LÊ XUÂN  MỸ

Tiểu sử Tác giả Lê Xuân Mỹ:

Lê Xuân Mỹ sinh ngày 25 tháng 8 năm 1951 tại Huế, Việt Nam – vùng đất cố đô giàu truyền thống văn hóa, nơi đã nuôi dưỡng trong ông tâm hồn nhạy cảm và tình yêu sâu đậm với tiếng Việt.

Trưởng thành qua những biến động lớn của lịch sử, Lê Xuân Mỹ mang theo trong hành trang cuộc đời mình ký ức về quê hương, gia đình và những đổi thay của thời cuộc. Sau này định cư tại Hoa Kỳ, ông tiếp tục gìn giữ và phát triển niềm đam mê viết lách như một cách lưu giữ ký ức và kết nối với cộng đồng người Việt hải ngoại.

Lê Xuân Mỹ được biết đến qua những bài bút ký, tản văn và tùy bút viết về nước Mỹ dưới góc nhìn của một người Việt xa xứ. Văn phong của ông trầm lắng, tinh tế và giàu chất tự sự. Ông không chỉ kể lại những trải nghiệm cá nhân mà còn khắc họa những suy tư sâu sắc về thân phận con người, tình thân gia đình, ký ức tuổi thơ, và hành trình hội nhập nơi đất khách.

Những trang viết của Lê Xuân Mỹ thường đan xen giữa quá khứ và hiện tại, giữa quê nhà và xứ sở mới, tạo nên một không gian văn chương vừa hoài niệm vừa đầy nhân bản. Ông đặc biệt thành công trong việc chuyển tải cảm xúc qua những chi tiết đời thường giản dị nhưng thấm đẫm tình người.

Năm 2023, Lê Xuân Mỹ vinh dự đạt Giải Nhất cuộc thi “Viết Về Nước Mỹ”, một trong những giải thưởng văn học uy tín của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Giải thưởng này ghi nhận sự đóng góp bền bỉ và giá trị nghệ thuật trong các tác phẩm của ông, đồng thời khẳng định vị trí của ông trong dòng văn học Việt Nam hải ngoại.

Không chỉ là một người viết, Lê Xuân Mỹ còn xem việc gìn giữ tiếng Việt như một trách nhiệm văn hóa. Ông tin rằng ngôn ngữ là chiếc cầu nối ký ức và căn cước, giúp các thế hệ sau hiểu và trân trọng nguồn cội của mình.

Với hơn nửa thế kỷ trải nghiệm cuộc đời, từ Huế mộng mơ đến nước Mỹ đa sắc, Lê Xuân Mỹ đã và đang tiếp tục viết như một cách tri ân quá khứ, nâng niu hiện tại và gửi gắm niềm tin vào tương lai.
*****************
Sách đã in: Tôi, Đứa Con Người Tù Cải Tạo
Link trong Amazon
Amazon.com: Giọt Lệ Biết Bao Giờ Ngưng: Books amazon.com
https://www.amazon.com/s?k=Gi%E1%BB%8Dt+L%E1%BB%87+Bi%E1%BA%BFt+Bao+Gi%E1%BB%9D+Ng%C6%B0ng&i=stripbooks&crid=1IUCTA7FNYAIA&sprefix=Gi%E1%BB%8Dt+L%E1%BB%87+Bi%E1%BA%BFt+Bao+Gi%E1%BB%9D+Ng%C6%B0ng%2Cbooks%2C156&ref=nb_sb_noss
Kính mời quý độc giả nhấn vào các links bên dưới để thưởng thức các tác phẩm Văn Xuôi của tác giả Lê Xuân Mỹ
1. Cuối Tuần Ở San Leandro – Giai Điệu Tuổi Vàng-Lê Xuân Mỹ
2. Đứa Con Người Tù Cải Tạo và Hành Trình VIẾT VỀ NƯỚC MỸ-Lê Xuân Mỹ
3. Những Ngày Nước Mỹ Chở Tôi Đi-Lê Xuân Mỹ
4. KHI TUỔI GIÀ CŨNG BIẾT “LÊN SÂN KHẤU”-Lê Xuân Mỹ
Đứa Con Người Tù Cải Tạo và Hành Trình VIẾT VỀ NƯỚC MỸ


Tôi đến với “Viết Về Nước Mỹ “muộn màng, khi tóc đã điểm bạc, khi đã đi quá nửa đời người và khi trái tim tưởng chừng như đã chai mòn trong cuộc sống bận rộn, bôn ba nơi xứ người. Thế mà chính nơi đất khách này, giữa những mùa thu lá rụng của Silicon Valley, tôi lại tìm thấy một lối đi mới – con đường của chữ nghĩa, của ký ức, của hoài niệm và của những điều không thể nào quên.

