TRANG TƯỞNG NIỆM 51 NĂM (30/04/1975 – 30/04/2026) *** – Năm mươi mốt năm trôi qua…hơn phân nửa thế kỷ, Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa may mắn sống sót qua thời quốc nạn, dù lưu lạc bốn phương trời, vẫn luôn cảm thấy một niềm bi thương sâu sắc khi hoài niệm về ngày 30/04/1975…Riêng tôi khi đọc lại những tài liệu, những bài thơ, bài tóm lược mà tôi viết về các vị Anh hùng Vị Quốc Vong thân hoặc tuẫn tiết để bảo toàn danh dự của một người Lính với hào khí ngút trời của Quân lực VNCH, nét bi hùng ấy khiến tôi đôi lúc không cầm được sự xúc động, và tâm trạng này đã khiến tôi âm thầm chảy nước mắt, để rồi thật nặng lòng bởi cảm giác mình còn mắc nợ những Anh hùng Hào kiệt Phương Nam quá nhiều. – Chúng ta nhắc đến ngày này không phải là bới lại đống tro tàn dĩ vãng để sầu thương bi lụy, mà là để ngẩng cao đầu hãnh diện bởi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã đào tạo trui rèn những người Lính chính trực nghĩa khí, sống chết với quê hương và vì quê hương. Chúng ta tự hào bởi nền giáo dục trước 1975 đã dạy dỗ nên những người dâu hiền, vợ thảo, những người mẹ đã chu toàn trọng trách của mình khi nước mất, chồng tù vẫn giữ tròn tiết hạnh, bươn chải nhọc nhằn chăm cha mẹ thay chồng, nuôi dạy đàn con nên người để lưu truyền lại lớp hậu duệ xứng đáng tiếp bước tiền nhân. – Tôi thật sự thán phục và kính ngưỡng sức chịu đựng bền bỉ kiên cường của quý phu nhân, vợ của Lính VNCH, chắt mót từng lon tương chao đường muối để tiếp tế thăm nuôi khi chồng mang phận tù đày nơi rừng sâu núi thẳm trong thời kỳ thật khó khăn… – Tôi tưởng nhớ đến ngày 30/04/1975, để đừng quên ân sâu nghĩa nặng của những chiến sĩ đã hy sinh, hoặc đã cống hiến một phân thân thể để bảo vệ sự an vui yên lành cho cụ già, trẻ thơ và phụ nữ nơi hậu phương. Công lao gìn giữ Tổ quốc khiến chúng ta không thể lấy thành bại mà luận anh hùng, bởi tôi tin chắc chắn một điều, có lẽ chưa có một quốc gia nào mà khi bị mất nước, mất thành vì buộc lòng phải tuân theo thượng lệnh, mà có hằng loạt Quân nhân từ Tướng lãnh đến Binh sĩ tuẫn tiết cá nhân hay tập thể hoặc chiến đấu đến phút cuối cùng nhiều như những người Lính oai hùng anh dũng của Quân lực VNCH chúng ta. – Sau cùng, tôi xin nghiêng mình kính cẩn thắp nén tâm hương ngưỡng vọng đến anh linh của tất cả quý Quân Dân Cán Chính đã đáp đền nợ non sông một cách thật vẻ vang, xứng đáng là con cháu của giống nòi Lạc Long. Kính bút ThanhSong KimPhú ![]() SVSQ Nguyễn Ngọc Chương (Ba của K.Phú) SVSQTBTĐ/K4/1954 (Khóa Cương Quyết) Nén Hương Muộn Cha kể, khi vừa lên chín tuổi Cháu từng được Chú cõng trên lưng Tuổi thơ con lính thường rong ruổi Theo Cha về Thốt Nốt – Long Xuyên (Danh hiệu Đầu Trâu, lừng tên tuổi Đánh giặc giỏi, Tiểu Đoàn 13. Trưởng phòng 5 – Chiến Tranh Tâm Lý Cha là Trung Úy Nguyễn Ngọc Chương Thiếu Úy Hưng về làm phụ tá Thời gian: Một chín năm mươi lăm) -/- Người sĩ quan trẻ mùa chinh chiến Hiền lành trắng trẻo dáng thư sinh Những chiều doanh trại buồn xa xứ Mẹ thường mời Chú đến dùng cơm Bữa cơm đạm bạc đời quân ngủ Thấm đậm tình người nên vẫn ngon Nửa năm gần gũi không lâu lắm Chưa đủ làm cho cháu nhớ thương… Bé thơ ham chơi hơn tất cả Cha đổi đi…và cháu cũng quên! ……… Cho đến một ngày, Cha hỏi Mẹ: “ Em còn nhớ chú Lê Văn Hưng? Anh chàng Thiếu úy ngày xưa ấy Đã từng làm Phụ tá cho anh Chết rồi! Tuẫn tiết oai hùng lắm, Sĩ quan Thủ Đức – Khóa Vì Dân” Cháu nghe, mà trào dâng cảm xúc Một thời, được Chú cõng trên lưng… Đầu đời lính, Chú từng cõng cháu Cuối đời, Chú cõng cả non sông! Nén Hương Muộn, cháu xin kính thắp Cho người sống chết với Quê Hương… “SINH VI TƯỚNG – TỬ VI THẦN” Hào khí ngất trời – Chú LÊ VĂN HƯNG… ThanhSong KimPhú – CA (2011) * Thanh Song có nghe một bài hát: “Em ơi, 60 năm cuộc đời” …Vậy mà đến giờ, hơn 60 năm, TS mới viết Nén Hương Muộn… (1946/ 2011) kể chuyện bé Hai KimPhú khóc Thiếu úy Lê Văn Hưng của năm 1955 – Mặc kệ người ta gọi Chú là Tướng, mặc kệ người ta gọi Chú là anh hùng…cháu mặc kệ tất cả. Với bé Hai KP, Chú chỉ đơn giản là Chú Hưng. Đơn giản đến độ lúc nghe Cha hỏi Mẹ, cháu chỉ loáng thoáng do những kỷ niệm xưa Cha kể mà vẫn không hình dung được Chú như thế nào! Chỉ là nghe như một tin tức thời sự (sau 1975…), và có chút xót thương cùng kính nể một Người Lính Vị Quốc Vong Thân, một kiếp con người…Để rồi tiếp sau đó, phải gồng mình, vật lộn bươn chải cơm áo gạo tiền con cái, cùng những lo âu nhọc nhằn mà hằng bữa chỉ có cơm rau, trứng luộc dầm nước mắm…khiến cháu cũng lãng quên! Bây giờ, gần 70 tuổi đời, mới tỉ mẩn nhớ lại, mới tỉ mẩn ghi ghi chép chép để mà có chút niềm vui tuổi già, cháu chợt nhớ lại chuyện xưa Cha kể mấy mươi năm trước, nhưng Cha Mẹ của cháu đều cũng đã quá vãng từ 2001/ 2004, nên cũng không thể tìm hiểu rõ thêm về Chú. Tình cờ, cháu đọc được một tờ báo có nhắc về những vị anh hùng tuẫn tiết khi mất nước…cháu mới nhìn được ảnh Chú, và lập tức, cháu tìm chụp được ảnh khác rõ hơn ảnh trên báo…Cháu nguyện với lòng, khi có dịp về thăm Việt Nam, cháu sẽ thượng Chú lên bàn thờ, phía dưới hình Ba Mẹ cháu, và trên hình người bạn đời quá cố của cháu. Dù chưa xin phép gia đình Chú, nhưng bởi Chú đã là người của công chúng, của toàn thể người dân Miền Nam, của hậu duệ Lính VNCH, nên cháu nghĩ vẫn có thể nghiêng mình kính cẩn thắp hương Chú như thắp hương cho Tổ Tiên cùng Cha Mẹ cháu. Bởi dù sau, cháu cũng có chút niềm hãnh diện là “Đầu đời lính Chú từng cõng cháu”, lại càng hãnh diện hơn vì: – “Cuối đời, Chú cõng cả non sông”. – (Lúc viết quyển sách nầy, cháu cũng đã thực hiện ước nguyện của mình, khi 2013, cháu có về VN thăm con cháu và tại bàn thờ ở Mỹ từ ngày đó, cháu cũng đã thực hiện việc nầy, cháu đính kèm ảnh bàn thờ đơn sơ của nhà cháu khi lưu lạc trên xứ người.) Chú Hưng ơi, xin tha lỗi cho cháu, vì lúc 9 tuổi thơ dại cháu không nhớ Chú đã đành…và Chú, làm gì Chú còn nhớ bé Hai khi phải đương đầu cùng vòng xoáy của cuộc đời với biết bao điều bất trắc…Tuy nhiên, cháu tin là khi chết, người ta “sáng” hơn lúc sống gấp trăm, ngàn lần. Nhất định Chú sẽ không quên một đứa bé gầy nhom, đen nhẻm, chỉ có đôi mắt sáng long lanh và hai cái răng cửa to mà Ba cháu thường bảo là hai tấm thớt, cùng tiếng cười khanh khách khi Chú cõng cháu đi vòng quanh phòng tiếp tân của đơn vị ngày xưa. – Chú Hưng ơi, xin tha lỗi cho cháu, bởi mấy mươi năm nay có thiếu giọt nước mắt của cháu, cũng đâu có thể làm vơi ly nước vốn đã đầy tràn, bởi nhất định không ít người đã khóc vì thương tiếc những đấng anh hùng vị quốc vong thân như Chú, phải không, thưa Chú Hưng… Kính Vọng Bái: ThanhSong KimPhú * Bé Hai, Kim Phú Nguyễn Trưởng nữ của Trung Uý Nguyễn Ngọc Chương Đơn vị: Tiểu Đoàn 13 Đầu Trâu (1954-1956) Tiểu Đoàn Trưởng: Đại Úy Tấn – Cháu cũng còn nhớ vài đồng đội của Ba cháu lúc đó: Trung úy Lộc – Trung úy Phong – Trung úy Hỷ (Đại đội trưởng, đóng quân ở Minh Lương/Thốt Nốt) – Trung úy Sử (Vào năm KP 12 tuổi, bác Sử mang lon Đại úy, làm Quận trưởng Quận Tân Uyên, Biên Hòa. Ba KP chở lên thăm hai bác, hàn huyên và dùng cơm trưa. Bận về, Ba KP viếng Thác Trị An, có chụp cho KP 1 tấm ảnh hiếm hoi mà KP còn lưu giữ.) – Thượng sĩ Đinh Trí Viễn (Sau này, lúc Ba KP làm Tổng Thơ Ký ở Tòa HC/Q.5, chú Viễn đã cố gắng học, thi đậu vào QGHC, tốt nghiệp Phó Đốc Sự, thời gian làm Chủ sự một phòng ở Bộ Nội Vụ, chú vẫn thường ghé thăm Ba Mẹ, vẫn quen gọi Ba là Trung úy xưng em, dù xa cách 15 năm) – Trung sĩ Gia – Binh nhất Tâm – Binh nhì Phác – Trung úy Nữ Trợ tá Viên (1956, gia đình KP ở căn đầu dãy lầu, bên hông có “balcon” rất rộng, mà Ba hay làm nơi tập trung tập văn nghệ cho các cô chú ca nhạc sĩ cây nhà lá vườn của đơn vị, bên dưới “balcon” là phòng mạch của BS Định, nhìn ra bến tàu đánh cá, cân cá bán sỉ cho thương lái, bên kia sông là