VỀ MỘT NGƯỜI BẠN- Dương Quân

VỀ MỘT NGƯỜI BẠN
(Lời Tựa Thi Tập Hương Áo của Luân Tâm, Cao Học Hành Chánh Khóa 3)
     Mỗi khi bạn bè nhắc đến Luân Tâm, tôi đều đinh ninh có vài ý nghĩ chính yếu như sau:
     Thứ nhứt:  Tôi rất thán phục và ca ngợi Luân Tâm là người gương mẫu giữ tròn được đạo đức truyền thống cao quý Đông phương trong tình nghĩa vợ chồng.  Anh Chị là đôi bạn từ thời còn Tiểu học, yêu nhau thời Trung học, Đại học và thành đôi bạn đời sau khi tốt nghiệp.  Đôi bạn “đồng sàng đồng điệu” nầy đã cùng nhau chia xẻ biết bao cay đắng ngọt bùi, nghịch cảnh bể dâu, thăng trầm quá dữ dội, nhất là sau thảm họa tháng tư 1975, Luân Tâm bị đọa đày biệt xứ.
     Bảy năm trước đây, chị Luân không may bị bệnh stroke rất nặng, đến nay vẫn còn rất yếu phải ngồi xe lăn.  Anh Luân Tâm đã phải nghỉ việc, ngày đêm luôn luôn sát bên chị, hết lòng hết sức thương yêu, an ủi chăm sóc tỉ mỉ cho Chị từ viên thuốc, ly nước, bữa ăn… đến những sinh hoạt cá nhân thông thường.  Hơn thế nữa, Anh còn làm thơ, không phải để kiếm cho mình chút tiếng tăm gì, không mong góp một chút hương sắc gì vào khu vườn văn nghệ, mà chính là để an ủi, tâm sự, mua vui cho người vợ hiền lý tưởng (nhưng quá bạc phước) của Anh.  Thật đúng như câu nói của người xưa:
“Nhứt nhựt phu thê: bá dạ ân,
Bán dạ đồng sàng: chung dạ ái”
     Thứ Hai:  Tôi rất thương quý và ngợi khen ba đứa cháu, con của Anh Chị Luân Tâm, gặp nghịch cảnh, gia biến, đã nêu cao tấm lòng hiếu thảo đặc biệt tốt đẹp đối với cha mẹ.  Các cháu đã cùng nhau đoàn kết gánh vác mọi việc gia đình để cho Ba có toàn thời gian với Mẹ, lo cho Mẹ được đầy đủ từ năm nầy sang năm khác. 
     Trong điều kiện khắc nghiệt như thế, các cháu còn cố gắng phi thường để đạt được những thành quả xuất sắc trong học tập và việc làm, khiến cho Ba Mẹ rất vui, hãnh diện, được an ủi rất nhiều.  Tấm gương hiếu thảo và hiền ngoan của các cháu thật là những viên ngọc quý hiếm tuyệt vời khó tìm thấy trong xã hội ngày nay.
     Thứ ba:  Tôi nghĩ thơ Luân Tâm mang một sắc thái rất riêng biệt với một bút pháp thật độc đáo lạ lùng.  Thật vậy, có lẽ bắt nguồn từ hoàn cảnh gia đình rất đặc biệt và “background” cũng rất đáng kể (Anh tốt nghiệp Cử Nhân Văn Khoa, Cao Học Hành Chánh, đã giữ chức vụ Giám Đốc Nha Công Tác Nghị Trường, Nha Nghiên Cứu Pháp Chế Thượng Nghị Viện VNCH.)  nên Luân Tâm có đủ tư thế tạo được một phong cách riêng biệt để gởi gắm những tâm tình, suy tư của mình trong thơ. 
