CUNG THI LAN

Tiểu sử Cung Thị Lan
Cung Thị Lan- Nguyên quán tại Nha Trang, Việt Nam- Là giáo viên, trưởng Hướng Đạo và cán sự xã hội
 
– Học sinh trường nữ tiểu Học Nha Trang từ năm1961- 1962 đến năm1967- 1968.
-Học sinh trường nữ trung Học Nha Trang (sau là Nữ Trung Học Huyền Trân Nha Trang) từ năm 1968-1969 đến năm 1974-1975
– Học sinh Cao Đẳng Sư Phạm Nha Trang từ năm 1975 đến 1976
– Tốt nghiệp cử nhân Giáo Dục trẻ (B.A Early Childhood Education) Fall 2004 t?i University of the District of Columbia (UDC)
 
-Tốt nghiệp thạc sĩ Giáo dục trẻ khuyết tật (Master in Special Education) Summer 2010 tại George Mason University (GMU)
-Hiện làm việc cho Ban phục vụ giáo dưỡng trẻ em thuộc bộ Xã HộI và cư ngụ tại vùng Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ
 
*Tác phẩm đã phát hành:
 
            Truyện dài Nha Trang Dấu Chân Kỷ Niệm (2004)
            Truyện dài Hai Chị Em (2005)
            Tiểu thuyết Tình Trên Đỉnh Sầu (2006)
            Tuyển tập Khoảng Cách Của Biệt Ly (2009)
             Unforgettable Kindness (2011)
             Không Phải Chỉ Là Truyện Con Cọp (2012)
             Two Sisters (2014)
             Tiểu thuyết Mãi Mãi Chia Xa (2014)
             Khi Ngỡ Mình Là Thượng Đế (2019)
Biography of Cung Thị Lan

Cung Thi Lan originally from Nha Trang, Viet Nam. 
– Teacher, Girl Scout leader and social worker. 
– Currently resides in Maryland  and works for DHS/ ESA/ Child Care Services
– Graduated Bachelor of Child Education (B.A Early Childhood Education) Fall 2004 at University of the District of Columbia (UDC)
– Master’s degree in Special Education (Master in Special Education) Summer 2010 at George Mason University (GMU)
 
Published books are:
Nha Trang Memoir (2004)
Two Sisters (2005)
Sorrowful Love (2006)
Distance of Eternal Separation (2009)
             Unforgettable Kindness (2011)
             Not Just A Tiger Story (2012)
             Two Sisters (2014)
             Forever Farewell (2014)
             When Assuming Being God (2019)
Trang tác giả Cung Thị Lan trong website Văn Bút Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ

Vui lòng bấm vào đây

The Hill We Climb – Amanda Gorman
 
When day comes, we ask ourselves, where can we find light in this never-ending shade?
The loss we carry. A sea we must wade.
We braved the belly of the beast.
We’ve learned that quiet isn’t always peace, and the norms and notions of what “just” is isn’t always justice.
And yet the dawn is ours before we knew it.
Somehow we do it.
Somehow we weathered and witnessed a nation that isn’t broken, but simply unfinished.
We, the successors of a country and a time where a skinny Black girl descended from slaves and raised by a single mother can dream of becoming president, only to find herself reciting for one.
And, yes, we are far from polished, far from pristine, but that doesn’t mean we are striving to form a union that is perfect.
We are striving to forge our union with purpose.
To compose a country committed to all cultures, colors, characters and conditions of man.
And so we lift our gaze, not to what stands between us, but what stands before us.
We close the divide because we know to put our future first, we must first put our differences aside.
We lay down our arms so we can reach out our arms to one another.
We seek harm to none and harmony for all.
Let the globe, if nothing else, say this is true.
That even as we grieved, we grew.
That even as we hurt, we hoped.
That even as we tired, we tried.
That we’ll forever be tied together, victorious.
Not because we will never again know defeat, but because we will never again sow division.
Scripture tells us to envision that everyone shall sit under their own vine and fig tree, and no one shall make them afraid.
If we’re to live up to our own time, then victory won’t lie in the blade, but in all the bridges we’ve made.
That is the promise to glade, the hill we climb, if only we dare.
It’s because being American is more than a pride we inherit.
It’s the past we step into and how we repair it.
We’ve seen a force that would shatter our nation, rather than share it.
Would destroy our country if it meant delaying democracy.
And this effort very nearly succeeded.
But while democracy can be periodically delayed, it can never be permanently defeated.
In this truth, in this faith we trust, for while we have our eyes on the future, history has its eyes on us.
This is the era of just redemption.
We feared at its inception.
We did not feel prepared to be the heirs of such a terrifying hour.
But within it we found the power to author a new chapter, to offer hope and laughter to ourselves.
So, while once we asked, how could we possibly prevail over catastrophe, now we assert, how could catastrophe possibly prevail over us?
We will not march back to what was, but move to what shall be: a country that is bruised but whole, benevolent but bold, fierce and free.
We will not be turned around or interrupted by intimidation because we know our inaction and inertia will be the inheritance of the next generation, become the future.
Our blunders become their burdens.
But one thing is certain.
If we merge mercy with might, and might with right, then love becomes our legacy and change our children’s birthright.
So let us leave behind a country better than the one we were left.
Every breath from my bronze-pounded chest, we will raise this wounded world into a wondrous one.
We will rise from the golden hills of the West.
We will rise from the windswept Northeast where our forefathers first realized revolution.
We will rise from the lake-rimmed cities of the Midwestern states.
We will rise from the sun-baked South.
We will rebuild, reconcile, and recover.
And every known nook of our nation and every corner called our country, our people diverse and beautiful, will emerge battered and beautiful.
When day comes, we step out of the shade of flame and unafraid.
The new dawn balloons as we free it.
For there is always light, if only we’re brave enough to see it.
If only we’re brave enough to be it.


https://www.cnbc.com/2021/01/20/amanda-gormans-inaugural-poem-the-hill-we-climb-full-text.html?__source=iosappshare%7Ccom.apple.UIKit.activity.Mail
Vượt Đồi
                      Amanda Gorman

Tìm đâu ánh sáng trong đêm tối?
Mất mát chẳng sờn, vượt biển xa
Đương đầu quái thú lòng kiên định
 Hòa bình chỉ thể đổi bão qua
 Quy luật thông thường là khái niệm
Công lý rạng ngời chỉ dựa ta
Bình minh chợt sáng đầy muôn lối
Trải nghiệm rõ ràng người với ta
Tổ Quốc còn nguyên nguồn công chính
 Hậu duệ như ta khá rõ là:
Xuất thân nô lệ, mẹ đơn thân.
 Mơ mộng có ngày điều Quốc dân
Nay được ngâm thơ ngày Nhậm Chức
Lịch lãm thanh cao đã dự phần
 
 Và,vâng, ta sáng tựa nguyên ân
Phấn đấu hợp đoàn, hiệp nhất thân
Đa dạng, công bằng và hòa nhập
Nối khoảng cách gần tạo nghĩa nhân
 
Đón lấy bàn tay, ta nắm chặt
 Nâng đỡ bên nhau sống hài hòa
 Không gây phương hại, không chia rẽ
Xây dựng hòa bình cho thế nhân
 
Những lúc buồn đau, ta trưởng thành
 Tổn thương, ước vọng lại vươn nhanh
Và khi mệt mỏi, ta vẫn gắng
 Liên kết một lòng đến rạng danh
 
Chẳng vì ta sẽ còn thất bại
 Nhưng vì ta sẽ hết phân chia
 
Thánh kinh đã chỉ rõ viễn ảnh:
Cạnh nho hay (sung) vả chẳng phải tranh
chẳng ai quyền hạn gây sợ hãi
mỗi người một phận đã tỏ rành
 
Ta sống trong giai đoạn lịch sử
chiến thắng chẳng nằm trên lưỡi dao
trên những chiếc cầu ta tạo dựng
Hứa lời gan góc, vượt  đồi cao
 
Là người Mỹ, tự hào hơn ta nghĩ
Quá khứ đã qua, ta hoán đổi thế nào
Vũ lực tàn phá thay vì góp phần cho đất nước
Ngăn trở  Dân Chủ Nhân Quyền đến sắp lung lay
Vũ lực ấy tưởng gần thắng lợi
Trì trệ tạm thời không nghĩa thua đau
Với chân lý, niềm tin ta kỳ vọng
Lịch sử  ghi sâu chiến tích ta thuộc làu
Những sự kiện của một thời chuộc lỗi
là  thời gian ta kinh hãi sự khởi đầu
 
Chẳng sẵn sàng kế thừa di sản ấy đâu
Với  sức  mạnh, Người khai sáng đã  mở ra chương sách mới,
gầy dựng tin yêu hy vọng và nụ cười
 Vì  vậy, có lần, ta tự hỏi:
“Làm thế nào ta có thể thắng tai họa?”
 Thì bây giờ ta khẳng định lại:
“Làm thế nào tai họa có thể thắng ta?”
 
