CAO MỴ NHÂN

Tiểu sử
 Sinh tại Chapa, Hoàng Liên Sơn
Cựu học sinh Trưng Vương, Hà Nội
Di cư vào Nam 1954, học khóa Nữ Cán Sự Xã Hội tại Centre Caritas
Tham gia Quân Lực VNCH. Chức vụ sau cùng: Thiếu Tá.
Tng Thư Ký Trung Tâm Văn Bút Tây Nam Hoa Kỳ,
nhiệm kỳ 94-96
TÁC PHẨM:
Hoa Sao, thơ, 1959
Thơ Mỵ, 1960
Chốn Bụi Hồng tập 1, bút ký, 1994.
Thơ Mỵ 2, 1997
 Áo Màu Xanh, thơ, 1999
 Lãng Đãng Vào Thu, 2001
Đưa Người Tình Đi Tu, thơ, 2001
Sau Cuộc Chiến, thơ, 2003
Trang thơ của thi sĩ CAO MỴ NHÂN

Thu Bâng Khuâng
Người có bao giờ nhớ mắt nâu
Hoàng hoa đối ẩm đọng men sầu
Mềm môi vướng nụ hôn vờn tóc
Khan tiếng mong chiều mưa đón Ngâu
Suốt buổi lỡ chờ đôi khắc muộn
Trọn tình lầm hẹn mấy canh thâu
Thì thôi sương thấm bè mây lạnh
Bếp lửa hong thơ thủa gặp đầu…

Hawthorne 14 – 11 – 2020
VÙNG TRỜI ANH 

 
            
Trong cuộc tình êm đềm 
Của anh và của em
Không có sự công bình
Nên cán cân thường nghiêng
Em yêu anh nhiều hơn
Đĩa cân luôn nặng trĩu
Anh yêu em chập chờn 
Nhẹ tình nơi đất trích 
Cuộc tình mình lưu vong
Mỗi ngày thêm thất lạc 
Anh như cánh chim hồng 
Bay về vùng trời khác
Em suy tụng thiết tha 
Mây lang thang ái ngại
Tình vượt lên cao xa 
Em đành thiên thu đợi …
Cao Mỵ Nhân
 
Mất Lời Tỏ Tình
 

 
Giữa bao la thiên hạ
Có anh và cuộc đời
Thế rồi như xa lạ
Ta đã bỏ cuộc chơi

Hỡi người anh thân kính
Bản tình ca não nùng
Đường tơ vương áo lính
Sợi tóc thả mênh mông

Nỗi sầu lên chất ngất
Bài nhạc buồn Chopin
Nơi cung đình đánh mất
Lời tỏ tình của anh

Lênh đênh trên sóng mộng
Huế u hoài tương tư
Gió thiên thu lồng lộng
Nước mắt ướt vần thơ

Tiếng hót loài chim quí
Mang tất cả mùa Xuân
Vượt muôn trùng hải lý
” Yêu vô cùng ” cố nhân …

Cao Mỵ Nhân
TRÊN BÀN CÂN
Đặt mùa xuân lên bàn cân thời gian
Thấy cán cân thăng bằng vũ trụ
Đặt tình yêu lên bàn cân lệch quang
Thấy tình yêu chòng chành lỡ dở
Anh ngậm ngùi hỏi nhỏ
Em đang nghĩ gì
Niềm vui hay nỗi khổ
Đều chẳng từ chúng ta
Mà từ trời đất bao la
Hãy vượt khỏi những xưa xa
Đừng cân đo đong đếm 
Vì khi tình yêu đến 
Là không có thước, có cân
Là khi anh trìu mến 
Em và trái tim muôn năm 
Ôi, anh huyễn hoặc em ư ?
Có cán cân nào thăng bằng mãi 
Có chứ, em không tin anh ư ? 
Hai trái tim anh và em thân ái 
Anh nói rồi, đừng cân đo đong đếm 
Hãy yêu nhau đời này qua kiếp tới …
        CAO MỴ NHÂN 
THÁNG CHẠP BUỒN 
Bông hoa đại vàng
Sao nở về đêm
Yêu anh muộn màng
Trong nỗi cuồng điên 
Tháng chạp mong chờ 
Chúa đến trần gian
Em đi nhà thờ 
Van vỉ miên man
Anh ở phương nao 
Dấu thương yêu tàn 
Trên tầng mây cao
Gió gọi mơ màng
Tháng chạp bâng khuâng
Thánh giá lặng thầm
Trên đỉnh mùa xuân
Em vác mê lầm…
 CAO MỴ NHÂN 
CUỐI NẺO ĐƯỜNG TRĂNG 

 
                 
Nơi người ở cuối đường trăng
Bên kia biển lớn, ta hằng mộng mơ
Biên phương hoa lộng sắc cờ
Vàng mai diễm ảo, núi mờ mịt mây
Ta chưa tới được nơi đây
Đã hoang liêu tự những ngày lưu vong
Hình ai luyện kiếm phương đông
Tan theo dấu lệ đêm giông gió nào
Nhớ xưa trăng rớt chiến hào
Còn nguyên một mảnh vướng vào kẽm gai
Người về lãng đãng liêu trai
Trách nhau sao lại đơn sai hẹn hò
Vội buông thả mối tơ vò
Gió vờ mở cửa, trăng vờ lảng xa
Chao ôi, cổ nguyệt kiêu sa
Mời người ngó lại sơn hà lặng câm …
 
