Kỷ Niệm Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa



NGÀY QUÂN LỰC TRÊN ĐẤT KHÁCH
        Hơn bốn mươi năm vất bỏ kiếm cung
          Lính già  lưu vong trông vẫn oai hùng
          Tóc đã hoa râm, hai màu đen trắng
         Trông còn hiên ngang, màu da sạm nắng.
 
          Mười chín Tháng sáu, nhớ Ngày Quân Lực
          Quần áo hoa rừng, mũ đỏ, mũ xanh
          Nhịp gót giày theo tiếng nhạc quân hành
          Như từng diễn hành trên đường Thống Nhứt.
         
         Chân bước đi mà lòng buồn ray rứt
          Nhớ kỷ niệm xưa nghe dạ bâng khuâng
          Thêm một nỗi lo, lễ nầy năm tới         
          Đôi chân già còn bước nổi nữa không?
         
                                Hoa Đô, Ngày 19-6-2021
                                              Lão Mã Sơn
         
MỘT THỜI LÍNH TRẬN
(nhân ngày Quân Lực 19/6, post lại bài thơ cũ)
Ta từng có một thời làm lính trận
Súng đạn, ba-lô trĩu nặng đôi vai
Tuổi đôi mươi sá gì đời sương gió
Mộng sông hồ cho thỏa chí làm trai.
Chắc tay súng nơi tuyến đầu lửa đạn
Ngăn bước thù gieo tang tóc đau thương
Mong quê hương nhà nhà vang tiếng hát
Cho mẹ già, em gái bớt lệ vương.
Rồi từ đấy đi vào miền gió cát
Mảnh chinh y thấm máu bạn, máu thù
Có những lúc dừng quân sau tuyến lửa
Tiễn bạn mình vào chốn nghỉ thiên thu !
Đêm từng đêm dừng quân trên đất địch
Dưới chiến hào đợi giặc lúc trăng lên
Chợt một thoáng mơ về nơi phố thị
Nhớ người yêu ta thầm khẻ gọi tên !
Nhưng quê cũ vẫn một màu tang tóc
Súng đạn quân thù xé nát làng quê
Đất nước đau thương ngập tràn tiếng khóc
Lính trận ra đi mãi bước không về.
Tháng tư đến trong nghẹn ngào uất hận
Ta vào tù biệt xứ tận biên cương
Mình mất nhau khi tàn cơn binh lửa
Và cuối cùng…đánh mất cả quê hương !
Lê phi Ô
NGHIỆP NHÀ  BINH !

Thương câu “Chiến hữu vai huynh  đệ”,
Cuộc sống chẳng nề chữ tử sinh.
Anh đến chiến trường làm pháo thủ,
Tôi yêu đời lính:… nghiệp nhà binh.

              *

       *.            *

Tôi đã quen đường bay đạn pháo,
Anh thuộc lòng tọa độ địch quân.
Chiến trường, máu lửa vui tình bạn,
Thơ vẫn hồn nhiên kể chuyện tình.


Nhớ khi hoả pháo thay trăng sáng,
Thương buổi mưa chiều phủ đạn bom.
Anh vẫn tiếng cười vang trên máy,
Tuyến lửa!…bên nhau  bạn xóm chòm.

Mưa bom, lửa đạn quanh hầm nhỏ,
Áo trận,…phong-sương tuổi học trò.
Tao-mầy!…thân quá trong tình lính,
Lên máy vài câu quên lửa binh.

Băng tầng liên lạc “SANG SÔNG NGẮN”,
Tán gẩu vài câu… Huế lắm tình.
O nhỏ dể thương “CHÈ CỒN HẾN”,
Xôi gà buổi sáng, chợ ĐÔNG-BA.

Chiều hôm THƯƠNG BẠC vui trăng sáng,
GIA HỘI !…quán nghèo “TA với TA”.
Nâng chén “THIÊN-TƯỜNG” quên mưa bụi,
Cạn cóc “ĐÔNG-HIÊN”,…lính xa nhà.
            *

       *.        *

BÂY GIỜ VẠN NẺO, ĐỜI MUÔN NGÃ,
BIẾT ĐẾN BAO GIỜ TA GẶP TA? 
LÝ BỬU LỘC 
(Tặng các bạn ĐỀ-LÔ của TĐ11PB/SĐ1).
Bài Phóng sự: Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa năm thứ 56 tại Virginia ĐÀO HIẾU THẢO
Nhớ Ơn 
 
Nhớ mãi lớp người đã dấn thân 
Gìn sông giữ núi đẹp muôn phần 
Xông pha chiến đấu hờn gian quỷ 
Đảm lượt hy sinh chống bạo thần 
Ôm súng quanh năm phơi nắng hạ 
Gối đầu suốt tháng đội mưa xuân 
Vô danh chiến sĩ vùi lòng đất 
Tưởng niệm muôn đời khắc dạ dân 
               Minh Thuý 
                          THĂM CHỒNG CẢI TẠO

         Em đến thăm anh rừng chiều chưa tắt nắng 
         Bóng hoàng hôn loang lổ gót đường mòn
         Con trâu già bỏ cầy đi kéo gỗ
         Em theo xe vào trại giữa chiều đông.

         Rừng hoang vắng âm vang chim cú rúc 
         Người công an bồng súng sẵn trên tay 
         Em rụt rè, con bám quần sợ sệt  
         ” Xin một lần được gặp- tên chồng tôi đây!” 

         Có ai ngờ bóng  hình  xưa phai  mất 
         Gặp người yêu không phải buổi tan trường 
         Trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm , Trưng Vương cũ 
         Mà bây giờ là rừng núi mênh mông.

         Em xót xa ngắm đường rừng vừa tới 
         Bóng trâu già kẽo kẹt  vó quay đi 
         Bỗng chép miệng : Anh, con ngựa già Chúa Trịnh 
         Đến bây giờ con ngựa chẳng còn chi 

         Em căm giận, nắm cỏ xanh buộc mõm 
         Nguyễn Cao Kỳ , ông còn nhớ không, ông.?
         ” Phải tử thủ Sài Gòn, thằng nào không nghe
          Ông bắn bỏ! .”
          Hạ lệnh  rồi , ông chạy trốn cho nhanh.
          