Không quay lại quá khứ, ta hướng đến tương lai nơi quê hương trầy xướt nhưng  ngập đầy lòng nhân ái, can đảm, quả quyết và tự do’
 
Ta sẽ  không quay lại và cũng không  dừng lại bởi thế lực thị oai.
Ta biết rõ là nếu ta ù lì, không hành động sẽ là  tiền lề  con cháu ì  ạch giống như ta.
Là  sai lầm, là gánh nặng  của Quốc Gia mà con cháu, các thế  hệ  sau đồng gánh chịu.
Chân lý đã tỏ tường rằng:
Khi chúng ta gắn kết tình nhân ái với sự công bằng và lẽ phải, con cháu kế thừa di sản của yêu thương.
Vậy, hãy cùng nhau giữ gìn Tổ Quốc tươi đẹp hơn khi ta từng trải.
 
Từ  mỗi hơi thở trong lồng ngực nâu của tôi, tôi ao ước chúng ta sẽ nuôi dưỡng lại thế giới vốn đang tổn thương này trở thành thế giới kỳ diệu
 
Ta sẽ vượt cao lên những đỉnh đồi vàng của miền Tây.
Ta sẽ vươn ra từ miền Đông lộng gió, nơi tiền nhân khởi xướng cuộc cách mạng đầu tiên.
Ta sẽ vùng lên từ những thành phố bên hồ thơ mộng của miền Trung Tây.
Ta sẽ vùng lên từ miền Nam nắng chói.
Ta sẽ tái tạo, đoàn kết, và phục hồi.
Và mỗi vùng miền, mỗi nơi chốn của đất nước, dân tộc chúng ta khởi sắc với những vẻ đẹp mỹ miều trong lúc hàn gắn những vết thương.
 Rồi khi hừng đông, ta sẽ hiên ngang bước ra khỏi vùng lửa bỏng. Sẽ rực rỡ trong ánh bình minh với sự can đảm rạng ngời.
  
Cung Thị Lan chuyển ngữ
Tâm sự của một người viết
                                                                                                                                                                                                        Cung Thị lan
 
Một người đàn ông đứng tuổi tâm sự với tôi rằng người vợ đầu của ông và ông ly dị vì sự phá rối của người chị ruột của ông. Cũng bởi người chị ruột của ông nói xấu vợ ông với ba mẹ của ông mà tình cảm của vợ ông với gia đình ông và tình cảm của riêng họ sứt mẻ dần. Họ đã bất hòa, cãi vả với nhau rất nhiều lần cho đến khi quyết định chia tay. Ông nói rằng sau khi ly dị, ông nhận rõ sự mâu thuẫn giữa chị dâu em chồng là nguyên nhân của sự đổ vỡ hạnh phúc gia đình ông nhưng ông không hề thố lộ chuyện này với ai. Ông còn nói rằng ông không hề trách móc chị ruột của ông bởi vì ông quan niệm vợ thì ông có thể kiếm được người khác nhưng chị em ruột hay cha mẹ ruột thì ông chỉ có một. Ông chứng minh rằng ông đang có đời sống êm đềm, hạnh phúc với người vợ thứ hai của ông trong lúc vẫn còn mối quan hệ bạn bè thường tình với người vợ đầu tiên, người đàn bà sau khi ly dị cho đến nay vẫn còn độc thân.
 
Tôi bàng hoàng khi nghe câu chuyện kể vì điều ông thố lộ hoàn toàn trái ngược với điều ông nói với tôi sau khi coi cuốn sách Hai Chị Em của tôi. Lúc đó, ông nói với tôi rằng ông chưa bao giờ thấy một người em chồng đối với chị dâu như tôi tả. Chau mày nghĩ ngợi nhưng tôi đã điềm tĩnh nói với ông rằng : “ Cháu hiểu bác tiết lộ chuyện như thế này với cháu hôm nay do một sự tình cờ chớ không ai muốn kể chuyện như vậy với người không phải trong gia đình. Nếu bác ghi lại những điều bác vừa kể với cháu với những chi tiết rõ ràng để chia xẻ những kinh nghiệm mà bác trải qua với người khác thì người đọc truyện của bác sẽ gọi bác là nhà văn. Khi bác dùng bút pháp đặc biệt làm rõ mục đích câu chuyện và người đọc học hỏi được những điều bác nhắn gởi trong truyện thì người ta sẽ gọi bác là nhà văn có tài… nhưng cháu biết bác sẽ không viết ra những điều bác vừa mới tâm sự với cháu bởi vì bác muốn bảo vệ danh dự gia đình của bác. Giống như bao người khác, họ có biết bao chuyện éo le, ngang trái và bi thảm nhưng họ không bao giờ chia xẻ cùng ai cũng chỉ vì muốn bảo vệ danh dự của chính họ hay những người thân của họ. ”
 
Ông cười và nói rằng tôi thông minh, lý luận rất đúng. Còn tôi, tôi đã kết thúc cuộc đối thoại bằng đề tài khác vì tôi không muốn nói thêm những gì mình đang nghĩ quanh chuyện viết của tôi và những vấn đề liên quan. Đó là chuyện bất ngờ ngoài dự định, sở thích không mục đích, và những vui buồn khi tôi trở thành một người viết thực thụ. Những điều mà tôi tâm sự trong những giòng chữ sau đây:
 
Tôi đã không hề thích làm văn sĩ ngay từ khi tôi bắt đầu viết những bài tập làm văn trong thời tiểu học. Từ những bài tập làm văn trong năm học lớp Ba như tả cái cặp, con chó, cây chuối, cây dừa, và mẹ của em, tôi cảm thấy viết là một sự gò bó, khuôn khổ và mẫu mực. Bài nào cũng loanh quanh trong phạm vi mở bài, thân bài và kết luận. Bài nào cũng tả từ xa đến gần, từ ngoài vào trong, từ ngoại diện đến phẩm chất, từ cái xấu đến cái tốt, cái tiêu cực đến tích cực và bài học lợi ích hoặc ý nghĩa.Vượt qua sự nhàm chán, tôi đã thử phóng viết tự do theo ý mình trong thời gian học trung học. Kết quả là mỗi khi nhận bài trả từ các giáo sư Việt Văn, tôi luôn có một câu phê giống y nhau rằng: “Câu văn dài dòng luộm thuộm! ”
 
 Biết làm sao hơn khi tôi không hề thích lối viết ngắn ngủn. Tôi thường có cảm tưởng những dấu phẩy và những dấu chấm là sự nhát gừng của người ngần ngừ không muốn trả lời hay không muốn nói một cách suôn sẻ và mạch lạc. Lúc đó, tôi đã tự bảo vệ mình bằng cách không viết ra giấy mà chỉ viết trong đầu. Nếu viết ra giấy thì chỉ là những tờ giấy trong nhật ký chứ tôi không bao giờ nghĩ mình gửi bài cho bất kỳ Bích Báo hay Đặc San nào. Tôi sợ rằng sau khi đọc thơ văn của tôi, độc giả trở thành nhiều giáo sư Việt Văn với nhiều câu phê bình mà tôi từng có : “Văn dài dòng và luộm thuộm.”
 
Tôi không muốn trở thành văn sĩ /nhà văn còn bởi vì tôi thấy đời sống của nhà văn/ văn sĩ thường bị tò mò và xoi mói bởi những người xung quanh. Đời sống họ không còn được tự nhiên nếu không nói là tội nghiệp : Nhất cử nhất động của họ đều bị theo dõi và phê bình. Tôi tự nghĩ tại sao phải đem cái khổ vào thân như vậy? Làm người bình thường, không viết văn, không làm thơ, không gửi bài, không ai biết đến tên tuổi thì đâu phải bị dòm ngó? Đâu phải giữ kẽ, e dè? Hơn nữa, làm văn sĩ hay thi sĩ thì có được lợi lộc gì mà cứ phải viết cặm cụi như làm các bài luận văn rồi chờ các giáo sư Việt Văn không lương phê bình? Những người bạn trong lớp C (Ban Văn Chương thời trước năm 1975) chê tôi khùng điên khi nghe những câu hỏi ngớ ngẩn này của tôi. Họ nói thơ văn tô điểm thêm cuộc đời thơ mộng, ghi dấu những kỷ niệm đẹp thời học sinh và làm tươi mát cuộc đời của con người. Hơn thế nữa, khi văn chương lên đến tuyệt đỉnh, văn sĩ, thi sĩ nổi tiếng sẽ được trọng vọng, và tên tuổi của những người này sẽ được lưu danh đến ngàn đời, sao lại nói không thích?
 