Dinh Tỉnh trưởng Rạch Giá, Cô Tư Viên ở căn cuối dãy lầu). ![]() Những Ngày Tháng Năm Xưa… Của Người Con, Em, & Vợ Lính – Sau khi Ba tôi giải ngũ trở về đời sống bình dị của một công chức “Sáng cắp ô đi chiều cắp ô về”, cuộc sống của Mẹ và chúng tôi cũng trở nên yên lành hơn… – Tôi bớt đen đúa vì suốt buổi để đầu trần, đi theo đám trẻ con gồm cả trai lẫn gái, con của các sĩ quan và lính trong Tiểu Đoàn, bươn trên những bãi lau sậy ven rạch, nhổ mấy cọng sậy to và già, một đứa đầu têu rất rành rọt nhanh nhẹn dùng cọng sậy nhỏ hơn, suốt vào chính giữa, chúng tôi háo hức đón trên những bàn tay đen thui đầy bùn đất một cọng lõi tròn sốp, mềm mềm màu trắng đục. Mỗi đứa chúng tôi có được vài ba cọng như vậy, chỉ dài hơn gang tay người lớn, không bị móp méo đứt đoạn là lũ trẻ chúng tôi hò hét mãn nguyện lắm rồi. Bọn nó còn đang mê đuổi bắt những con chuồn chuồn kim bé xíu, thì tôi đã chạy ùa về nhà nhờ Mẹ dùng chỉ cột thành những con búp bê nhỏ xíu xiu, rồi Mẹ lại buộc chúng vào đầu một chiếc đũa tre dài, cho tôi tung tăng đi khoe với các bạn nhỏ…Mẹ tôi giỏi lắm, chỉ nhìn món đồ chơi giản dị ấy bán ở chợ Minh Lương có 1 lần mà Mẹ bắt chước làm y hệt, trông còn đẹp hơn Má tụi nó làm. – Những lần lội xuống bờ rạch, vớt lăng quăng về cho mấy con cá lia thia nhỏ đựng trong cái keo mà chú Phác, lính của Ba kiếm cho tôi, những lần lượm hột của trái so đũa rơi đầy quanh cây, về nhờ Mẹ may cho chiếc túi nho nhỏ, vuông vuông để chúng tôi thảy lên chơi đánh đũa mải mê. – Những cây muồng có bông vàng tươi rực rỡ, cũng khiến lũ trẻ chúng tôi cố vói hái không dễ dàng, cầm ngắm nghía mà chẳng biết ngắm gì chỉ là thấy nó đẹp, để rồi khi có đứa rủ rê hái đọt bông bụp, gắng quanh càm làm râu, một trò chơi cũng vui vui, là lại vất đi nhanh chóng cái hoa vàng to tròn và dài cả gang tay còn chưa kịp héo. – Tuổi thơ của tôi trôi qua thật êm đềm, cho dù nơi Ba Mẹ và chúng tôi trú ngụ do Tiểu Đoàn cấp, sát cạnh phòng Truyền Tin của đơn vị, suốt cả ngày lẫn đêm, những tiếng máy tạch…tạch…sè sè…tạch tạch sè…cũng có cái làm tôi vui tai nên không còn thấy bực hay khó ngủ như vài tháng đầu. Các chú lính Truyền Tin thỉnh thoảng còn cho tôi vài mảnh vuông dẹp mà chú bảo là “Pin” đã hết, chúng tôi dùng nó để thảy cho trò chơi nhảy lò cò. – “Nhà” chúng tôi khá tốt, một dãy nhà nằm ngang mái lợp ngói, sàn nhà láng xi măng, phía sau nhà chúng tôi có con đường đất nhỏ là lối đi chung, thông từ trại gia binh bên trái của các phòng làm việc, mà chúng tôi không được phép léo hánh đến quấy rầy. Cửa sau các phòng ban có khoảnh sân khá rộng, mà chiều chiều má của những đứa bạn tôi bày bán mấy món kẹo dừa dẻo, kẹo ú gừng, mứt dừa, bánh tai heo, bánh phục linh, bánh men, bánh đuông đựng trên các mâm nhôm, do các cô dì ấy tự làm. Thỉnh thoảng tôi cũng được Mẹ cho tờ tiền giấy bạc đã xé đôi chia cho hai chị em tôi để mua các món kẹo bánh tùy thích. – Con đường đất nối liền với bên phải sau nhà tôi qua khu trại gia binh thứ hai. Trên hàng rào kẽm gai sát mép con rạch khá rộng, tôi hay đem hắt tô nước hột cà chua hay mớ hột trái khổ qua một cách cố tình trên mô đất được đắp nện chặt chẽ, ấy vậy mà vào mùa mưa, cũng có mấy dây leo bám theo hàng rào, tôi theo dõi chúng từ lúc có những nụ hoa bé xíu, cho đến khi đậu vài quả cà chua, hoặc đeo lủng lẳng vài trái khổ qua èo uột…Tôi ham trồng cho vui chớ đâu ăn uống gì, bởi Mẹ tôi đã mua các loại rau củ cà chua cà tím bán đầy ở chợ Thốt Nốt giá rẻ lắm, lại còn non mướt. – Bên kia rạch có một số lính, thỉnh thoảng tôi thấy bóng dáng năm bảy người khi họ xúm xít dùng bữa, và tôi nghe Mẹ bảo họ là người Nùng, được đưa về đây để yểm trợ cho Tiểu Đoàn của Ba tôi, trong giai đoạn “giặc Hòa Hảo & Năm Lửa” đang hoành hành ráo riết, họ chặn cướp bóc các chuyến xe đò nhỏ dọc theo các con lộ nơi vắng vẻ, nhanh chóng và chớp nhoáng rút lui, nên cũng không dễ dàng truy quét. Chính Mẹ tôi, lần đưa chị em tôi về Biên Hòa thăm Ngoại, đến Sa Đéc cũng bị họ cướp, mạnh tay giật chiếc nhẫn vàng Mẹ đeo, làm đốt tay trầy xước rướm máu, Mẹ xít xoa đau mà không dám phản kháng, may có bà bác ngồi cạnh bên, xé đắp cho mẹ cục thuốc xỉa ăn trầu cầm máu. Lần đó cho đến khi Ba giải ngũ, Mẹ và chúng tôi không được phép về thăm quê nữa. – “Nhà” có 2 phòng khá rộng, 1 làm phòng ngủ cho cả nhà với chiếc giường lớn đủ cho Ba Mẹ và 2 em nhỏ của tôi, còn chiếc giường bé hơn thì 2 chị em tôi nằm cũng vẫn dư chổ. Phòng kia Mẹ vừa đặt bàn tròn để dùng ăn cơm, có cái bếp xi măng tương đối gọn và nhà vệ sinh nhỏ, còn dư chỗ gần vách để đặt chiếc giường nhà binh cho chú Phác nằm nghỉ lưng buổi trưa sau giờ cơm hoặc ngủ đêm vì gia đình chú ở tận Bình Thủy, nên thỉnh thoảng chú mới xin phép về thăm, và cũng vì chú là người cận vệ rất trung thành, theo sát bên Ba tôi từ khi Ba mới chuyển từ Minh Lương qua Thốt Nốt. – Điều tôi không hề quan tâm, bởi con nít có biết gì đâu, là sát ngay cạnh đầu giường của tôi, có 1 tủ gỗ thật lớn và dày, được khóa cẩn thận, và Ba là người giữ chìa luôn đeo bên mình, bên trong tủ…chứa toàn bộ vũ khí của đơn vị có nhiệm vụ hành quân “đề lô” do Ba tôi chỉ huy! – Có những đêm đang ngủ, tôi nghe tiếng chân chạy rầm rập, rồi nhướng đôi mắt ngái ngủ, tôi thấy Ba lấy từng cây súng trường gọi tên các chú lính và phát cho họ, cùng băng đạn. Tiếng va chạm lịch kịch khá to cũng không làm tôi nhỏm dậy. Qua lớp mỏng của cái mùng, tôi thấy Mẹ nhìn Ba không cười tươi như thường ngày, mà đăm chiêu lo lắng. Ba mặc quân phục gọn gàng, cuối cùng đeo dây nịch to bản, có giắt khẩu súng lục bên hông, bên kia là túi đựng băng đạn. Sợi nịt nầy, ngay cả lúc đi ngủ Ba cũng để ngay trên đầu nằm sau khi cẩn thận tháo hết đạn trong súng ra. – Từ lúc Ba dẫn lính cùng chú Phác cận vệ đi trong đêm, tôi biết Mẹ không ngủ, vì thỉnh thoảng trở mình thức dậy, tôi vẫn thấy Mẹ phe phẩy cái quạt cho các em tới mờ sáng trông ngóng lo âu. – Ba trở về, có khi quần và giày đầy bùn sình. Có việc cho chú Phác làm đây, thì Mẹ mới nở được nụ cười vui mừng như cất đi gánh đá đè nặng… – Mẹ và chúng tôi cứ sống như thế một thời gian khá lâu bên trong khu doanh trại biệt lập của Tiểu Đoàn, được bao bọc bằng mấy lớp rào kẻm gai cao, có gắn những chiếc lon thiếc đã rỉ sét đủ loại, rỗng ruột kêu len ken khi ban ngày chúng tôi đi chơi dọc theo, nghịch ngợm đấm tay vào. Tôi vẫn vô tư trong sự lo âu của Mẹ với những đêm Ba dẫn lính đi hành quân trong sự nhọc nhằn căng thẳng của Ba. Vô tư đến độ, sau nầy khi lớn lên tôi mới thấy thật đáng sợ cho cái việc chúng tôi nằm ngủ hằng đêm sát cạnh tủ súng ống đạn dược. Lỡ như chỉ cần 1 trái lựu đạn bất ngờ bung chốt nổ, coi như cả gia đình tôi banh xác hết. Đáng sợ thật, nhưng may quá bởi gia đình chúng tôi vẫn yên lành. – Tôi còn nhớ lần chuyển quân về Rạch Giá cùng nhiều bác sĩ quan đồng đội của Ba. Ba tôi thật nghiêm trang ngồi trên 1 chiếc xe jeep như mấy bác, có cái cần dài ở đầu xe được cài dọc theo trên mui xe, Ba ngồi cạnh chú tài xế và 2 chú lính bồng súng ở băng sau, tiếp theo là nhiều xe chở các chú mặc quân phục nai nịch súng ống đầy đủ. Còn Mẹ và các Bác Gái, lũ nhóc chúng tôi ngồi trên các xe GMC có mui, cũng có nhiều xe phía sau nheo nhóc vợ con các chú lính, sau cùng là mấy chiếc GMC đầy các chú cùng súng ống, còn có cả xe tăng đi đầu và bọc hậu. Lúc ấy còn nhỏ quá, tôi chỉ biết ăn uống đùa giởn cùng vài anh chị đồng lứa, con của bác Phong, bác Lực, mà không hề biết những bất trắc có thể xãy ra, chỉ thấy Ba tôi đôi lúc dùng bộ đàm, đôi lúc xuống xe gặp các bác đồng đội, cùng bàn luận hay ra lệnh chi đó, rồi đoàn công voa lại lên đường… – Trong mắt Mẹ và chúng tôi, Ba là người hùng dù Ba không to con, nhưng Ba thật oai vệ trong bộ quân phục. Ba không bao giờ la hét to tiếng với các chú lính, khi cần ra lệnh