
| Tiểu sử: Vũ Đình Trường Sinh năm 1954 Cựu sĩ quan BĐQ/QLVNCH Trước 75 có một số truyện ngắn rải rác trên báo Tin Sáng, Tia Sáng Sau 75 có thơ văn đăng rải rác trên một số báo tại hải ngoại: Bản Xứ, Việt Chiến, Hoa Thịnh Đốn Việt Báo, Thời Luận, Thư Quán Bản Thảo, Nghệ Thuật (Lê Dinh, Montreal), Trẻ… Định cư tại Virginia Nguyên chủ nhiệm kiêm chủ bút Tuần Báo Thương Mãi Miền Đông. |




| VỀ MỘT ‘NƠI TRỞ VỀ ĐÃ MẤT'(*) Đến nay là đã hai mươi lăm lần tôi đón Tết trong cái lạnh của mùa đông Bắc Mỹ. Hai mươi lăm mùa Xuân tha hương. Hai mươi lăm cái Tết nhìn quanh chỉ thấy cây cành trơ trụi, đất trời quạnh hiu với từng làn gió lạnh cắt da thổi về từ phương Bắc. Hai mươi lăm năm tôi tự giam mình trong kiếp lưu đày trong khi bè bạn và thân quen ở những năm gần đây đã lần lượt nối đuôi nhau về thăm lại quê hương. Người ta cứ bảo tôi “sao không về Việt Nam chơi một chuyến, dù sao cũng là nơi quê cha đất tổ” . Người thì bảo, “tấc đất ngọn rau, bấy nghĩa bao tình, làm sao không về được”. Tôi cứ lừng khừng, chần chờ, hẹn lần hẹn lữa rồi tự nhủ lòng chắc sớm muộn gì cũng phải quay về bởi lẽ quê hương như một thánh địa mà trong đời con chiên ít nhất phải có một lần ghé lại. Tôi, tên thuyền nhân thoát chết nhờ được tàu vớt giữa sóng biển Đông cuồng nộ trong một ngày hè gần hai mươi lăm năm về trước, đã rời quê hương ra đi nhưng không bao giờ nghĩ rằng sẽ không có ngày trở lại. Hồi ấy nghe những lời đồn đại xa gần, tôi mơ mộng hão huyền rằng biết đâu khi ra đến nước ngoài sẽ gặp những tổ chức kháng chiến phục quốc, trong đó có thể có những người lính đã từng một thời chiến đấu bên nhau. Có người đã đi xa hơn khi cho rằng Mỹ không bao giờ bỏ rơi miền Nam. Họ chỉ tạm thời rút lui để sẽ trở lại trong một thời điểm khác. Họ sẽ lui một bước để tiến hai bước . Họ sẽ giúp những tổ chức phục quốc như họ đã từng giúp nhóm kháng chiến Cuba. Lắm người còn tự ví việc bỏ nước ra đi của người Việt Nam giống như cuộc lưu vong của người Do Thái xưa kia. Thôi thì trăm ngàn luận điệu và tin tức khác nhau. Khi đặt chân đến trại tỵ nạn, tôi bàng hoàng nhận ra tất cả những gì tôi mong đợi chỉ là mơ. Đây chỉ là một nơi người tỵ nạn tạm trú trong thời gian chờ đợi đi định cư ở một quốc gia khác. Không hề có một bóng dáng của người hùng phục quốc hay dấu hiệu của các tổ chức kháng chiến nào tại nơi tôi đang ở. Sáu tháng sau đó, tôi được xuất trại lên đường đi Mỹ. Thực tế phũ phàng ở trại tỵ nạn vẫn chưa làm tan vỡ giấc mơ tôi. Tôi vẫn còn nghĩ đến hình ảnh của một bưng biền đâu đó với những anh hùng áo vải Lam Sơn thời đại cùng tụ về dưới bóng cờ thiêng. Tôi lang thang la cà đó đây, tham gia các sinh hoạt cộng đồng, các cuộc biểu tình tranh đấu cho tự do nhân quyền tại Việt Nam, các cuộc biểu tình phản đối chánh sách đàn áp người tỵ nạn của một vài quốc gia Đông Nam Á. Lúc nào tôi cũng nghĩ rằng mình phải làm một cái gì để khỏi phụ lòng tin của người ở lại. Buồn quá, tôi tạm gác ý định đi học trở lại vì nước mất nhà tan thì có