          Em bơ vơ giữa rừng chiều hoang vắng 
          Đứa con thơ  sợ sệt niú bên quần 
          Chiếc quần đen  đã mấy ngày chưa giặt 
          Vá chịt chằng . Con nắm củ khoai lang 

          Nước mắt em nhạt nhoà rơi trên má 
          Lăn xuống hoài, gịot giọt trên đầu con 
          Đôi mắt nó tròn xoe nhìn em ngơ ngác 
          Miệng bụm khoai lang , gặp bố giữa rừng hoang.  
          1981
          ( Kỷ niệm thăm chồng tại trại cải tạo Xuân Phước, Phú Khánh )

                                Thư Khanh 
Thăm Chồng
Đỗ Dung
 
Vi thu xếp dọn hàng về sớm hơn thường lệ.  Hôm nay gặp may Vi được một mối hời.  Một bà khách dáng vẻ một người phúc hậu, giàu có, đưa một bọc toàn những áo thun, quần jean, thêm quần áo trẻ con đắt tiền còn tốt nguyên và tự đưa ra một giá rẻ mạt.  Vi giở ngay gói tiền đếm đưa bà, không cò kè thêm bớt.  Trước khi đi bà còn giúi vào tay Vi một mẩu giấy nhỏ ghi địa chỉ của bà và nhắn Vi đến nhà, bà còn nhiều thứ muốn bán.
Vừa bày những món hàng mới mua Vi đã gặp ngay khách sộp, có hai quần jean thôi mà đã hơn giá Vi trả cho bà khách để mua nguyên cả bọc lớn.  Ngoài ra Vi lại bán thêm được mấy cái “đài” và vài món qùa vặt vãnh cho mấy chú bộ đội cũng được giá.
Trên đường đạp xe về Vi ghé mua cho bé Tường Vân một cái bánh giò,  một phong bánh đậu xanh để mẹ uống trà buổi sáng và một cân giò lụa cho cả nhà.  Vi định bụng sau bữa ăn sẽ rủ Mai hoặc Quỳnh cùng đến nhà bà khách xem có mua thêm được món gì nữa không.
Vừa thấy Vi, bé Vân lủn tủn chạy ra bi bô đón mẹ.  Mai nhìn chị tủm tỉm cười:
–     Chị Vi có tin vui.
–     Cái gì?
–     Thư anh Tùng.
Mai phất phất chiếc phong bì vàng úa dứ trước mặt Vi, Vi chạy vội lại giật lấy, run run bóc.  Trong phong thư ấy chỉ vỏn vẹn một tờ giấy phép thăm nuôi lạnh lùng.  Vi bàng hoàng bật khóc trong nỗi tủi thân, Tùng không kèm thêm được cho nàng một lá thư nữa sao.  Nỗi mừng sắp được gặp chồng không bù nổi với nỗi hờn giận dâng trào.  Nét bút của Tùng, dòng chữ thân yêu rõ ràng ghi địa chỉ trên bao thư mà sao Tùng nỡ lòng nào không viết thêm cho nàng vài chữ cho thỏa nỗi nhớ thương, những đau khổ nhọc nhằn của nàng trong thời gian qua. Không một lời thăm con, không một lời hỏi vợ.  Nghĩ miên man mà nước mắt nàng cứ tuôn.
Mai hoảng hốt cầm tờ giấy lên đọc, quay lại nhìn chị cười xoà:
–     Bà Vi này buồn cười thật.  Đúng là mít ướt, buồn cũng khóc, vui cũng khóc.  Sắp được đi thăm chồng, anh Tùng lại ở ngay thành Ông Năm, Hóc Môn gần xịt.  Hai tuần nữa đến ngày thăm rồi, chị lo sửa soạn, Mai sẽ đi phụ chị khuân đồ và trông con bé Vân cho hai ông bà tha hồ mà tỉ tê.
Rồi Mai hạ giọng:
–     Đừng làm mẹ buồn.  Bố chưa có phép thăm kìa.
Vi gạt nước mắt nhìn Mai như biết ơn và chợt nghĩ biết đâu người ta không cho phép Tùng viết chứ Vi biết, Vi hiểu Tùng mà, không lẽ có dịp mà chàng lại không nhắc nhở tới vợ con.
Hai tuần lễ chờ đợi, hai tuần lễ trải dài nhung nhớ, Vi làm một danh sách những gì cần đem theo khi vào thăm nuôi, thuốc men, đồ ăn, vật dụng, quần áo…Hàng ngày Vi vẫn phải đến sạp hàng của mình ở khu chợ trời để mua bán, bán mua. Buổi tối về soạn lại danh sách đồ thăm nuôi để thiếu gì thì sáng hôm sau sẽ đi mua thêm trước khi dọn hàng.  May mắn, qua mối hàng của bác Thụy, người đàn bà sang trọng đến bán quần áo cho Vi bữa trước, ba chị em Vi được giới thiệu đến những gia đình quen của bác đã được giấy tờ bảo lãnh của thân nhân ở nước ngoài và đã có danh sách chuyến bay, giúp họ bán đồ đạc trong nhà trước khi đi định cư nước khác.  Mấy chị em Vi cũng kiếm được khá tiền.
Hai ngày trước khi đi thăm Tùng, Vi nghỉ hẳn ở nhà lo xếp dọn, nấu nướng. Thuốc men đã mua đầy đủ, Vi còn cẩn thận nhét thêm một lọ dầu xanh, một lọ dầu Nhị Thiên Đường và một túi nhỏ sâm lát.  Đồ ăn khô đã gói ghém cẩn thận, tôm khô, bột đậu đủ thứ, mè đã rang, trộn muối, giã sẵn từ trước, mấy túi bột gạo lức, một bịch thịt chà bông lớn, một bịch kẹo và một bịch đường, vài hộp sữa đặc.  Vi cẩn thận xếp mỗi thứ vào hai lớp túi ni lông cho chắc.
Vi mở tủ lạnh lấy thau thịt nạc đã được thái hình khối vuông to bằng nửa quân cờ, ngâm nước mắm, đường, hành tỏi và một tô thịt rọi luộc chín thái hạt lựu ướp tỏi và xả ớt từ hôm qua. Trời chợt đổ cơn mưa rào, mưa rơi lộp độp trên mái tôn nhà bếp.  Một cơn gió lạnh lướt qua khiến Vi chợt rùng mình, lửa trong chiếc bếp dầu hôi vẫn bập bùng. Sau khi phi tỏi, bỏ nắm xả bằm vào cho thơm, Vi đổ tô thịt rọi vào chảo xào cho săn thêm miếng thịt.  Chỉ hai ngày nữa thôi Tùng của Vi được ăn những món nàng đang nấu đây. Tùng ơi, anh biết em nhớ anh dường nào không.  Tay đảo đều và nước mắt Vi lại ứa ra. Hơn một năm trời xa cách nhớ nhung, Vi nhớ lại những kỷ niệm êm đềm ngày hai người hò hẹn rồi đến những nỗi oan khiên, cơn sóng gió đổ ập xuống trước ngày cưới. Ngày chào đời của con bé Tường Vân, những hạnh phúc êm đềm, ngọt ngào của một gia đình nhỏ.  Vi đổ từ từ bát mắm ruốc vào chảo thịt, thịt và mắm cứ thế quyện vào nhau và cứ thế Vi xào xong chảo thịt rọi mắm ruốc thơm lừng, rắc thêm chút hạt tiêu xay, sau khi trộn đều nàng nhấc chảo sang một bên chờ cho nguội. Vi lấy một chảo to khác bắt đầu món ruốc sỏi.