Tôi sinh ra ở Huế, là con trai đầu của một gia đình chín anh chị em, cha là một sĩ quan bị bắt đi “cải tạo” sau ngày mất nước 1975 và chết âm thầm tức tưởi ở một vùng núi phía Bắc xa xôi. Mẹ tôi gồng gánh nuôi con suốt những năm dài dưới chế độ Cộng Sản và cả những tháng năm đầu tiên lạ lẫm nơi xứ người.

Tôi lớn lên, học hành rồi trở thành một kỹ sư. Cuộc đời tưởng chừng đã yên ổn trong vòng tay của gia đình và một quê hương an lành, hiền hòa. Nhưng rồi nước mất nhà tan và những tháng ngày cay đắng tối đen. Những ký ức cũ vẫn mãi day dứt trong tim. Cho đến cuối năm 1998, khi đã gần năm mươi, tôi cùng gia đình nhỏ một vợ ba con vượt nửa vòng trái đất sang Mỹ định cư.

Những ngày đầu ở Tulsa, trời mùa đông xám ngắt, tuyết lạnh phủ trắng mái nhà. Vợ chồng chúng tôi sống lặng lẽ, bắt đầu lại từ con số không. Như nhiều gia đình Việt Nam tỵ nạn qua đây, chúng tôi đã làm đủ thứ nghề để sống, để tồn tại cùng những đứa con còn nhỏ dại. Tôi chưa từng nghĩ mình sẽ viết văn, càng không nghĩ một ngày nào đó, câu chuyện của mình lại được người khác đọc và sẻ chia.

Sau hai năm ở Tulsa, tôi chuyển về San Jose – nơi nắng ấm, có bạn bè, có cộng đồng người Việt đông đảo hơn. Tôi làm việc tại KLA-Tencor, công ty về điện tử cho đến khi nghỉ hưu. Một chuyến đi lập nghiệp mà bạn bè gọi là phiêu lưu trên một thành phố lớn đắt đỏ và bon chen trái ngược với cái hiền hoà bình dị của một Tulsa nhỏ bé.

Chính trong những năm tháng ấy, giữa bộn bề công việc, tôi tìm đến trang viết như một cách để đối thoại với chính mình – để nhắc nhớ, để biết ơn, và để không quên.

Năm 2019, lần đầu tiên tôi gửi bài cho mục “Viết Về Nước Mỹ” của Việt Báo bài “Mẹ Tôi Nằm Bệnh Viện ở Mỹ”. Một bài viết ban đầu giản dị chỉ là một trang nhật ký trong những ngày ở bệnh viện chăm sóc Mẹ khi bà bị gãy chân đợi phẫu thuật. Những chuyện vui buồn của Mẹ và các sinh hoạt quên mình của các y tá, bác sĩ trong nhà thương Regional Medical Center, San Jose được ghi lại trong những lúc rảnh rỗi.
Bài viết được chuyền tay, bất ngờ đến một người bạn từng viết cho “Việt Báo Viết Về Nước Mỹ”. Người bạn đọc thấy được, gửi đi cho Việt Báo. Và lại rất bất ngờ được chọn đăng rồi sau đó được trao giải Đặc Biệt năm 2019. Tôi vẫn còn nhớ mãi khoảnh khắc khi cầm trên tay tờ báo in bài viết đầu tiên của mình, tôi lặng người đi. Trong sâu thẳm, tôi nghe như có tiếng khen của Cha, lòng tự hào của Mẹ.

Đầu xuôi đuôi lọt. Tôi tiếp tục viết – chậm rãi, thật thà, và bằng chính trái tim của mình. Viết về gia đình là dễ nhất. Những bài viết tiếp tục được đăng: “Alzeithmer Với Mẹ Là Một May Mắn”, “Bật Mí Chuyện Vui Ông Ngoại”, “Ba Tôi Và Trại Tù Vĩnh Phú” … Cứ thế các bài viết về gia đình cứ tiếp tục ra đời trong những đêm khuya vắng sau những ngày làm việc mệt nhọc.

Năm 2021, hai bài viết “Ngày Đầu Tiên Đi Học Thời Covid” và “Tản Mạn Thời Dịch Bệnh Covid-19” giúp tôi đoạt giải “Vinh Danh Tác Phẩm”, với cái tên thường gọi là Á Hậu, như một lời khích lệ lớn lao cho tôi mạnh dạn nới rộng đề tài ra khỏi phạm vi gia đình. Tôi tiếp tục với “Tulsa, Bước Đầu Tiên Trên Đất  Mỹ”, “San Jose, Làm Lại Từ Đầu Ở Tuổi 50”, “Cám Ơn Nước Mỹ, Cám Ơn Cuộc Đời” … Tôi nhận ra rằng, viết không chỉ là kể chuyện, mà là cách để chữa lành, để truyền lại, để cảm ơn cuộc đời và để mình không bị chứng lãng quên của người già. Hết đề tài gia đình, xã hội, tôi nhảy qua đề tài về Thầy, Cô, Bạn Bè rồi lại quay về đề tài Mẹ, Vợ, Con, Cháu. Đề tài nào cũng được miễn là chuyện có cuộc đời mình trong đó. Không vay mượn không hư cấu vì tôi chỉ là một người viết, chưa từng bao giờ là một nhà văn.

