YÊU ĐẾN CHẾT, THÌ THÔI-TT Thái An

YÊU ĐẾN CHẾT, THÌ THÔI
TT Thái An

Cả xóm ở gần phố chợ Nam Định lần lượt kéo đến nhà ông bà Thơm để tiễn chân và cũng để chúc mừng việc ông bà sẽ lên Hà Nội ngày mai để đáp phi cơ đi Mỹ đoàn tụ với đứa con trai duy nhất của ông bà.  Ai cũng khen ông bà có phước quá, có mỗi một đứa con trai mà bõ công đẻ.  Đúng là quý tử!
Ông bà Thơm có cả thể tám đứa con, nhưng mấy đứa kia là thị mẹt, chỉ có Thâu là con trai.  Khi vừa có hai đứa con gái đầu, chị cán bộ đến phát cho cái giấy khen “Gia đình gương mẫu” và đề nghị kế hoạch gia đình, không nên đẻ quá hai đứa.  Cán bộ khuyên thì khuyên, vợ chồng ông Thơm cứ đẻ năm một, tổng cộng tám đứa.  Cán bộ chẳng còn đem giấy khen đến nữa.
Dù biết là chỉ được cấp sổ gạo cho hai đứa con, sáu đứa sau không có sổ gạo,  ông bà Thơm vẫn muốn có nhiều con. Họ xoay ra làm trăm nghề.  Ông làm thợ phụ, thợ mộc, thợ sửa xe đạp.  Bà cấy thuê, gặt mướn, bán rau, bán khoai.  Mấy đứa con gái vừa lên bẩy hay tám tuổi đều được bố mẹ phát cho một cái ấm nước, sáng sáng xách ấm đi bán nước trà, nước nụ vối ở ngoài chợ, ngoài phố.   Chúng nó chỉ được ông bà cho học hết lớp ba hay lớp năm tiểu học mà thôi.  Riêng thằng con trai thì được cho học hết lớp chín, nghĩa là hết cấp hai.
Bà Thơm cô độc từ thời thơ ấu vì côi mẹ từ năm lên bốn.  Cha bà cưới vợ khác, người kế mẫu sinh thêm được hai đứa con gái thì cha bà chết; năm đó bà vừa lên tám tuổi.  Bà vẫn phải ở với kế mẫu và trông hai đứa em cho dì ghẻ đi làm thuê làm mướn nuôi ba miệng ăn.  Vì thế, cả đời không có cơ hội cắp sách đến trường nên bà Thơm chịu phận mù chữ.  Người kế mẫu chẳng bao giờ có một lời ngọt ngào tình cảm với con chồng.  Ngược lại, hở ra lá quát tháo, chửi rủa; thỉnh thoảng còn đánh bà một trận nên thân.  Khi bà được mười tuổi, bà dì ghẻ đã bắt bà ngày ngày đội thúng rau đi bán rao hết phố này sang phố nọ để đem tiền về cho bà.  Bà Thơm biết thân mình côi cút nên nín chịu, nuốt bao nhiêu tủi nhục vào lòng. 
Cho đến khi ông Thơm tình cờ đến nhà bạn học ở cùng làng với bà, năm đó bà vừa mười sáu tuổi.  Đó là năm 1960.  Trông thấy bà đang giặt quần áo bên sông, ông Thơm ngẩn ngơ trước vẻ đẹp mộc mạc của bà nên nhờ bạn giới thiệu.  Ông Thơm đề nghị cưới bà, bà nhận lời ngay vì đó là cơ hội để bà thoát ly bà dì ghẻ.  Bà nhớ ơn ông Thơm biết bao nhiêu và xem ông như vị anh hùng cứu bà khỏi cảnh dì ghẻ con chồng.  Bà đem lòng yêu thương chồng hết mực và nói với ông Thơm rằng bà muốn có nhiều con cho vui cửa vui nhà vì bà mồ côi cả cha lẫn mẹ từ nhỏ nên cảm thấy cô độc quá.  Ông Thơm cũng nghĩ như bà, có nhiều con cho gia đình luôn ấm cúng.