Cao Mỵ Nhân

Đông Cô Đơn 
Khắc khoải đêm dài lặng bến Ngân
Tình ơi mòn mỏi chốn dương trần
Mưa phùn lất phất ngoài song cửa
Đông tiết lạnh lùng vắng cố nhân
Chờ đợi vòng tay mùa gió bấc
Giấc hồng tìm lại hạt mưa xuân
Trách đời năm tháng sầu ly biệt
Mờ mịt phủ dày sương khói dâng

Cao Mỵ Nhân
BẾN HOA
Những cuộc tình dan díu mộng mơ
Đã sui ta có lúc bơ thờ
Tưởng rằng ưu ái nhưng kỳ thực
Đó chỉ là ngôn ngữ của thơ
Khi ngồi tưởng tượng mảnh vườn hoang
Thấy gió heo may với lá vàng 
Lòng bỗng xót xa như ẩn hiện
Nụ cười cùng ánh mắt mênh mang
Âm ba vần điệu chợt mông lung
Mị ảo vương thương mãi cõi lòng
Nhặt những câu thơ toàn chữ đẹp
Gởi đi bát ngát tới vô cùng
Thượng Đế bao la, bất tận xa
Nhưng nghe đâu đó ở quanh nhà
Xin cho một chút tin yêu để
Bát ngát vườn tình trổ Quí Hoa…
     CAO MỴ NHÂN 
CHIM BAY MỎI CÁNH
Làm sao em sống được lâu
Để yêu anh tới bạc đầu mới thôi
Sống lâu thì chắc được rồi
Nhưng yêu thì phải hỏi trời nên không
Bởi trời cho trăm mùa đông
Làm sao tránh khỏi bão giông tình trường 
Tình mình như khói như sương
Trăm năm là đủ yêu thương trọn đời
Nhưng anh không thốt nên lời
Bởi trong ngôn ngữ tuyệt vời thiết tha
Giữa trời mây nước bao la
Chim bay mỏi cánh vẫn là đứng yên
Nói rằng : ” anh rất yêu em “
Nghe như có vẻ muộn phiền  trong thơ
Vào ra phong thái ngẩn ngơ
Nên thôi cũng chẳng ước mơ sống già …
      CAO MỴ NHÂN   
NHƯNG 
Chữ nhưng đặt giữa chúng mình
Làm cho rối loạn cuộc tình mộng mơ
Để rồi không dám làm thơ
Nhưng em ra ngẩn vào ngơ buồn phiền
Hôm qua vừa tỏ nỗi niềm
Chữ nhưng đã nhắc nhở em xa rời
Cả không gian tím mây trời 
Khói hoàng hôn cũng tím lời thiết tha
Chữ nhưng hiện giữa bao la
Tiếng anh gọi khẽ sơn hà chuyển giông
Ngoài nhà tuyết phủ mùa đông
Bão cuồng băng giá vào trong tâm hồn
Chữ nhưng nào khiến bồn chồn 
Bởi từng hứa vội hay còn hẹn mau
Chữ nhưng để tránh lòng đau
Anh cười nhưng vẫn có nhau kiếp này …
       CAO MỴ NHÂN 
ĐỂ DÀNH  

 
 
Để dành chi tấm thân em
Muốn tan thành nước ưu phiền sóng mây
Lặng lờ chim soải cánh bay
Đừng lên cao nữa, xuống đây tự tình
Nửa đời vẫn chửa hồi sinh
Đắm chìm trong nỗi tuyệt tình của anh
Một trời nước bạc long lanh
Xin thôi hai chữ để dành kiếp sau
Hôm qua biển cuối, giang đầu
Từ đi ấm lạnh phai mầu thời gian
Ô hay em vẫn quan san 
Chưa nghe hơi thở anh than vãn buồn 
Để dành chi buổi hoàng hôn 
Đong đầy nước mắt cho hồn thơ dâng
Tan theo tất cả phù vân
Còn đây một chút lỡ lầm đấy thôi…
Cao Mỵ Nhân

Đất Lở Miền Trung
 
Sáu tỉnh miền Trung đất lở rồi
Sóng thần tây tiến biển đông ôi
Trùng dương bám vách Trường Sơn đổ
Thiên nạn mẹ già giữ cháu côi
Quảng Trị, Thừa Thiên bơi dưới sông
Quảng Nam, Tín, Ngãi ngóng Trời không
Bao la dòng lũ sầu thiên cổ
Sóng đỏ phù sa, nước ngập đồng
Bão lụt oan khiên đã đoạn trường
Không to thì nhỏ, mỗi năm vương
Bao nhiêu năm đủ thời tôi lớn
Có thủa nào quên thiếu gió sương
Mái nhà thay chiếc đò lênh đênh
Liếp vách trôi ngang trước mắt mình
Theo trực thăng đi về. cứu lụt
Thả chùm giây xuống kéo người lên
Bây giờ mưa bão , gió cuồng kia
Sáu tỉnh miền Trung đã cách chia
Từ buổi tôi rời nơi cố cựu
Những gì xưa cũ bỗng xa lìa …