Đến năm 2023 tôi nhận giải “Vinh Danh Tác Giả-Tác Phẩm Viết Về Nước Mỹ Năm 2023” với bài “Giọt Lệ Biết Làm Sao Ngưng” viết về những trăn trở của mình khi hai người bạn thân bị một kẻ điên cuồng ngáo đá cố ý giết chết trong một vụ án làm rúng động cộng đồng người Việt Bắc Cali lúc bấy giờ. Khi tên tôi được xướng lên trong đêm trao giải tại SBTN Studios-Garden Grove, tôi gần như không tin vào tai mình. Cả khán phòng rực sáng, tiếng vỗ tay vang dội từ khán giả và những người thân yêu ngồi sát cạnh sân khấu. Tôi bước lên bục nhận giải trong tiếng nhạc nền và lời  giới thiệu trang trọng của hai MC Thuỵ Trinh-Nguyễn Hoàng Dũng, mà lòng nghẹn lại vì xúc động và tự hào.

“Tôi xin cảm ơn nước Mỹ, Việt Báo, nhà văn Nhã Ca, nhà thơ Trần Dạ Từ, ban Biên Tập, Các Giám Khảo… và nhiều nhiều người nữa – đã cho tôi cơ hội được sống, được viết, và được chia sẻ.
Tôi cũng xin cảm ơn cha mẹ tôi, những người đã dạy tôi yêu quê hương, tin vào sự thật và lòng nhân ái.
Tôi viết không phải để khoe khoang, mà để nói rằng: dù đi xa đến đâu, người Việt vẫn mang trong tim tình yêu dành cho đất nước, cho ký ức, và cho con người.

Khi ánh đèn sân khấu rọi xuống, tôi thấy những gương mặt thân quen trong khán phòng: bạn bè, người đồng hương, và cả những độc giả chưa từng gặp. Họ mỉm cười, gật đầu, như chia sẻ cùng tôi niềm vui tự hào khó tả ấy.

Và bây giờ, khi năm 2025 đang khép lại, mùa Tạ Ơn đang đến gần, tôi lại chuẩn bị hành trang để bay về Garden Grove, nơi tôi từng đứng trên sân khấu hai năm trước. Nhưng lần này, tôi không phải là người nhận giải, mà là người được vinh dự trao lại danh hiệu “Hoa Hậu – Vinh Danh Tác Giả-Tác Phẩm” cho người kế tiếp.
Chỉ nghĩ đến khoảnh khắc ấy, tim tôi lại dâng trào một niềm xúc động bồi hồi. Tôi biết, trong khán phòng long trọng đầy ắp ánh đèn ấy, sẽ có một người đang run lên vì hạnh phúc – giống như tôi năm nào.

Tôi hình dung cảnh mình cầm tấm “Bảng gỗ vinh danh” bước lên bục, nhìn vào gương mặt rạng rỡ của tân Hoa Hậu (dù rằng không biết là nam hay nữ) và nói:

“Tôi xin trao lại cho bạn không chỉ là một giải thưởng, mà là niềm tin – tin rằng người Việt chúng ta, dù ở đâu, vẫn có thể viết nên câu chuyện của chính mình bằng lòng biết ơn và niềm yêu thương.”

Giây phút ấy, chắc hẳn tôi sẽ thấy lòng mình thật nhẹ nhàng. Như một ngọn đèn được trao tay, ánh sáng không tắt mà tiếp tục lan tỏa, từ người viết này sang người viết khác – nối dài mãi những câu chuyện về nước Mỹ, về những người con tỵ nạn xa quê hương, và về tình yêu cuộc sống với một lòng biết ơn.
Cuối cùng tôi muốn tâm sự riêng với các bạn đang còn ngập ngừng chưa viết. Tôi chỉ là một người bình thường làm việc trong ngành chỉ liên quan đến những con số và máy móc khô khan, qua Mỹ khi tuổi đã lớn, chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ cầm bút. Vậy mà rồi, tôi đã viết-từ những dòng đầu tiên còn run tay cho đến ngày được gọi tên trên khán phòng rực rỡ này. Vậy thì, một người như tôi còn viết được, thì các bạn, tại sao không? Chỉ cần trong lòng chúng ta còn yêu, còn nhớ, còn biết mang ơn, còn biết rung động thì chắc chắn bạn đã có những câu chuyện để kể, để sẻ chia và để được cảm thông. Hãy viết, dù chỉ để lại một chút hương quê nhà trong tim.
 