May cho bà Thơm, chồng bà hiền lành nên chẳng bao giờ quát tháo bắt nạt bà.  Bà cảm thấy mình có phước, có phần tốt trong hôn nhân.  Có lẽ ông Trời bù đắp cho bà những năm côi cút, bất hạnh cũ.  Lấy chồng dù hoàn cảnh kinh tế vẫn nghèo, nhưng bà chịu cực từ bé đã quen, bây giờ vẫn chịu cực như thế, vẫn nghèo như thế, nhưng bà có chồng làm điểm tựa tinh thần nên bà thấy hạnh phúc và đời sống có ý nghĩa hơn khi cả hai cùng chăm lo cho nhau và cho đàn con tám đứa.
Thằng Thâu, quý tử của ông bà theo người quen ra Hải Phòng làm công.  Vào lúc có phong trào vượt biển sang Hồng Kong, nó có bạn cho theo vượt biên nên đến được trại tị nạn Hồng Kong năm 1984.  Từ Hồng Kong, nó qua được vòng phỏng vấn của phái đoàn Mỹ nên được cho đi Mỹ tị nạn chính trị.  Sau năm năm, nó cố gắng học bài nên đậu được quốc tịch Mỹ.  Bốn năm sau đó ông bà Thơm  được nó bảo lãnh sang Mỹ đoàn tụ.
Khi được vào công dân MỸ, Thâu xin đổi hoàn toàn từ tên cho đến họ.  Ngày xưa là Bùi Văn thâu thì nay là Richard Buck.   Nó bảo là không muốn ai biết đến cái gốc Việt Nam của nó.  Vì theo nó, nước Việt Nam của đảng cộng sản và bác Hồ chẳng có gì cho nó hãnh diện.  Ai hỏi nó người nước nào, nó luôn trả lời là người Thái lan. Cái mớ kiến thức được nhà trường ở Bắc Việt nhồi cho về một nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và dưới sự lãnh đạo của bác và đảng cộng sản chẳng có gì đáng khoe với người Mỹ ở đây, còn phải dấu đi là khác. Đã thế, nước Việt Nam mà nó thấy từ bé đến lớn chỉ là một nước nghèo nàn, lạc hậu, thiếu vệ sinh, đi đâu cũng ruồi bu đầy bàn ăn, nhà vệ sinh công cộng  không có.  Có đi xe hàng từ tỉnh này sang tỉnh khác, xe chỉ ngừng dọc đường cho khách xuống xe đi xả ở bờ ở bụi, làm gì có nhà vệ sinh sạch sẽ như ở bên Mỹ.  Nếu ghé vào hàng quán dọc đường thì cầu xí cũng dơ bẩn. Quần áo thì cả hai năm chỉ may được một bộ là sang lắm rồi đấy.  Có tiền sắm đôi dép mới là may rồi, làm gì dám mơ đến đôi giầy.  Ăn cơm mỗi ngày chỉ có rau.  Cả tháng được mua một lần thịt chỉ có mấy miếng thịt mỡ trắng phêu.  Thịt nạc bọn cán bộ chia nhau hết cả rồi.  Nghèo thấy mà xấu hổ, mà thấy sợ!  Chưa hết, đi đâu trông thấy công an hay cán bộ là thấy bất an bất ổn; mình chẳng làm gì sai cũng vẫn thấy sợ. 
Vì thế, hắn quyết tâm dứt khoát với quá khứ, vứt cả cái tên Việt Nam ra khỏi cuộc đời hắn.  Cái mũi tẹt được hắn tốn tiền sửa cho cao lên, trông cho giống người nước ngoài, nước nào cũng được miễn không phải là người Việt Nam.
Cũng vì hắn có quá nhiều mặc cảm tự ti về cái gốc xuất thân của hắn nên những người Việt gốc miền Nam rất khó chịu khi nghe hắn bảo: “Việt Nam thì có gì để hãnh diện?”  Thế nào người bạn miền Nam kia cũng kê vào miệng hắn một câu: “Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của anh không có gì hãnh diện là đúng rồi.  Nhưng nước Việt Nam Cộng Hòa của tôi rất đáng hãnh diện vì đã bảo tồn và phát huy nền văn hóa dân tộc Việt Nam.  Anh nghe nhạc Vàng của miền Nam trước 1975 anh không mê à? Anh đọc tiểu thuyết của miền Nam anh không thích à?  Anh mặc quần áo của người trong Nam bán ở chợ trời sau 1975 anh không sung sướng à?”  Anh ăn tô phở bán trong Nam anh không thấy đã à? Thâu nghe thế hết đường cãi vì thằng bạn này nói đúng.  Như thế cái nước làm cho nó xấu hổ và mang đầy mặc cảm tự ti là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của bác Hồ và đảng cộng sản Việt Nam.