     Luân Tâm thường nói lên kỷ niệm tuổi trẻ, thân phận nghiệt ngã trước thời cuộc, thảm trạng đất nước quê hương bằng một lối thơ khác lạ.  Rất khó có ai tóm lược được hết những gì tác giả muốn gởi gắm.  Có lẽ chúng ta sẽ tìm thấy trong thơ Luân Tâm dáng dấp của lãng mạn trữ tình, có khi ẩn dụ bay bướm, trừu tượng… nên nhiều bạn bè không thể hiểu hết chủ ý của tác giả, đã gán cho tác giả cái nhãn hiệu “Siêu Thực”, hay lập thể theo kiểu tranh Picasso.
     Đặc biệt, khi xúc cảm, ý thơ, hồn thơ tuôn trào xuống ngòi bút thì Luân Tâm dám bất chấp mọi ngữ nghĩa thông dụng, gạt bỏ, xáo trộn mọi trật tự thường tình, khuôn mẫu cấu trúc, cú pháp, qui luật văn phạm cổ điển, giáo khoa mà Anh đã từng rèn luyện kỹ lưỡng từ thời Trung học, có chứng chỉ chuyên môn Ngữ Học Việt Nam ở Đại Học Văn Khoa Sàigòn, lại được giáo sư thi sĩ Đông Hồ thương yêu hướng dẫn thêm.  Do đó, có nhiều chữ, nhiều từ tuy cũ, “tầm thường”, nhưng qua “pháp thuật của tay phù thủy Luân Tâm”, chúng đã trở nên sống động, mới mẻ, biết ca múa đẹp lạ lùng, cực tả được những tâm trạng, suy tư, cảnh đời…
     Thí dụ:
“Sững sờ cây trả áo xanh,
 Trời thương biển nhớ cũng đành… bú tay”
                                    (Trả Áo Xanh)
     Hoặc là:
“Chiều đeo đỉnh núi phù sinh,
 Thương ta dứt sữa, đau mình sẩy thai”
                                    (Phù Sinh) 
     Bằng một phong thái hết sức nghệ sĩ, phóng khoáng tài hoa, rong chơi trong thế giới chữ nghĩa, Anh chỉ muốn được hoàn toàn tự do viết cho người vợ hiền thân yêu, cho tâm sự của người trai bất đắc chí, cho quê hương đất nước ngửa nghiêng tan nát, xuất phát từ đáy tiềm thức của thế giới kỷ niệm dĩ vãng xa xưa hoặc ức chế của tư duy bi đát hiện tại.  Vì thế, thơ Luân Tâm có khi giản dị đáng yêu, có khi lại lạ lùng khó hiểu!
     Chúng ta có thể kể vài câu thơ giản dị rất đáng yêu như:
“Chợt nhìn môi rượu đã say,
 Gom bao tóc rụng xây đài tương tư”
                                    (Khóc Trong Mắt Cười)
     Hay:
 “Điệu buồn anh giữ riêng anh
Điệu vui anh vẫn để dành cho em”
                                    (Đường Tình)
     Hoặc:
 “Mai kia hai đứa đi rồi
Còn ai phơi áo trên đồi cỏ non
Tóc tiên gót đỏ môi son
Chỉ còn hạt bụi mỏi mòn lãng quên”
                                    (Chập Chờn)
    Mặt khác, cũng có rất nhiều câu, bài thơ khó hiểu như:
“Ngày tàn suối cạn lòng khô,
Phơi đuôi tép bạc vun mồ râu tôm
Treo buồn giày cỏ mũ rơm,
Đào hang tìm nước vo cơm rửa vàng”
                                    (Dã Tràng)
     Phải chăng tác giả muốn bóng gió, dùng ngôn ngữ và hình ảnh thơ để gián tiếp chỉ một số người của một chế độ sụp đổ (ngày tàn): người thanh liêm thì chỉ “tìm nước vo cơm” vì sinh kế còn những kẻ tham nhũng, cậy quyền cao thế mạnh để bóc lột vơ vét thì “tìm nước rửa vàng”?