Nghe lời bạn bè, mặc dù chưa thực sự viết thơ văn chuẩn mực, chưa có thơ văn để gửi cho tòa soạn nào và cũng chưa được nhà xuất bản nào phát hành sách, tôi đã tưởng tượng mình là nhà văn nổi tiếng, và mơ mộng về những thành công của nhà văn nổi tiếng. Thế nhưng, sau một hồi tưởng tượng và mơ mộng, tôi đã khư khư với ý nghĩ ban đầu là không bao giờ thích làm văn sĩ hay thi sĩ. Nguyên do từ những câu trả lời cho những câu hỏi mà tôi tự đặt cho tôi. Nếu khi còn nhỏ tí teo, tôi hỏi má tôi rằng : “Má ơi, ai sinh ra má vậy? ”, ” Là bà ngoại con chớ ai! ”, “Ai sinh bà ngoại vậy má? ”, “Là bà cố! ”,  “Ai sinh bà cố vậy má? ”, “Là bà sơ! ”, “Ai sinh bà sơ vậy má? ”,”Là bà sít! ”, “Ai sinh bà sít vậy má? ”, “Là bà… mà mày hỏi làm gì hỏi hoài vậy? ” “ Dạ con muốn biết ai là người đầu tiên trên trái đất này sinh ra má con mình thôi đó mà! ” … thì lúc bấy giờ, tôi tự hỏi rằng”Nếu mình là nhà văn và được nổi tiếng thì sao? ”, ”Thì mọi người sẽ đọc hết tất cả sách của mình và biết tên mình chớ sao! ”,”Nhiều người biết tên mình, thì sao? ” “Thì khi mình chết, tên mình vẫn còn sống bởi những người còn sống đang đọc sách mình chớ sao! ”, “Những người còn sống đọc sách mình, nhắc nhở tên mình rồi sao nữa? ”,”Rồi những người đọc sách mình hết còn nhắc nhở tên mình vì họ sẽ chết nhưng họ sẽ lưu sách của mình lại cho con họ đọc! ”, “Rồi con của những người đọc sách mình chết nữa thì sao? ”, “Thì con của con của những người đọc sách mình chết đó đọc! ”,”Rồi con của con của những người đọc sách mình chết, nghĩa là cháu của những người đọc sách mình chết, chết nữa thì sao? ”, “Thì chắt của những người đọc sách mình chết đọc! ” Rồi chắt của những người đọc sách mình chết, chết nữa thì sao? ”, “Thì chít của những người đọc sách mình chết đọc! ” Rồi chít của những người đọc sách mình chết, chết nữa thì sao? ”, “Thì chút của những người đọc sách mình chết đó đọc! ”, “Rồi hết thảy con, cháu, chắt, chít, chút của những người đọc sách của mình chết, chết hết thì sao?”, “Thì không ai biết tên mình cả! Như vậy có nghĩa là làm nhà văn hay nhà văn nổi tiếng hay không nổi tiếng cũng chỉ là hư danh mà thôi! Có khi đến đời con của người mê đọc sách của nhà văn nổi tiếng không muốn đọc sách của nhà văn nổi tiếng cùng thời với cha mẹ họ, thì sự lưu danh sẽ bị cắt đứt một cách ngọt xớt…. thế thì tại sao mình phải khổ cực viết sách để làm nhà văn làm gì? ” Với lý luận như vậy mà tôi không hề viết bài, và không hề gửi bài cho các bích báo của lớp của trường chứ đừng nói chi đến việc tơ tưởng đến các danh xưng văn sĩ hay nhà văn.
 
Mặc dù tôi chưa bao giờ nghĩ hoặc chưa bao giờ mơ mình sẽ trở thành văn sĩ hay thi sĩ nhưng tôi thích viết. Tôi đã viết hàng ngày trong đầu mình và ghi lại những gì xảy ra trong trí mình những sự việc đáng nhớ và cảm nghĩ của mình trước những sự việc xảy ra quanh tôi. Tôi thường xuyên tâm tình với ý nghĩ của mình và ghi lại những gì xảy ra trong nhật ký của tôi. Tôi đã giấu kỹ những cuốn nhật ký nhưng có lúc lại muốn chia xẻ ý nghĩ của mình với những người quanh tôi. Tôi nghĩ giá như tôi mạnh dạn cho mọi người biết những ý nghĩ thật của mình, biết những gì mình đã trải qua, biết đâu tôi chia xẻ kinh nghiệm của mình cho người có cùng tình trạng để họ phản ứng hay hơn tôi, hạn chế những thiệt thòi mà tôi mắc phải đồng thời có được đời sống tốt đẹp hơn đời sống của tôi. Bản thân của tôi cũng đã học nhiều kinh nghiệm từ những gì ghi trong sách vở. Chúng là những người bạn tốt giúp tôi mở mang kiến thức và cho tôi nhiều bài học bổ ích trong việc hiểu biết hoàn cảnh khác biệt của mọi người, thông cảm và tôn trọng sự khác biệt ấy. Tôi đã ứng dụng những kiến thức trong sách vở vào đời sống hàng ngày của mình và nghiệm rằng cuộc sống của mình thành công đối với việc ứng phó với những nghịch cảnh xung quanh mình. Từ kinh nghiệm này, tôi muốn lưu lại những gì tôi đã trải qua cho người đọc, mà người gần nhất là các em Hướng Đạo. Tôi đã thực hiện dự định của mình bằng lối viết đơn giản, dễ hiểu và đúng với trình độ đọc tiếng Việt của các em. Tôi muốn biến những cuốn sách của mình là hành trang trong cuộc sống của các em nhưng tôi đã ngần ngừ chuyện phát hành bởi vì tôi hình dung được cảm giác mất mát của mình khi phải tung ra những chuyện tôi giấu kín hàng bao năm trời.
 
Là người yêu bí mật, tôi không muốn ai biết những gì mình đang giấu kín. Viết về một mối tình câm, về một cuộc tình đuổi bắt, một sự hoang tàn, một sự tuyệt vọng, một cuộc sống nghèo hèn, sự đối xử không công bằng trong gia đình là niềm đau xót khôn nguôi. Làm sao có thể giải thích cho những người đọc hiểu được tâm trạng của người viết đang trang trải những niềm đau xót trên những trang giấy bằng những giọt nước mắt hơn là mực viết. Làm sao có thể cho mọi người hiểu được sự thố lộ những gì có tính cách riêng tư là sự bày tỏ chứ không phải là sự đánh đổi hai chữ nhà văn. Tuy nhiên, sự ra đời nào cũng do số phận và sự an bài của thượng đế. Những bản thảo như những cuốn nhật ký nằm im trong tủ ngỡ sẽ ra đời bất ngờ khi chủ nhân của chúng đi vào chốn vĩnh hằng. Ngờ đâu, chúng đã xuất hiện một cách vội vã. Nguyên nhân vì em gái ruột của tôi, người mà tôi nghĩ sẽ là người đầu tiên bất ngờ đọc những điều bí mật của tôi sau khi tôi không còn trên cõi đời bị chứng bệnh hẹp cơ tủy xương cổ. Tình trạng sức khỏe nguy kịch của em gái tôi khiến tôi quyết định phát hành cuốn sách đầu tiên của mình. Sự phát hành không có một sự thuận lợi nào khi tôi đang ở trong tình trạng thất nghiệp và không hề quen biết một nhà văn, nhà thơ hay một nhà xuất bản nào ở Hải Ngoại. Có lẽ kỳ vọng và tin tưởng khả năng của tôi, một họa sĩ trong nước, tại Việt Nam, đề nghị sẽ giúp đỡ tôi trong việc phát hành sách. Ngoài chuyện vẽ hình bìa sách ông còn hết lòng giúp tôi làm người đại diện ký giao kèo với một nhà xuất bản có uy tín trong nước. Ông nói rằng nhà xuất bản này đã xuất bản rất nhiều sách của miền Nam Việt Nam trước năm 1975 ngay cả những chuyện kiếm hiệp của Kim Dung. Tôi vui vẻ ưng thuận với tâm trạng tin tưởng tuyệt đối vào sự cởi mở và đổi mới trong nước. Việc xuất bản cuốn sách đầu tiên tưởng sẽ được tiến hành trong thuận lợi, người đại diện ký giao kèo cho tôi biết là Nhà xuất bản Thông tin Văn hóa, nơi kiểm duyệt các tác phẩm văn chương trong nước, yêu cầu tôi đổi hai chữ Việt Cộng bằng ba chữ Giải Phóng Quân thì cuốn truyện Nha Trang Dấu Chân Kỷ Niệm của tôi mới có thể xuất bản trong nước. Nghe xong những lời này, tôi đã tức tốc yêu cầu người đại diện xóa bỏ hợp đồng với nhà xuất bản mà ông ta đã ký giao kèo. Tôi nói rằng những gì tôi ghi lại là những gì tôi chứng kiến khi Việt Cộng tấn công Nha Trang vào năm 1975 chớ tôi không hề biết chữ giải phóng quân là gì. Trong tâm trạng bàng hoàng, tôi cho ông biết rằng tôi không ngờ có sự thỏa hiệp kỳ lạ giữa nhà xuất bản và bộ phận kiểm duyệt văn hóa thông tin như thế rồi tôi khẳng định rằng tôi sẽ không bao giờ đổi trắng thành đen. Đến lúc đó, tôi nhận rõ vai trò quan trọng của người viết trong sự bảo vệ tính trung thực và cũng từ lúc đó tôi không còn có ý nghĩ sẽ giao kèo với bất cứ nhà xuất bản nào trong nước. Để bảo vệ tính trung thực của quyển sách của mình, tôi đã tự phát hành, và phát hành vội vã đến độ không kịp biên tập.
 