Sau gần một ngày bay, đổi hai bận phi cơ, cuối cùng ông bà Thơm cũng đặt chân lên nước Mỹ.  Cả hai lóng ngóng theo đoàn hành khách xếp hàng vào sở di trú ở phi trường, chẳng biết nói tiếng Anh thì có người thông dịch.  Khi ra được đến chỗ lấy hành lý thì đã mệt đừ.  Ra đến ngoài gặp được thằng con trai.  Cả hai ông bà mừng quá, bớt căng thẳng vì không biết tiếng Anh nên chẳng hỏi thăm được ai.
Thâu dắt bố mẹ ra xe.  Vừa lên xe, ông bà Thơm hỏi ngay:
-Xe ai thế?  Con biết lái xe cơ à?
Thâu nhăn nhó giải thích:
-Ở bên này ai cũng phải có xe mới đi làm được ạ.  Xe của con đấy.
Ông bà Thơm nhìn nhau cảm động.  Mới có chín năm mà thằng con ông bà tiến bộ nhanh quá.  Ngày xưa ở Nam Định nó còn chưa có cái xe gắn máy nữa cơ.  Mỗi khi có ai mua được cái xe Honda cũ đem ở trong Nam ra là cả phố trầm trồ; thằng Thâu cứ ngẩn ngơ nói: “Biết đến đời nào mình mới có được cái xe như thế!”
Thâu chở bố mẹ về nhà.  Nó chỉ có khả năng thuê một cái basement có hai phòng.  Nó ở một phòng, phòng kia cho bố mẹ.  Thế mà ông bà Thơm cũng thấy khang trang quá vì so với cái nhà lụp xụp của ông bà ở Nam Định thì nó văn minh hơn nhiều.  Từ cái bếp gas có lò nướng đến cái tủ lạnh to tướng và cái máy giặt to đùng trông lạ mắt.  Nhìn thôi đã thầy ngộp, chưa dám hỏi thằng Thâu cách xử dụng. 
Đến nửa đêm hai vợ chồng vẫn chưa ngủ được vì ngược giờ với Việt Nam 12 tiếng nên cứ thao thức chuyện trò với nhau.  Bỗng dưng thằng Thâu mở cửa phòng thức dậy quát to tiếng với ông bà:
-Hai ông bà chưa chịu im miệng để tôi được ngủ mai còn đi làm nữa chứ.
Hai ông bà còn ngơ ngác trước thái độ tức giận thái quá của thằng con, nó đã mở cửa ra vườn, đem hai cái va li của ông bà ném ra ngoài.  Sau đó quát to:
-Ra mau, hai ông bà cút ra mau không tôi gọi chủ nhà đuổi ra đường đấy. 
Hai vợ chồng hốt hoảng nhìn nhau.  Chỉ vì mình nói chuyện với nhau mà nó nổi tam bành lên như thế à?  Bà vội vàng nói:
-Thôi cho bố mẹ xin lỗi.  Bố mẹ không dám nói chuyện nữa, con cứ đi ngủ lại đi.
Nhưng thằng Thâu không chịu bỏ qua.  Nó thật sự đuổi bố mẹ ra đường.  Nó trừng mắt chỉ tay ra cửa:
-Đi mau, cút mau!
Hai ông bà nhìn nhau và bà bắt đầu khóc với nó:
-Con ơi!  Bố mẹ mới đến đây chưa biết đường xá gì cả, đi đâu bây giờ?
-Đi đâu mặc kệ.  Đi mau.
Vừa nói nó vừa nắm lấy tay mẹ kéo ra cửa.  Cha nó phải đi theo mẹ nó ra ngoài.  Nó còn lôi mẹ nó lên xe, cha nó phải lên theo.  Nó lái xe ra gần khu có trung tâm buôn bán và mở cửa bắt cha mẹ nó xuống.  Nó dằn mặt bố mẹ nó:
-Ông bà mà quay trở lại, tôi sẽ gọi lính bắt.  Nghe chưa!
Nói xong nó vội vã lái xe đi để mặc cho mẹ nó khóc lóc van xin.  Ông Thơm chưa hoàn hồn đứng thừ ra.  Một lúc sau, ông quay lại nhìn bà.  Bà chỉ biết gục vào ông mà khóc.  Bà nói:
-Biết thế này tôi với ông khỏi thèm qua đây.  Bây giờ ở đâu hở ông?