Ba hay dùng cây roi mà Mẹ nói là roi gân bò, vẽ vẽ chỉ chỏ gì đó, vậy mà các chú lính luôn rất tôn trọng từng hiệu lệnh của Ba, trong thái độ của họ có cả sự thương quý cùng luôn luôn chấp hành nghiêm chỉnh. – Tôi vẫn sống vô tư với tuổi thơ của mình trong sự âu lo của Mẹ, cho đến khi Ba được giải ngũ trở về đời công chức an bình mà Mẹ tôi hằng mơ ước và bằng lòng với cuộc sống thật giản dị vốn có của một Cô Giáo làng quê thời Mẹ còn son trẻ. Mẹ hết sức tận tụy lo cho chồng con không một lời so đo càm ràm tị nạnh, dù thuở xưa Mẹ từng nổi tiếng xinh đẹp, có học thức, là con gái út cưng của Ngoại tôi, Ông Mười làng Bình Sơn. Mẹ thật hiền, thật tốt bụng, ăn nói nhỏ nhẹ dịu dàng lễ phép, nên chẳng những trong họ hàng bên Mẹ, mà cả họ hàng bên Ba tôi, Mẹ được nhiều người yêu quý. – Trong mắt Ba, dĩ nhiên Mẹ tôi là người phụ nữ tuyệt vời nhất, vì Ba luôn rất ngọt ngào với Mẹ dù Ba nghiêm, không nói nhiều. Có một câu nói của Ba, mà tôi xem như giáo điều: “ Tụi bây đứa nào hỗn hào với mẹ là ba đập chết…” – Câu nói này, chính anh Hai Khương của tôi đã áp dụng cho đám con đông đúc của anh, mà tôi nghe đứa con gái thứ 10 tên Huỳnh Tiên (lẽ ra là Quỳnh Tiên, nhưng do Cô tôi đi khai sanh, nhân viên hộ tịch viết không đúng, khi phát hiện thì không sao chữa được) kể với tôi, khi nó nhìn tôi, rồi nhìn di ảnh ba nó trên bàn thờ lúc tôi bay qua Hawaii, ở nhà nó gần tuần lễ: – “ Ba nói với tụi con, bây đứa nào hỗn với cô hai bây, ba đập chết… – Nó cười hì hì nói tỉnh rụi: mà xưa giờ, tụi con có đứa nào dám hỗn với cô đâu nà.” – Nó là đứa cháu gái duy nhất gần gũi với tôi, bất cứ Tết nhứt lễ lạc gì nó cũng đều gọi điện thoại thăm, hai cô cháu già trẻ mặc sức huyên thuyên cả tiếng đồng hồ. – Ba tôi đánh giặc thì giỏi, điều hành nhân viên trong sở thì giỏi, mà làm kinh tế…eo ơi…Ba suýt làm cả nhà khốn đốn, thuở phong trào nuôi chim cút rộ lên…Ba cũng bắt chước tự tay đi mua cây, lưới kẽm về, học theo người ta đóng một dải chuồng đúng bài bản…Thoạt tiên Ba trúng mấy đợt nhỏ nên cũng ham, tôi cũng bị cuốn theo vì Ba đi tìm mua ở đâu cũng kêu tôi đi cùng…Lạ cái là Ba mua về dưỡng chỉ một tuần, là có người tới mua liền…Do đó, Ba sa lầy, kéo theo tôi, trút hết vốn liếng của nả, tôi cũng bán sạch nữ trang, cùng số ít vàng dành dụm, chơi tất tay, mua mớ cút đang đẻ trứng giá khá cao…- Trời ạ, nuôi cút đẻ, Ba tôi cưng lắm, cho ăn thêm sửa bột của ngoại quốc…nên cút đẻ thấy ham…Trứng ấp ra cút con cũng đều đều, chúng lớn nhanh như phổng…Nhưng, đúng lứa thu hoạch, cha con tôi chờ dài cổ, không còn ma nào tới tranh mua như trước kia…Chờ mãi, ban đầu còn giảm sửa bột, rồi giảm vài thứ thừa thải…nhưng các con cút con cứ tranh nhau lớn, ăn càng nhiều, chuồng chật mà Ba tôi không còn hứng thú chăm chút, đóng chuồng mới thêm, nguyên gian bếp chỗ cầu thang nhà riêng của rồi, đã chật kín lồng với hằng trăm con cút trưởng thành…Cuối cùng, biết ra cái trò nuôi cút này là kế hoạch phá hoại kinh tế, gài bẫy người nhẹ dạ cả tin của bọn ba Tàu…Cha con tôi ngậm đắng nuốt cay, vốn liếng dành dụm cả đời công chức thanh bạch của Ba do Mẹ tôi tằn tiện không đua đòi, do tôi chắt chiu làm thêm việc (ngoài việc ở Bộ Giáo Dục) lảnh đi công tác ở Tỉnh cho một công ty dịch vụ lo giấy tờ xuất ngoại tư nhân…mớ của nả tiền bạc đó bay vèo vô mớ cút một các vô tội vạ và khủng khiếp. Cuối cùng, Ba tôi đành đề nghị với Mẹ tôi, cải thiện bữa ăn cho gia đình có dinh dưỡng mà bớt tốn kém (do thất bại trong chăn nuôi theo phong trào), Ba bắt mỗi ngày mấy con cút già nhất, làm thịt, Mẹ nhắm mắt rô ti…mâm cơm dọn lên canh rau thịt cút ngon lành…Mẹ và mấy chị em tôi chỉ chan canh lua đại…thằng em trai út, con mắt đỏ hoe, không đụng đũa…đứa em gái thứ sáu, thì chạy vô nhà tắm mà ụa liên hồi, (vì em hay đi chùa theo chị họ tôi, sau này chị họ tôi là Sư Bà Thanh Lương, trụ trì Viên Thông Tự ở Houston TX, còn em Sáu, xuất gia khi Ba Mẹ tôi đã mãn phần, em cải gia gần giống như chùa để tu tập, hiện em là Sư Cô Pháp Huệ)… – Gia đình nhỏ của chúng tôi sống quây quần bên nhau cho đến khi tôi lập gia đình, vẫn ở sát cạnh nhà của Ba Mẹ, rồi tôi cũng làm công chức như Ba, chồng tôi cũng làm lính như Ba. Ước mơ nhỏ nhoi của chúng tôi là sống bình yên trên mảnh đất Quê Hương yêu quý của mình, cho đến ngày ấy… – Lúc tôi mới lập gia đình, Ba ngăn riêng cho tôi một phòng ngay khoảng trống giữa nhà bếp và phòng ngủ lớn của Ba Mẹ cùng các em. Ba xây thêm 1 nhà tắm sát phòng tôi, che thêm mái, đưa bếp ra gian lộ thiên có hai cây cột mà lúc trước Ba treo chiếc võng cho tôi ngồi đong đưa hai đứa lớn hai bên, đứa út tôi bồng cho bú vào ngày nghỉ cuối tuần. Khi anh Ba tôi chuyển xuống Long Xuyên làm Phó Quận trưởng An Giang, Ba đã cho tôi dọn ra căn nhà Ba làm cho gia đình anh Ba ở thuở trước. Tôi được chính thức ra riêng, nhưng cửa hông của nhà Ba Mẹ và tôi cũng ăn thông nhau. – Năm 1974, trong gian bếp rất rộng, Ba Mẹ tôi có cho vài sinh viên trọ học, ngủ trên 3 cái giường sắt 2 tầng, để có thêm tiền chi dùng trong đời sống của một công chức thanh bạch như Ba, và phụ trong chi phí cho em gái út tôi học trường Mỹ thuật, tiếp nối giấc mơ họa sĩ dở dang thuở thiếu thời của tôi. (Đứa em gái này rất ngoan hiền, học cùng lớp Đại học Mỹ Thuật với Sĩ Hoàng, Minh Hạnh, Nấm Hương…và do cảm mến yêu thích cái không khí gia đình êm ấm hạnh phúc, trọn vẹn tình vợ chồng, cha mẹ con cái, mà Sĩ Hoàng đã nài nỉ Ba Mẹ tôi nhận em làm con nuôi…Em cũng thật lòng hiếu kính Ba Mẹ, cho đến khi Ba Mẹ tôi mãn phần, em vẫn để tang như đứa con trai, và tiễn Ba Mẹ về tận trên quê nhà.) – Mấy tháng nay thỉnh thoảng tôi vẫn nghe tiếng đạn pháo kích bay véo trên không trung ngang qua nhà. Nhịp pháo kích ngày càng dày, nhất là vào tháng Ba trở đi. Ba Mẹ tôi đã bắt đầu lo đào hầm phía dưới bộ ván gỏ lớn, khá dày trong căn bếp rộng, đúng nơi trước kia đặt chiếc giường ngủ to cho tôi cùng vài em kế khi tôi còn nhỏ, và cũng không bị ảnh hưởng gì đến vài sinh viên còn kiên trì ở lại tiếp tục học. – Ba Mẹ tôi thuê 2 người đào mất cả ngày mới được 1 cái hầm khá lớn và sâu lút đầu Mẹ, đủ cho cả đại gia đình hấp tấp lúc nhúc chui vào khi nghe tiếng đạn đại bác véo qua. Ba còn cẩn thận, không biết do ai vấn kế, sau khi Ba chèn tấn thật chặt các bao đất cát mà lúc nầy, tự nhiên bao cói nylon và cát lên giá vùn vụt, cát lại lưng xe chớ không dôi dả như xưa, chúng tôi đã thật ngạc nhiên khi thấy Ba kêu người chở đến 1 xe thân cây chuối…Ba chèn kỷ vòng ngoài các bao cát đất, chúng tôi trông thấy khá buồn cười rồi xúm len lén khúc khích nho nhỏ vậy mà Ba cũng nghe, quắc mắt nghiêm nghị: “Ở đó còn cười, vui lắm sao? – Tụi bây nghe Ba dặn nè, bất cứ bây đang ở chổ nào, nghe tiếng đạn véo qua, là lập tức chạy ngay tới đây mà chui liền xuống nghe chưa? Ba muốn nếu còn sống, sống hết, nếu có chết cả nhà cùng chết chùm”. Chị em tôi cùng dạ rân rồi làm thinh, không dám hó hé. – Mẹ cũng đi chợ, lo kéo về 1 bao gạo lớn, mấy tỉn nước mắm, và chiết ra 1 dọc chai trên kệ, cạnh bếp. Mẹ còn chuẩn bị hũ mỡ heo thắng thật to và Mẹ cũng mua cả trăm trứng vịt về muối trong cái keo 20 lít của Mẹ. Mẹ còn làm keo thịt ruốc theo kiểu người miền Nam, xắt từng cục vuông vuông mà mỗi lần tôi sanh em bé, Mẹ đều làm sẵn cho tôi ăn sáng trong thời gian “nằm ổ”. – Một đêm, vào cuối tuần đầu của tháng Tư, chúng tôi đang ngủ trong chập chờn, vì lúc nầy đã nghe tiếng đạn đại bác thường, nên cũng bắt đầu bớt sợ như ban đầu. Nhưng rồi cả nhà cũng bị một phen hoảng vía, đang ngon giấc, bổng mọi người choàng dậy bởi một tiếng uỳnh thật lớn mà thật gần. Chúng tôi đều có cảm giác vách tường phía sau nhà như run lên. Ba tôi hét lớn: “Chui xuống hầm mau lên.” – Khi mọi người yên vị trong hầm, Mẹ tôi không ngừng niệm Phật, còn Ba thật lo lắng. Lặng im kéo