Có tiếng cửa mở, mẹ Vi  xách một giỏ nặng ướt lướt thướt bước vào, rũ chiếc áo mưa, xuống bếp thấy con gái đang rang chảo thịt, bà nhắc:
–     Con để nhỏ lửa, đun liu riu cho thật cạn, nhớ cho nhiều nước mắm, nấu cho thật cô đặc vào miếng thịt.  Hong trên bếp lửa thật nhỏ cho khô, mai được nắng phơi thêm cho thật nỏ thì mới để được lâu.  Mẹ mới ghé chợ mua cho anh Tùng ký đường thẻ, bọc chuối khô, con cá khô, mấy bao lương khô và mấy bao thuốc lá. Mẹ biết anh Tùng không hút thuốc nhưng cứ phòng xa, nhỡ có lúc cần chia sẻ với bạn bè hay lo lót cho mấy người quản giáo.
Bà chép miệng:
–     May trời thương các con buôn bán khá, có đồng ra đồng vào chứ nếu không thì cơm còn chẳng đủ ăn lấy đâu mà lo quà cáp.
Bà lại thở dài:
–     Không biết bao giờ mới đến lượt thăm bố con. Không biết ông bị đày ải tận đâu, sống chết thế nào.  Mẹ lo quá.
Vi nhìn mẹ xót xa. Nhớ bố, thương mẹ mà biết nói gì đây.
Hôm sau nắng to, Vi nghe lời mẹ trải mớ thịt đã hong khô ra phơi. Những viên ruốc sỏi thật khô, thơm mùi nắng.
Cả buổi chiều Vi ngồi sắp xếp mọi thứ vào hai chiếc giỏ cói to, cũng may Mai ra bán hàng thay chị thấy có người đem bán mấy lon sữa Guigoz không, Mai mua hết đem về cho chị.  Những cái lon nhôm này đa dụng lắm. Vi lèn chặt mắm ruốc vào ba lon, ruốc sỏi vào ba lon, còn thừa một chút để lại nhà ăn.  Vi cuốn mấy tờ giấy bạc như điếu thuốc, bọc ni lông cẩn thận nhét dưới đáy lon mắm ruốc. Nàng không quên bỏ mấy quần đùi vải, hai bộ bà ba xanh đậm bằng vải thô, chiếc áo len, chiếc khăn mặt, cục sà bông và bàn chải cùng ống kem đánh răng, một xấp giấy viết thư, phong bì, tem và tấm ảnh của hai mẹ con mới chụp. Cuối cùng cũng thành ba giỏ.  Xách thử thì giỏ nặng, giỏ nhẹ, Vi lại giở ra xếp lại cho ba giỏ nặng đều.  Ngày mai cô Mai sẽ xách cho chị hai giỏ,  Vi xách một còn một tay nàng dắt bé Tường Vân. Vi nhắc Mai nhắn ông Ba xích lô máy vẫn thỉnh thoảng chở hàng cho Vi nghỉ một buổi đưa chị em Vi lên Thành Ông Năm.
Cả đêm Vi trằn trọc không ngủ, nghĩ ngợi lung tung, chuyện cũ, chuyện mới chập chùng.  Mệt qúa nàng thiếp đi, nàng bỗng thấy hai vợ chồng nàng cùng nắm tay con đi trong khu vườn đầy hoa đẹp dị thường, thỉnh thoảng hai người nhấc bổng bé Vân lên, con bé cười khanh khách.  Nắng vàng tươi, trời trong xanh nhưng sao lại mưa, mưa nhẹ, những hạt mưa nhỏ như những hạt bụi, mong manh như những sợi tơ trời.  Con bé buông tay cha mẹ ra, tung váy quay tròn, nàng cũng quay tròn, hai vạt áo dài quấn quýt bay.  Mưa, mưa trong nắng hiện lên những vệt cầu vồng …đẹp, đẹp quá.  Vi như ngụp lặn trong niềm hạnh phúc tuyệt vời.
–     Vi,Vi…Dậy đi con, sáng rồi.
Mẹ lay nhẹ đánh thức Vi, nàng mở mắt nhìn quanh.  Qua cửa sổ, bầu trời đã sáng ra như màu sữa loãng. Tiếc quá, nàng đã trở về thực tại sau một giấc mơ hoa.
–     Vi ơi, trại anh Tùng ở gần, con lại đi xích lô máy không vất vả, con sang quán bác Đạo mua cho anh tô phở, nước bỏ riêng vào bình thủy, khi ăn chan ra cho nóng.  Mẹ có bỏ mấy qủa quýt để khi gặp nhau bóc ra ăn cho đỡ khát nước. Đợi ông Ba tới thì chị em đi. 
Quỳnh nghe mẹ nói không chờ sự đồng ý của Vi xách gà mên và bình thuỷ chạy ngay sang quán phở mua cho chị. Mẹ Vi lấy thêm chiếc giỏ ni lông vẫn đi chợ có mặt đáy phẳng và cứng sắp gà mên phở, bình thuỷ, đũa muỗng cho con, thêm mấy cái bánh giò, bánh dầy chả, mấy qủa quýt cho các con đi ăn dọc đường.
Người ngồi trước mặt Vi là Tùng đây sao.  Vi ngỡ ngàng, lạ lẫm, bàng hoàng.  Mặt Tùng như biến dạng, đen đủi.  Cả người như chỉ còn da bọc xương. Đầu chàng như chiếc sọ khô, hai mắt sâu hoắm.  Đôi chân như hai cây sậy bơi trong ống quần.  Hai cánh tay khẳng khiu như hai que củi.  Hơn một năm trời bị đầy đọa, thiếu ăn mà thể xác biến đổi đến thế sao.  Vi nhìn Tùng đăm đăm, nỗi xót thương trào dâng, nước mắt tuôn như suối.
–     Anh Tùng, cố giữ gìn sức khỏe. Phải mạnh khỏe nghe anh.
Tiếng nói như pha tiếng nấc tức tưởi, nghẹn ngào.
Tùng yên lặng nhìn như muốn nuốt chửng vợ con, nước mắt muốn trào ra mà cố nén.  Rồi tiếng nói như từ cõi xa xăm:
–     Anh nhớ em, nhớ con.  Anh lo cho em và con.  Gặp em, nhìn thấy em thế này là anh yên chí.  Em cố lo làm ăn với Đỗ Quyên, đừng lo lắng cho anh.
Bé Tường Vân nhìn cha sợ sệt, hình ảnh của bố Tùng khác hẳn, mẹ Vi hàng đêm vẫn lấy hình bố ra kể chuyện cho con về bố. Vi đẩy con bé về phía Tùng
–     Con mi bố đi, bố Tùng đó.
Bé Vân nhìn mẹ, nhìn dì Mai như dò hỏi, Vi bế hẳn con lên, đặt nó lên bàn đẩy về phiá Tùng, Tùng nhân cơ hội chuyền sang tay Vi một cuộn giấy con quấn chặt như điếu thuốc lá. Nàng cầm lấy và bỏ ngay vào túi áo bà ba.