Lê Xuân Mỹ
San Jose, những ngày cuối tháng 10, 2025
Những Ngày Nước Mỹ Chở Tôi Đi


Tôi đến Mỹ từ gần ba mươi năm trước, khi trái tim còn đầy thù hận, đớn đau của mất mát sau 1975 và những vết xước của cuộc chia ly với quê nhà. Rồi theo năm tháng, đất nước này chở tôi đi, từ những con đường sương mỏng ở miền Đông, đến những buổi chiều vàng nghiêng như giọt mật bên bờ biển California. Mỗi thành phố, mỗi tiểu bang, mỗi bước chân đặt xuống lại mở ra một khoảng ký ức khác nhau – có khi vui, khi buồn, khi lặng lẽ như tiếng thở dài của dòng sông Hương xứ Huế quê nhà.
Những bài này tôi viết không phải để kể về những chuyến du lịch. Tôi chỉ muốn ghi lại những rung động rất người – theo cái cách mà mỗi vùng đất chạm vào trái tim mình; khi một thành phố lạ bỗng trở thành thân quen; và theo cách riêng của nó, nước Mỹ dạy tôi nhìn đời ấm áp, nhẹ nhàng, bao dung hơn.
Tôi viết lại để nhớ. Và viết lại để cảm ơn. Cảm ơn những ngày nước Mỹ đã chở tôi đi – qua thời gian, qua thăng trầm, qua tuổi già, và qua biết bao dặm đường mà mỗi bước chân đều mang theo một chút sắc màu của đời sống.
Nếu những trang viết này chạm được vào trái tim ai đó, dù chỉ một thoáng, tôi xin được coi đó là món quà mà nước Mỹ đã cho tôi – món quà được kể lại câu chuyện của chính mình, giữa một đất nước rộng lớn nhưng đong đầy những yêu thương.
Các bài viết không theo thứ tự của địa lý, của thời gian, chỉ là những mảnh nhỏ của ký ức được ghi lại để một lần nửa xin được cám ơn một đất nước đã nuôi dưỡng và chở che chúng tôi trong những ngày xa quê.
 
ARNOLD, MÙA ĐÔNG CỦA TĨNH LẶNG VÀ AN BÌNH

Ảnh Lê Xuân Mỹ
 
Có những mùa đông, con người chỉ muốn rời xa nhịp sống hối hả để tìm đến nơi thật yên bình – nơi có tuyết rơi nhẹ trên mái nhà, có mùi nhựa thông và hơi thở của núi rừng. Với tôi, Arnold, California là một nơi như thế.

Chúng tôi khởi hành từ San Jose vào sáng sớm, khi sương vẫn còn phủ mờ thung lũng. Chiếc xe lăn bánh trên Highway 4, con đường quanh co dẫn về phía dãy Sierra Nevada. Càng đi lên cao, không khí càng trong, mát, và những vệt tuyết đầu tiên bắt đầu xuất hiện bên vệ đường. Ánh sáng buổi sáng sớm chiếu lên những triền đồi phủ sương, phản chiếu lên hàng thông xanh. Những hạt tuyết đầu mùa rơi lất phất trên kính xe, nhẹ như bụi phấn. Không cần lời nói, ai trong xe cũng biết: mùa đông thực sự đã bắt đầu.. Cả xe ồ lên như lần đầu được thấy tuyết, mặc dù tóc chúng tôi đã bạc từ lâu.

Tác giả và rừng thông. Ảnh Lê Xuân Mỹ
Arnold nằm ở độ cao khoảng 1.200 mét, thuộc hạt Calaveras, miền Bắc California. Thị trấn nhỏ chỉ hơn ba ngàn dân, nép mình giữa rừng thông cổ thụ, tĩnh lặng như một giấc mơ giữa núi. Những ngôi nhà gỗ nhỏ rải rác trên triền dốc, mái phủ tuyết trắng, khói lam từ ống khói bay nghi ngút. Ở đây không có tiếng còi xe, không đèn neon chớp nháy, chỉ có tiếng gió luồn qua tán cây và mùi nhựa thông thoang thoảng trong không khí lạnh.
 