Cuốn truyện Nha Trang Dấu Chân Kỷ Niệm của tôi ra đời một cách rất đột ngột nhưng tôi đã cố gắng hết mức trong vai trò của người tự xuất bản. Tôi đã cố gắng chuyển chúng đến tay người đọc sớm chừng nào hay chừng nấy vì ngại rằng sẽ có những cuốn sách với tên mình với những sự việc xảy ra cho mình bằng những tên gọi bịa đặt. Sự cố gắng của tôi chỉ nhằm để bảo vệ sự thật nhưng vì sự gấp rút, cuốn sách đầu tay của tôi đã có khá nhiều lỗi chính tả. Bất kể nội dung cuốn sách trung thực thể nào, khuyết điểm của phần hình thức khiến tôi không hề nghĩ cuốn sách mình được độc giả chấp nhận là một tác phẩm chuẩn mực. Ngạc nhiên thay, tôi đã được sự ủng hộ của rất nhiều độc giả ; không những các em Hướng Đạo, mà còn là những người có học vị khá cao, các phụ huynh, các trưởng Hướng Đạo, bạn bè và người quen. Họ cho rằng Nha Trang Dấu Chân Kỷ Niệm có giá trị như một tác phẩm lịch sử bởi vì nó đã trung thực ghi lại những gì xảy ra trong những thời gian trước và năm 1975.
 
Dù là người mới tập tễnh bước vào khu vườn văn chương, tôi hình dung được những phản ứng khác nhau của người đọc đối với các tác phẩm của mình. Tôi đón nhận những ý kiến khác nhau cho kinh nghiệm của mình nhưng tôi đã chán nản khi tôi thấy những thái độ của những người nhạy cảm quá khích hay những lời phán đoán không chính xác về nội dung. Đó là những người chỉ đọc lướt qua vài trang đầu, đọc sơ sài vài trang sách hay không hề đọc chữ nào trong cuốn truyện Hai Chị Em của tôi. Trong khi tôi đang bỡ ngỡ trước những lời khen về trí nhớ siêu việt, tính trung thực của ngòi viết của mình thì tôi thấm thía những phản ứng của vài người bà con cho rằng tôi mạ lỵ danh giá của đại gia đình. Điều này làm tôi cảm thấy nỗi đau của mình to lớn hơn khi thấy rõ tâm ý của một số người. Vì danh giá và danh dự, con người chỉ muốn che đậy những điều tiêu cực, phủ nhận công lý để nuôi dưỡng những bất công tiếp tục diễn biến từ đời này đến đời khác. Sự dửng dưng, lạnh lùng và giận hờn của một số người làm tôi cảm thấy đau xót. Tôi làm sao có thể giải thích cho họ hiểu những nghịch cảnh ghi ra trên giấy là niềm đau khôn nguôi của tôi. Những giòng chữ trên những trang sách của tôi không phải chỉ bằng mực mà bằng rất nhiều nước mắt. Tôi làm sao nói cho họ hiểu rằng những đứa bạn gần gũi với tôi vào thời niên thiếu đã phán với tôi rằng : “Mày là con nhà văn nương tay! ” Như vậy, phải chăng: Viết sách đối với tôi không phải là phương sách chờ đợi một danh xưng, sự giải tỏa hay xoa dịu. Viết sách đối với tôi cũng không phải là hình thức nhằm phỉ báng, mạ lý hay bêu xấu cá nhân nào. Thời gian sẽ làm sáng tỏ rằng: Viết sách đối với tôi là một hình thức nghệ thuật chuyển tải ý tưởng đến người đọc trong tinh thần khách quan.
 
Có lúc, tôi nghĩ rằng người đàn ông có kinh nghiệm bản thân về hậu quả của sự xích mích giữa chị em dâu với chị em chồng nhưng không ghi lại những điều ông trải qua trong sách là người may mắn. Chữ may mắn có vẻ dị hợm khi ông đã mất hạnh phúc gia đình, và con cái của ông đã phải sống trong cảnh xa cha gần mẹ hay gần cha xa mẹ nhưng dù sao ông đã không bị mất tình cảm của ba mẹ và các chị em gái của ông. Nhờ tâm huyết bảo vệ danh dự của gia đình, mà ông không bị tẩy chay, biệt lập hay ruồng bỏ bởi những người thân trong đại gia đình của ông. Tuy nhiên, nếu tất cả mọi người trên đời không hề đề cập đến những tiêu cực của những sự việc quanh mình thì e rằng chúng ta khó lòng thấu hiểu, thông cảm hay học tập kinh nghiệm trong thế giới không hoàn hảo của loài người.
 
Với duyên nghiệp và sở thích, tôi đã tiếp tục viết cho dù những tác phẩm của tôi đã khiến tôi nhận nhiều lời khen, tiếng chê của độc giả. Qua bình luận của nhiều người tôi nhận thấy rằng hiếm có người đọc kỹ sách của tôi. Có lẽ do thời gian hạn chế nơi xứ người, hiếm có người đọc sách kỹ như đã từng. Ngoài ra, qua những lăng kính màu khác nhau, những lời khen ngợi hay phê bình thường là kết quả từ các kinh nghiệm cá nhân hay môi trường cuộc sống mà người đọc trải qua. Hiểu được điều đó, tôi đã không từ nan việc chờ đợi người hiểu rõ điều tôi muốn nhắn nhủ trong những đứa con tinh thần của tôi. Để tạo điều kiện cho độc giả trong nước đọc các tác phẩm của mình, tôi đã gửi chúng vào trang Việt Nam Thư Quán. Dù không có lợi nhuận gì trong việc viết sách nhưng tôi đã được những lời góp ý và bàn luận chân thật của những độc giả sau khi đọc các tác phẩm của tôi. Đã có nhiều lời góp ý của độc giả trong nước làm tôi rất cảm động. Thương cảm nhất là khi tôi đọc lời bàn bạc trong phần góp ý của độc giả rằng: “Dù được các tác giả ở Hải Ngoại cho coi sách miễn phí trên mạng nhưng em cũng phải trả tiền giờ cho các dịch vụ vi tính!” Câu nói này đã cho tôi cảm thấy mình đã làm chuyện có ích.
 
Các tác phẩm của tôi đã giúp tôi ngày càng gặp lại nhiều người thân quen. Sự quảng bá những tác phẩm viết trên hệ thống toàn cầu đã giúp tôi tìm lại nhiều người thân mất liên lạc hàng chục năm. Qua họ, tôi biết được nhiều tờ báo đã lấy và trích đoạn một số bài viết của tôi đăng trên mạng. Điều đó không hề hấn gì bởi vì có nhiều người đọc hết sách tôi trên các trang mạng vẫn ưu ái mua sách ủng hộ tôi. Điều quan trọng là những người thân quen của tôi đều nói rằng họ đã xúc động khi đọc các bài viết của tôi vì họ tìm thấy sự hiện diện của họ trong ấy. Quan trọng hơn nữa là có lần một độc giả ở California gọi điện cho tôi và thố lộ rằng: “Chị ơi, em cảm ơn cuốn truyện Hai Chị Em của chị. Nhờ đọc cuốn truyện này mà em được con gái em gần gũi em hơn, hoàn toàn khác con trai đầu của em trước đây chị à! Phải chi em được đọc sớm hơn câu: ‘Buồn thay, mẹ nó vì quá lo lắng cho kế sinh nhai mà chẳng bao giờ để ý đến niềm ao ước nhỏ nhoi của chị em nó. Trong niềm ao ước nhỏ nhoi ấy, chỉ được mẹ dẫn đi bộ đến biển chơi cũng sẽ là hạnh phúc tuyệt đỉnh của chúng rồi.’ thì trước đây em biết áp dụng cách gần gũi con, chớ không bỏ bê nó mà chỉ lo kinh doanh. Phải chi em có cuốn truyện Hai Chị Em sớm hơn thì em không bị con trai em lợt lạt như bây giờ đâu chị!”
 Chỉ có vậy! Cuối cùng tôi đã tìm được người nhận được thông điệp của mình! Thông điệp này không những cho độc giả của tôi mà còn là sự nhắc nhở cho chính bản thân tôi, người viết.
 