Cao Mỵ Nhân

(HNPD)
XOÁ HẾT QUAN SAN 
 
Cuối tuần, em đi tìm anh
Không gian mở rộng, trời xanh, mây vàng
Tháng ngày tình tự mơ màng
Bước chân trên những lỡ làng, lẻ loi
Bao la trước mặt núi đồi
Mênh mông biển nghiệp luân hồi sau lưng
Chuông vang âm vọng ngập ngừng
Cánh chim  bay chậm, thả từng tiếng rơi
Trái tim đập nhịp tuyệt vời
Tìm anh tận cuối phương trời này sao
Nhưng thơ chưa viết nghẹn ngào
Thì anh đã tới, lời chào đắm say
Cuối tuần vui trọn hôm nay
Hoa nhung nhớ nở trên tay chưa tàn 
Anh cười xoá hết quan san 
Trao em tất cả muộn màng yêu thương…
      CAO MỴ NHÂN 
ANH, 30-4-1975

Anh trầm mặc suốt ngày ba mươi đó
Tháng tư đen, nay đã bốn sáu năm
Là quân nhân, thì phải đánh tới cùng
Là dân sự, phải chung chia trách nhiệm 


Ai đợi chờ ai, ai không tìm đến 
Ai bỏ ai đi, ai đã phân ly
Ai, ôi tất cả căm hận cuồng suy
Nhìn ai cũng sầu bi, tuyệt vọng 


Dương tướng cũ chết vì danh nghĩa sống 
Ông tưởng là bọn  chúng thương miền Nam 
Ông đã lầm trao tất cả giang san 
Làm tan vỡ tinh thần bao chiến sĩ 


Chúng cướp cuộc bảo rằng vô đánh Mỹ 
Đánh cho Tàu, cổ suý cho Liên Xô
Chúng nâng niu tư tưởng lão già Hồ
Theo chủ nghĩa tam vô đầy lệch lạc 


Lũ vô sản cộng thù bao tàn ác
Xoá niềm tin người xây dựng Tự Do
Dân Việt Nam trọng lý tưởng Quốc Gia
Muốn gìn giữ quê hương cho Dân Tộc 


Anh sấp mặt, mồ hôi hoà nước mắt 
Để mai sau con cháu vượt lên nhanh
VIỆT NAM CỘNG HOÀ phục quốc quang vinh
Xoá tháng tư đen, tô lịch vàng quốc sử .
                             CAO MỴ NHÂN
Kính mời quý vị thưởng thức thêm các thi phẩm của thi sĩ CAO MỴ NHÂN
https://vbmdhk.org/cao-my-nhan/
vân nương- trần thị vân chung : 
                           “… LÀ TTKH THÌ ĐÃ SAO ĐÂU ?”
                                                  bài viết:  Cao Mỵ Nhân

        CAO MỴ NHÂN   [1939 –   ]


ấn bản đầu tiên phát hành 1994



    ấn bản phát hành năm 2000


Chuyện tình của quí vị cao niên – nếu có, thì lớp hậu sinh cũng nên thận trọng.  Tôi vốn là là người trọng nguyên tắc thời gian, tường làm cái việc vô tích sự, cứ tẩn mẩn tính tháng, tính năm, cho mỗi tuổi tác  các nhân vật chính nêu trên =-  quí vị cao niên có thể cao niên hơn nữa. 


Số là hôm nay, tôi đọc truyện ngắn Hoa Ti-gôn của nhà văn Thanh Châu, đăng ở Tiểu thuyết thứ bảy tứ năm 1937 — rồi đăng lại vào 1939, cũng trên tờ báo ấy-sau khi những tình thơ của tác giả TTKH đuộc tung ra ở Bắc việt- giai thoại ấy đã gài hơn tôi mấy tuổi lận.  Thế thì, câu chuyện Hoa Ti- gôn nào có chi bi thảm- ” Tác giả TTKH”  và p6ng hoạ sĩ trẻ, tên Lê Chất chỉ la hoàn toàn tình cờ, nhẹ nhàng –  như bất cứ cặp nam nữ trẻ trung 
thời nào cũng có thể xảy ra, chỉ qua những cái nhìn ấn tượng.  Rồi có thể ai nấy sẽ cuốn đi, mối tình thoang thoảng, hay thấp thoáng cũng được.  Thực ra trong truyện ngắn 
Hoa Ti-gôn, TTKH không phải là nhân vật nữ của họa sĩ Lê Chất — mà người đó có tên Mai Hạnh, sau lấy một viên chức của tòa Lãnh sự Pháp — Lê Chất đã là một họa sĩ danh tiếng, được tòa Lãnh sự Pháp mời dự tiệc ở Vân nam.  
Qua bữa tiệc, họa sĩ Lê Chất đã tỏ bày lòng yêu thương Mai Hạnh, Và chết nỗi, thời gian tưởng trôi qua cả chục năm, giờ lại tái phát cuộc tình trễ muộn, lỡ làng.  Tất nhiên, cả những phút giây không hợp với cái xã hội Việt nam thời thượng ở  bán thế kỷ thứ 20 — là Lê Chất và Mai Hạnh bỏ trốn qua Nhật.  Thoạt thì, Mai  Hạnh, phu nhân của nhân viên X… của tòa Lãnh sự Pháp, bằng lòng. Sau, suy nghĩ lại, bà đã từ chối chuyến đi định mệnh: bỏ gia đình theo người tình gặp lại v.v … Và thế nên. Hai sắc hoa Ti-gôn được TTKH gởi đăng báo, sau bài Hoa Ti-gôn của nhà văn Thanh Châu.  Sự kiện tưởng như là Hoa Ti-gôn củ nhà văn Thanh Châu ( sinh 7.9. 1912. mất 5.8.2007)  đăng báo năm 1937, kể tới bài Hai  sắc hoa Ti-gôn của TTKH  cũng đăng vào 1937 .(không rõ tên thật, làm sao biết được tuổi tác. ) Co thế thôi, thì là câu chuyện tình bình thường, như khá nhiều câu chuyện của thiên hạ.  Có điều, đoạn thơ thê thảm của bài Hai sắc hoa Ti-gôn ( khổ thứ 7 trên 11 khổ thơ thất ngôn) , TTKH viết:

                                                Tôi  vẫn đi bên cạnh cuộc đời

                                                Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
                                                Mà từng thu chết, từng thu chết
                                                Vẫn giấu trong tim một bóng người
 thơ TTKH

làm cho cả một thời đại xúc động, cả một thế hệ người tình động — cho tới bây giơ đã 78 năm — văn học sử và quí độc giả vẫn chưa giải mã, mà vẫn được mai danh, ẩn tích TTKh là ai?


                                                            Vân Nương  [i.e Trần thị Chung 1919-    ] 
  

                                   Thanh Châu    [i.e Ngô Hoan 1912- 2007]
21 năm trước, 2 tác giả Thế Phong ( miền Nam) và Trần Nhật Thu (miền Bắc) tạo ra một làn sóng văn chương, viết nên một giai thoại… kế thừa Hoa Ti-gôn của Thanh Châu+ TTKH.

TTKH là ai?

giai thoại 57 năm được giải mã — Thế Nhật.
Tôi nhớ đại khái thề, vì tên sách hơi dài — vả chăng tôi không định viết về cuốn sách của Thế Nhật — mà tôi định góp ý thô thiển về trường hợp sách được phát hành rộng rãi ở Việtnam — bên cá i Xã hội chủ nghĩa xa với mà thôi.  Khi thấy báo Dân Ta ở Texas đăng từng kỳ cuốn sách của Thế Nhật — tôi chưa biết phải làm gì ?  Lý do : 2 tác giả trên khẳng định nữ sĩ Vân Nương — ở Hội thơ Quỳnh Dao đều bất bình, không cảm thấy vui — bởi lẽ, nữ sĩ Vân Nương, một trong 4 sáng lập Hội thơ Quỳnh Dao ( Mai Oanh + Đinh thị Việt Liên +  Thu Nga + Vân Nương ) đã mời các nữ thi sĩ chuyên về Thơ Đường, tham dự năm 1961 ở Sài gòn — mời tôi [ 1939 –    ] lại là người tham gia cuối cùng ( 1974) — được gọi là em út của Quỳnh Dao , thế chỗ Tôn Nữ Hỷ Khương [1937-   ] , lên  hàng áp út.  Vậy thì  chẳng lẽ tôi lại không lên tiếng sao ?
Còn đang loay hoay, thì nhà văn Đặng Trần Huân gặp tôi, nói , ” Cao Mỵ Nhân không lên tiếng, thì ai nói rõ ra việc đó, bởi lẽ, các bà chị lớn của cô không bao giờ trả lời vụ này đâu ?  ” Tôi đã tức tốc viết một bài, cũng không có ý tranh cãi, nhưng để thanh minh rằng Vân Nương không thể nào là TTKH được. Bài viết của tôi có tựa đề:
                                                   TTKH HẬU CHIẾN
tuy tựa bài có vẻ khôi hài, nhưng nội dung dan cử nhiều chi tiết  ” nữ sĩ Vân Nương không phải là TTKH.”   Chỉ cần căn cứ vào cuộc đời thực tế và văn chương của nữ sĩ Vân Nương thôi — tôi chắc chắn rằng[ Vân Nương] không thể là TTKH.\    Nữ sĩ Vân Nương tên thật là Trần thị Vân Chung, phu nhân của luật sư Lê ngọc Chấn, [ ừng là] bộ trưởng bộ quốc phòng .( nội các Ngô đình Diệm, thời đệ Nhất Cộng hòa ), đại sứ 2 nhiệm kỳ ở Anh quốc + Tunisie.  
Khi đại sứ Lê ngọc Chấn cùng phu nhân đang trên đường trở về Việtnam (trước 30 – 4- 1975) để nhậm nhiệm vụ mới, thì biến cố đổi đời 30 – 4- 1974 xảy ra. Sau đó, ‘ngài’ luật sư Lê ngọc Chân phải tập trung đi học cải tạo dài hạn ở ngoài Bắc,  sau, được trả tự do về lại miên Nam — và qua đời vào 1986 ở Sài gòn.   Đám cưới của luật sư Lê ngọc Chấn và nữ sĩ Vân Nương ở Thanh hóa năm X… có 2 nhà thơ lớn tiền chiến phù rể, đó al2 Huy Cận av2 Xuân Diệu.
Ông bà Lê ngọc Chấn và Vân Nương sống rất hạnh phúc, được 4 người con, 2 trai, 2 gái.  Cô con gái đầu, có một thời đã xuất bản tập thơ Y… – sau thành hôn với một nhà quí rộc của nước Ý.  Những người con còn  lại hiện đang sống cùng con cái ở Pháp.  
Nữ sĩ Vân Nương sinh năm 1919, năm nay đã 96 tuổi.  Cách sống đức hạnh của bà đã viết thành những vần thơ cùng phẩm chất  –đã xuất bản đượ 2 tập thơ tình cảm chân chất — (…) thế tại sao lại có  huyền thoại? 
 Tôi phải nhấn mạnh  HUYỀN THOẠI TTKH — NÀNG LÀ AI? /  THẾ NHẬT ? 