     Hay là:
“Đi ngang đám lá tối trời
 Bao nhiêu con đỉa no rồi nằm im
Con nằm ngửa con nằm nghiêng,
Trăm nghìn con nhện giả tiên đợi chờ…”
                                    (Đám Lá Tối Trời)
     Ở đây, hình như tác giả muốn ám chỉ bọn thổ phỉ từng đóng chốt đoạn tỉnh lộ “đám lá tối trời” để thu tiền “mãi lộ” người và xe cộ qua đoạn đường đó bằng hành động kẻ cướp.  Ngày nay, bọn chúng đã “no nê” như những con đỉa đã hút no máu, đang “nằm ngửa, nằm nghiêng” cùng với những con nhện (tượng trưng cho kẻ ác, lưu manh, độc hiểm) lại tự xưng là “đỉnh cao trí tuệ” là “tiên” đang mù quáng, ngoan cố lừa bịp và tự dối mình để mơ tưởng đến một thế giới đại đồng phiêu lưu, không tưởng ?
     Hơn thế nữa, chúng ta sẽ còn có dịp khám phá nhiều điều kỳ thú trong khu “rừng thơ Siêu Thực” của Luân Tâm.  Chúng ta sẽ bất chợt ngạc nhiên bắt gặp nhiều góc cạnh, sắc màu, âm thanh, khuôn mặt rất khác nhau của cá nhân, xã hội, của vật chất và tâm linh biến đổi liên tục, tùy theo sự nhận dạng, chỗ đứng, kinh nghiệm, khuynh hướng tình cảm, hoàn cảnh cá nhân, cách thế suy diễn riêng của từng người đọc. Tác giả sẽ đưa chúng ta đi về những vùng hồi ức rất chập chờn hoặc những thế giới tưởng tượng thật mênh mông bát ngát “mơ như thực, thực như mơ” vô cùng diễm ảo lạ lùng!  Thưởng thức thơ Luân Tâm có thể làm cho chúng ta động não, suy nghĩ một chút… nhưng chúng ta sẽ được đền bù xứng đáng vì công sức đóng góp khám phá của mình. 
     Thơ Luân Tâm là một sự phối hợp tài tình giữa sự đơn sơ, mộc mạc quê mùa (nhưng rất đẹp như tục ngữ, ca dao) và sự cao sang, đài các, trí thức, giữa cổ điển và hiện đại, giữa thể xác và tâm hồn, giữa hiện tại, quá khứ và tương lai.  Hình như chưa có nơi nào hai phạm trù “bóng hình, hình bóng” và “chiêm bao, mộng mơ” được phát triển, thăng hoa tuyệt vời như trong thơ Luân Tâm.  Đến đây, tôi bỗng chợt nhớ có lần văn hữu họa sĩ A.C.La.Nguyễn Thế Vĩnh (Canada) đã nhận xét rất đúng: “Thơ Luân Tâm bàng bạc hình ảnh mới lạ, tứ thơ khác thường!”.  Còn đối với nhà văn, nhà thơ đồng môn Hành Chánh Lâm Thanh (Australia) thì: “Bụng thơ Anh (Luân Tâm) lớn như Biển Hồ Tonlé Sáp .  Suối thơ Anh chảy êm đềm nhưng có khi cũng quá dữ dội như dòng sông chín cửa (Cửu Long).  Muốn chết ngộp trong dòng thơ khoáng đạt miên man bất tận của Anh”.
     Thiển nghĩ, có lẽ người vui mừng nhất để đón nhận Thi Tập Hương Áo của Luân Tâm chính là chị Luân , người vợ hiền thục khả ái của Anh vì Chị là động cơ chủ yếu để có Tập Thơ nầy.  Rất mong chị được thực mạnh khỏe với nụ cười vui tươi mãn nguyện.  Độc giả và thân hữu chúng tôi xin chân thành chúc mừng Anh Chị có được “đứa con tinh thần” thêm vào sự nghiệp “ba đứa con rất mực hiền ngoan hiếu thảo” mà Anh Chị hạnh phúc có sẵn bên cạnh từ bấy lâu nay.
Dương Quân
(Quí Thu 2006)