Chiếc bàn dài ở giữa cách ngăn, hai vợ chồng trẻ im lặng nhìn nhau. Thỉnh thoảng nghe tiếng nấc uất nghẹn của Vi.
Mai lẳng lặng lấy phở sắp ra tô, lấy bình thuỷ rót vào bát phở, nước dùng nóng còn bốc khói mời anh ăn rồi lấy cớ bước ra ngoài.  Căn phòng thăm nuôi dài, thông thống như quán chợ, hai dãy bàn ghế kê nối đuôi nhau, dãy này song song với dãy bên kia.  Người thăm và người học tập ngồi đối diện nhau qua chiếc bàn dài.  Hai đầu dãy mấy người bộ đội đứng gườm gườm kiểm soát.
Nhìn khung cảnh xung quanh, những buồn vui hội ngộ, những giọt lệ ngắn dài, những phờ phạc âu lo… Có những bao qùa to tướng, có những bọc quà quá khiêm nhường.  Những bà mẹ hay người vợ từ xa đến cũng xác xơ, tiều tụy.  Những đứa bé ngỡ ngàng, những đứa con lớn, hiểu biết hơn nhìn cha mà gục đầu rưng rức khóc.  Nhưng tội nhất vẫn là hình dung xác xơ của những người học tập.  Dù chưa đến nỗi rách rưới tang thương nhưng áo đã sờn, quần đã bạc phếch.  Mặt rõ là đói và hiện lên những nỗi lo lắng, ưu tư.  Lưng quần thắt chặt cho khỏi tuột thì dúm dó đằng trước, dồn cục đằng sau vì chiếc quần từ ngày đi nay đã trở thành qúa rộng. Tuy nhiên các anh vẫn còn một nét gì đó của những người đã từng có một thời hiên ngang. Nghĩ đến Vi, Mai thương chị nhưng cũng thầm biết chị mình còn may mắn hơn nhiều người. Cuộc sống chưa đến nỗi thê lương và đi thăm chồng không đến nỗi vất vả quá.  Nghĩ đến ông anh rể Mai cũng bùi ngùi.
Qua giây phút xúc cảm ban đầu, Vi thủ thỉ kể chồng nghe những công việc của nàng bây giờ.  Nàng kiếm tiền được, cuộc sống êm đềm bên mẹ và hai em.  Bé Vân ngoan, được cả nhà thương yêu dạy dỗ, sang năm bé đã đến tuổi vào Mẫu giáo. Tùng làm quen con bé, bón cho con ăn và lấy ngón tay quẹt nhẹ vào người, chọc lét cho con bé nhoẻn miệng cười.  Niềm vui như trở lại với gia đình nhỏ bé, hai cha con ăn xong bát phở Vi bóc quýt cho cả nhà cùng ăn. Con bé Vân đã quen với bố nũng nịu nói:
–     Sao bố đi lâu qúa?  Bao giờ bố mới về với mẹ, với con?
–     Bố đi học, bao giờ học xong bố về.  Con ở nhà phải ngoan, phải nghe lời bà, nghe lời mẹ với các dì.  Bao giờ bố về bố sẽ thưởng con nghe!
–     Bố cũng phải ngoan nghe!  Bố học giỏi nghe!  Bố mau về nghe!
Tiếng trẻ ngây thơ, ríu rít đem lại không khí đầm ấm, hai người đã có lúc cười vì những câu nói ngây thơ của con bé.  Mai quay lại thấy không khí bớt căng thẳng cũng ngồi xuống góp chuyện hỏi thăm anh về những ngày sống xa gia đình, những người bạn tù của anh.  Mai nhí nhảnh lôi ra mấy chiếc bánh dầy, bánh giò đem theo, nháy mắt đưa Tùng:
–     Anh cho em gửi đến chàng nào còn độc thân, cô đơn nhất trại!
Tùng cũng vui lây với lời nói đùa của cô em vợ, tố theo.
–     Cô Mai nói đấy nhé, chịu có người yêu học tập anh sẽ làm mai.
Sau những câu chuyện trao đổi với hai chị em Vi, Tùng như cất được gánh nặng.  Trong trại, nỗi lo âu nhất của Tùng là không biết mẹ con Vi xoay sở ra sao với hoàn cảnh mới. Tùng biết Vi mảnh mai, yếu đuối, tình cảm dạt dào và rất mau nước mắt  Nay thấy Vi mạnh mẽ, lanh lợi ra Tùng rất yên tâm nhưng nghĩ lại phận tù tội của mình, cứ vài tháng lại có danh sách chuyển trại, những hồi hộp lo âu không biết bao giờ đến lượt mình  và biết ngày nào được về với vợ con.  Nhìn khuôn mặt yêu kiều của Vi lòng chàng quặn đau.  Nghĩ đến lòng chung thủy của vợ chàng lại càng xót thương.
–     Vi, như anh đã nói, chị em chịu khó làm ăn với cô Quyên, phần anh có nhà nước lo.  Nhớ nghe lời anh.
 Tùng dặn đi dặn lại việc làm ăn với Quyên vì khi Tùng ở nhà đã có tin Quyên đến bến bờ tự do. Vi hiểu Tùng muốn nhắn nàng cứ tìm đường đem con vượt biên, đừng lo lắng cho Tùng. Vi rưng rưng:
–     Anh Tùng, em mong anh giữ sức khỏe, học tập tốt anh sẽ về, chúng mình sẽ đi thăm bác Vĩnh (anh của mẹ Vi ở Thuỵ Sĩ).  Em chờ anh.  Ráng học tập tốt để mau về với em, với con. Em chờ, anh yên tâm, mẹ con em chờ anh.
Mai tiếp lời:
–     Mẹ biết anh không hút thuốc nhưng cũng mua thuốc tặng anh để thỉnh thoảng anh ngoại giao đấy.
–     Anh gửi lời cám ơn mẹ, anh sẽ chia cho mấy người bạn, có thuốc lá họ mừng lắm. Hồi này họ phải hút thuốc lào rồi.  Anh không cần phải ngoại giao với ai hết Mai ạ.
Như chợt nhớ ra Tùng lấy trong chiếc túi vải vẫn để dưới chân nãy giờ những món quà tặng.  Cái ly nhỏ xíu bằng nhôm của bé Vân khắc hình con gấu xinh xinh ngồi trên thảm cỏ bên những bông hoa nho nhỏ. Chiếc lược bí khắc hình con hạc với dòng chữ Kính biếu mẹ.  Ba cái lược nhỏ gọn trong lòng bàn tay, một chiếc khắc hoa Tường Vi với dòng Em yêu dấu, lược tên Diễm Quỳnh với đóa Quỳnh Hương và Ngọc Mai với một cành Mai dịu dàng.
–     Những lúc rảnh rang trong trại tụi anh làm, quà kỷ niệm của anh đây.
Tiếng kẻng vang lên báo đã hết giờ thăm nuôi.  Bịn rịn, rưng rưng, bùi ngùi, lưu luyến…chưa có cuộc chia ly nào ngậm ngùi kẻ ở người đi như cuộc chia tay não nùng sau buổi thăm tù cải tạo lần đầu tiên.
 