Chúng tôi ở nhà con gái tôi nằm trên triền dốc nhẹ, chung quanh là rừng thông cao vút. Vừa bước xuống xe, tôi đã ngửi thấy mùi nhựa thông ngai ngái, thứ mùi dễ kéo con người ta về quá khứ. Ngôi nhà cạnh hồ White Pines có cửa sổ nhìn ra rừng. Bên trong là lò sưởi ấm, ghế bành bọc da, ánh đèn vàng dịu. Đêm đầu tiên, tôi ngồi bên cửa sổ, tay cầm tách trà nóng, lặng ngắm tuyết rơi. Tiếng gió, tiếng lửa, và nhịp tim mình hòa vào nhau – một khoảnh khắc bình yên tuyệt đối. Đêm tiếng gió thong nhè nhẹ thổi qua mái, cảm thấy mình trẻ lại. Ở tuổi này chỉ cần một đêm yên bình như thế này là đã thấy đời quá may mắn.
 
Buổi sáng, tôi đứng trước hiên nhìn xuống thung lũng còn mờ sương. Bất chợt Đà Lạt hiện về trong trí nhớ: đồi thông Trại Mát, Hồ Xuân Hương trong sương mỏng, ly cà phê nóng trên đường Phan Đình Phùng của những năm rất xa. Tôi nhận ra: rừng thông Arnold và Đà Lạt có chung một điều – chúng giữ lại một nỗi buồn dịu, khiến người ta nhớ những gì đẹp nhất của thời trẻ. Ở đầu bên kia nửa vòng trái đất, giữa rừng thông lạnh Mỹ quốc, tôi lại thấy bóng dáng mình của mấy chục năm trước, tay đút túi áo, bước thong thả dưới làn sương Đà Lạt xưa.

Ảnh Lê Xuân Mỹ

Chúng tôi bắt đầu chuyến du ngoạn khám phá Arnold. Lái xe khoảng nửa giờ đến Bear Valley Ski Resort – khu trượt tuyết nhỏ nằm giữa rừng thông. Dọc đường, cảnh vật như trong bưu thiếp: những cành thông cong xuống vì tuyết, ánh mặt trời phản chiếu trên mặt đường lấp lánh như bạc.

Khu trượt tuyết Bear Valley không lớn nhưng ấm áp và thân thiện. Trẻ con ném tuyết, người lớn trượt ván, ai cũng mang nụ cười rạng rỡ. Tôi thử trượt ống tuyết, trò chơi vừa vui vừa lạnh cóng! Khi lao xuống dốc tuyết, gió lùa qua mặt, tim đập mạnh – cảm giác tự do và hồn nhiên như thuở nhỏ.

Giữa trưa, chúng tôi dừng lại ở một quán gỗ nhỏ. Lò sưởi cháy bập bùng, ly sô-cô-la nóng tỏa hương ngọt ngào. Ngoài kia, tuyết vẫn rơi đều. Tôi nhìn ra khung cửa kính, chợt nghĩ – niềm hạnh phúc đôi khi giản dị đến thế, chỉ là ngồi yên giữa mùa đông, tay ấm và lòng cũng ấm.
 
Hôm sau, trời hửng nắng nhẹ, chúng tôi ghé Calaveras Big Trees State Park, nơi có những cây sequoia khổng lồ – biểu tượng của vùng Sierra Nevada. Tuyết phủ trắng lên những thân cây cổ thụ cao ngút trời. Ánh sáng xuyên qua tán lá tạo nên khung cảnh huyền ảo, như bước vào thế giới cổ tích. Tôi đặt tay lên thân cây – vỏ gỗ thô ráp nhưng tỏa hơi ấm. Giữa rừng, tôi cảm nhận rõ ràng dòng chảy của thời gian – hàng ngàn năm qua, những cây sequoia vẫn đứng đó, lặng lẽ và kiên định, như chứng nhân của thiên nhiên. Mỗi bước chân trong rừng tuyết là một khoảnh khắc tĩnh lặng. Chỉ có tiếng tuyết vỡ nhẹ dưới chân, và hơi thở của mình hòa vào không gian mênh mông.
 
Rời Big Tree, chúng tôi đi về Murphys, một thị trấn nhỏ hiền hoà nổi tiếng với các vườn nho và các winery. Tại một winery nhỏ, chúng tôi được mời thử từng ly. Rượu đỏ, rượu trắng, mỗi loại là một câu chuyện về đất đai, nắng gió, mùa thu hoạch. Chúng tôi ngồi quanh bàn gỗ dài, vừa nhấp rượu vừa kể chuyện đời. Chuyện già, chuyện bệnh, chuyện nhớ quê nhà, chuyện con cái, chuyện bạn bè đã đi xa. Và cả chuyện tương lai-mặc dù tuổi này chẳng biết còn dài bao nhiêu. Một người bạn nói: “Giờ uống rượu là để nhớ coi mình còn nếm được bao nhiêu hương vị của cuộc đời.” Câu nói khiến ai cũng bật cười, nhưng đó là tiếng cười có chút lặng lẽ trong lòng.