Với những lời tâm sự này, tôi hy vọng bạn sẽ viết ra những thông điệp bạn muốn gửi cho người đọc. Mỗi người trong chúng ta đều có những kinh nghiệm khác nhau. Kinh nghiệm san xẻ của bạn sẽ cho người đọc những bài học giá trị và  ý nghĩa. Cứ thế, chúng ta sẽ cùng truyền cho nhau các kinh nghiệm khác nhau để cùng xây dựng một cuộc sống hoàn thiện hơn. Nếu bạn chưa từng viết, hãy viết đi. Nếu bạn đã và đang viết, xin hãy tiếp tục, đừng từ bỏ.
 
                                                                                    Cung Thị Lan
                                                                                       09/09/2006
Tưởng Nhớ Trưng Vương


Trưng Vương hai vị nữ anh hùng
Phất cờ khởi nghĩa chống giặc Trung
Thù nhà, nợ nước quyết tâm trả
Oai phong voi, ngựa tiến trùng trùng

Đuổi quân Đông Hán lên Vương nữ
Mê Linh dựng lại nghiệp vua Hùng
Ba năm Âu Lạc trời một cõi
Rèn chí quyết tâm giữ đến cùng

Chỉ tiếc sức người trong giới hạn
Quần thoa không đấu lại gian hùng
Bất phục bạo tàn trầm sông Hát
Nghìn đời rạng sử tấm lòng trung
Cung Thị Lan
Buồn Cho Cái Lưỡi!


Cái lưỡi không xương vốn vậy rồi
Trời sinh như thế phải chịu thôi
Trách chê chi mấy xin ghi nhớ:
Ai cũng từng quen lưỡi bạc vôi!

Khi thương, lưỡi biết đưa lên đỉnh.
Khi ghét lưỡi thề dập chết thôi.
Có lúc lưỡi cong tròn nói dối.
và còn biết ngọt câu đãi bôi.

…Bởi thế hãy cùng nhau tu tỉnh
Uốn lưỡi bảy lần khi nói thôi!
Cung Thị Lan
Xa Cách

Em cứ ngỡ chia tay là đoạn tuyệt
Là dứt tình, là từ biệt ly tan
Hai cuộc đời hai số phận cắt ngang
Không quen biết và trở thành xa lạ

Và em ngỡ anh bây giờ thỏa dạ
Bên vợ hiền, con thảo, phận chồng ngoan
Ngày qua ngày tròn trách nhiệm lo toan
Đã yên ổn cuộc đời nơi chốn lạ

Em đâu ngỡ anh rối bời trong dạ
Gửi tình buồn chan chứa mộng yêu đương
Dịu dàng xưa vẫn thoang thoảng sắc hương
Xao xuyến mãi tình anh vẫn còn đấy

Cung Thị Lan
Hạt bụi mong manh

 Đã bao nhiêu năm
 Ngày qua tháng lại
Chỉ thấy tổn hại
Thân thiệt óc mòn
Vòng đời cỏn con
 Chẳng tìm ra lối
Mịt mù tăm tối
Bối rối lần mò
Lắm kẻ giở trò
Xưng chúa lập tôi
Múa mỏ khua môi
Sáng chiều trưa tối
Càng làm càng rối
Chẳng biết về đâu
Người chờ đã lâu
Mắt mờ tóc bạc
Dật dờ lưu lạc
Quê người quê nhà
Đâu chính đâu tà?
Loanh quanh khắp lối
Chìm vào  trong tối
Chẳng biết bến bờ
dật dờ…. dật dờ

Không còn  được gì  
Cũng chẳng được chi
Ai đó và tôi
Đều là hạt  bụi
Ngày một  tàn rụi
Chồng chất lên nhau
Phủ kín lòng đau
Mỗi lúc một sâu
Đào đâu tìm lối?
Cung Thị Lan
(Tháng Ba, 2017)
Ơi Quê Hương!



Quê hương ơi, tiếng kêu sao xa quá
Lời thương xưa xin gửi lại cho người
Còn tìm đâu thời thơ ấu hát cười?
Thưở ca khúc tình quê theo trang giấy
 
Tổ Quốc ơi, phải chăng người còn đấy
Bốn ngàn năm lịch sử rạng anh hùng
Hay mất rồi lòng đoàn kết ý chung?
Còn đâu nữa tình anh em máu mủ
 
Việt Nam ơi, phải chăng người còn đủ?
Hay vẫn còn nhìn con cháu điêu linh?
Chiến tranh qua, sao chẳng thấy yên bình?
Máu ngưng chảy, sao còn đời oan nghiệt?
 
Đất nước ơi, xin một lời từ biệt
Phận bọt bèo lưu lạc sống tha phương
Biết bao giờ tìm lại dược tình thương?
Thầm một bóng, mắt là đôi giòng lệ
Cung Thị Lan
Đi Mãi

Đi đi mãi con đường xa vạn dặm
Mang theo niềm lưu luyến tháng ngày qua
Đâu bóng dừa cùng nón lá thiết tha?
Tà áo trắng và cánh diều trong nắng

Đi đi mãi bước chân trần cay đắng
Đá trên đường bén cắt gót chân không
Sỏi lao xao những giọt máu tươi hồng
Tim chai đá nghe tiếng cười vang vỡ

Đi đi mãi với niềm đau trăn trở
Người còn đâu và ta có còn đây?
Tháng ngày qua lấp hết nét thơ ngây
Còn chi nữa mà chờ mong ao ước?

Đi đi mãi những con đường khép bước
Lối nào về mái ấm lửa hồng xưa?
Mẹ có còn dõi mắt dưới cơn mưa
Chờ mây tạnh đón con về trong nắng?

Đi đi mãi đời chỉ là chốn vắng
Chẳng còn gì tươi đẹp nữa mà mong
Hãy thắp hương chôn kín vết thương lòng
Hãy quên hết dù ngàn lần vẫn nhớ

Đi đi mãi chẳng bao giờ dừng lại
Bóng bên đường xin tỏa chút từ bi
Nắng trên cao xin nhỏ giọt nhu mì
Và ngọn gió xin làm tan nỗi nhớ

Cung Thị Lan
Chán Đời

Ngẫm đi nghĩ lại thấy chán đời
Thế gian thiên hạ chẳng còn vui
Tranh nhau hai chữ khôn và dại
Bêu xấu nhau hoài chẳng thấy lui 

Mua danh ba vạn bán ba hào
Người nỡ lòng nào làm vậy sao?
Mất rồi? Hay vẫn là đồng loại?
Ích thú gì tranh chữ thấp cao? 

Bầu bí kia còn biết thương nhau
Tàu ngựa bỏ ăn khi con đau
Tôi anh có phải người chung nước?
Có phải anh em, chung máu đào? 

Lời nói cũng cần lựa thanh cao
Sao anh cứ mãi mày với tao?
Nếu anh chẳng muốn nghe gắt gỏng
Lẽ nào anh dụng trò bán rao? 

Cứ nghĩ tôi là kẻ ngu đi
Còn anh xuất chúng chẳng ai bì
Khôn khôn dại dại vô cùng tận
Một phút buông tay còn được gì?

Cung Thi Lan
Không Biết Yêu

Tôi chẳng biết yêu nên thiếu lời
Chữ tình câu thệ ước xa xôi
Người xưa lấy hết không đem trả
Đâu để cho tôi một chút rơi
Cung Thị Lan
Bồ Câu Trắng Và Tôi




Bồ câu trắng là biểu tượng của hòa bình và là sứ giả của hy vọng trong ý nghĩ của tôi từ khi tôi học trung học. Ấn tượng sâu đậm về loài chim dễ thương này đã khảm sâu vào tâm trí của tôi từ câu chuyện bồ câu trắng đem nhánh ô liu báo cho Noah biết nước lụt của nạn hồng thuỷ đã rút. Tôi yêu mến phẩm chất tốt đẹp của loại chim này nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ mình có điều kiện nuôi chúng như thú cưng hay tiếp cận chúng như ba loài chim mà tôi đang nuôi trong nhà là vẹt đuôi dài (Cockatiels), Yến Phụng (Parakeets) và Sẻ Vằn (Zebra Finch). Thế mà trong một buổi chiều đi bộ trong xóm, một em chim bồ câu trắng bất thần sà xuống trước mặt tôi. Em ngáng đường tôi đang đi và nghiêng đầu ngước lên nhìn tôi rất lâu.