Đỗ Dung
NHỚ SÔNG, NHỚ BIỂN.
Anh bây giờ như một xác tàu không,
Nằm phơi mình trên bờ cùng năm tháng,
Anh đếm mây trời qua đây phiêu lãng,
Biết bao giờ mây dừng kiếp giang hồ?
                 Biển và sông vẫn đang đợi tàu về,                                
                 Những con sóng ngàn năm lên tiếng gọi,
                 Xác tàu buồn nhớ một thời trôi nổi,
                 Nhớ áng mây bay lơ lửng chiều tà.
Anh bây giờ người thủy thủ đã gìa,
Nhưng hồn anh vẫn một thời trai trẻ,
Anh vẫn là cánh buồm căng lộng gío,
Trên cột buồm vươn thẳng giữa trùng khơi.
                  Đứng trên bờ nhớ góc biển, chân trời,
                  Hồn anh lại là những khoang tàu ướt,
                  Chuyến hải hành biển vào mùa gío chướng,
                  Sóng đánh tràn vào vẫn đẹp như thơ.
Và khi biển êm anh cũng mộng mơ,
Màu nước biển xa bờ, màu xanh qúa,
Mặt rám nắng, tóc rối bời vì gío,
Hai bàn tay anh vì biển dạn dày.
                   Khi tàu qua sông bờ cỏ gío lay,
                   Bao thương nhớ dù sông dài hay ngắn,
                   Anh là lính giữ bình yên sông nước,                  
                   Để thuyền ai về đẹp giữa sông quê.
Anh bây giờ người thủy thủ lên bờ,
Bao nhiêu năm đã rời xa sông biển,
Sóng ở đâu cũng thấy màu áo trắng,
Sông biển nào cũng thấy kỷ niệm xưa.
                 “Tổ quốc đại dương” lồng lộng màu cờ,
                 Bay ngạo nghễ khi tàu, thuyền rẽ sóng,
                 Giữa đời thường hôm nay anh đang sống,
                 Vẫn chạnh lòng thời lính biển ngày xưa.
     Nguyễn Thị Thanh Dương
Nhớ Anh
(Kỷ niệm với Phan Lạc Giang Đông)