học chăng cũng chẳng ích gì. Ngày qua ngày, để tạm quên nỗi buồn của người chiến bại, tôi đọc thơ Cao Tần, nghe Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên của Nguyễn Đình Toàn và Hát Trên Đường Tạm Dung của Phạm Duy. Đến bây giờ, gần hai mươi lăm năm sau, tôi vẫn còn nhớ như in vài câu thơ bi tráng của Cao Tần: “Năm thằng khùng họp nhau bàn chuyện lớn Gánh sơn hà toan chất thử lên vai” và “Ngày ngày phóng xe như thằng phải gió Đêm về nằm vùi nước mắt chứa chan” Tôi cũng thấy mình có những đêm dài nằm vùi nước mắt chứa chan. Không biết nhân vật trong thơ Cao Tần khóc vì cái gì nhưng tôi khóc vì nhớ Sài gòn và tiếc thương cho đời lính của mình chưa lên đã xuống. Rồi thời gian trôi và tôi cam đành nhận nơi này làm quê hương thứ hai. Tôi đi học trở lại, ngày đi làm, chiều tối cắp sách đến trường và cứ thế yên phận với kiếp sống tha phương cầu thực. Mộng phục quốc mơ hồ như sương như khói, ngày một tàn phai. Đúng như người ta nói, Mỹ đã không vĩnh viễn rời bỏ Việt Nam. Vào những năm tám mươi, họ đã trở lại nhưng không với tư thế của kẻ mạnh mà trở lại để dàn xếp với tà quyền Hà nội cho họ tìm kiếm, đào bới hài cốt quân nhân Mỹ đã bỏ mình trong chiến trận. Con đường thông thương mỗi lúc một mở rộng thêm để rồi sau khi lệnh cấm vận được giải tỏa, Mỹ chánh thức bắt tay với kẻ cựu thù, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của giao thương và hợp tác. Người tỵ nạn Việt Nam, sau những năm tháng dài sống trong nỗi nhớ thương da diết, bấy giờ đã có cơ hội trở về thăm lại quê hương. Người đi mỗi lúc một đông để những người ở lại, trong đó có tôi, cảm thấy như có một cái gì rất thôi thúc, giục giã, xâu xé. Đôi lúc tôi cũng đã muốn theo chân họ mà về, nhất là về để thăm mẹ đã quá già nua. Nhưng rồi những xung đột liên tiếp trong tôi đã xóa tan ý muốn trở về Việt Nam. Tôi còn nhớ những câu thơ chất phác nhưng rất thâm thúy của ai đó mà tôi đọc được trên một tờ báo Việt ngữ: “Quên sao được ngày ra đi tủi nhục Có thẳng lưng ngẩng mặt hãy quay về Đừng học thói chàng Thúc Sinh thuở trước Hể nhớ quê là kiếm lối thăm quê” Và tôi vịn vào những câu thơ này như một niềm an ủi vô biên. “Quên sao được ngày ra đi tủi nhục!” Tôi nhất định không về. Trong khi người ta đi tìm lại quê hương hiện thực, tôi tìm lại quê hương trong mơ và qua hình ảnh, tin tức. Người ta nói Việt Nam đã thay da đổi thịt. Có người về thăm một lần, trở lại với tâm trạng ngao ngán như mất mát tất cả. Nhưng cũng có rất nhiều người đi lại thường xuyên. Có cả những người mang tiền về đầu tư và mua vui trên thân xác những thiếu nữ tuổi chỉ đáng con cháu họ. Với những người này, quê hương thực sự đã là: “Quê hương là chùm khế ngọt Cho con trèo hái mỗi ngày” Với tôi và những người đồng cảm khác, có lẽ quê hương của thời thơ mộng trước bảy mươi lăm đã chết. Quê hương của tuổi nhỏ cởi truồng tắm mưa, của cánh diều, con đường đất, ngọn khói lam, mái nhà tranh ọp ẹp, cây cầu khỉ cong vẹo, con đò lặng lờ khuấy nước trên sông, đã