nữ sĩ THƯ LINH [ i.e Đăng thị Lạc 1924-    ]
                                                  ” môt trong 2 vị nữ lưu tài sắc” 
                                           từng được in lrên bìa báo xuân ĐÀN BÀ 
                                                           thời tiền chiến
                                           báo của nữ văn sĩ Thụy An- Hoàng Dân
                                                        (ảnh tư liệu TP)
Có lẽ, có  2 vị nữ lưu tài sắc rất đáng ngợi ca — nhị vị này từ nhiều năm trước đã nổi tiếng là  những trang quốc sắc.  Đó là nữ sĩ Vân Nương và nữ sĩ Thư Linh, phu nhân của ông Nghiêm Phái.  Nhị vị nữ sĩ thường đến nhà nhau , để đàm đạo thơ ca cổ kim, trong đó có giai thoại Hai sắc hoa Ti-gôn.   Nữ sĩ V6n Nương vốn ở Thanh hóa, chị ruột bà Trần thị Anh Minh ( phu nhân trung tá Phạm xuân Ninh, bút danh Hà Thượng Nhân) – đôi khi bàn chuyện văn chương, thường hay bông đùa. Có một lần, tôi [Cao Mỵ Nhân] nghe lén được huyện của 2 vị bông phéng:
” Chị Vân Nương ở Thanh hóa, thì đúng rồi ,  [là] TTKH chứ còn ai [ vào đây] ?”
” Thì là TTKH thì đã sao đâu?”  – Vân Nương hóm hỉnh trả lời.”
tất nhiên không phải câu chuyện ngắn,  gọn như vậy — có nhiều điều dài dòng hơn. Và tôi chỉ đề cập 2 câu đối thoại dính líu tời danh xưng TTKH mà thôi.
Cả mười mấy năm sau, cuốn sách TTKH- NÀNG LÀ AI ?  được tung ra — cuốn sách tuy mỏng, nhưng động vào thị hiếu độc giả trong nước — nó gây phiền toái cho cá nhân nữ sĩ Vân Nương và gia đình;  tới cả chúng tôi, những thành viên trong thi đàn Quỳnh Dao. Nữ sĩ Mộng Tuyết ( niên trưởng Thi đàn Quỳnh Dao quốc nội ) bất bình, và nữ sĩ Trùng Quang khó chịu không kém. ( trưởng thi đàn Quỳnh Dao hải ngoại.)

Năm ấy, 1995, tai hoạ TTKH- NÀNG LÀ AI ?, áp đặt nữ sĩ Vân Nương, khiến  bà phải khẳng định ngay là [bịa đặt trắng trợn, sách không phải là một tác phẩm đúng nghĩa].   Ngay sau đó, bà thêm ba chữ vào bút danh VÂN NƯƠNG – LÊ NGỌC CHẤN, để trả lời báo chí  phỏng vấn.  Đồng thời,   dư luận bạn đọc, chẳng ai tin về những điều được viết ra trong sách TTKH- NÀNG LÀ AI ?. Bởi lẽ, độc giả Việt nam tuy đơn giản thật, nhưng cũng rất quyết đoán, ” phải có bằng chứng “ thì họa may mới gọi là khả tín.