dài, thật dài mà tôi không thể đoán bao lâu. Thời gian như ngưng đọng lại, rồi Ba thở phào nhẹ nhõm, nói với Mẹ: – “Yên rồi, nó không nổ…may quá…giống như vụ ở nhà thằng Quang.” – Mấy phút nữa trôi qua, không nghe động tĩnh gì, Ba bảo mọi người leo lên khỏi hầm, và tiếp tục…ngủ! – Sáng ra mới biết đêm qua, 1 quả đại bác rơi ngay trong sân biệt thự của Đại tá Hồ Tiêu bên kia đường Tự Đức, xéo góc với Cư Xá chúng tôi, chém đứt ngọt mấy nhánh của cây me cổ thụ lớn ngoài đường, gần tường rào nhà ông, làm sập một mảng tường. Nhà Đại Tá lại nằm đâu lưng sát tường với dinh của Đại Sứ Mỹ Graham Martin, làm các Bác trai trong Cư Xá Tòa Đô Chánh và cả Ba tôi, nhất là các anh lớn đều đoán già đoán non, có thể mục tiêu là tư dinh của Đại Sứ Mỹ. – Ngay ngày hôm sau, xe quân đội đến chuyển đồ đạt và đưa gia đình Đại tá đi nơi khác. Mấy anh trong cư xá tò mò chạy qua ngóng xem, về kể lại quả đại bác đào 1 lỗ khá to, hơi sâu ở giữa sân. Cả gia đình ông mạng cũng thật lớn, bởi cho dù không nổ, chỉ cần nó rơi ngay trong nhà, cũng có thể sập mái, gây thương vong. – Việc nầy cũng làm tôi nhớ lại anh Đào Kim Quang, là cháu ruột gọi Mẹ là cô, làm Đại Tá Không Quân, nhà anh ở ngay trong căn cứ TSN, và anh cũng bị trường hợp y vậy, trái đại bác rơi ngay trước sân nhà anh cũng không nổ, nhưng cũng đủ làm cả nhà lên ruột. Thế là anh ra tá túc tạm trong Nhà Thuốc Tây Hồ Huệ, của Ba vợ trên đường Trần Bình Trọng Quận 5. Chị dâu tôi và đứa con gái duy nhất đã qua Pháp thăm họ hàng cùng Ba má chị từ tháng trước. Viện Bào Chế thuốc vừa là Nhà Thuốc Tây, giao lại cho chị dược sĩ Tuyết, chị kế chị dâu tôi trông nom. Vì không được rộng, nên anh Hai Quang của tôi tối phải nằm ngủ trên bộ ván nhỏ, sát cạnh phòng kho chứa than. Một đêm đang mơ màng, anh lại cũng nghe một tiếng uỵch thật lớn, sức dội mạnh hất anh văng xuống đất… – Khi ra thăm Ba Mẹ tôi, anh vừa nói vừa cười tỉnh queo: – Cô Dượng Tám thấy không, số con không thể nào chết được, 2 lần đại bác rơi xuống nhà đều không nổ, lần trước ngoài sân không nói, lần nầy rơi trong kho, lọt gọn vô giữa đống mấy bao than, sập mái góc phòng chứa, con nằm phòng sát bên. – Sau đó, anh quyết định trở về nhà trong Tân Sơn Nhất, vì nghĩ đạn nó tránh mình, chớ mình làm sao tránh được nó!. – Chúng tôi quả thật lo sợ cũng không tránh khỏi cái ngày định mệnh! – Mười ba ngày trước cuối tháng Tư, Ba các con tôi đang đóng quân ở Căn cứ HQ/Mỹ Tho, đi công tác khẩn do Chỉ Huy Trưởng Căn cứ cử về Bộ Tư Lệnh/HQ/Sài Gòn, anh dùng giờ nghỉ trưa đi về nhà thăm vợ con. Cũng may nhà tôi ở ngay ngã tư Tự Đức/ Mạc Đỉnh Chi nên rất thuận tiện, chỉ cần đi bộ 1 đoạn đường không xa là đã ra đến ngã ba Hai Bà Trưng/ Tự Đức, anh sẽ dễ dàng đón xe đi trở xuống Bộ Tư Lệnh tại Bến Bạch Đằng, nơi có Tượng Đức Thánh Trần oai vệ chỉ tay xuống Sông Sài Gòn. Quân Vụ Lệnh cho công tác chỉ cần 2 ngày, anh được cấp 2 ngày đường, cộng thêm 2 ngày phép đặc cách vì đã mấy tháng anh chưa được về nhà do ban hành lệnh giới nghiêm tại đơn vị. Như vậy lần nầy, anh ở nhà với mẹ con tôi được đến 5 đêm trong tình hình thật sôi động. – Các nơi, tin chiến sự đổ dồn về mỗi lúc một ác liệt hơn. Tôi cũng có linh cảm và rất lo sợ, nên ngày cuối tôi năn nỉ anh đừng trở xuống, sợ lỡ có bề gì, làm sao về. – Nhưng anh bảo không được, anh phải trở xuống đơn vị. Anh không muốn mang tội đào ngũ. – Cuối cùng tôi đành tiễn anh ra đến đầu đường Tự Đức/ Hai Bà Trưng. Anh bịn rịn chia tay, ôm hôn tôi thật lâu, dịu dàng nói nhỏ cho tôi an tâm: “Em ráng chịu cực chăm sóc con, nếu có đi công tác nữa, anh sẽ ghé về thăm em và con.” – Tôi khóc bởi không biết làm sao hơn, và rồi anh đẩy mạnh tôi ra, quay đi thật nhanh như chạy. Tôi tần ngần đứng yên nhìn bóng anh khuất xa dần, mới đi trở về nhà mà trong lòng lo lắng hoang mang, tôi nhớ rõ ngày anh trở xuống Căn Cứ Hải Quân Mỹ Tho là sáng 23/04/1975. – Anh đi đã 2 ngày, không gọi điện về báo đã xuống tới nơi như mọi khi làm tôi nóng lòng, không biết tình hình ở Mỹ Tho thế nào. Buổi trưa tôi xin phép ông Chủ sự của tôi, lấy honda chạy thẳng xuống Bộ Tư Lệnh, tôi trình Thẻ Công Vụ của tôi ở cổng, và xin được vào Phòng T.Q.Trị, nơi chồng tôi công tác trước, gặp Đ.úy Trưởng phòng, ông đã gặp tôi vài lần khi tôi ghé vô chờ anh cùng đi đón các con đang học ở Saint Paul trên đường Cường Để, và khi tôi yêu cầu nhờ ông giúp liên lạc với Tổng đài Căn Cứ/MT để tôi hỏi thăm chồng tôi…ông cũng sốt sắng liên lạc giúp, nhưng không được, rồi cho biết trung tâm truyền tin rất bận trong tình hình căng thẳng hiện nay. Ông khuyên tôi an tâm đi về, ông sẽ liên lạc khi được tin sẽ gọi báo cho tôi. Tôi ra về, mà bần thần như người vô hồn, may mà lúc nầy, xe cộ không đông đúc mấy. – Ngày 27, tôi sốt ruột không chịu nổi, lại chạy xuống Bộ TL, và khóc ngay khi gặp Đ.Uý Trưởng phòng, ông ái ngại nhìn tôi, từ tốn nói: – “Thật xin lỗi chị Thiện, tôi cố gắng hết sức, nhưng không liên lạc được 2 ngày qua. Sáng nay, được tin đường dây liên lạc đã bị cắt, hiện giờ, Bộ Chỉ Huy phải xử dụng bộ đàm cho công tác chỉ huy, không thể dùng cho việc cá nhân, mong chị thông cảm.” – Chồng tôi làm việc tại Phòng Tổng Quản Trị Bộ TL/HQ mười năm, tánh hiền lành, có kỷ luật, nên rất được cấp trên tín nhiệm, và những người liên hệ công tác đều quý mến, vậy mà trong an nguy nầy, cũng không sao giúp được gì cho nhau. Tôi thất thểu ra về như các xác không hồn, càng lo sợ hơn bởi nhịp pháo kích càng dày. Tại bến Bạch Đằng, còn neo chiếc Dương Vận Hạm, nhưng tôi không nhớ chính xác là HQ/503 hay HQ/504 mà xưa kia, chồng tôi từng là Thủy thủ trên đó cùng vài chiếc Tuần Dương, Tuần Giang. – Sáng sớm 29, cậu Bảy Khánh con dì Ba Gần, em họ Mẹ tôi, cũng là lính HQ, đóng quân ở Căn cứ Cát Lái, chạy ra nhà tôi, còn không kịp vô trong nhà chào Ba Mẹ tôi, vừa thấy mặt tôi tại cửa đã hấp tấp hối: – Chị Hai, chị gom vài bộ đồ của chị và mấy đứa nhỏ, tôi chở xuống BTL liền, tàu đang cho gia đình HQ đi di tản…Lẹ lên chị, để trễ người dân biết tin, chen vô đông thì khó đi lắm, sợ lạc nhau. – Tôi lắp bắp…“ đi vậy, còn anh Thiện sao cậu?” – Trời đất, bây giờ mà chị còn lo cho anh Thiện, chị lo cho chị với mấy đứa nhỏ nè, chị đi với tôi, có gì tôi còn đỡ đần được cho chị, còn phần anh Thiện, ảnh ở dưới Căn Cứ Mỹ Tho, có đầy đủ tàu, tự ảnh biết lo, chị lo gì chớ? – Tôi vừa khóc vừa cám ơn cậu em họ tốt bụng, và nói trong nước mắt: – Chị cám ơn cậu Bảy, chị không đi đâu, chị ở đây chờ ảnh, vì chị biết ảnh cũng sẽ không bỏ mẹ con chị mà đi. Cậu Bảy dậm chân chắc lưỡi vì không thuyết phục được tôi. – Thôi tùy chị, vậy tôi đi đây, chị ở lại bình an nha. – Cậu Bảy đi rồi, đến trưa, anh Hai Quang tôi gọi cho Ba Mẹ, Ba tôi tập họp các con lại, bảo: “Tình hình đã quá căng thẳng, anh Hai gọi Ba bảo lái xe đưa hết tụi con vô TSN ngay chiều nay, mang hành lý thật gọn, cùng nữ trang tiền bạc. Mọi thứ khác bỏ lại, đến cổng chánh gọi điện, anh đích thân ra đón đưa vô nhà, chờ anh sửa chữa sắp xong chiếc trực thăng nhỏ đang hư được bỏ lại trong ụ, nếu xong kịp thì khuya nay, (sau này tôi được biết chiếc Bell UH “ Huey” nằm trong ụ khá lâu mà không kỷ thuật viên nào sửa chữa được, may sao anh Hai tôi cuối cùng cũng mày mò sửa chữa được cái món không ai dùng được mới bị bỏ lại trong ụ, vì anh là kỷ sư cơ khí từng du học ở Pháp 7 năm, trước khi về phục vụ cho Quân lực VNCH. – Hai ngày cuối tháng Tư, cả Tân Sơn Nhứt lẫn Bộ Tư Lệnh Hải Quân ở Bạch Đằng, Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ như dầu sôi lửa bỏng. Tôi năn nỉ: “ Ba Mẹ đi cùng các em thì cho con gởi mấy đứa nhỏ theo”. Ba tôi bảo: “Ba chỉ chở tụi con vô đi với anh Hai, còn Ba Mẹ không đi. Ba không thể bỏ mồ mả Tổ Tiên mà đi đâu được hết” . Mấy em tôi cùng khóc, nhất định đồng lòng: “Ba Mẹ không đi, tụi con đi làm