chết. Quê hương trong hiện thực vẫn còn đó nhưng quê hương trong ký ức đã phôi pha. Biết bao nhiêu lần tôi tự xâu xé với ý nghĩ về Việt Nam. Rồi tôi tự cho mình câu trả lời, về làm gì! Về để thấy con người tuy gần trong gang tấc nhưng cách xa nghìn trùng vì thời thế đổi thay, lòng người thay đổi. Kẻ ở, người đi không ai còn nguyên vẹn như xưa thì kỷ niệm cũng chỉ là chút tro tàn chực chờ theo gió bay đi. Tôi hình dung ra tôi, một gã thuyền nhân của hơn hai mươi năm trước, quay về với một nơi trở về không còn nữa, bơ vơ, ngơ ngác, lạc lõng ngay trên mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình. Tôi có hai vùng quê. Quê nội miền Trung và quê ngoại miền Nam. Tôi không được may mắn sinh ra trên quê nghèo xứ Quảng, nhưng nơi này chính là nơi mà cha tôi đã sinh ra và lớn lên, là nơi ông bà tổ tiên tôi đã nằm xuống, là nơi mà dòng họ bên nội tôi hiện vẫn còn sinh sống. Cảm ơn ba tôi đã cho tôi phân nửa dòng máu Quảng để tim tôi còn được đập chung nhịp đập với con tim những người sinh ra trên vùng đất cằn cỗi nhưng giàu tình người và dào dạt ý thơ. Ai đó đã nói ở xứ Quảng, mỗi gốc cây, cọng cỏ, là một nhà thơ! Cũng nhờ tình nguyện vào quân ngũ mà tôi có dịp về thăm quê nội của tôi. Thời gian phục vụ tại liên đoàn 12 Biệt Động Quân, tôi may mắn được đi qua khắp cùng xứ Quảng, từ Tam Kỳ, Tiên Phước đến Thạch Trụ, Mộ Đức, Đức Phổ, Sơn Hà. Đó cũng là lần đầu và lần cuối tôi được đến quê cha. Đến nay đã gần ba chục năm, hình ảnh xưa mỗi ngày một nhạt, còn chăng là loáng thoáng những bóng núi lam trên bán đảo Sơn Trà nổi lên giữa vùng trời nước mịt mùng xanh thẫm và núi đồi trùng điệp của những chiến trường tôi đã đi qua. Mấy ngày phép quá ngắn ngủi không đủ để tôi thấy hết bộ mặt phố phường Đà Nẵng. Tôi chỉ còn nhớ lơ mơ con đường Hùng Vương với những dãy phố trệt, lầu cao thấp lỏn chỏn và chợ Cồn, chợ trời huyên náo. Tôi cũng chẳng có dịp ghé qua phố cổ Hội An hay những vùng quê xa như Vĩnh Điện, Phong Thử, những địa danh mà thuở sinh tiền ba tôi thường nhắc đến. Quê ngoại, miền Nam, là nơi tôi đã sinh ra và lớn lên. Mai kia mốt nọ nếu tôi có về thăm lại Sài Gòn, có lẽ tôi cũng sẽ đứng trên một chiếc cầu nào đó trên sông Sài Gòn nhìn qua bên kia sông để hình dung ra vùng tuổi thơ đã mất dấu của mình. Có lẽ tôi cũng sẽ tìm hoài nhưng tìm đâu ra những góc phố đầy kỷ niệm của thời trai trẻ vì chính cái tên gọi quen thuộc của thành phố cũng đã đổi thay. Sài Gòn hôm nay đã được quân chiến thắng mặc cho một cái áo sặc sỡ với đầy màu sắc lố lăng. Ngay cả ngôi trường cũ của tôi cũng bị người ta biến thành một cái gì Tàu không ra Tàu, Tây không ra Tây, Việt không ra Việt để đến nỗi một bạn đồng môn còn ở lại quê hương đã phải có cảm giác như “chết điếng” khi về thăm lại trường xưa. Sài Gòn hôm nay với vũ trường, khách sạn, nhà hàng, cao ốc – những thứ mà ngày xưa quân chiến thắng gọi là trụy lạc và phồn vinh giả tạo – đua nhau mọc lên như nấm. Một góc thành phố được tô son trát phấn cực kỳ lộng