Tới nay đã 20 năm qua, tôi đọc lại truyện ngắn Hoa Ti-gôn của nhà văn Thanh Châu, phân tích sự việc ở ngoài đời và chữ nghĩa — mới hay có nhiều sự hiểu lầm đang tiếc.  Nào là nhà văn Thanh Châu đó, cũng quen với gia đình nữ sĩ Vân Nương, quen cả luật sư Lê ngọc Chấn, phu quân của nữ sĩ, cũng là một nhà ngoại giao gộc v.v…  — thì cái ảo giác kia cứ lan man, đối với những người ưa tưởng tượng — huống chi tất cả  chỉ vì xuất phát ở vườn Thanh. (Thanh hoa.)
Nhưng,  dầu cho suy diễn, tưởng tưởng; thì vẫn chỉ là phỏng đoán — nôm na gọi là đoán mò  thôi.  Thì, cũng rơi vào quên lãng,  những hoa, lá cành về TTKH.  Và tôi lại nhớ đến những chuyện cổ tích, không nhất thiết phải hay; nhưng lạ thì chắc chắn rồi .
Hôm nay bên trời Pháp , ở một vùng thuộc miền Nam ấm áo — Vân Nương, chị đã 96 tuổi rồi — không gian  bàng bạc như là dĩ vãng xa gần. Cô em út [ Cao Mỵ Nhân  1939 –    ] thi đàn Quỳnh Dao của chị,  không bày tỏ gì thật trọn vẹn trong HUYỀN THOẠI TTKH HẬU CHIẾN , quả là cảm thấy đáng trách quá ! 
 Riêng nhà văn tiền chiến Thanh Châu, thì đã mất từ năm 2007 ở Sài gòn — nơi nổ ra ảo ảnh TTKH — mà thơ Hai sắc hoa Ti-gôn lại được đăng sau truyện ngắn Hoa Ti-gôn. Sao nhà văn không lên tiếng, sau đúng một giáp [12 năm].  Còn sách TTKH- NÀNG LÀ AI ?  kia , chất ngổn ngang khắp trên đường phố, ông [Thanh Châu] mới ra đi vậy. 
 Ý của tôi [CMN]  muốn nói rằng, ”  ở mốt tình nhỏ như ở Thanh hóa, [thì] có chuyện gì mà trong nhà chưa tỏ thì ngoài ngõ đã thông.  TTKH chẳng những đã làm nên một Hai sắc hoa Ti-gôn. tác giả còn có thêm vài bài nữa , Bài thơ thứ nhất, Bài thơ đan áo  v.v…Đối với dân việt ta, nói chung là 3 x 7 = 21 ngày, chuyện đời dầu là bí mật đi nữa, vẫn có thể lan ra một cách không thể kềm chế được !
Phu quân TTKH, họa may là một ông Tây, thì mới có chuyện bỡ ngỡ trước văn chương giấu giếm của vợ  —  chứ là một vị quan quyền việt ta , thì ôi thôi — chỉ cần hắt hơi một câu, thì ông ta cũng tìm ra ngay cái điều ấp ủ nêu trên. 
                                                              ***
Và cuối cùng, tôi vẫn suy diễn chủ quan là : nhà văn Thanh Châu, tác giả truyện ngắn Hoa Ti-gôn, đã biết được ít nhiều về TTKH.  Nhà văn Thanh Châu mới qua đời có 8 năm
 ( 2007) , tại sao các tác giả viết TTKH –NÀNG LÀ AI ? không tìm đến văn sĩ này mà hỏi, chắc cũng có điều hữu ích lắm.
Còn tác giả  bài TTKH HẬU CHIẾN  là tôi đây [ Cao Mỵ Nhân], thì đang sống trong nỗi nhớ quê hương, người thân thích xa mờ, bàng bạc, mơ hồ — vì nữ sĩ Vân nương đã 96 tuổi. []
     CAO MỴ NHÂN
      HAWTHORNE, 28 JANUARY, 2015.
     ( Saigon Times/ USA)

   Tuỳ bút của Cao Mỵ Nhân
 CHỈ NHÌN THÔI.    
Lâu lắm mới thấy lại những tảng mây trắng đè lên nhau, che kín cả bầu trời hướng nam…
Tôi đang ngồi trong phòng của mình, ngó ra mây trắng trưa nay, giờ này mới 2:00 pm, sau khi tất cả các khách trong nhà đã ra xe rời cái khuôn viên ” xơ xác điêu tàn vì ai ” của tôi…
Khách toàn là trẻ con, gồm con cháu mình và bạn của chúng, vừa gặp nhau đây, đã lại mỗi kẻ một phương trời …

Bây giờ thì những người ở hải ngoại, bất cứ nơi xứ sở nào, đông tây vòng quanh trái đất, đều tạo cho nhau những dịp gặp gỡ, không còn là điều xa lạ. 
Khiến các hội hè đình đám đã gần như thi nhau mọc lên như nấm, để được tái ngộ, hạnh ngộ, dẫu xưa quý vị có thể không hoàn toàn thích nhau lắm đâu.Và thế mới hiểu vì sao người ta hay nói ” tha hương ngộ cố tri” là vậy . 
Đứa con gái đầu lòng của tôi, vốn học Cao đẳng Sư phạm Saigon vào những năm giữa thập niên 80 thế kỷ vừa qua. Trước đó, thi vào cấp nào cũng thủ khoa, nhưng con nhà “nguỵ “, nên không bén mảng vô đại học được. 
Ngó thẳng trước mặt, nam thanh nữ tú con nhà VNCH, có cha mẹ đi tù cải tạo, ngồi chật giảng đường …
Thế rồi thì kẻ trước, người sau, thi nhau vượt biển, tất nhiên có đứa tới, đứa phải quay về ở tù vượt biên, khổ nhất là có đứa không tới, cũng chẳng về, ấy là đã đi tìm bóng cá Nemo, thế nên, nay gặp lại nhau thì mừng quá trời rồi còn gì. 