chi”. Ba nạt: “Tụi con đi với anh Hai Quang đi, con bé Hai (tôi), con là lớn lại lanh lợi, con đem 3 đứa nhỏ đi với các em. Soạn đồ lẹ lên, Ba chở vô anh Hai Quang liền tức thì…để chiều, cổng phi trường đóng, nội bất xuất ngoại bất nhập thì không thể vô. Cuối cùng, khi anh Hai Quang gọi lại thúc dục, Ba tôi cho biết, mấy chị em tôi không đứa nào chịu đi. Giờ phút cuối cùng, anh Hai tôi tự lái nó qua Hongkong, rồi từ Hong kong, sau đó anh tìm phương tiện qua Mỹ.) Mấy ngày cuối tháng Tư chộn rộn, Nha Học Vụ Nông Lâm Súc, nơi tôi làm việc, cũng không còn ai ra vào, mọi người xem như tự bỏ nhiệm sở. Xế chiều 29, N.T.Giánh, bạn chung phòng Lương bổng với tôi, chạy chiếc Yamaha dame xanh, chở 3 thằng con trai nhỏ hơn con tôi, ghé vô nhà tôi, kêu: “Bà Phú, bà lấy quần áo mau lên, đi với tôi vô Tòa Đại Sứ Mỹ, ông chồng tôi (chồng Giánh là người Đài Loan, làm nhân viên trong Tòa Đại Sứ) mới gọi tức thì, bảo tôi đưa 3 đứa con vô, ổng bốc lên trực thăng, bay thẳng ra Đệ Thất Hạm Đội luôn. Tôi đi một mình sợ quá nên nói với ổng, rũ bà đi với, ổng OK. Lẹ lẹ lên ổng đang chờ tôi vô” – Tôi cám ơn Giánh, và bảo… “Anh Thiện chưa biết tin tức ra sao, tôi không đi được đâu, thôi Giánh đi cho kịp, chúc bồ thượng lộ bình an nha”. – Giánh thất vọng từ giả tôi, để lại chiếc xe Yamaha bảo tặng tôi, tôi cám ơn cười như mếu: – “ tôi có xe rồi, thôi cũng cám ơn bồ, không biết mai mốt có xăng chạy không, tình hình nầy!” Và rồi…NGÀY MẤT NƯỚC đã đến khi Tướng DVM léo nhéo trên Đài Phát Thanh, kêu gọi đầu hàng, chúng tôi đã thẫn thờ thất thần từ mấy ngày chộn rộn, giờ lại càng thờ thẫn. Vậy là xong, là chấm hết.! – NGÀY QUỐC HẬN: 30/04/1975 Và rồi, ngoài đường, sát vách tường cư xá chúng tôi đầy những bao rác không dơ lắm, bởi chứa đầy quân phục không biết ai mang đến vất, cả sách truyện, tiểu thuyết, rồi lề đường đầy dẫy những xe honda…có cả xe hơi vô chủ mà ngày hôm kia, hôm qua, người ta đã bắt đầu bỏ của chạy lấy người. Cư Xá Toà Đô Chánh Tự Đức của chúng tôi gồm 2 dãy nhà 6 căn đâu mặt vào nhau, lưng xây ra đường, với hàng me cổ thụ xanh um bóng mát, có 2 băng đá đã bị bể nhưng rất nặng và còn ngồi được. Các Bác hùn tiền nhau làm 2 cổng gỗ cao từ năm ngoái có chốt gài bên trong để giữ an toàn vào ban đêm. Căn của Ba tôi là căn số 1, nên vách sau nhà xây ra đường, sát vách nhà Ba, còn khoảng trống liền sau vách nhà đèn, Ba làm garage để xe hơi, dài tới 15 mét, bề ngang được 3 mét nên khi anh Ba tôi tốt nghiệp Quốc Gia HC, Ba xây tường lợp tole thành 1 căn nhỏ cho gia đình anh ở 3×5 mét có gác. Khi anh đổi xuống Long Xuyên làm Phó Quận Trưởng Quận Châu Thành An Giang, thì Ba cho gia đình tôi dọn ra ở riêng. Cư xá lại song song bên hông của Hội Việt Mỹ, nên từ ngày 1/5, chúng tôi nghe tiếng ầm ầm liên tục do cư dân xóm bên kia đường, khu Trường Can, và các khu gần đó, ngoại trừ khu Cư xá chúng tôi, vì các Bác và Ba tôi không cho phép gia đình làm cái việc bị gọi là “hôi của”. Họ vô trong Hội Việt Mỹ, leo lên các tầng lầu, phòng học, lấy đi toàn bộ những gì có giá trị như quạt, tủ, bàn, ghế, bóng đèn… Còn bao nhiêu sánh dạy tiếng Anh, báo Thế Giới Tự Do…họ ném từng đống xuống đường. Các Bác và cả Ba tôi bắt chúng tôi đứng bên trong cổng chốt lại, và trước mắt chúng tôi, từng người, từng đoàn người lũ lượt khiên, xách mọi thứ trong dinh Đại Sứ Mỹ và các biệt thự sang trọng quanh khu cư xá Tự Đức, từ tủ lạnh, quạt trần, đèn chùm trang trí, bàn ghế, salon, tủ kệ, thậm chí cả giường, nệm…chở xe ba bánh, hay ôm hằng mớ áo quần trong tay, họ đi qua, chúng tôi thờ ơ nhìn, chán nản lo âu, bởi không biết tương lai sẽ về đâu, ra thế nào. Toàn bộ 12 căn nhà chúng tôi, đều là Công chức của Toà Đô Chánh, các Bác và Ba tôi, người làm Phó Quận Trưởng, Tổng Thơ ký, Trưởng Phòng trong các Quận Nội thành. Đám người “hôi của” ồn ào cười nói, khoe nhau những chiến lợi phẩm họ lấy cả trong những ngôi biệt thự sang trọng mà tư nhân đã bỏ đi chẳng buồn khóa cả cửa trên đường Phùng Khắc Khoan, còn gọi là Khu Ngoại Giao đoàn, vì toàn biệt thự xưa lại có tư dinh, Toà Đại Sứ các nước ở, như Mỹ, Anh, Tân Tây Lan, Thái Lan. Tôi cùng 3 đứa con đứng vẩn vơ bên trong cánh cổng mỗi ngày để ngóng Ba các cháu về, vừa lo lắng, bồn chồn, rối ruột vì đã sang ngày thứ 3 sau 30/04. Ba các cháu vẫn bặt tăm. Lúc nầy, lề đường bề bộn, không người dọn dẹp, cả thành phố SàiGòn từng là Hòn Ngọc Viễn Đông thật sự trông bát nháo. Những xe Jeep chở đám thanh niên thiếu nữ trẻ, ăn bận không giống như chúng tôi ngày xưa với tà áo dài tha thướt, cái họ mặc cũng không gọi là quân phục, vì có người, quần áo bà ba đen, hoặc quần tây màu cứt ngựa may thùng thình, hoặc quần áo nâu, chỉ có duy nhất nét giống nhau là trên cổ họ đều quàng khăn rằn, đầu đội mũ tai bèo, tay ôm khẫu AK, với nét mặt dương dương tự đắc của kẻ thắng cuộc. Xe chạy vút qua, vùn vụt như chổ không người, làm người dân Sàigòn chúng tôi thật e dè khi nhìn họ phô trương tính cách của những ông trời con. Thỉnh thoảng chúng tôi còn nghe một vài tiếng đạn lạc, điều nầy cũng hạn chế việc ra đường của tôi trừ khi cần. Tôi còn bị một ám ảnh khi nhớ lại những ngày kinh khủng và thật dị hợm ấy. Bên kia đường Mạc Đỉnh Chi, có 1 tiệm Photocopy tên Huy Hoàng, gia đình nầy có Pháp tịch, đang chờ đi thì tình hình bất ổn định. Trong thời gian chờ đợi, ông bà chủ vẫn mở cửa tiệm, do thời điểm gần đây, chẳng mấy ai cần photo giấy tờ, nên ông bà tiếp tục quay xe nước mía bán khi có khách. Vào một ngày xấu trời sau 30/4, tôikhông nhớ rõ ngày nào vì cũng quá lâu, lại còn đang lo lắng cho Ba các cháu, ông Hoàng vẫn quay nước mía như thường ngày. Chợt trong vài chiếc jeep vút qua, chợt có tiếng đoành nổ không to lắm, không biết từ xe nào từ ai, chợt, ông Hoàng ngã đổ xuống đất, máu nơi ngực lai láng tuông ra trong tiếng thét thất thanh của vợ con. Tôi chứng kiến giây phút định mệnh đó khi vừa từ nhà cầm cái ca định băng qua mua nước mía cho các cháu, tôi chết sững muốn khụyu tại chổ. Trước tiệm photocopy Huy Hoàng, mọi người đang nhốn nháo cả bên nầy đường, nơi tôi đứng, và bên kia đường, mọi người tụ tập khá đông, đang chỉ chỏ bàn tán cách xe nước mía một khoảng, đủ cho tôi nhìn thấy xác ông chủ tiệm nằm trên bậc thềm nhà mình, tay buông thỏng vất hết sự đời! Ông Hoàng ơi, ông đi trước, bất chợt, nên không hề đau đớn, có khi sung sướng hơn vợ con ông vì phải chứng kiến cái chết tức tưởi của ông. Có khi ông ra đi, mà nhẹ nhỏm hơn chúng tôi, vì không phải bê từng món lỉnh kỉnh ra ngồi bán ven lề đường góc chợ, hay đạp xe đi ruồng trong xóm nhỏ ngày vài chục cây số, miệng gào: “Gạo đỏ bán hôn mua đây” – Hay như những người lính tội nghiệp của chúng tôi, bị đi “cải tạo” nơi rừng thiêng nước độc sau đó, phải chịu nhục nhằn trước báng súng của kẻ có quyền, hay nuốt hận cúi đầu trước những lời xỉ vả cục cằn của bọn thắng cuộc. Ông Hoàng ơi, Ông ra đi vậy mà tốt và sướng hơn nhiều người. Xin cầu nguyện Ông bình an trên cõi ấy, biết đâu chúng ta sẽ lại gặp nhau. Không phải chỉ lần nầy, mà trước đó, tôi không nhớ chính xác thời gian, vào khoảng Sài Gòn đang rất bất ổn, có nhiều sự việc xem như bị ám sát vì lý do chính trị, hay lý do gì đó, không thể khẳng định, chỉ biết được tin tức qua báo chí. Ngày ấy, chỉ nhớ là tôi đang đứng chờ chủ tiệm mì, ba chị Lìn chan nước lèo vào tô cho tôi thì một thanh niên cúi gằm mặt, đội nón kết đen bước vào, ghé tai một người khách đang ngồi ăn, lưng quay ra đường, nơi chiếc bàn đầu tiên, cách chổ tôi đứng chỉ mấy bước chân. Tôi thoáng nghe tiếng bụp nhỏ, gọn, còn chưa biết là gì, người thanh niên đã nhanh nhẹn chạy ra thật nhanh, nhảy lên sau xe honda vẫn đang nổ máy chờ sẵn…chạy biến đi trong tích tắc, không ai kịp biết chuyện gì vừa xảy ra, chỉ thấy người đàn ông kia mới đó chỉ vài phút còn