Tôi kinh ngạc đến độ không dám bước tiếp. Tôi e rằng sẽ làm kinh động khiến em bay đi; còn em bình thản đi qua lại trước mặt tôi và chốc chốc dừng lại nghiêng đầu, ngước mắt lên nhìn tôi với ánh mắt rất thân thiện, dễ thương. Tôi khá thú vị với hiện tượng lạ nên nhờ chồng tôi chụp dùm một tấm hình. Tuy nhiên, khi nhờ anh làm điều này, tôi chỉ yêu cầu với sự hồi hộp, không chắc. Rất khó cho anh có thể rút điện thoại cầm tay ra khỏi túi, mở mật mã, mở phần chụp hình và bấm nút kịp thời trong khi chim là loài thường hay nhạy cảm với những động tác của người, nhất là người lạ. Chúng sẽ vụt bay đi đột ngột như khi sà xuống. Em chim bồ câu trắng này có thể bay ngay khi anh vừa lấy chiếc điện thoại cầm tay ra, không chừng. Kỳ lạ thay, em vẫn đứng yên nhìn tôi rất lâu. Một lúc sau, em lững thững qua lại trước mặt tôi, như muốn nói với tôi gì đó mà không thể diễn đạt qua ngôn ngữ chim của em.


 
Vậy là chồng tôi có đủ thì giờ chụp cho em và tôi vài tấm hình. Tôi không dám nhúc nhích nhưng tôi đã liên tiếp hỏi và nói với em bằng giọng nói nhão nhoẹt và chả chớt, như tôi vẫn thường nói chuyện với những con chim tôi nuôi trong nhà, rằng“Con đi đâu đó?” “Con ăn gì chưa?”, “Con có đói không?”, “Bạn của con đâu mà con lạc loài ở đây?”, “Con đang lạc bạn phải không?”, “Con cần‘mẹ’ làm gì?”, “Mà thôi, ‘sang đàng’ như vầy đủ rồi, con bay về nhà đi, chiều tối rồi đó!” Tôi nói với em như độc thoại, nói cho chỉ mình nghe, nhưng tôi không chán. Tôi chỉ ngưng, không nói, khi em bay đi, và tiếp tục bước để kết thúc cuộc đi bộ hàng ngày của tôi.


Từ chỗ gặp em bồ câu trắng đến nhà tôi chỉ cách có tám căn nhà; vậy mà, lúc ấy, tôi cảm tưởng như xa lắm. Tôi vừa đi vừa ngẫm nghĩ, không hiểu vì sao có hiện tượng này. Tôi nhớ mỗi lần cho chim trong nhà ăn xong, tôi thường đem thức ăn cho sóc, chuột sóc (chipmunk) và các loài chim ở sau vườn. Mỗi lần như thế, tôi thường quan sát chúng ăn như thế nào, và có thêm “khách lạ” nào đến dự buổi “tiệc họp mặt hàng ngày” trong sân cỏ sau nhà của tôi không. Tuy nhiên, tôi chỉ thấy đám chim sẻ quen thuộc, chào mào, hồng tước và vài con cu đất hòa nhập với những con sóc, sóc chuột hay vài chú thỏ, chứ tôi chưa hề thấy con chim bồ câu trắng nào. Dù chỉ cư ngụ ở “Đồi Anh Đào (Cherry Hill) của vùng Maryland” trong năm năm tôi cũng đủ khẳng định nơi đây không là nơi lưu trú của loài chim mang biểu tượng hòa bình này. Tôi đoán em chim bồ câu trắng này bị lạc đàn, lạc bạn trong phút chốc và không chóng thì chầy, em sẽ tìm về với bầy thôi.


Ngày hôm sau, đi làm về, tôi nghe chồng tôi kể là em chim bồ câu trắng bay đến nhà tìm thăm tôi. Tôi ngỡ anh đùa, ai dè, anh đưa cho tôi xem tấm hình anh chụp để chứng thực lời anh nói.



Anh kể: “Buổi sáng anh đang làm việc trong phòng chim, bỗng nghe tiếng lốc cốc trên nóc. Nhìn lên, thì ra con chim bồ câu trắng đang đứng trên mặt cửa kính của nóc nhà. Nó nhìn xuống rồi đi qua lại tỏ ý cho anh biết là nó đến nhà thăm mình.”


Chuyện lạ lẫm này đã khiến tôi thích thú, lưu tâm nhiều đến những căn nhà gần chỗ tôi gặp em bồ câu trắng. Chiều hôm ấy, khi tôi đi bộ quanh xóm, đến chỗ gặp gỡ đầu tiên với em, tôi dáo dác nhìn những cây cối xung quanh rồi ngước mắt nhìn lên tận đỉnh của những nóc nhà gần đó. Quả như tôi đoán, em bồ câu trắng hôm trước đang đậu trên nóc nhà cao chót vót đối diện với con đường tôi đang đi bộ, đang ngó xuống, vẻ chăm chăm nhìn tôi. Lúc ấy, tôi hiểu ra là em đã từng đứng trên nóc nhà ấy nhiều lần để ngắm mọi vật xung quanh và đã từng thấy vợ chồng chúng tôi đi bộ trên con đường này nhiều lần nên muốn sà xuống chặn đường, làm quen. Nhưng tôi không hiểu sao em biết nhà tôi mà bay đến tìm. Tôi nghĩ có lẽ em đã từng bay trên nóc nhà tôi, nhìn thấy những con chim tôi nuôi qua tấm kính trên nóc nhà hay đã từng chứng kiến cảnh tôi “nói chuyện” với những con chim thú cưng của tôi. Tôi hiểu rõ hơn là mình đã từng bị quan sát và theo dõi bởi nhiều loài lông vũ khác nhau trên những cành cây cao của khu rừng sau nhà. Nhưng, tôi vẫn chưa biết là tôi đã từng bị em bồ câu trắng theo dõi nhiều lần khi những loài chim, loài sóc, và chuột sóc trong cánh rừng sau nhà ùn về sân cỏ của vườn sau nhà tôi chỉ vì tiếng gọi to “Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!” của tôi.


Tôi thường cho chim và sóc ăn hạt hướng dương và hạt kê vào những buổi chiều khi đi làm về. Mỗi lần như thế, tôi ra hiên nhà sau rải hạt khắp nơi trong sân cỏ sau, gọi to “Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!” rồi vội vã vào nhà lo cơm nước, ăn uống và đi bộ; chứ tôi không có thời gian ngắm chúng ăn uống và tiếp xúc với nhau ra sao. Cuối tuần, trong hai ngày thứ Bảy và Chủ nhật, sau khi rải hạt, tôi có thì giờ quan sát chúng kỹ hơn. Hễ sau bốn tiếng gọi “Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!” là các chú chim và sóc lần lượt xuất hiện. Vài chú sóc từ đồi chạy xuống, và vài chú sóc từ dưới mương nước suối chạy về.Chúng cùng len qua hàng rào để vào sân cỏ. Những con chim cũng sà xuống từ những cây cao sau rừng. Nhiều loài chim, sóc và chuột sóc với kích cỡ khác nhau nhưng chúng không thị oai, bắt nạt hay gây hấn. Vốn đã biết nhau và biết luật “bất thành văn” nên chúng ăn một cách từ tốn rồi tìm hạt mới. Tôi chủ tâm rải hạt khắp nơi để ngừa tình trạng tranh ăn và bảo đảm các em đều được ăn đầy đủ. Mấy con thú có lẽ đã quen cảnh tụ họp ăn uống như thế trong thời gian khá dài nên không có cảnh hung hăng đấu đá tranh ăn. Mỗi lần nhìn chúng ăn, tôi rất hài lòng vì cảm thấy mình là người có ích. Nhưng tôi đâu có dè: Ngoài tôi ra, em bồ câu trắng còn là kẻ từng ngắm cảnh những con chim, sóc ăn trong cảnh hòa bình và đáng yêu như thế.Hơn thế nữa, nó đã từng theo dõi tôi rải hạt trên sân sau ra sao trước khi tôi gọi bầy chim, sóc về ăn.


Ngày thứ Bảy hôm ấy, sau khi tôi lên giọng gọi “Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!” kêu chim sóc về ăn, tôi chợt linh tính có “ai đó” đang nhìn mình. Ngước đầu nhìn lên, tôi thấy em bồ câu trắng hôm trước đang đậu trên mái nhà tôi, và đang cúi đầu xuống nhìn tôi. Nó nhấp nhứ muốn bay xuống hòa theo bầy chim và sóc nhưng có lẽ nó e ngại điều gì đó nên còn lưỡng lự. Tôi hiểu ý, cố gắng dùng “lời ngon ngọt” với giọng nói nhẹ nhàng nhão nhoẹt để “vời” nó dời gót xuống sân cỏ bên dưới, nhưng nó gượm bước, đứng yên trong lúc chăm chú nhìn tôi và đám chim sóc ở phía dưới.