Ông Thơm nói bâng quơ:
-Thì phải đứng ngoài đường chờ sáng rồi tính.
Tôi phải kiếm chỗ ngồi, đứng hoài mỏi chân quá.  Trời rét thế này, tôi không mặc đủ ấm ông ơi.  Ông mở cái va li ra kiếm thêm áo ấm khoác cho vợ.  Ông nói:
-Không ngờ bên này mới tháng 11 mà đã rét thế này.  Áo ấm bên mình chẳng thấm vào đâu cả bà ơi.  Bà phải mặc nhiều lớp áo mới ấm được.
Nói xong ông đưa thêm áo cho bà.  Phần ông cũng lôi ra thêm hai cái áo để chồng vào.
Sau hai giờ ngồi co ro ngoài đường.  Bỗng có xe cảnh sát đi ngang trông thấy hai ông bà bèn ngừng lại.  Ông cảnh sát xuống xe chào ông bà và nói một tràng, ông bà không hiểu ất giáp gì.  Chỉ biết lôi giấy tờ trong người ra cho ông xem.  Ông thấy hai người này vừa xuống phi trường có mấy tiếng đồng hồ nên cho lên xe đưa về một shelter gần nhất.
Đến shelter, hai ông bà được ông cảnh sát đưa đến văn phòng nói gì đó.  Họ cho ông bà vào ngủ nhờ qua đêm. 
Sáng hôm sau có một bà Việt Nam đến tự giới thiệu là nhân viên xã hội, tên Ngân.  Bà Ngân hỏi thăm gia cảnh ông bà Thơm rồi nói rằng:
-Tôi giúp ông bà ra bộ xã hội xin giấy xã hội.  Nhưng phải về ngang nhà con trai ông bà xem có cậu ấy ở nhà không.  Vì ông bà cần phải có địa chỉ liên lạc nên tạm thời dùng địa chỉ cậu này.
Thế là nhờ cái địa chỉ trên bao thư, bà Ngân chở ông bà Thơm đến nhà thằng Thâu.  Nó không có nhà.  Bà Ngân chở ông bà Thơm ra bộ xã hội để làm thẻ xã hội.  Sau đó đưa ông bà qua giới thiệu với nhân viên giúp kiếm việc làm.  May quá, họ đang có việc lau chùi dọn dẹp ở trạm nghỉ trên xa lộ.  Thế là hai ông bà được bà Ngân đưa đi phỏng vấn.  Thứ Hai tuần sau bắt đầu làm.  Bà Ngân lại đưa ông bà Thơm về nhà thằng con để nói chuyện với nó.  Nó không có nhà.  Bà Ngân nói chuyện với chủ nhà cho ông bà Thơm ở tạm cho đến khi có thể thuê chỗ khác.  Bà cũng viết lời nhắn tin cho Thâu nhờ đưa rước ông bà Thơm đi làm lúc đầu cho đến khi ông Thơm có bằng lái và mua xe đi làm.
Thế là mọi việc đâu vào đó.  Ông bà Thơm làm việc tận tụy, siêng năng.  Hễ ai gọi vào xin nghỉ vì bệnh bất ngờ, xếp chỉ cần gọi cho ông bà Thơm là đến ngay dù là xuân hạ thu đông, ngày hay đêm.  Công việc lau chùi dọn dẹp nhà vệ sinh, quét rác, đổ rác xem ra quá dễ dàng và nhẹ nhàng so với những việc ông bà đã làm qua ở Việt Nam.  Lương của hai ông bà cộng lại thì cũng bằng lương kỹ sư.  Hai vợ chồng lại cảm thấy hạnh phúc hơn bao giờ vì ngày ngày vẫn đi làm chung, cực mấy cũng vẫn thấy vui.
Lúc này thằng con mới nói với bố mẹ nó rằng:
-Lúc con đuổi bố mẹ ra khỏi nhà là cố ý cho nhà nước lo cho bố mẹ.  Vì nếu còn ở với con thì không xin được trợ cấp của chánh phủ.  Nhưng may mà bà Ngân dắt bố mẹ đi xin việc, làm được cho chánh phủ thì quá tốt.  Lương cao và có đủ mọi thứ: bảo hiểm sức khỏe, răng, mắt, được nghỉ thường niên và nghỉ bệnh.  Lại có tiền hưu trí nữa.