Bỗng chúng trưởng thành trong nhiều cách nghĩ lắm …chúng quý trọng thời gian đến nỗi, có lẽ già nua như tôi cũng phải học hỏi cái kinh nghiệm sống ở đời . 

Các nam thanh nữ tú con nhà ” nguỵ ” nêu trên, vững trong xử thế, từ quê hương đau khổ, nghiệt ngã …chúng đã trưởng thành trọn vẹn nơi…tạm dung muôn mặt . 
Bây giờ thì phụ huynh chúng, trong đó có tôi, đã lùi lại nhiều bước cho con cháu đi lên, bất cứ ngành nghề nào, đầy khí thế. 
Khi tôi mang giấy Ra Trại từ VN qua đây theo chương trình HO tị nạn, tôi phải làm đầu tầu cho 3 toa xe lửa, tức tôi, và 2 con trai, để lại VN 2 toa, là 2 con gái mà chúng đã biết sẽ ra đi ” đoàn tụ” nhưng cứ nhất định sang sông, chỉ vì là ” cô giáo ” sợ mang tiếng ế. 

Trước 30-4-1975, cả mấy đứa con tôi, đều theo chương trình Pháp, sau khi Bên Cướp Cuộc tràn vô miền nam, có đứa phải học tiếng Nga, nhưng rồi tự nó dẹp bỏ, vì khó tìm được sự đồng cảm trong ngôn ngữ mà ở mặt nào cũng không thấy hứng thú. 

Mãi sau 1995, khi Hoa Kỳ đã bang giao CSVN, phong trào học tiếng Anh mới nở rộ . 
Hành trình đi tìm chân lý sống Tự Do của …tôi, khởi sự từ đầu 1992, nên tôi phơi phới xài 3 chữ tiếng Anh thủa đi học thôi. 

Đến Hoa Kỳ, thì giữa 3 mẹ con tôi, tôi đầu tầu như nêu trên . Chúng tôi phải học …việt dã luôn, vì nhu cầu cần thiết, 2 con trai tôi vượt qua trước mặt tôi, tôi mỗi lúc mỗi tụt lại đằng sau không kềm hãm được …
Thế là đi đâu cũng phải theo một đứa con trai hướng dẫn và thông dịch luôn. Sự việc lại khiến tôi lùi sâu hơn vào quá khứ, tôi có vẻ ỷ lại, đợi ngày tháng qua đi mau chóng, mà không mong ước một điều gì gọi là …lý tưởng . 
Tôi già lúc nào không hay …

Tụi con trai đã vượt lên, kéo được gia đình 2 chị chúng qua ” đoàn tụ”, thay vì tôi phải làm chuyện bảo lãnh con cháu một cách mau chóng chứ. Do đó như trình bầy trên, 2 con gái tôi cùng gia đình chúng đã hiện diện ở Hoa Kỳ gần chục năm nay…
Thành tôi tiếp tục già thêm nữa, để như mau chóng tổng kết danh sách thế hệ mình. 
Thế nên các con cháu tôi cứ việc hội hè đình đám cho bõ những ngày cam khổ ở Bến Nghé xa mù . 

Các thế hệ của con cháu tôi chỉ xê xích nhau vài ba tuổi là nhiều … Như tôi đã kể ở đoạn đầu, rằng các nam thanh nữ tú con nhà ” nguỵ” giờ đây một số đã làm nên lịch sử tha hương, những ông nghè ông cống tân thời, văn minh tiên tiến…
Hoá cho nên quý con cháu …chúng ta đã mặc nhiên trở thành những cái phao cho ông bà cha mẹ hết thời, lỡ vận bám lấy,  để tiếp tục vượt qua hành trình khác …
Lớp trẻ hội ngộ trong một ngày thôi, nhưng từ khắp nơi đổ về thủ đô tị nạn này, Bolsa trở thành địa danh lịch sử, địa lý VN hải ngoại. 

Thành sẵn ngày hội ngộ trường lớp xưa, tiện dịp chúng đi ” du lịch ” luôn, với cái phép một tuần, có khi ít hơn nữa, vì chúng còn phải đi làm, đây cũng chưa hẳn là cái vacation, vì thời gian có khi thuận cho đứa này, lại không tiện cho đứa khác. 
Song, sự thực thời nay, có đi ra ngoài nhiều rồi, có thực tiễn, trải nghiệm các sinh hoạt ở đời, cuối cùng mới thấy là tình cảm trẻ trung, thơ dại, mộng mơ chỉ có được ở dưới một mái trường …Chúng đã tìm nhau vì nhớ lại cái mái trường thân yêu nào đó. 
Con gái tôi cho tôi coi 2 tấm hình cách nhau 30 năm, tức là từ hôm nay, rồi ngược về 30 năm trước . Tấm hình có 3 nhân vật, gồm chị bạn lớn hơn con gái tôi vài tuổi, con gái tôi, và cậu sinh viên, cả 3 cùng học Cao đẳng Sư phạm, nhưng khác lớp…Tấm hình giữ vị trí cậu bé đứng giữa, 2 cô đứng 2 bên cậu bé, thủa xa xưa đó …
Hôm nay gặp lại, 2 cô tiếp tục đứng 2 bên cậu sinh viên xưa, nhưng nay đã là các ông bà rồi . 2 tấm hình với 3 chỗ đứng nguyên vẹn, ai bên trái vẫn trái, ai bên phải vẫn phải, đấng nam nhi vẫn đứng gánh 2 cô bạn cũ rích thời gian…