Rời Murphys chúng tôi di tiếp Angel Camp, một thị trấn như ngủ quên giữa vùng nuối  với những tiệm buôn bán cũ kỹ, museum nhắc nhớ một thời tìm đào vàng của thời Viễn Tây năm xưa
 
Buổi tối, chúng tôi trở lại Arnold khi tuyết bắt đầu dày hơn. Ánh đèn vàng từ những ngôi nhà trong rừng hắt ra ấm áp, phản chiếu trên tuyết trắng. Chúng tôi dừng xe giữa rừng, chỉ để nghe tiếng tuyết rơi. Tiếng tuyết ở rừng thông rất đặc biệt – nhẹ như tiếng giấy mỏng chạm đất, khiến lòng người bình yên đến lạ. Nhưng chính khoảnh khắc ấy làm tôi thấy cuộc đời vẫn còn rộng rãi, vẫn còn tặng cho mình những món quà bất ngờ.

Đêm đó chúng tôi nhóm lửa, nấu một nồi súp nóng, ngồi quây quần bên nhau. Lửa bập bùng, tiếng cười xen lẫn tiếng gió rít ngoài khung cửa. Trong không gian ấy, tôi nhận ra bình yên không phải là sự im lặng, mà là khoảnh khắc con người thấy mình trọn vẹn giữa thiên nhiên. Trước khi đi ngủ, tôi mở cửa nhìn ra ngoài – tuyết phủ trắng sân, rừng yên ắng, chỉ còn tiếng gió rì rào. Tôi biết, sáng mai khi rời đi, Arnold sẽ vẫn ở đó – dịu dàng, lặng lẽ, như chưa từng thay đổi.

Ảnh Lê Xuân Mỹ
Arnold không phải là điểm đến hào nhoáng, không có trung tâm thương mại hay dòng người tấp nập. Nhưng chính sự mộc mạc ấy lại khiến nơi đây trở nên đặc biệt. Ở Arnold, con người như được sống chậm lại. Người ta có thể đi dạo trong rừng sequoia ngàn năm, nghe tiếng tuyết rơi, hoặc chỉ đơn giản ngồi bên bếp lửa và nhìn ánh sáng phản chiếu trên tuyết. Mọi thứ ở đây đều khiêm nhường và chân thật – giống như chính vẻ đẹp của thiên nhiên. Mỗi mùa tuyết đến, Arnold khoác lên mình chiếc áo trắng tinh khôi. Và ở nơi ấy, giữa lạnh giá của miền núi, người ta lại tìm thấy hơi ấm – không chỉ từ ngọn lửa, mà từ sự bình yên trong tâm hồn. Arnold – thị trấn nhỏ giữa Sierra Nevada – có thể không ồn ào, không rực rỡ, nhưng là nơi khiến người ta muốn quay lại, chỉ để được một lần nữa ngồi yên, nghe tuyết rơi và mỉm cười với mùa đông.

Sáng hôm sau, chúng tôi trở về lại San Jose. Tuyết tan dần sau lưng, nhưng trong lòng tôi vẫn còn nguyên hơi lạnh của rừng thông, mùi nhựa thông, hương rượu vang Murphys, và nỗi nhớ Đà Lạt cứ nhẹ nhàng bám theo.
 
Ở tuổi quá bảy mươi, người ta hiểu rằng mình không cần nhiều. Chỉ cần những chuyến đi như vậy-bình yên, đẹp, và chân thật. Chúng cho tôi thêm lý do để yêu nước Mỹ, nơi tôi đã đến, đã sống, và đã già đi cùng những mùa tuyết rơi, thu vàng lá, xuân đầy hoa và hạ nắng dịu dàng. Tôi giữ cho mình một mùa tuyết Arnold, để khi nào nhớ, tôi lại mở ra, và nghe tiếng thông reo như thuở nào còn đứng trên đồi thông Đà Lạt.
Lê Xuân Mỹ- San Jose 12/2025
KHI TUỔI GIÀ CŨNG BIẾT “LÊN SÂN KHẤU”