Ngày sinh nhật em – anh không về được
Nắng quân trường thao tác rã mồ hôi
Đôi giày đinh ba tháng trời – lau vội
Áo treizi bụi bám đỏ …lên mùi 

Chiếc khăn thêu em tặng anh ngày nọ
Kỷ niệm đầu – anh vẫn để ba lô
Quyển nhật ký ghi từng ngày thương nhớ
Vẫn dày thêm dòng mực tím mong chờ

– Ngày cuối tuần anh mừng vui như Tết
Về Sài Gòn là tức tốc thăm em
Dưới gốc me…bóng Nàng đợi chung tình
Em kiều diễm – nhoẻn nụ cười má lúm …

Dang đôi tay cho hôn vào má lúm
Gió thì thầm khen đôi bạn uyên ương..
Ơi Tình yêu ! Trời đất cũng nghê thưòng
Chùm mây trắng bỗng dưng như trẻ lại 

Đôi chim trên cao hát bài ca mới
Đậu trên cành ríu rít chẳng bay đi …
– Thương qúa đi em …chiều tắt nắng gần kề
Nắng hoàng hôn sài Gòn …tuyệt đẹp…

Gió hiu hiu níu hoài không muốn tắt
Quán nước dừa …cô bé đợi đôi ta 
Áo bà ba cô bé rất hiền hoà
Nụ cười mỉm …mang theo nhiều dí dỏm 

Cô bé Miền Nam vừa ngoan vừa đảm
Thay mẹ nuôi em vất vả từng ngày
Đôi mắt Nàng vướng vất chút thơ ngây
Già trước tuổi bởi chiến tranh tan nát!

Rồi …
– Chả lẽ chúng ta không vào quán
Suốt cả tuần Huấn Nhục – Khát mang theo
Khát môi Em – hương vị ngọt tình yêu
Và khát cả ly dừa xiêm mát lịm …

Ơi Em yêu!
Ngày Quân Trường Huấn Nhục
Lỡ không về mang quà tặng cho Em
Ngày Sinh Nhật Em …
Nào có bao giờ quên …
Và càng Nhớ … Khi anh không về được …!

Thư Khanh 
(riêng tặng Phan Lạc Giang Đông và các Sĩ Quan từng học ở Quân trường Võ Bị Thủ Đức của VNCH ).
TIỄN TINH ANH HÙNG

Rừng thiêng nước độc tha ma
Không chim không thú không quà thăm nuôi
Thân yêu vượt biên hết rồi
Hay là giặc cướp chôn vùi xác xơ

Xương tàn cỏ úa rêu mờ
Không tên không tuổi sững sờ thần kinh
Tình nhà nợ nước quê mình
Tiền nhân hận hải cháy đình địa linh

Tháng tư đen đỏ tội tình
Tâm hương một nén tiễn tinh anh hùng
Ru anh suối ngọt bao dung
Dỗ anh sương núi mưa rừng gió trăng

Đạn tha tên tránh sống nhăn
Đội trời đạp đất chống ngăn hung tàn
Ai ngờ gãy cánh đại bàng
Gươm thiêng chiến mã khăn tang tóc sầu

Đất thiêng tiên bồng anh đau
Lửa thiêng hồn nước chôn nhau mẹ chờ
Đất bằng sóng dậy vỡ bờ
Đại nghĩa cứu nước dựng cờ diệt gian

Xin anh rong chơi thiêng đàng
Cháu con anh thật cao sang thành tài
Tre tàn măng mọc thiện tai
Chim hồng lạc tổ vẫn hoài hương quê

Một mai văn minh đi về
Dời non lập mộ bia thề ghi công
Cốt nhục tâm linh tương thông
Ruột mềm máu chảy tiên rồng còn nguyên…

MD.04/14/12
LuânTâm
       ĐỪNG HỎI VÌ SAO

Xin đừng hỏi vì sao tôi yêu lính
Việt Nam Cộng Hoà hùng dũng, oai phong
Quên thân mình để bảo vệ non sông
Cho Miền Nam an bình và hạnh phúc

Ai dãi nắng dầm sương cùng trời đất
Lội bùn dơ khắp các nẻo hành quân
Dừng chân bên bờ suối thoáng bâng khâng
Đọc lá thư của người em hậu tuyến

Ai mộng mơ ngắm những chùm hoa biển
Dệt vần thơ nhung nhớ tặng người thương
Bọt sóng mênh mông làm bạn đêm trường
Tình non nước nặng theo từng hải lý

Ai hào hoa chiều Sài Gòn đẹp ý
Áo nhà binh vương gió bụi ven rừng
Mũ đỏ hiên ngang bước dạo phố phường
Hai bốn giờ phép của trai thời loạn

Ai bồng bềnh theo mây trời gió lộng
Cánh đại bàng vi vút giữa tầng cao
Đồi Pleime, Khe Sanh hay Hạ Lào
Phút hiểm nguy đồng đội chờ tiếp ứng

Ai miệt mài giữa bao mùa mưa nắng
Trấn giữ tiền đồn, thành thị, xóm thôn
Cho em thơ ngày hai buổi đến trường
Mái nhà reo vui tiếng cười của mẹ

Ai đã để lại một phần thân thể
Nơi rừng sâu hay dưới giao thông hào
Người thương binh trong nắng chiều xôn xao
Có cô hàng xóm thẹn thùng đôi má

Ai nằm xuống, trận giao tranh nghiệt ngã
Phút cuối cùng trời đau đớn lặng thinh
Tấm thẻ bài trên ngực anh buồn tênh
Chiếc nón sắt lạc loài bên đồi máu