lẫy để thu hút du khách và cũng để nhà nước làm phương tiện tuyên truyền. Mùa hè năm ngoái, một đàn chim lạ bay đến làm tổ trên ngọn cây phong sau nhà tôi. Lũ chim với màu sắc thật đẹp, không rõ là loại chim gì. Một con chim ríu rít tha từng cọng rơm cọng cỏ đâu đó bay về tằn mằn tẳn mẳn bện nên cái tổ nhỏ nhắn xinh xinh ngay giữa một cháng ba chót vót trên cây, chung quanh là những nhánh nhóc xum xuê lá. Chừng như bọn chúng đang xây tổ uyên ương để chuẩn bị cho sự ra đời của lũ chim non. Đúng như dự đoán, vài tuần sau đó ngọn cây nhộn nhịp hẳn lên với những tiếng kêu chiêm chiếp và cây cành xao động thường xuyên với sự ra vào của những con chim lớn, chắc là cha hay mẹ gì đó của đàn chim con. Lũ chim đã chọn mảnh đất sau nhà tôi làm quê hương và chiếc tổ trên ngọn cây phong là căn nhà hạnh phúc. Nhưng rủi thay, một trận mưa giông thật to ập đến bất ngờ vào một buổi chiều đã làm gãy nhiều nhánh cây nơi có chiếc tổ chim. Sau cơn giông, tôi nhìn lên cây thì chỉ thấy có khoảng trời xanh lồ lộ phía sau cái cháng ba mà không thấy cái tổ chim đâu nữa. Nhìn quanh quất, tôi chợt nhận ra nó đã bị gió thổi văng vào một góc sân, nằm trơ trọi như làm chứng cho một cuộc bể dâu. Tôi nhặt chiếc tổ chim vẫn hãy còn nguyên vẹn và bắc thang leo lên để nó lại chỗ cũ trên cây với hy vọng bầy chim sẽ trở về. Tôi phân vân không biết mấy con chim non có sống sót sau trận bão ấy? Hàng ngày tôi ngó mông trên bầu trời như để tìm bóng dáng những chú chim xinh đẹp dễ thương đang tìm về tổ cũ. Mãi đến vài hôm sau, có hai cánh chim trông rất giống bầy chim đã làm tổ nơi đây bay đến ngay phía trên ngọn cây, đảo lượn nhiều vòng như để tìm kiếm một cái gì. Sau đó chúng bay vụt đi, mất hút giữa khung trời xa thẳm để từ đó tôi không bao giờ thấy chúng nữa. Tôi nghĩ chắc đúng là hai con chim ấy, chúng trở về để tìm lại mảnh vườn cũ, cái tổ xưa. Mảnh vườn và cái tổ vẫn còn đó, nhưng chắc có một mất mát lớn lao nào đó khiến chúng nhận ra rằng chúng đang tìm về một nơi trở về đã không còn nữa. Bất giác tôi nghiệm ra rằng, với những đổi thay sau hơn phần tư thế kỷ, quê hương Việt Nam của tôi ngày mai nếu tôi trở lại chắc chắn sẽ không là quê hương của tôi như trong ký ức. Việc cộng sản cưỡng chiếm miền Nam bằng bạo lực và những hệ lụy của nó đã làm đổi thay toàn diện nhiều thứ, trong đó cái tàn khốc và tai hại nhất phải nói đến là lòng người. Chưa chắc tôi và người thân tôi còn nhận ra nhau, hay nếu có nhận ra không biết người ta có còn nhìn tôi bằng cái nhìn của mấy mươi năm trước. Hai mươi bốn cái Tết trên quê hương thứ hai lạnh giá càng làm tôi khát khao thèm thuồng một cái Tết quê nhà, một cái Tết thật đẹp và ấm áp như những cái Tết của thời thơ ấu, trên quê hương dưới bóng cờ vàng. Có lúc mềm lòng vì sự dày vò mãnh liệt của nỗi nhớ quê hương, tôi đã muốn dẹp quách hết những gì chất chứa trong lòng, những mâu thuẫn ý thức hệ, những căm thù vẫn còn âm ỉ để làm một chuyến trở về thăm lại quê hương. Nhưng rồi cứ nghĩ đến về để