Hôm sau, sáng Chủ nhật, tôi dậy trễ, chưa kịp đem hạt ra cho chim sóc ăn, em bồ câu trắng đã đậu trên hành lang ngoài hiên sau, nơi tôi thường đứng rải hạt và ngắm bầy chim sóc, để đợi tôi.


Tôi đang bưng thau hạt, mở cửa sau, bước chân ra ngoài, chợt chững lại vì sự xuất hiện của em. Bồ câu trắng không tỏ ra sợ khi nghe tiếng động của cửa mở và cũng không sợ khi tôi đến gần. Em trông có vẻ mừng khi thấy tôi. Mắt không rời tôi, em điềm nhiên bước qua lại trên thành chắn của hàng hiên. Điệu bộ của em cho tôi hiểu là em lo ngại khi em không thấy tôi xuất hiện đúng giờ như em từng thấy. Thương em quá, tôi dịu dàng nói em hãy bay xuống sân cỏ ăn với bạn chim sóc đi. Dĩ nhiên là tôi nói bằng tiếng Việt như lần đầu tiên tôi gặp em. Thế mà không hiểu sao, em ngoan ngoãn nghe lời, bay xuống đám cỏ bên dưới chờ tôi rải hạt, và cao giọng kêu “Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!” để gọi chim sóc về ăn.




Từ đó, chim bồ câu trắng thường bay đến vườn sau nhà tôi ăn hạt với bầy chim sóc mỗi khi nghe tiếng tôi kêu “Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!”. Sự xuất hiện của nó sau tiếng gọi của tôi đã khiến cho người hàng xóm cạnh nhà tôi rất ngạc nhiên. Mọi người tưởng em chim bồ câu trắng này là thú cưng của tôi bị sẩy chuồng hoặc tôi từng là người huấn luyện loài lông vũ. Chính tôi không rõ vì sao em muốn làm quen và thân thiện với tôi. Mỗi lần họp mặt cùng bạn trong “tiệc họp mặt hàng ngày”, ăn hết hạt xong, các bạn em bay đi hay chạy hết, em vẫn ở lại lững thững trong vườn hay bay lên thành của hiên hàng lang nhìn xuống xem tôi dọn vườn.


                              
Sự xuất hiện của em mỗi ngày luôn làm tôi vui và an tâm. Tôi vui vì thấy em có dịp hòa vui cùng các bạn khác để giảm bớt sự cô đơn của em. Tôi an tâm vì tin em biết cách bảo vệ bản thân mình. Điều mà tôi lo sợ là màu lông sáng trắng của em dễ gây chú ý của những con chim ó, những con chim thỉnh thoảng núp trong cánh rừng sau nhà, rình chụp vồ mồi.

Sáng thứ Bảy và Chủ Nhật, em đến nhà tôi ăn từ lúc tám giờ sáng đến mười giờ trưa mới bay đi. Có lúc, tôi dọn vườn, quét lá xào xạc em vẫn bình thản đi tìm ăn trong sân cỏ chứ không sợ nhảy đi như sóc hay vụt bay như chim sẻ. Từ thứ Hai đến thứ Sáu, tôi thường đi làm từ sáng sớm đến năm giờ rưỡi chiều mới về nhà. Tôi không biết em có chờ tôi gọi cho ăn như hai ngày thứ Bảy, Chủ Nhật cuối tuần. Nhưng mỗi khi về nhà, vào đúng năm giờ chiều, tôi đã thấy em đứng trên mái chái nhà hàng xóm sát cạnh nhà tôi ngóng tôi.
  


Mỗi khi nghe tiếng cửa của nhà để xe của tôi kéo lên và gập xuống, là em đi qua lại trên mái chái, nôn nóng nhìn phía trước rồi phía sau nhà của tôi. Suốt hơn hai tháng, em đến chờ tôi đúng giờ đến nỗi chồng tôi phải tấm tắc khen: “Bồ câu mà biết giờ, đúng giờ không thua gì người!” Cũng vì em quá đúng giờ nên mỗi khi bước vào nhà là tôi quẳng chiếc giỏ đi làm trên ghế sô-pha, rồi tất tả lấy hạt hướng dương và hạt kê ra hiên sau, kêu “Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!” gọi chim, sóc về ăn.


Em Bồ câu Trắng chỉ chờ thế, bay sà xuống ăn hạt với bạn. Nhìn em Bồ câu Trắng ăn cùng các bạn chim, sóc và chuột sóc trong không khí hòa thuận và thân thiện, tôi hiểu rõ hơn sự nôn nao chờ đợi của em. Có lẽ đây là khoảnh khắc vui nhất trong cuộc sống cô đơn của em hiện thời.





Thương em, vợ chồng tôi đóng cho em một cái chuồng sơn màu rất đẹp và để chén đựng đủ loại hạt hầu mong em đến ăn và ở. Nhưng, em chỉ đứng trên mái nhà nhìn xuống với vẻ thờ ơ chứ không buồn bay xuống để ăn những loại hạt tôi mà tôi để dành cho em. Em cũng không bao giờ bay vào cái chuồng đẹp ấy để ngủ hay sống ở đó.




Thói quen duy nhất của em là bay đến nhà tôi khi tôi gọi “Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!”; hay chờ tôi đi làm về để được ăn hạt cùng bạn chim sóc. Có hôm trời mưa tầm tã, sấm chớp vang rền, em vẫn đứng trên mái chái nhà hàng xóm bên cạnh để chờ tôi. Tôi phải đội dù ra, năn nỉ em bay đi, nếu không, sẽ bị cảm lạnh. Thế mà, em vẫn đứng ỳ trên mái chái ấy. Tôi nói trong nước mắt vừa quơ tán dù xua em, cốt làm em sợ bay đi. Vậy mà em vẫn ương bướng đứng im, không nhúc nhích, cũng không hề tỏ ra sợ sệt với việc tôi bung ra, xếp lại tán dù nhiều lần. Tôi cảm thấy đôi mắt của em thật buồn và ẩn chứa một sự van lơn nào đó. Tôi đoán có lẽ em muốn tôi làm những việc mà tôi thường xuyên làm cho em trong hai tháng vừa qua là rải hạt và kêu các bạn chim sóc về cho em được ăn chung với chúng, và được tiếp xúc với chúng, ít ra một lần trong ngày. Nghĩ thế, tôi vào nhà lấy hộp hạt rải xuống khắp sân cỏ ướt nước rồi gọi lớn “Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!” Tưởng đâu, các loài chim khác và mấy con sóc đã trốn đâu đó vì trời mưa lạnh, nào ngờ chúng đều bay đến và chạy đến, hợp quần. Thấy vậy, em Bồ Câu Trắng vụt bay sà xuống với vẻ hớn hở. Em quây quần cùng mấy đứa chim sóc và cùng ăn hạt một cách từ tốn và thuận hòa như những ngày trước đó. Sau này, tôi mới hiểu sức chịu lạnh của những con thú hoang dã rất cao, chúng không hề sợ mưa lẫn tuyết. Chúng rất buồn khi phải sống trong cảnh cô đơn nên hầu hết đều muốn có tình bạn làm niềm vui trong cuộc sống. Không phải chỉ có em bồ câu trắng muốn kết bạn với các loại chim khác, các loài sóc và sóc chuột (Chipmunk) mà mấy con vật này cũng thích kết bạn với bồ câu trắng.


Tháng tư năm ấy tôi phải đi xa không thể tiếp tục công việc gọi các em về nhà ăn như những lần trước. Khi trở về nhà, tôi kêu “Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!” chỉ có hai con sóc quen thuộc là con “Bạn Thân” (Buddy) và con Kiên Nhẫn (Patience) đến ăn. Vài con chim khác xa lạ bay đến, đậu trên cành ngơ ngác nhìn, không rõ có phải là những con chim cũ hay không. Không hề thấy một con sóc chuột nào xuất hiện. Chim Bồ câu trắng cũng biệt tăm. Suốt hai tuần, tôi rải hạt, rồi kêu lớn “Tuýt tà tuýt tà tu! Tuýt tà tuýt tà tu!” nhưng lần nào cũng vô vọng.


Thuỳ My, bạn tôi ở Cali thích nghe tôi kể về những con chim hoang dã mà tôi “huấn luyện” nên đã có ý tưởng thay cái hồ trồng sen thành hồ tắm cho bầy chim sẻ và mua hạt cho bầy chim này ăn hàng ngày. Chúng tôi thường gọi điện thoại trao đổi cách nuôi chim, mua loại thực phẩm nào, thay nước sạch cho chúng ra sao và kể cho nhau nghe những màn hay và lạ của các em.