Cờ Vàng ôm anh trở về nương náu
Nghĩa Trang Biên Hoà tìm giấc bình yên
Giải khăn sô trên mái tóc vợ hiền
Những đêm dài nhớ anh trong nước mắt

Ai bại tướng, nhưng trung kiên bất khuất
Không đầu hàng lùi bước trước Cộng quân
Tuẫn tiết, lưu danh tiếng thơm muôn năm
Vì” Tổ Quốc, Danh Dự và Trách Nhiệm”

Ai gian nan nơi rừng thiêng nước độc
Trong trại tù cay đắng nỗi oan khiên
Mệnh nước đổi thay, lòng người đảo điên
“ Kẻ thắng cuộc” gây hờn căm, tủi nhục

Ai lưu vong không quên ngày Quốc Hận
Nhắc cháu con nhớ nguồn cội quê hương
Để mai sau về đất Mẹ yêu thương
Lấy lại tên Sài Gòn xưa yêu mến

Cám ơn Anh, những chàng trai thời chiến
Từ Lam Sơn, Đồng Đế hay Quang Trung
Trả nợ máu xương, xứng kiếp kiêu hùng
Nên đừng hỏi vì sao tôi yêu Lính!
                                  
KIM LOAN
NHẬT TRƯỜNG-TRẦN THIỆN THANH: YÊU LÍNH, LÍNH YÊU

Sau 1975 gia đình tôi còn giữ lại được một số tờ nhạc rời của Phạm Duy, Trần Thiện Thanh và vài cassette tapes tiếng hát Thái Thanh, Nhật Trường. Bà chị Cả của tôi, chồng đi học “cải tạo”, chị tập tành học đờn guitare, tối tối đem bài nhạc Từ Đó Em Buồn của Trần Thiện Thanh ra gảy, tôi nằm kế bên cũng nẫu ruột theo. Nhưng tôi bắt đầu mê nhạc do chính Nhật Trường ca. Chỉ mười mấy tuổi đầu, tim tôi đã biết rung động vì giọng hát điệu đà, ngọt ngào đầy quyến rũ này từ các bài hát: Chuyện Tình Mộng Thường, Chuyến Đi Về Sáng, Hành Trang Giã Từ ….Nếu có cuộc bình chọn, tôi sẽ vote Nhật Trường là ca nhạc sĩ “điệu chảy nước” nhất của Miền Nam VNCH. Nhỏ bạn hay nói với tôi:

– Tao thấy nhà ngươi chỉ điệu vừa vừa mà sao toàn mê giọng hát “điệu hết cỡ” như Thái Thanh, Nhật Trường vậy cà ?!

– Thì luật bù trừ đó thôi!

Nói tới Trần Thiện Thanh-Nhật Trường, nói Yêu Lính-Lính Yêu vẫn chưa đủ, vì đúng là Nhật Trường yêu lính, vì đã từng là lính, còn lính yêu Nhật Trường là chuyện đương nhiên, nhưng còn có cả hàng triệu khán thính giả khắp nơi yêu Nhật Trường vì những bài hát của Ông.

Tôi sẽ không viết những điều ai cũng biết về Trần Thiện Thanh, chỉ xin kể lại những “kỷ niệm” của riêng tôi với chàng ca nhạc sĩ lắm tài nhiều tình này.

Nói “kỷ niệm” cho …oai chút thôi, chớ nếu ai ở dưới suối vàng hỏi Nhật Trường có biết tôi không thì sẽ có câu trả lời rằng ” Ủa, con nhỏ này là ai “, bởi vì đây chỉ là “kỷ niệm” của riêng một mình tôi (sao giống …tình đơn phương quá !!)

Khoảng đầu thập niên 80s, các đoàn kịch nói Kim Cương (của kịch sĩ Kim Cương), đoàn Bông Hồng (của Thẩm Thuý Hằng), thỉnh thoảng về diễn gần nhà là tôi đi xem, có khi một vở xem vài lần. Trước giờ diễn kịch là phần ca nhạc ngắn gọn, bữa đó, tôi sung sướng đến bất ngờ vì có bài song ca “Con Kinh Ta Đào” do Nhật Trường và Kim Dung trình bày. Trời ơi, xưa nay chỉ được nhìn hình trên tờ giấy nhạc và nghe giọng ca mượt mà mỗi đêm, bây giờ mới được gặp chàng bằng xương bằng thịt, chỉ tiếc là khoảng cách quá xa, người trên sân khấu rực rỡ ánh đèn với tấm màn nhung, còn tôi dưới hàng ghế khán giả (hạng …cá kèo), có khác gì… nghìn trùng xa cách như mấy câu thơ của Lưu Trọng Lư:

Em ngồi bên song cửa /Anh đứng tựa tường hoa /Nhìn nhau mà lệ ứa/ Có nói cũng không cùng …

Hình như anh chàng soát vé, lúc ấy cũng ngồi ở cuối rạp, gần chỗ tôi và cô bạn, hiểu được “nỗi lòng thầm kín” của tôi, bèn mách bảo:

– Chút nữa hết giờ ca nhạc là phần giải lao chờ xem kịch, mấy cô chạy ra cửa bên hông rạp, sẽ thấy mấy ca sĩ ra về, tha hồ mà xin chữ ký. Tui mở cửa cho, đừng lo!

Nhưng xui xẻo thay, mặc dù có sự hậu thuẫn đắc lực của anh soát vé, chúng tôi chạy thật nhanh ra cửa hông, chỉ còn vài ca sĩ cuối cùng bước ra, còn Nhật Trường đã đi về từ lâu.
Chuyện đến đó là hết, đi vào dĩ vãng theo đời bận rộn.