Ông bà Thơm nghe thế lại thán phục thằng con mình khôn ngoan tuyệt vời. 
Sau khi đi làm được ba tháng, ông Thơm thi bằng luật bằng tiếng Việt được đậu.  Đến tháng thứ tư ông đưa tiền cho người ta dạy lái xe, và đậu xong bằng lái.  Thế là ông Thơm mua được chiếc xe cũ không đến nỗi tệ quá.  Ông bà đọc báo Việt Nam và thuê được một phòng dưới basement của một gia đình Việt Nam gần chỗ làm.
Vợ chồng ông Thơm ký ca ký cóp, ngoài tiền phòng $300 mỗi tháng, tiền chợ dè xẻn và tiền xăng cố định.  Ở Mỹ tiền chợ quá rẻ so với tiền lương hàng tháng của hai ông bà; thịt gà thịt lợn là hai thứ ở Việt Nam ông bà chẳng được ăn hằng ngày nhưng ở đây quá rẻ, ăn nhiều cũng ngán. Sau hơn mười năm làm việc ông bà để dành được khoảng hơn hai trăm ngàn đô.  Nghĩ đến hai đứa con gái nhỏ nhất vẫn chưa lấy chồng vì chờ ông bà bảo lãnh.  Nhưng không hiểu sao ông bà lại nhờ thằng Thâu kiếm bạn qua Việt Nam cưới hai cô này.  Thằng Thâu kiếm được hai ông Mỹ tuổi sồn sồn ngoài bốn mươi.  Ông bà phải đưa cho mỗi thằng rể hờ 20 ngàn đô để cưới con gái ông bà; lấy thật cũng được mà giả cũng được.  Cái thằng ngoài 45 có một đời vợ và hai thằng con trai tuổi 16, 17 thì lại đòi cưới con gái út của ông bà vừa mới 23.  Thằng 40 thì chịu lấy cô kế út tuổi gần 25.
Thế là hai cô con gái theo chồng qua Mỹ.  Tội nghiệp cô út, tên Tươi, xinh hơn chị thì lại lấy chồng già hơn.  Thằng chồng già này cũng rất cáo già.  Vợ vừa qua Mỹ một tuần nó bắt phải đi học nghề nail ngay tức khắc.  Thế là hai chị em rủ nhau đi học nail, tiền học của bố mẹ cho, hai thằng chồng chỉ biết lấy tiền vào chứ không chi tiền ra.
Hai chị em chưa học qua tiếng Anh bao giờ nên phải nhờ người thông dịch khi đi thi bằng nail, nên bố mẹ lại chi tiền.  Nhưng cũng lấy được bằng nail để đi làm.  Lúc đầu Tươi chưa biết lái xe, Sam phải đưa rước vợ đi làm.  Tươi vừa đi làm về đến nhà Sam nói ngay:
-Đưa tiền đây tôi đi gửi nhà băng.
Tươi còn lớ ngớ chẳng biết phong tục bên này thế nào nên cũng phải đưa nhưng trong bụng ức lắm.  Vì tiền của hắn mình đâu có được rờ đến, sao mình lại phải nộp tiền cho hắn?  Hôm sau đi làm xong, trước khi ra về, Tươi dấu bớt tiền trong đáy giầy để hắn có xét ví, xét túi quần áo cũng chẳng thấy.
Vào tiệm nail, Tươi kể cho các bạn nghe, mọi người nhốn nháo lên chửi thằng Sam đào mỏ.  Rồi bầy cho Tươi ra ngân hàng mở trương mục đem tiền vào đó mà cất riêng.  Chỉ để trong ví chút đỉnh, Sam có hỏi thì bảo có thế thôi.
Ấy thế mà thằng Sam cũng đoán ra, hắn hỏi:
-You cất tiền ở nhà băng chứ gì?
Tươi thật thà gật đầu, nói bập bẹ:
-Tiền của tôi, tôi cất riêng.
Sam chẳng làm gì được nữa.  Nhưng mỗi ngày Tươi đi làm về, hắn bắt phải nấu cơm cho ba cha con hắn và lau chùi hai cái toilet và hai cái phòng của hai thằng con trai hắn.  Ba cha con hắn phè ra ngồi chờ Tươi dọn cơm.  Ăn xong, lại ngồi phè ra cho tươi lau chùi rửa chén đĩa.