Thuỳ My nói “Mỗi lần ngắm tụi chim sẻ bay xuống ăn hạt và tắm mát, My thấy vui lắm vì mình đã làm chuyện hữu ích. Làm cho chúng vui là mình vui rồi! Vậy mà bây giờ My buồn ghê! Mới đi chơi hai tuần về, tụi nó đi đâu mất tiêu, không có con nào bay đến nữa.”


Tôi cũng kể chuyện bặt tăm của em bồ câu trắng rồi nói rằng:
“Loài chim vậy đó My. Hễ mình cho nó ăn thường xuyên thì nó còn đến. Nếu không, nó sẽ đến chỗ khác tìm ăn.”


Tôi định nói thêm:
“Không phải là chúng bạc bẽo mà vì chúng đến tìm mình nhiều lần, không thấy mình, chúng nghĩ mình đã bạc bẽo với chúng nên chúng đi nơi khác để tìm vui và tìm quên.”


Với ý nghĩ này tôi đã buồn rất lâu. Mỗi lần nghĩ đến em bồ câu trắng tôi nhớ ngày em chờ tôi dưới cơn mưa tầm tã. Và mỗi khi nghĩ đến em, tôi thường thấy lòng mình đau xót. Tôi không biết em đã kiên nhẫn chờ tôi bao nhiêu ngày trong thời gian tôi vắng nhà và em đã nghĩ gì trước khi “dứt áo ra đi, không bao giờ trở lại”. Có phải em nghĩ tôi là người bạc bẽo hay không?


Xin mời xem Youtube: 
1/Bồ câu trắng ăn với bạn chim, sóc, thỏ và sóc chuột
https://www.youtube.com/watch?v=-hjWN4HvW_8
2/Em Bồ câu trắng chê chuồng mái đỏ không chịu ở:
https://www.youtube.com/watch?v=Bso23QMg01c&t=1s
3/Ngày nào em Bồ câu trắng cũng đến đúng giờ
https://www.youtube.com/watch?v=pJKy4Ex_rLk

Cung Thị Lan
Tâm sự của cây Chổi
       Tôi sinh ra trong thời đại tân tiến; cho nên,  hình dáng, thể lực và khả năng của tôi vượt trội cha mẹ, cô bác, và  ông bà của tôi rất nhiều. Từ lâu lắm, tổ tiên của tôi được hình thành bởi tàu cau, lá dừa, xơ dừa, lau-sậy, rơm-rạ, bông-cỏ, hay đót  nên có nhiều dáng vẻ khác nhau, tuỳ thuộc tài đan kết, bện chặt các sợi mây của người thợ thủ công. Còn tôi, tôi hoàn toàn tân kỳ với thân hình cao ráo và vẻ đẹp  thanh thoát bởi loại nhựa dẻo có màu sắc hài hòa đầy tính nghệ thuật. Tôi rất tự hào về ngoại dạng xinh đẹp và sức làm việc bền bỉ của mình. Hơn thế nữa, tôi luôn luôn tự hào về truyền thống  làm sạch tất cả những nơi mà mọi người chê là dơ dáy, bẩn thỉu, mất vệ sinh. Bởi khả năng làm sạch của tôi hết sức thần kỳ, nên tôi cảm thấy mình giá trị hơn mọi thứ. Dưới mắt tôi,  mọi chỗ, mọi nơi đều  tầm thường và không giá trị. Chúng không thể nào bằng tôi, hay ngang hàng với tôi; nếu không muốn nói rằng chỉ có tôi mới làm cho mọi thứ sáng giá lên thôi! Công bình mà nói, chính mọi người cũng thừa nhận rằng “Quét nhà ra rác!” Rác rưởi, bụi bặm luôn luôn hiện diện mọi nơi mọi lúc; cho nên, càng dọn càng lại thấy thêm nhiều,  dọn hoài mà không hết. Vì thế, càng quét dọn, tôi càng coi thường mọi vật xung quanh tôi. Chúng lúc nào cũng dơ dáy, cũng bẩn thỉu. Chỉ có tôi mới là kẻ sạch nhất và có ích nhất.
        Một thời gian sau, nhiều lời phàn nàn trong nhà thường vang lên: “Lạ nhỉ! Sao cứ quét là nhà lại bẩn thế này!” Rồi sau đó,  thay vì tôi được đặt trong một góc phòng yên tĩnh và riêng tư, tôi bị ném ra ngoài sân ngay một góc vườn.  Tôi đã nằm trên gờ của khu trồng rau trong  rất nhiều ngày. Ban ngày, tôi đã phải chịu đựng những  tia nắng chói chang nóng rực của mặt trời.  Ban đêm, tôi phải co rúm vì sương lạnh ngấm thấm vào thân. Chẳng một ai đoái hoài đem tôi vào nhà. Mọi người hầu như quên hẳn tôi, quên cái công việc mà tôi đã tận tâm phụng sự cho họ bao nhiêu tháng ngày. Tôi chợt nhớ đến góc phòng, sàn nhà, sàn bếp, hành lang và cầu thang quen thuộc. Đó là những nơi tôi thường xuyên mắng nhiếc là dơ dáy, là bẩn thỉu  và là mất vệ sinh. Tôi tự hỏi không hiểu bây giờ ai đang làm sạch cho chúng, họ làm sạch bằng phương tiện gì và họ có mắng nhiếc chúng như tôi đã từng không?
Tối hôm đó, một buổi tối yên tĩnh như mọi đêm, nhưng tôi cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Tôi lo lắng tủi thân cho rằng mình bị ngược đãi và bỏ rơi. Nước mắt của tôi bất giác trào ra rồi tuôn rơi từng giọt, từng giọt. Chúng ngậm ngùi lăn xuống, lan ra và ngấm vào thân thể của tôi khiến tôi lạnh run. Một lúc lâu sau, bầu trời đêm bỗng lóe lên những tia chớp ngoằn nghèo cùng tiếng sấm vang dội gầm lên khiến tôi giật mình, sực tỉnh. Lúc ấy, tôi mới ý thức những giọt nước trên thân thể tôi không phải là nước mắt mà là nước mưa. Cơn mưa lớn đang trút nước ào ào xuống và  thân thể của tôi  hoàn toàn đẫm ướt trong nước.
  Sáng hôm sau, khi mặt trời gần lên tới đỉnh, tôi cảm thấy thân thể mình nhẹ nhõm  và khô ráo. Lúc này, tôi mới ý thức được rằng thân thể tôi vừa được gột rửa và làm sạch bởi một cơn mưa lớn. Thì ra, bấy lâu nay tôi chì chiết mọi thứ xung quanh dơ dáy nhưng tôi không biết bản thân mình cũng dơ dáy không kém gì. Tôi chưa từng có cơ hội làm sạch cho bản thân mình, chưa từng có cơ hội soi rọi chính mình. Tệ hại hơn, mỗi lần tôi xảnh xẹ, làm gái làm mụ chê bai kẻ khác khi làm sạch cho họ là mỗi lần tôi đã tự làm mình dơ dáy thêm nhiều. Bởi vậy, sau này, khi tôi gom được vài cọng rác thì tôi đã lưu lại những vệt bụi rất dơ và rất bẩn. Thế mà tôi có biết gì đâu!
 Buồn phiền với những ý nghĩ mông lung, tôi chợt giật mình bởi giọng nói của cô gái oang oang vang lên: “Mẹ ơi! Cái chổi hôm trước mình bỏ ở ngoài vườn, nay nó  sạch bóng à mẹ!” Lòng tôi mở cờ, chứa chan hy vọng được trở lại làm việc bình thường. Chợt có tiếng nói trong nhà vang ra:
“Nhờ mưa nó mới được thế đấy con! Mà nó sạch mấy mẹ cũng không dùng nữa! Con đem nó ra thùng rác phía trước nhà hộ mẹ đi! Hôm nay là ngày người ta lấy rác đó!”
        Nước mắt của tôi ứa ra. Tôi biết rõ mình không còn là kẻ có ích trong ý nghĩ của mọi người nên số phận của tôi lâm vào đường cùng là tất yếu. Tôi chỉ hối hận  là mình đã khinh khi mọi thứ dơ bẩn để rồi tôi sẽ kết thúc cuộc đời mình tại một nghĩa trang rác nào đó. Thật đáng nực cười rằng tôi thường luôn miệng chê bai mọi thứ dơ dáy để rồi tôi vùi thân mình trong một nơi không sạch sẽ gì.
                                                                           Cung Thị Lan
 
Món quà bất ngờ từ văn thi hữu thân thương
nhân ngày 09/09/2021