Vài năm sau, tôi trở thành thiếu nữ, trong một lần đi xem ca nhạc ngoài trời ở Câu Lạc Bộ Lao Động ngoài Sài Gòn, tôi lại được tái ngộ Nhật Trường khi chàng trên sân khấu solo bài hát “Cho Anh Xin Số Nhà”. Bài này đúng sở trường “điệu hết cỡ thợ mộc, lẳng lơ, lả lướt” của chàng, vừa nhún nhảy vừa nháy mắt cười duyên với khán giả. Cô bạn thân, người luôn tháp tùng tôi mọi nơi để đền đáp công ơn tôi luôn sẵn sàng theo nó đi xem bói mỗi khi nó thất tình, nói với tôi rằng:

– Vậy là mày …có duyên với “người ấy” rồi đó! Còn ngại gì mà không lên bày tỏ niềm thương nỗi nhớ, nhất là sau lần …hụt mấy năm trước?

– Mày cứ làm như tao sắp …tỏ tình với người trong mộng! Thôi, “người ấy” ….đáng tuổi chú tao.
– Tuổi tác nghĩa lý gì, tình không biên giới.

– Tao chỉ mến mộ tài năng, chứ chả dám cảm …người, mấy ông nhạc sĩ thi sĩ đa tình lắm, nhứt là ông này, chớ rước sầu khổ vào thân!

(Giờ nghĩ lại, tôi thấy mình cũng nói được một câu …sáng suốt. Ngay như nhạc sĩ Lam Phương, ai cũng bảo chàng Miền Nam hiền lành, dễ thương, nhưng số “sát gái” thì đếm không xuể.)

Cô bạn lại sốt sắng:

– Nhà ngươi chờ đây, tao chạy đi kiếm cách để gặp ổng!
Nó chạy đi chưa thấy quay lại thì trên kia Nhật Trường đã kết thúc phần trình diễn bằng câu hát dẻo quẹo, nhưng đủ sắc “dao vết ngọt đâm” vào trái tim các nữ hâm mộ: “ Cho anh xin số nhà và cho anh biết tên đường, và …và …và …(ngừng lại đảo mắt một vòng khán giả để cho những trái tim đàn bà con gái dưới sân khấu trong đó có tôi ngất ngây…tan chảy, chàng mới…..quăng nốt câu cuối thật đắm đuối) …làm ơn cho anh… biết tên… em luôn”. Vừa hát vừa phăng, ỷ mình viết nhạc giỏi, hát hay, đẹp trai nên với tâm hồn nghệ sĩ, điệu đàng lơi lả là nghề của chàng!
Một lần nữa, chuyện cũng đi vào dĩ vãng, cho đến nhiều năm sau, khi tôi qua định cư ở Canada, rồi lần đầu tiên du lịch California. Tôi dành một buổi để đi đến nhà sách và các hàng bán băng nhạc. Hữu duyên thiên lý, trời xui đất khiến, tôi đến ngay một strip mall có một bảng hiệu đập vào mắt tôi: “Trung Tâm Băng Nhạc Nhật Trường”. Tôi liền bước vào, lại …sững sờ, vì trong tiệm “vắng tanh bà Đanh” chẳng có ai, ngoài ông chủ tiệm Nhật Trường và …tôi. Giây phút “chỉ có đôi ta” làm tôi thật sự bối rối, bao nhiêu cảm nghĩ của những lần trước, giờ bỗng tan biến, dù khoảng cách không còn “xa vời vợi” như trên sân khấu, mà chỉ ngăn cách bởi tủ kính đựng CDs, tôi vẫn không thể mở miệng nói nên lời. Lúc ấy chưa có iphone để tôi đỡ thừa thãi tay chân, xin chụp vài tấm “selfie” với chàng. Thật ra, chúng tôi có mang theo máy chụp hình nhưng chồng tôi đang giữ nó, lại đang ở tiệm cắt tóc cách đó một block đường! (Tôi vẫn chưa hỏi tội chồng tôi tại sao đi từ Canada qua Cali để …hớt tóc!). Thấy tôi lúng túng, Nhật Trường mỉm cười thân thiện, rồi châm điếu thuốc nhìn mông lung …ra ngoài cửa, chắc là để tôi tự do thoải mái chọn băng nhạc. Chu choa, nhìn chàng thả khói thuốc y như bài thơ của Hồ Dzếnh tôi xin sửa lại cho hợp cảnh của chúng tôi: “ Em cứ ngại, thôi em đừng …nói nhé/ Để một mình anh hút thuốc vu vơ/ Ngó trên tay điếu thuốc cứ vơi dần/ Anh khẽ bảo, gớm …sao mà lựa nhạc lâu thế!?”

Thế mà vẫn chưa có thêm người khách nào vào tiêm, uớc gì tôi là …đại gia để mua hết cả quầy CDs . Tôi vội vàng quơ hai dĩa Tiếng Hát Nhật Trường, chẳng thốt được câu ái mộ nào cho đẹp lòng chàng. 

Vậy đó, ba lần “gặp gỡ” của những ngày son trẻ thật đẹp. Giá mà tôi giống như các “fan cuồng” khác, gặp thần tượng là rú lên, gọi tên, sấn tới ôm vai bá cổ xin chụp hình, bất chấp xung quanh, thì giờ đây cũng có một vài tấm hình kỷ niệm.

Tôi xin kết thúc bài viết bằng lời cám ơn đến hương hồn Ca Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh Nhật Trường, nhân ngày Quân Lực VNCH, đã để lại cho đời và lớp con cháu, những hình ảnh sống mãi của chiến sĩ VNCH: kiêu hùng, lãng mạn nhưng không bi luỵ qua các bài nhạc bất hủ: Anh Không Chết Đâu Anh, Rừng Lá Thấp, Biển Mặn, Tạ Từ Trong Đêm, Mùa Xuân Lá Khô …

Vâng, nếu Miền Nam không bị “giải phóng” thì có thể tôi đã là Người Yêu Của Lính nhưng chắc chắn không phải là của …người lính Trần Thiện Thanh- Nhật Trường. 
Người tài hoa này chỉ là “chàng thơ”  trong mộng của tôi mà thôi.
                                                         Edmonton, Tháng 6/2021
                                                                        KIM LOAN