đang tận hưởng bữa ăn, đã gục ngã sóng soài cạnh chân chiếc bàn tròn, từ thái dương có dòng máu nhỏ ri rỉ chảy ra, mọi người hét toáng lên, tôi cũng hét theo quán tính rồi lao ra khỏi tiệm chị Lìn bỏ lại cả tô mì đang bốc khói. Sau việc xảy ra, tiệm mì cũng đóng cửa một thời gian, và tôi cùng gia đình, dù có thích ăn mì ở đó, cũng không bao giờ còn dám bước chân vào, kể cả, tôi cũng không có nhu cầu đi ngang qua trước cửa, bởi 2 tiệm với 2 tai nạn chết vì súng đạn thật bất ngờ giống nhau, lại ở liền kế bên nhau. Tiệm mì nằm ngay góc Mạc Đỉnh Chi/ Tự Đức. Qua ngày thứ bốn – ngày 04/05/1975…tôi không còn chịu đựng nổi sự lo lắng…tôi năn nỉ Ba Mẹ, cho tôi gởi các con ở nhà, và tôi lén thuê xe “Honda ôm” của 1 anh quen bên kia đường. Anh cần tiền, tôi cần tìm chồng, chúng tôi đồng thỏa thuận giá 1 lượng vàng, anh chở tôi xuống Mỹ Tho cả đi và về đến khi tôi tìm hỏi được tin tức ba các cháu, tôi quýnh quáng và anh cũng do quen lâu năm nên cũng chẳng để ý thời gian ấn định là bao lâu…Nhưng trong lòng tôi, tôi mong công chuyện sẽ nhanh chóng vì đường không xa mấy, mà tôi cũng không thể bỏ con cái ở nhà, dù có Ba Mẹ tôi trông nom giúp. Chỉ giao hẹn khi về đến nhà, tôi sẽ chồng vàng. Anh “xe ôm” chấp thuận, chỉ yêu cầu tôi chi trước chút ít tiền cho anh đổ xăng. Ba Mẹ tôi không cho đi, sợ nguy hiểm, nhưng tôi không thể nào ở nhà, mà lòng như lửa đốt, tôi khóc lóc năn nỉ Ba Mẹ có thương thì giúp con trông dùm các cháu, chớ con không thể sống trong tình trạng thế nầy mỗi ngày. Cuối cùng Ba Mẹ tôi đành rầu rĩ nhìn tôi đi tìm chồng! – 9 giờ sáng ngày 04/05/1975, tôi lên đường. Anh xe ôm chở tôi từ nhà, chạy ra đường Tự Đức, quẹo trái Hai Bà Trưng, xe vừa chạy đến ngả tư Hai Bà Trưng / Phan Đình Phùng, trước một nhà đèn nhỏ ở góc phía sân tập Thể Thao, nhiều người đứng lố nhố trên lề chỉ chỏ. Xe vừa quẹo cua anh xe ôm dừng lại, tôi nhìn, Trời ạ, thật thê thảm, 2 xác người mặc quân phục rằn ri, chiếc mũ đỏ chỏng gọng bên cạnh, đám ruồi nhặng vo ve bởi xác bốc mùi. Trông thật tội, không một ai vuốt mắt cho người đã khuất, không một nén hương, không biết họ chết ra sao, có lẽ đã mấy ngày nay. Dân chúng không ai có điều kiện để mang xác đi, mà có lẽ cũng không ai còn lòng dạ đâu mà làm cái việc ngoài lề đường đó. Còn bọn người thắng cuộc ư, có lẽ họ đang choáng ngợp trước những huy hoàng trước mắt họ. Từ suy nghĩ so sánh của bản thân họ, đến vật chất của dân Mỹ Ngụy Sài Gòn quá sung túc thừa mứa, làm sao còn thì giờ làm những việc không mang lại cho họ chút thích thú nào. Họ còn đang bận mô mẩn những cái đáng giá hơn trong cuộc sống cho họ, bởi họ vừa đang lột xác đổi đời, và chúng tôi cũng lột xác đổi thời theo nghĩa tương phản. Rồi, làm gì được đây? – Tôi ngậm ngùi vỗ vai anh xe ôm: “mình đi thôi” sau tiếng thở dài nghèn nghẹn bởi chính tôi cũng không dám bám vào suy nghĩ cái điều mắt vừa thấy, Trời ơi! -Mong sao…! Xe chạy vô đến chợ cá Trần Quốc Toản, thì phải chạy chậm vì mấy ngã đường giao nhau, xe cộ loạn xạ. Bất chợt tôi nhìn thấy một dáng người lếch thếch bên kia đường, chẳng biết có phải do thiêng liêng vì trước khi tôi ra đi tôi cũng thắp hương cầu nguyện ở Bàn Phật, và tôi có thói quen khi ngồi lên xe là cũng niệm Phật, hay do linh tánh, do sự trùng hợp ngẫu nhiên tôi cũng không biết, tôi bất chợt vỗ mạnh vào vai anh xe ôm bảo: “ Anh ơi dừng lại, dừng lại cho em đi” Anh nép xe sát lề thắng cái rét, tôi tuột liền xuống bươn qua, anh la lên: – “Cô coi chừng băng qua đường cẩn thận, xe quá trời kìa”. Tôi nghe anh nói mà cứ băng qua như vô thức, vài tiếng chửi thề, tôi nghe loáng thoáng rồi tôi nhận ra – Đúng là anh rồi, chồng tôi. Tôi hét lên Anh Thiện, Anh Thiện mà anh như không nghe thấy. Tôi đến sát anh vòng tay ôm chặt anh vừa khóc vừa kêu: Anh Thiện, em đây, Phú đây – Anh ngơ ngác nhìn tôi vài giây, miệng lắp bắp..Phú Phú – Tôi lắc lắc cánh tay anh, em đây mà, anh Thiện ơi. em đây, Phú đây – Mắt anh có thần hơn, anh chợt ôm choàng tôi, tay vỗ vỗ lưng tôi, rồi vừa khóc nấc, vừa nói: “Đúng là em rồi, anh cứ sợ về mà không gặp được em và các con”… Sau xúc động lẫn vui mừng, anh xe ôm quay xe đến bên, anh leo lên yên, tôi ngồi phía sau, ôm chặt anh như sợ anh biến mất. Chồng tôi về nhà bình an cả gia đình vô cùng mừng rỡ, nhất là các con tôi. – Anh xe ôm quen cũng thật tốt bụng, anh cùng vui mừng với chúng tôi, rồi chỉ xin tiền đúng cuốc xe, nhưng tôi cũng dúi thêm cho anh thêm một ít trong niềm hân hoan. Ba các cháu sau khi tắm rửa trút bỏ bộ đồ mặc mấy ngày bám đầy bùn sình bụi đất, Mẹ tôi bưng cho anh tô cơm nóng, anh ăn ngon lành như chưa từng được ăn. Sau khi nghỉ ngơi lại sức, anh vẫn lặp lại câu nói khi vừa tỉnh trí lúc nhận ra tôi trên đường, tôi và các con ngồi quanh anh – “Anh sợ khi về tới nhà, em và các con đi rồi, anh không biết sống sao đây, chắc anh chết quá” . Không biết từ khi nào, anh có ý nghĩ sẽ chết, nếu không gặp lại Mẹ con tôi. Có lẽ, quá nhiều kinh hoàng trên đường anh tìm về với Mẹ con tôi. Tuy điều đó không nghĩa lý gì với bao nhiêu kinh hoàng của những người khác, nhưng tôi hiểu quả tình là khủng khiếp với anh, bởi từ nhỏ đến lớn lên được sống trong sự bảo bọc của Cha Mẹ, rồi đi học, rồi đi lính cũng chọn làm Lính Thủy trong bình yên mơ mộng với những chuyến hải hành, rồi lên bờ làm việc văn phòng, rồi cưới vợ có con… Một cuộc sống bình dị, chưa từng đối mặt với đời như lần nầy, bảo sao anh không sợ hãi, hốt hoảng lẫn kinh hoàng!. Anh cho biết ngay khi vừa trở xuống Mỹ Tho ngày 22/04 anh đã biết tình hình rất bất ổn vì thiết quân luật càng nghiêm nhặt, chốt canh của đơn vị tăng cường, mọi quân nhân đều trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu. Tuần sau, anh cũng được tin đường dây điện thoại Sài Gòn Mỹ Tho bị đứt đoạn. Long An đang đụng trận dữ dội, không biết có sắp rơi vào tay địch không? – Nếu bị vậy, coi như Sài Gòn và các tỉnh miền Tây không thể tiếp ứng chiến cho nhau. Chiều tối 28/04, tin địch đã đánh úp vô Tiểu Khu Mỹ Tho, và chỉ đang bao vây cầm chừng trước Căn Cứ/HQ, nhưng chưa dám tấn công, vì không nắm chắc hỏa lực của ta. Tụi nó cũng chưa đủ sức tấn công, nên hẳn chúng đang chờ tiếp viện. Súng ống đạn dược của Căn Cứ vẫn còn đầy đủ, dưới bến sông lại còn 2 tàu Tuần Giang. Trong Căn Cứ, tình hình cũng nhốn nháo, ai cũng lo lắng dù đã được cắt đặt vị trí tác chiến. Tất cả hàng rào kẽm gai và những bao cát được nhanh chóng tập trung dày đặt, kín từng chốt canh theo bề dài cổng Bộ Tư Lệnh với đầy đủ súng ống nhân sự cần thiết. Trưa 29, đứng chặn ngay cửa chính của Căn Cứ, vị Trung Tá Chỉ huy trưởng tay cầm khẩu Cold quả quyết, giọng chắc nịch, ra lệnh tất cả anh em phòng ban, tiêu hủy hết giấy tờ quan trọng. Đến chiều tối, phải nhanh chóng lấy một ít tư trang gọn nhẹ của mình, rời căn cứ xuống 2 tàu Tuần giang, đi ngay trong đêm qua Long Xuyên, trước khi địch tràn vô được trong Căn Cứ. – “Anh nào bất tuân tôi bắn bỏ, không để các anh đầu hàng địch. Mọi người răm rắp làm theo lời Chỉ huy trưởng, nhanh chóng rời Căn Cứ xuống tàu, trong khi Chỉ huy trường cắt đặt toán bọc hậu bắn thật nhiều, thật rát để đánh lạc hướng địch, và ông là người sau cùng nhảy xuống tàu. Khi tiếng súng bọc hậu của ta không còn, địch từ từ tràn vào Căn cứ vắng hoe, bọn chúng chạy xuống cầu tàu thì tàu đã ra được gần giữa sông, chúng nó có bắn tỉa theo cũng không hề hấn gì vì bóng đêm đã bảo vệ mọi người trên tàu. Tàu định chạy dọc sông Tiền để đổ ra biển, nhưng không còn nhiều nhiên liệu, ngay trong đêm phải chạy qua kho nhiên liệu Long xuyên, may mà chưa bị mất nơi nầy. Lúc còn đang chờ tiếp dầu, Đại úy Thu, trưởng phòng hỏi anh: – Mày đi không Thiện, tao không muốn đi, tao sẽ nhảy xuống để về nhà. Tao còn Ba Má và vợ con tao, tao bỏ không đành. – Anh nói anh cũng muốn