứng chực hớp vía đàn ông nhẹ dạ, ông bạn Nho gia cảm khái nói: ” Thật đáng thương, đáng lẻ vai trò của các cô là làm vợ, làm mẹ trong gia đình, chứ đâu phải đứng đây ” giọng của ông chậm rãi thương cảm .Tôi thực sự cũng lấy làm xúc động nghe câu ông nói. Nhưng chọn nghề mưu sinh là do tự họ quyết định, đổ lỗi cho số phận chỉ là cách nói chữ thôi.
Bây giờ tiền vốn bên Trung quốc đổ qua mỗi ngày mỗi nhiều, họ muốn đặt thêm nền móng cơ sở tại đây, mà không cần nghĩ đến ngành nghề ấy có lợi hay không, mục đích là đưa người dân họ qua sống. Mai kia mốt nọ biết đâu có một ông tổng thống Pháp gốc Hoa!
Trần Thị Diệu Tâm
Hè muộn / 2021