Mỗi chiều chủ nhật, căn nhà nhỏ của ông bà bác sĩ Hoà  ở San Jose lại rộn ràng tiếng nhạc, tiếng hát, và những tiếng cười vang của những ông bà tuổi “thất thập cổ lai hy”.
Chúng tôi gọi đùa đây là “sân khấu dưỡng sinh”, sào huyệt của nhóm  bạn chưa chịu mình già, còn ham vui, còn ham hát. Sinh hoạt đã mấy năm nay mà vẫn chưa đặt được cho mình một cái tên. Người thì đề nghị nhóm “Ghiền hát”, người thì nhóm “Vui hát”, nhóm “Mê hát.. hoặc  “CLB Hát Cho Vui” . Tôi thì đề nghị đặt tên chọn một tên cho có vẻ “ tây đui”, nhóm “GMHH” viết tắt của “Già Mà Ham Hát”. Đa số có vẽ đồng ý ngặt nỗi trong nhóm cũng có vài anh chị đang tuổi thanh niên mới lớn, yêu đương còn chưa biết gì. Thế là chuyện đặt tên không thành. Thôi thì cứ như thường lệ, mỗi cuối tuần ta lại đến đây gặp nhau để mỗi người tìm lại thanh xuân trong tiếng đàn, tiếng ca, những chuyện vui buồn khó quên và thưởng thức các bữa ăn đậm mùi hương vị quê nhà. Nhưng trước khi hát, phải nói trước ăn gì thì ăn, dứt khoát hai con khỉ già tui không ăn đồ Mễ, đồ Mỹ…nhưng  Nhật, Tàu, Thái, Miên  miễn là châu Á đều OK.
Linh hồn của buổi vui hát chắc chắn phải là nhạc sĩ rồi. Tìm đâu cho xa, cần gì phải mướn “one man band” cho nó tốn kém cái hầu bao vốn ít ỏi của các ông bà về hưu. Thế là 3 trong 1. Chủ nhà, kiêm trưởng nhóm kiêm nhạc sĩ. Bác sĩ Hoà – người từng mổ tim cứu người – giờ lại “chữa lành nỗi buồn tuổi già” bằng cây đàn organ cũ. Thỉnh thoảng thêm một vài ông bạn có máu văn nghệ,  vài cây guitar, thế là cũng full band như ai.
Bs Hoà vừa đàn, vừa chỉnh máy, vừa kiêm MC. Tôi gọi ông là “one man band của tuổi xế chiều”.
“Ngày xưa chữa bệnh tim, giờ trị … trầm cảm. Ai hát sai là bác sĩ kê toa: hát lại lần nữa, không cần giấy tờ bảo hiểm chi cho lôi thôi”
 
Chuyện hát hò của mấy “ca sĩ có giá” vì phải cần có giá để bài hát, cũng nên đưa vào sử sách. Trừ một số rất ít là ca sĩ trước đây, còn đa số “ca lẽ” chúng tôi đều tốt nghiệp trường phái “ Karaoke nhà nhà cùng hát”. Về hưu, người nào cũng có một bộ Karaoke trong nhà. Xịn thì ampli, loa, mixer… riêng biệt, nghèo thì một bộ karaoke kẹo kéo cũng đủ. Về hưu , khi con cháu lần lượt theo cánh chim tìm vê tổ ấm của riêng mình, vợ chồng rảnh rỗi không biết làm gì. Đi qua đi lại gặp nhau thì cũng hơi hơi ngường ngượng. Ngày xưa gặp nhau bao lâu cũng không đủ, giờ gặp nhau hoài sao thấy nó chướng chướng làm sao. Romantic thì sức tàn, kiếm gãy. Muốn lên tone cao thì toàn xuống tone trầm. Thôi thì một Karaoke, hai ta cùng hát cho nó lành
Vì xuất thân từ trường phái phải nhìn chữ chạy trước mặt, nên bây giờ hát live theo nhạc sĩ chuyện buồn thì ít mà chuyện vui thì nhiều.
Lạc nhịp là chuyện bình thường như cơm bữa, Cụ Lan – cựu cô giáo – hát bài nào cũng say sưa. Có lần cụ quên lời bài “Nối vòng tay lớn”, bèn bịa ra:
“Nối vòng tay… nấu canh chua mẹ nấu!”
Cả nhóm cười lăn lộn, bác sĩ Hoà vẫn đàn tỉnh như không:
“Lời mới, hương vị quê nhà đó nghen!”
 
Cụ Tùng – cựu kỹ sư – đang hát bolero tốc độ 84 bỗng nhiên khi qua điệp khúc chơi một tràng lên cở 120 cha cha cha lảm nhạc sĩ chạy theo muốn bở hơi tai
“Tui làm cầu đường, nên đôi khi… vượt tốc độ!” cà nhóm lại một phen cười lên ruột
 
Vậy đó Âm nhạc của chúng tôi  có thể sai nốt, lệch nhịp, nhưng niềm vui tiếng cười thì luôn trúng tông. Bởi vì thuộc trường phái “ ca sĩ có giá” nên chi cái gọi là ca sĩ chúng tôi trong giờ đi hát, không ai quên mang theo “đồ nghề”: Người thì mang xấp giấy chép lời to như đơn thuốc, Người mở phone để xem bài hát mặc dù đôi khi quên… đeo kính. Có cụ còn phải “chống mắt kính lên trán, cầm đèn pin soi màn hình”, trông như đang mổ tim cùng bác sĩ Hoà.
Có lần, một bà quên mang điện thoại, mượn bài hát của tôi, ai ngờ cái chữ viết của tôi vốn xấu như gà bới, ngoằn ngoèo. Đọc không được Bà la lên:
“Chữ này mà tui hát theo, chắc thành… rap mất!”
 