Mấy người làm chung trong tiệm nail lại xúi Tươi bỏ thằng Sam.  Tươi bảo nó giữ thẻ xanh của Tươi, làm sao bỏ được?  Ai cũng bảo chừng nào mày có tiền thì đưa luật sư xin ly dị.
Đến tết ta, Sam hỏi Tươi:
-Tôi thấy phong tục Việt Nam khi đến tết thì cha mẹ phải cho con tiền lì xì.  Sao cha mẹ you không cho you và tôi tiền?
Tươi nghe mà muốn nôn vào mặt hắn.  Tươi trả lời:
-Khi con còn nhỏ thì bố mẹ cho tiền mừng tuổi.  Khi con lớn thì phải cho lại bố mẹ tiền mừng tuổi.  You có tiền cho bố mẹ tôi không?
Hai cô con gái qua mới được hai năm thì bà Thơm ngã bệnh.  Hôm đó đang lau chùi ở chỗ làm, bà thấy đau thắt bụng, mồ hôi vã ra vì quá đau.  Bà ngã quỵ xuống.  Ông Thơm thấy thế chạy lại đỡ vợ rồi gọi xe cấp cứu. 
Ở nhà thương cả ngày, bác sỹ cho hay bà bị ung thư ruột thời kỳ cuối.  Có lẽ sống thêm được vài tháng.  Đi làm cho Trạm Nghỉ, là công nhân viên của tiểu bang, đươc bảo hiểm sức khỏe đầy đủ mà bà ham kiếm tiền quá, tiếc rẻ không dám xin nghỉ hai ngày để đi đi soi ruột khi vừa qua 50 tuổi. 
Bây giờ ngã bệnh, bà chẳng còn làm được gì.  Ông vẫn đi làm, ngày nào trước khi đi ông lo cơm nước sẵn cho bà, để khi bà đói thì dậy ăn.  Nhưng bà nào có ăn được vì bụng luôn đau âm ỉ, tức bụng, đầy hơi thế nào ấy.
Khi thấy mình càng ngày càng yếu, bà bàn với ông:
-Tôi chẳng sống được bao lâu nữa, tôi muốn về Việt Nam ở với mấy đứa bên đó được ngày nào hay ngày ấy.  Khi chết thì chôn ở đất làng không tốn tiền.  Hơn nữa con cháu có thể đến thăm mộ lúc nào cũng được.  Ông cũng sắp được về hưu rồi, ông cũng nên về bên đó dưỡng hưu, có tiền hưu bên này gửi cho ông mỗi tháng, lại có mấy đứa bên đó lo cho ông đỡ buồn.
Ông thấy bà nói cũng phải nên xin phép nghỉ một tháng đưa vợ về Việt Nam.  Sau một tháng ông trở lại Mỹ đi làm tiếp.  Hai tháng sau bà mất tại quê ở Nam Định, ông và các con lại về Việt Nam lo đám tang cho bà. 
Chôn vợ xong ông trở lại Mỹ để đi làm.  Lái xe đi làm mỗi ngày, không còn vợ ngồi bên cạnh ông buồn thảm não.  Ông đem bức ảnh phóng to của vợ đặt lên chiếc ghế mà bà ngồi mỗi ngày và buộc dây cho không ngã xuống.  Ông xem như thế là bà vẫn còn ngồi cạnh ông; thỉnh thoảng ông quay sang nói chuyện với bức ảnh mà tin rằng bà còn ngồi đó nghe ông nói.  Ông thấy nhớ vợ quá, bà là người yêu đầu tiên và duy nhất của ông, cũng là người vợ đem hạnh phúc đến cho ông.  Cả đời, hai vợ chồng chưa hề gây gổ với nhau, lúc nào cũng khắng khít như hình với bóng.  Chia ngọt sẻ bùi qua bao nhiêu giống tố.  Bảo sao ông không buồn khổ, không chới với vì thiếu vắng bà?
 Một năm sau ông xin nghỉ hưu.  Theo như ý bà, ông về Việt Nam ở hẳn.  Ông đem tiền về cất nhà cho ba cô con gái đã có chồng con.  Ông muốn ở với đứa nào tùy ý.  Cô nào cũng mời ông về ở chung vì mỗi tháng ông có lương hưu cả ngàn đô la, nếu chỉ có ăn uống, may mặc thì tiêu xài làm sao cho hết.