về với vợ con mình, nên 2 thầy trò lén nhảy xuống sông, may gặp được ghe của dân vớt dùm và thả xuống chổ vắng vẻ an toàn. Sau khi chia tay mạnh ai nấy tự tìm đường đi về nhà. Nghe anh kể đoạn đường trần ai mà anh vượt qua, từ Long Xuyên về Sài Gòn, tôi thật xót xa đến chảy nước mắt. – Khi anh vào được bờ, chia tay Đại uý Thu, anh cắm đầu đi, cũng may lúc xuống tàu, mọi người đều thay thường phục. Tại Long Xuyên, anh dọ hỏi đường về từ từ. Người dân miền Tây coi vậy mà họ cũng rất chân tình tốt bụng, họ nhìn đầu tóc anh, biết anh là lính, họ sốt sắng chỉ đường, có người còn cho thức ăn. Anh lần mò đi trong lo sợ suốt hai ngày đi bộ, có lúc rã rời vì đói, khát mới về được tới gần Long An. Anh càng lúc gần như không còn sức sống, chân cứ bước mà đầu óc trống rổng, càng lo sợ hơn khi trên đường bao nhiêu lần gặp xác người, anh không biết lúc nào anh sẽ nằm lại bên vệ đường, trong vũng ruộng hay cạnh chân cầu như họ. Rồi anh cứ bước đi, bước đi trong vô thức mà không nghĩ ra được tại sao lại vậy, và làm sao về được tới nhà. Về tới nhà, điều lo sợ nhất của anh là có còn được gặp mặt vợ con không? Vì anh biết em có nhiều điều kiện để đi, anh biết em sẽ xuống Bộ Tư Lệnh Hải Quân, anh biết em sẽ nghĩ đến các con khi có thể làm được điều gì tốt hơn cho các con, ít nhất là chạy thoát khỏi hoàn cảnh hiện tại. Có điều anh mong muốn em mang các con đi khi có điều kiện, nhưng anh lại lo sợ chính là khi về mà không còn em và các con. Anh thật mâu thuẫn cũng không phải anh ích kỷ, nhưng quả tình anh không bao giờ muốn xa vợ con, chớ đừng nói là có thể mất vĩnh viễn… Anh kể rằng trong đời, anh mang nặng ân tình với nhiều người, những con người chất phác chân lấm tay bùn, nhưng họ có trái tim nhân hậu. Khi anh đói lã, chân đau nhức, nằm rũ như chết bên bờ ruộng ở gần Long An, anh đã mơ màng nhìn thấy vợ con, anh nở nụ cười hạnh phúc với đôi môi khô ráp. Rồi khi anh tỉnh dậy trong 1 chòi chăn vịt, anh được cho húp chén cháo hồi sinh, bác nông dân già hiền hậu chăm sóc anh cả buổi đến lúc anh khỏe hẳn, bác mặc cho anh chiếc áo bà ba đen mốc thít mà anh hiểu rằng đó cũng là phương tiện ít ra cứu mạng anh an toàn trên đoạn đường nầy…Bác gái mang đến cho anh gói cơm còn ấm đùm trong lá sen cho anh ăn đường…bác cười móm mém…”Cậu cất ăn dần, tôi có bỏ mấy con cá bống kho tiêu, ăn hiền lắm” – Anh chảy nước mắt trước ơn cứu mạng của họ, chỉ biết lắp bắp cám ơn và chấp tay đa tạ. – Khi nghe tiếng xe bò khua lọc cọc…anh được bác đở lên xe, rồi bác cũng leo lên ngồi cạnh con trai, chiếc xe lui xa dần…khuất tầm nhìn bác gái với đầu trần vì đã đội cho anh chiếc nón lá cũ kỹ của bác, anh vừa kể mà mắt nhìn xa xăm như nhớ lại ơn cứu mạng to tát nầy trong thời khắc sinh tử của mình. Có đoạn đường, anh được một anh trông nét mặt khắc khổ đen đúa, dừng xe đạp sát anh, hỏi cộc lốc: – Lính hả? leo lên tui cho “có dang” khúc nè, mà ai có hỏi nói em tui nhen, chở đi thăm ruộng, rồi ảnh cười khục khặc…mà giống tui thiệt, cái má teo nhách, đen thui…” Đi thăm ruộng vậy mà cũng ráng gò lưng chở anh cả tiếng đồng hồ, chắc được 6 – 7 cây số…anh ấy còn dặn anh chịu khó đi dưới bờ ruộng, chậm và khó đi, nhưng yên ổn hơn đi trên lộ. Mẹ con tôi ngồi nghe anh kể, các con anh chỉ mới 9 – 8 và 6 tuổi, bao nhiêu khó khăn trước mắt dành cho người lính bị mất quyền làm lính. Tuy nhiên, gia đình nhỏ của chúng tôi vẫn còn may mắn hạnh phúc rất nhiều so với những mảnh đời trên đất nước Việt Nam đầy tang thương. Và, nếu ai có hỏi, nếu thật sự có kiếp sau, tôi sẽ ước được làm người dân nước nào? – Tôi sẽ trả lời trong hãnh diện: “Tôi muốn làm người dân Việt Nam. – Tôi muốn làm CON CỦA LÍNH, em của LÍNH và LÀM VỢ LÍNH như đã từng”. ThanhSong KimPhú ![]() ![]() Khóc Ánh Sao Băng – Mũ Nâu Vương Văn Trổ Vĩnh biệt dương trần…Anh Trổ* ơi ! Tâm hương em thắp, nói thay lời Một trong Ngũ Hổ U Minh Thượng Gan dạ hiên ngang giữa đất trời Có duyên chẳng nợ…tình khôn đượm Sau, trước ân tình…nghĩa khó vơi Hẹn mà chưa gặp, người xưa đã Làm ánh sao băng tắt lịm rồi ! Nỡ Nào Khai Tử Một Anh Hùng Thế sự thăng trầm…Anh Trổ ơi ! Khiến em không muốn thốt nên lời Huân Chương, chiến tích…gương uy vũ Lính Mũ Nâu, vang dội góc trời Khai tử anh…Alan* dựng chuyện… Tướng Trường* đính chánh, nỗi oan vơi Hào hùng chính khí luôn tròn vẹn Một thoáng thị phi…giũ sạch đời ! Kính Vọng Bái Thanh Song ntkp -Tr.nữ Cậu Chín N.N.Chương – Em gái cựu Đại úy Pháo thủ N.Ngọc Khương Chú thích : – Mũ Nâu Trung Tá Vương Văn Trổ. – Alan Dawson, tác giả “55 Ngày Đêm Miền Nam Sụp Đổ” viết sai sự thật về các vị Tướng, Tá anh hùng của VNCH. – Ký giả Ngọc Hoài Phương đã có bài viết về vụ việc nầy. – Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường, cựu TL/SĐ 21 Bộ Binh. Xin Có Ý Kiến: Cần xét lại cuốn sách của Alan Dawson về “55 Ngày Đêm Miền Nam Sụp Đổ” Ngọc Hoài Phương ![]() Ký giả Alan Dawson, trưởng phòng Thông Tấn UPI ở Sài Gòn trước năm 1975. Ông đã viết quyển “55 Days: The Fall of South Vietnam”, Prentice Hall xuất bản năm 1977, dày 366 trang, giá 12.50 Mỹ kim. Quyển sách đó có những điểm sai lầm nhưng hình như chưa có bài viết nào phân tích trên báo chí Việt ngữ tại hải ngoại nên nó đã chìm vào quên lãng. Nhân bài dịch của ông Hoàng Long Hải, đăng tải trên nhật báo Người Việt số 6698 (Thứ Sáu 9 tháng 4-2004) trong một đoạn trích dẫn cuốn sách “55 Ngày Ðêm Miền Nam Sụp Ðổ” của Alan Dawson, hình ảnh của Chiến Hữu Vương Văn Trổ được nhắc lại. Trung tá Vương Văn Trổ nổi danh người hùng của Quân Lực VNCH trong Ngũ Hổ Miền Tây. Sau ngày 30-4-1975, ông trải qua 13 năm trong lao tù Cộng Sản, hiện định cư tại Houston, Texas; trong khi đó, ký giả Alan Dawson cho khai tử…. – Ký giả Ngọc Hoài Phương, Chủ Nhiệm tờ Hồn Việt, liên lạc với nhân chứng – cựu Trung tá Vương Văn Trổ, người đã bị Alan Dawson khai tử – dẫn chứng sự kiện cụ thể mà nhà báo kỳ cựu của UPI đã viết sai lệch. KBC Hải Ngoại)…….. Sau 13 năm tù cải tạo, và khi đặt chân tới Hoa Kỳ (HO-16 năm 1993) mới chợt khám phá ra là mình đã bị ông nhà báo Alan Dawson khai tử một cách nhục nhã từ cuối tháng 4 – 1975 trong cuốn sách mang tựa đề “55 Ngày Ðêm Miền Nam Sụp Ðổ”. Người bị nhà báo Alan Dawson “giết chết” một cách lãng nhách trên đây là Trung Tá Vương Văn Trổ, nguyên Tỉnh trưởng Kiên Giang kiêm Thị trưởng Rạch Giá. Mặc dù đã gần ba mươi năm trôi qua, nhưng đối với ngày Quốc Hận 30 tháng 4-1975 vẫn còn là một vết thương nhức nhối không thể xóa mờ được trong tâm trí của người Việt tỵ nạn. Do đó hàng năm, cứ vào dịp này, cộng đồng người Việt ở khắp nơi thường tổ chức những buổi họp mặt để tưởng niệm ngày đau thương của dân tộc, ngày mà Miền Nam Việt Nam đã bị đồng minh bỏ rơi, bán đứng cho Cộng Sản. Các cơ quan truyền thông, nhất là các báo Việt ngữ trong dịp này cũng thường có những bài đặc biệt liên quan đến biến cố lịch sử đó. Không phải chỉ riêng sách báo của Cộng Sản nặng phần trình diễn tuyên truyền, thiếu trung thực, còn cố tình xuyên tạc mà ngay cả một số nhà báo ngoại quốc khi viết về biến cố 30-4-75 cũng đã đưa ra nhiều chi tiết sai lạc, và tệ hại hơn nữa là có nhiều chi tiết cho người đọc có cảm tưởng là tác giả đã cố tình dựng đứng câu chuyện để bôi nhọ nhân vật được nhắc tới nói riêng và cả tập thể người lính Việt Nam Cộng Hòa nói chung như trương hợp ông Tỉnh trưởng Kiên Giang là một thí dụ điển hình. Ðọc báo Người Việt số 6698 (Thứ Sáu 9 tháng 4-2004) trong một trích đoạn cuốn sách “55 Ngày Ðêm Miền Nam Sụp Ðổ” của Alan Dawson do Hoàng Long Hải dịch có đoạn ghi như sau: “Tướng Nam ra lệnh cấm binh sĩ dưới quyền ông rời bỏ vị trí. Ông đến từng nơi lúc bấy giờ được coi như là “tuyến đầu” ra lệnh cho sĩ quan ở ngay vị trí. Ông ta bắn chết viên đầu tỉnh ở Sadec, phía Tây Cần Thơ vì ông nầy bỏ tỉnh di tản theo người Mỹ. Viên