Có bà luôn mang túi to đùng, trong đó có giấy, nước ấm, kẹo ngậm thông giọng, và cả một đôi giày cao gót dự phòng “ cho nó ra giáng ca sĩ”
Một lần, hát xong, cụ nhìn xuống chân bật cười: “Ủa, tôi đi đôi dép lê ra sân khấu hồi nào vậy nè?”. Cả nhóm cười nghiêng ngả, bác sĩ Hoà nói: “Không sao, đi dép thì chị hát bolero, đi giày thì chị hát tango!”
Kể chuyện của mấy ông bà già ham hát chúng tôi thì nhiều lắm . Cả ngày không hết
Một chương trình vui hát của chung tôi không bao giờ thiếu một phần còn quan trọng hơn hát: Ăn uống. Một buổi vui hát từ trưa đến tối của chúng tôi luôn có 3 phần. Trước khi hát : ăn trưa, Ăn trưa xong là hát có khi 2 mà thường là mỗi người 3 bài. Hát xong 3 bài là đến phần ai cũng trông chờ – bữa tiệc tối.
Thường mỗi người mang theo một món: bánh bột lọc, chè đậu xanh, bánh cuốn, bánh bèo, gỏi gà , gỏi vịt,,, Thôi thì đủ cả. San Jose có bao nhiêu món lần lượt tập trung về đây vào những ngày cuối tuần. Có cụ không đem đồ ăn, chuyên đem rượu nho. Cụ nói rượu này tui tự len men tại… BevMo! . Ai nấy cười khúc khích. Có ông bạn già ngâm thơ: “Rượu nhà làm, ca nhà hát, toàn cây nhà lá vườn!”
Bác sĩ Hoà vừa uống bia vừa triết lý: “Người ta tập gym cho cơ thể hoạt động, còn tụi mình hát cho trái tim vận động.”Miễn sao có động là được. Lại nghe tiếng ông nào cuối phòng. Còn tui có cái tập hoài mà có động đậy chi mô. Cả nhóm gật gù,. Cái ông già lẩm cẩm vậy mà đúng
Một lần cụ Lan quên tắt micro, đi vào bếp la to: “Trà nguội hết rồi, ai uống thì tự pha nha!”. Âm thanh vang khắp phòng, khiến cả nhóm cười nghiêng ngả.
 
Một buổi khác, cụ Tùng hát “Tình khúc vàng” mà đọc nhầm thành “Tình khúc… răng vàng”. Bác sĩ Hoà ôm bụng: “Phiên bản đặc biệt dành cho người cao tuổi!”
Cười xong, cụ Tùng chậm rãi nói:
“Răng rụng nhưng nụ cười vẫn còn, vậy là thắng rồi!”
Cả nhóm vỗ tay rào rào.
 
Những giọng ca còn lại trong ký ức
Thời gian trôi, không phải ai cũng còn ngồi trong “ban nhạc dưỡng sinh” ấy.
Ông Khải – giọng tenor đẹp nhất nhóm – ra đi sau một cơn bệnh. Ngày tiễn ông, cả nhóm mang micro, bác sĩ Hoà đàn bản “Tình ca” ưa thích nhất của ông, giọng ai cũng nghẹn.
Cụ Lan thở dài:
“Ảnh đi rồi, chắc cũng lập ban nhạc ở bên kia.”
 
Rồi đến bà Năm – giọng ca bolero ngọt như mía lùi – cũng “về với mây”.
Chiếc micro cũ của bà được giữ lại, mỗi buổi hát vẫn đặt ngay ngắn trên bàn, như để nói:
“Người hát đi xa, nhưng tiếng hát vẫn ở lại.”. Bài “ Mãi mãi bên em” bà vẫn hát nhưng vang vọng đâu đây.
 
Bên ngoài, lá mùa thu đỏ rực. Trong căn phòng nhỏ, tiếng đàn vẫn vang, tiếng hát vẫn rộn rang
Cụ Tùng bảo:
“Hát sai cũng được, miễn đừng… im lặng.”
 
Thật vậy — âm nhạc giúp ta trẻ hơn, vui hơn, và gần nhau hơn.
Mỗi buổi hát là một lần sống chậm, sống sâu và sống vui.
“Tuổi già mà còn hát được, còn cười được – là còn thắng được thời gian.”
 
Tuần sau, chúng tôi lại hẹn nhau.
Lại pha trà, dọn ghế, bật đàn, và hát.
Hát cho mình, hát cho bạn bè đã đi xa, hát cho tuổi già vẫn còn biết cười, biết yêu đời và yêu người
 Lê Xuân Mỹ