nhìn thấy lá cờ máu tung bay trên những nóc nhà thành phố là tôi không chịu được. Về để nhìn thấy biết đâu trong những người chung quanh có những kẻ đã cướp của gia đình tôi, bắn giết người thân tôi là máu trong tim tôi lại sùng sục sôi lên. Làm sao tôi có thể trở về khi mà cái chế độ đã làm tôi liều chết ra đi vẫn còn ở đó. Về để làm gì và để tìm lại được những gì hay chỉ để khơi lại vết thương lòng, và tại sao tôi lại phải về một “nơi trở về đã mất”? Vũ Đình Trường 2003 (*) Tên một bài thơ của Hoàng Định Nam |
| Lại một mùa xuân Lại một mùa xuân xa cố hương Nhìn cây trơ trụi lá bên đường Nhớ xưa quê mẹ mai đào nở Thêm chạnh lòng đau khách viễn phương Ta chẳng chờ, mong, trông, ngóng, đợi Ngày qua, ngày lại, lại ngày qua Hè đi, thu đến, rồi đông tới Năm tháng dài thêm nỗi nhớ nhà Bắc Mỹ phương này xuân lạnh lắm Phố phường vẫn vậy, có gì vui? Tháng hai ta bảo nhau, ừ, Tết Rồi nghĩ về xuân để ngậm ngùi! Lại một mùa xuân xa cố hương Mình ta, ly rượu cạn, đêm trường Trong mơ nghe pháo giao thừa nổ Tỉnh giấc hồn còn vương vấn vương… Vũ Đình Trường |
| Thương tiếc ông Cò Ly Dec 30, 1936 – Dec 9, 2025 Thương ông vừa ngã xuống đêm qua Không vợ, không con, chẳng cửa nhà Lính chiến một thời trai hiển hách Cuối đời nằm xuống giữa phương xa Ai biết ông xưa gốc Nhảy Dù Vào sinh ra tử khắp biên khu Lại thêm nhảy toán cùng Lôi Hổ Hữu đột tả xung giữa khói mù Cộng quân gây biến loạn miền Trung Sách động người dân chống đến cùng Khiêng cả bàn thờ ra giữa lộ Ngăn đường chiến sĩ dẹp thù chung Nhờ ông ngộ biến biết tùng quyền loạn lạc cuối cùng cũng dẹp yên cả lính và dân không đổ máu bàn thờ chư Phật vẫn còn nguyên Từ đây ông mặc áo ông Cò Lôi Hổ về thành trấn thủ đô Chiến sự mỗi ngày thêm đẫm máu miền Nam đợi chết đếm từng giờ Hoa Kỳ tháo chạy, bỏ đồng minh Hiệp định Paris quá bất bình Giặc cộng xua quân tràn vĩ tuyến Tháng Ba tan nát đất Thần Kinh Dân Nam từ đó mất non sông Làn sóng người tràn ngập biển Đông Quyết chẳng đội trời chung giặc đỏ Nên đành ôm phận kẻ lưu vong Ông về ở Bắc Virginia Gặp lại anh em lính Cộng Hòa Vẫn nhớ những người chung chiến tuyến Mất phần thân thể giữ quê cha Ông bày sạp báo giữa Eden Trước Phở Xe Lửa, dưới mái hiên Bán báo giúp phế binh khốn khó Bà con thương mến góp thêm tiền Nhiều khi ông đứng dưới mưa sa Sạp báo ngày thưa vắng nhạt nhòa Quán Phở cũng không còn ở đó Một mình, ông đợi bóng người qua Lìa đời lặng lẽ một đêm đông Đất khách quê người lạnh lắm không? Ông chết âm thầm không cáo phó Mơ hồ như gió thoảng ngoài song Nhang tàn khói lạnh một hồn hoang Tro cốt cô đơn đến phũ phàng tứ cố vô thân đời biệt xứ nhìn quanh không một tấm khăn tang anh em vẫn mến vẫn thương ông huynh đệ chi binh góp tấc lòng xin lễ cầu siêu cùng khấn tiễn ông về an lạc cõi hư không nay ông thanh thản giữa ngàn khơi thương phế binh yêu mến gửi lời ghi nhớ công ơn người bán báo “Ông Cò sống mãi giữa lòng tôi” Vũ Đình Trường 12/21/25 ngày lễ cầu siêu ông Cò Trần Thụy Ly- chùa Di Đà, Annandale, VA |