tỉnh trưởng tỉnh Kiên Giang ở trong vịnh Xiêm La không tuân lệnh cố thủ của ông, đã bỏ đơn vị lên thuyền chạy về phía Nam. Tướng Nam ra lệnh cho trực thăng đuổi theo và bắn chìm những tàu nầy”. Sự thật thì đoạn văn trên đây hoàn toàn được viết theo óc tưởng tượng của ông nhà báo Alan Dawson vì ông Tỉnh trưởng Kiên Giang không bỏ đi và nhất là Tướng Nguyễn Khoa Nam, một vị tướng tài ba, một anh hùng của QLVNCH không bao giờ và không thể có những quyết định nông nổi thiếu suy nghĩ như điều Alan Dawson đã gán ghép. Ngay cả đối với địch quân, Tướng Nam cũng mang lòng nhân đạo ra đối xử thì không thể có chuyện ông ra lệnh cho trực thăng đuổi theo bắn chìm những tàu bỏ chạy. Người ta còn nhớ (theo lời kể của Trung Tá Vương Văn Trổ) ngày 25 tháng 2 năm 1975, lực lượng Tiểu khu Kiên Giang đã đánh tan một đơn vị Cộng sản, bắt sống 2 chiến binh CS bị thương nặng hấp hối. Biết chuyện này, Tướng Nam đã ra lệnh cho tiểu khu phải tải thương nhanh để cứu sống địch quân. Ðể phản bác lại những điều Alan Dawson đã viết liên quan đến thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang ngày cuối tháng 4-1975, qua một cuộc điện đàm, Trung Tá Vương Văn Trổ cho biết: “Khoảng 4 giờ sáng ngày 30 tháng 4-75, qua điện thoại, Tướng Lê Văn Hưng nhắc tôi rằng Tướng Nam chỉ thị phải cố gắng ngăn chận địch quân ngoài thành phố để tránh gây thiệt hại cho dân chúng. Ðến 6 giờ chiều cùng ngày, Tướng Nam còn chỉ thị tôi phải cố gắng lo cho dân chúng và binh sĩ”. Với giọng buồn bã, Trung Tá cựu Tỉnh trưởng Kiên Giang nói tiếp: “Nhưng đến 9 giờ tối thì được tin Tướng Lê Văn Hưng đã tự sát và lệnh Quân Ðoàn cho Tiểu Khu buông súng. Tôi cho họp các cấp chỉ huy để thông báo tình hình, và đồng thời cũng loan báo chiến hạm Hải Quân đang chờ thân nhân ngoài khơi. Nhờ thông báo này mà một số cán bộ hành chánh, quân đội, dân chúng tại thị xã đã đem được gia đình ra đi an toàn. Riêng lực lượng Nhân Dân Tự Vệ vì không có hệ thống truyền tin nên đích thân tôi phải dùng xe chạy đi liên lạc. Trong lúc làm nhiệm vụ cuối cùng, tôi bị Cộng sản bắt lúc 12 giờ đêm ngày 30 tháng 4-1975 tại cầu số 2 trong thị xã Rạch Giá…”. Ðược biết Trung Tá Tỉnh trưởng Kiên Giang vốn xuất thân từ khóa 10 trường Võ Khoa Thủ Ðức. Các chức vụ sau cùng của ông được ghi nhận: Tỉnh trưởng Sa Ðéc (1973-1974), Tỉnh trưởng Kiên Giang kiêm thị trưởng Rạch Giá (1974-1975). Ðầu thập niên 70, năm sĩ quan cấp tá được mệnh danh “Ngũ Hổ Miền Tây” của Quân Lực VNCH: nhất Hưng, nhì Kiệt, tam Cẩn, tứ Huy, ngũ Trổ. Trải qua 13 năm tù từ Nam ra Bắc và cuối cùng chuyển về trại Xuân Lộc (Long Khánh) rồi được phóng thích năm 1988. Ông rời Việt Nam qua Hoa Kỳ theo diện HO 16 và định cư tại Houston,Texas từ 1993 đến nay… Tháng Tư năm 1999, sau khi đọc bài “Chân Dung Người Lính VN CH” của nhà báo Sơn Tùng trên tờ Diễn Ðàn Hiệp Lực ở Houston trong đó có nhắc đến Tướng Nguyễn Khoa Nam và ông Tỉnh trưởng Kiên Giang (nhưng lại căn cứ theo sự kiện ghi trong sách của Alan Dawson nên sai lạc), Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường đã cho phổ biến một thư ngỏ gọi là “đóng góp bổ sung với các bài báo đã đăng một vài chi tiết để tinh thần vinh danh anh hùng qua mẩu chuyện trên được giá trị chính xác”. – Theo như lời kể của Tướng Trường (nguyên Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh kiêm Tư Lệnh Khu Chiến Thuật Hậu Giang trược thuộc Quân Ðoàn 4) thì đêm 29 rạng ngày 30 tháng 4-1975 tại miền Tây, Việt Cộng dốc toàn lực tấn công vào các tỉnh lỵ thuộc lãnh thổ QK.4. Riêng tại khu Chiến Thuật Hậu Giang tại An Xuyên, tỉnh lỵ Cà Mau bị hai tiểu đoàn U Minh tấn công; Ðại Tá Nhan Nhựt Chương, Tiểu khu trưởng, cùng lực lượng tiểu khu An Xuyên đã đẩy lui địch và làm chủ tình hình trước trời sáng. Theo lời kể của Tướng Trường thì tại Tiểu khu Ba Xuyên, tỉnh lỵ Sóc Trăng đã bị hai tiểu đoàn Cợ Ðộng tấn công, nhưng đã bị lực lượng của Tiểu khu dưới quyền Ðại Tá Liêu Quang Nghĩa diệt trọn một tiểu đoàn, và tiểu đoàn còn lại tháo chạy. Trong khi đó đơn vị bạn ở Bạc Liêu dưới quyền Ðại Tá Huỳnh Ngọc Diệp đã đẩy lui cuộc tấn công của một Trung đoàn địch, ta tịch thu nhiều vũ khí. Một Trung đoàn chính quy Bắc Việt cũng mở cuộc tấn công vào tỉnh lỵ Vỵ Thanh (Chương Thiện). Quân đội VNCH dưới quyền Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã chiến đấu quyết liệt giữ vững vị trí để chờ trời sáng phản công… Riêng tại Tiểu khu Kiên Giang, tỉnh lỵ Rạch Giá, bị một Trung đoàn Việt Cộng tấn công nhưng đã bị lực lượng bạn dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Vương Văn Trổ đầy lui gây cho địch tổn thất nặng nề. Tại tiều khu Phong Dinh (Bản doanh của Quân Ðoàn 4) vòng đai tỉnh lỵ Cần Thơ do Sư Ðoàn 21 Bộ Binh trách nhiệm phòng thủ, đã bị Sư đoàn 4 Hậu Giang Việt Cộng tấn công nhiều đợt rất ác liệt nhưng đều bị quân ta đẩy lui… Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường cho tập trung báo cáo của các tiểu khu và đúc kết tình hình trình lên Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam Tư Lệnh Quân Ðoàn 4. Theo Tướng Trường thì Tướng Nam rất hài lòng và vững tin nơi khả năng chỉ huy và tinh thần chiến đấu của thuộc cấp. Tướng Nam cũng chỉ thị phải ưu tiên hỏa lực yểm trợ cho Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn phản công tại Chương Thiện. Riêng Tiểu khu Kiên Giang theo tin tức phòng 2 thì còn một tiểu đoàn Việt Cộng nằm ngoài vòng chưa tham chiến, và địch có thể tăng cường tiểu đoàn này để tấn công trong đêm sau. Thiếu Tướng Nam không muốn có giao tranh trong thành phố gây thiệt hại sinh mạng và tài sản của đồng bào, nên đã chỉ thị cho Tướng Trường phải tăng cường cho tiểu khu Kiên Giang một tiểu đoàn thuộc SÐ/21 để chận đánh địch ở ngoài vòng đai tỉnh lỵ. Về chi tiết này, Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường ghi lại trong thư ngỏ đã được phổ biến, nguyên văn như sau: “Tôi liên lạc với Trung Tá Vương Văn Trổ TKT/KG để duyệt tình hình sau cùng và chọn bãi đổ quân. Chúng tôi đồng ý bãi đáp thả quân dọc bờ biển phía Tây tỉnh lỵ là an toàn nhất. Nhưng cuộc thả quân chưa kịp thực hiện thì có lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh. Quốc gia bị bức tử!!! Cuộc chiến chấm dứt!!! Tại Quân Khu 4, các Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng và Trần Văn Hai (Tư Lệnh Sư Ðoàn 7-BB) tự sát. Trung Tá Vương Văn Trổ TKT/KG bị Việt Cộng bắt đêm 30-4-75 tại Rạch Giá. Tôi bị VC bắt ngày 5-5-1975 tại Cần Thơ. Chúng tôi gặp lại nhau trong trại giam VC tại khám Cần Thơ và sau đó bị lưu đày ra miền Bắc. Cựu Trung Tá Vương Văn Trổ được VC phóng thích năm 1988. Tôi được phóng thích năm 1992 (17 năm). Cựu Trung Tá Vương Văn Trổ đi Mỹ diện HO và hiện cư ngụ tại Houston, Texas…” Trong một buổi tâm tình với ký giả Dương Phục qua làn sóng điện đài phát thanh ở Houston nhân dịp kỷ niệm Ngày Quân Lực VNCH tháng 6 năm 1999, khi nhắc đến Tướng Nam, Trung Tá Trổ đã nhấn mạnh rằng “Cố Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là một vị chỉ huy tài đức vẹn toàn, gương mẫu về mọi mặt. Ông chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp, và đồng thời còn có lòng nhân đạo đối với cả địch quân…”. Nhân dịp này, cựu tỉnh trưởng Kiên Giang Vương Văn Trổ cũng không khỏi chua chát than rằng “Thương thay người chỉ huy đáng kính trọng đó lại bị giáng thêm một tội để mang theo về thế giới mới…” qua một đoạn văn trong cuốn “55 Ngày Ðêm Miền Nam Sụp Ðổ” của Alan Dawson khi gán ghép Tướng Nam ra lệnh cho trực thăng đuổi theo và bắn chìm đoàn tàu chở tỉnh trưởng Kiên Giang đang bỏ chạy…Ông cho đây là một sự nhục mạ danh dự Tướng Nguyễn Khoa Nam và cả tập thể Quân Ðội VNCH. Và ông mong rằng sau này các sử gia sẽ có sự công bằng khi ghi lại các sự kiện liên quan đến lịch sử. Ngọc Hoài Phương ***** |