Nhưng rốt cuộc thấy ông vẫn buồn áo não, chúng bàn với nhau cưới vợ cho ông.  Chúng nhờ người mối mai cho cha chúng nó.  Chúng nó bảo rằng bố già rồi, một lúc nào đó sẽ cần người đến săn sóc.  Chi bằng kiếm vợ cho bố để cô này thay chúng con săn sóc bố.  Thế là một công hai việc, vừa là vợ vừa là người làm dịch vụ săn sóc người già tại gia.
Bà mai thấy có tiền thì sốt sắng môi giới.  Nhà gái nghèo quá, vì chỉ có hai mẹ con, mẹ góa con côi.  Bà mai đề nghị với các con ông Thơm là làm mai cho bà mẹ tốt hơn, vì bà mẹ mới ngoài 40, vẫn kém ông Thơm gần hai mươi tuổi cơ đấy. 
Nhưng khi các con ông Thơm kể cho ông nghe, ông chọn ngay cô con gái vì muốn gái còn tân. 
Thế nên bà mai lại phải dỗ ngon dỗ ngọt cô con gái, nào là ông già trên sáu mươi, nhưng mà có tiền, tha hồ mà sung sướng tấm thân, giúp được mẹ nghèo nên cô Thùy cam lòng ưng thuận.  Thùy bé hơn ông Thơm 40 tuổi. 
Ông hân hoan đón nhận người vợ mới.  Thế là ông xây thêm một căn nhà trệt ba phòng rộng rãi để cưới vợ về ở.  Ông không muốn đem vợ nhí, tuổi còn bé hơn con gái ông về ở chung với con gái và con rể, mất tự do của ông.  Và nhất là nếu thằng rể có ý ấm ớ với vợ ông thì sao?
Ông Thơm thầm tính ngày trước mình gả hai cô con gái cho hai thằng lớn hơn chúng trên hai mươi tuổi vậy mà vẫn ở với nhau cho đến bây giờ; thì hy vọng cái cô Thùy này cũng sẽ ở với mình cho đến khi mình đi chầu tổ.
Mọi người biết chuyện ai cũng bỉu môi trách ông Thơm rằng ông ác với cô Thùy quá, sao không cưới mẹ cô Thùy còn xứng đôi hơn là cưới cô con gái.  Vì thấy người ta nghèo nên bắt chẹt mà! 
Họ cũng cười ông Thơm chỉ nhớ vợ vì thói quen có vợ kề cận mỗi ngày trong nhiều năm.  Vừa mất vợ thì hụt hẫng, đau khổ.  Nhưng hễ có người khác trẻ và đẹp hơn thì chẳng còn nhớ vợ cũ nữa đâu. 
Đành rằng góa vợ thì cũng nên đi bước nữa cho đỡ cô đơn, trống trải.  Nhưng lấy đứa con gái nhỏ tuổi hơn con mình chỉ vì nó nghèo phải sống bám vào mình thì quá ác.  Cô vợ nhí chẳng khác nào đồ chơi của ông chồng già.  Cô không được chồng xem là một con người có nhân phẩm; cô bị xem như một thứ nô lệ của thời đại mới.  Cô đi với ông ra đường có lẽ cúi gầm mặt xuống đất, đố dám nhìn ai.  Nhất là ông già Thơm chẳng mấy gì đẹp lão, ông lùn thấp và mặt mày quê mùa khó tả  làm sao.
Con người sanh ra và lớn lên trong xã hội chủ nghĩa lúc nào cũng bị quyền lực ám ảnh .  Ông Thơm có thể chấp nhận cho con gái đi lấy chồng già và bị đối xử như nô lệ, miễn đạt tới mục tiêu đi Mỹ thì thôi.  Còn ông, suốt đời khúm núm thưa gửi cán bộ làng, cán bộ xã, ông sợ chúng nó đồng thời cũng ao ước được quyền lực như chúng nó.  Cho nên bây giờ có chút tiền, và đồng tiền giúp ông có chút quyền lực để cho làng xã biết ông có khả năng mua cô vợ nhí, có khác gì chủ nhân và “nô lệ” không chứ?  
Nhưng ông cám ơn nước Mỹ hết lòng hết dạ đã cho vợ chồng ông công ăn việc làm ổng định để ông có số tiền lớn về quê dưỡng hưu và làm chủ một cô vợ nhỏ hơn con gái mình.  Sáng nào khi thức dậy, nhìn quanh không thấy ai, ông cũng hô to: “Đế quốc Mỹ muôn năm!”
 
TT-Thái An
5/10/2019