Người ta có thể gặp lại, chụp hình lại với nhau, nhưng các vị trí thay đổi, 3 cô cậu này ” ngẵng đời “, tưởng là tình dự hội hè đình đám thôi, có đâu tái ngộ đã đành mà tấm ảnh thời nào vẫn còn nguyên kỷ niệm êm đềm …
Nắng trưa nay tuyệt đẹp ..Nắng trắng muốt như mây trắng nõn nà, phương nam vẫn rực nắng” trọng đông ” …Thời điểm này là giữa mùa giá rét, vừa qua mấy ngày thấp nhiệt, trưa nay nắng như hong ấm khí hậu tuyết băng, một mình tôi ngồi kéo lại không gian nồng nàn tình nghĩa …ở đời ! 
Viết thế thì sai phạm nhiều lắm đối với anh, là vì anh có khi nào không tình không nghĩa với mình đâu . Thời gian rất hắt hiu, anh với mình đâu có tấm hình nào gần nhất, thì làm sao có ảnh …ảo hôm nay, dù chỉ là cái bóng huyễn. Hèn chi hôm trước lâu rồi, anh cứ nhắc mình tất cả chỉ là trừu tượng …
Có lẽ trong trừu tượng thì tha hồ tưởng tượng chăng, như mây trên trời kìa, nhìn đó, mà cũng không giữ được trong tay, chỉ nhìn thôi, chỉ nhìn thôi, đã đủ đổi thay mầu trời như ý nghĩ trong tích tắc …
                                                                                   CAO MỴ NHÂN 

HÀNH TRÌNH CỦA MỘT NỮ SĨ 
 CAO MỴ NHÂN 

Ở trên đời có lẽ số người tôn trọng nguyên tắc chỉ độ hơn nửa, già nửa nhân khẩu còn lại, thường ỷ y, xem thường, hoặc vô phương cứu chữa cái cố tật ” nước tới chân mới nhảy “. Tôi ở số người đứng ở phần 2 này. 

Trong câu chuyện 60 năm cuộc đời hôm nay, nhà văn Nguyễn Quang, tác giả tập truyện ” Ông Giáo làng “, sẽ là người chủ chốt giới thiệu về 60 năm cuộc đời của Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh. 
Nhà văn Nguyễn Quang đã thông báo cho tôi, một đàn em của Nữ sĩ phu nhân ông, rằng ông sẽ cố gắng làm một buổi sinh hoạt văn chương kỷ niệm “60 năm Minh Đức Hoài Trinh”  ngay nơi thủ đô tị nạn . Mời Cao Mỵ Nhân tham dự và phát biểu góp chút kỷ niệm cho có tình tỉ muội với nhau.

Tôi bày tỏ với Nhà văn Nguyên Quang và Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, là tôi ngại quá. 
Ở một cái nôi hơn 3 thập niên văn vật, với con đường xa lộ hào quang 24/24, âm vang từ 5 châu vọng về, điểm tới Bolsa
đỉnh chung danh vọng, đất hứa của những tài hoa mọi lãnh vực. 
Đến nỗi từ tring nước hết lớp sóng này, tới lớp sóng khác, tràn qua đại dương, lưu diễn ngành nghề đơn điệu, hay đa hiệu tuỳ theo thời vận.

Nhà văn Nguyễn Quang cười hỉ hả: 
” Không sao, không sao, việc ai nấy làm, mình ghi lại thời điểm 60 năm hoạt động văn hoá, nghệ thuật của Minh Đức Hoài Trinh thôi mà ” .

Vào thượng tuần tháng 4 năm 2008, tôi đã tháp tùng đôi uyên ương văn nghệ này, lên San Jose để giới thiệu cuốn sách đồ sộ ” Văn nghiệp và Cuộc đời Minh Đức Hoài Trinh ” gồm những hình ảnh và bài vở liên hệ của tác giả đương nêu, do chính Nhà văn Nguyễn Quang sưu tập, biên soạn. 

Minh Đức Hoài Trinh là một nhà văn, nhà thơ, nhà báo thực sự. Nhưng nếu chỉ là 3 nhà như vừa kể, thì cũng na ná các nhà văn , thơ, báo hiện nay, rất phổ thông ở hải ngoại, cái điều khiến chúng ta, hay ít nhất là tôi thấy được, là chị đã khởi đi từ một ký giả truyền thông chuyên nghiệp, có học hành, đỗ đạt ở một phân khoa đại học danh tiếng nước Pháp.
Chị đã là phóng viên chiến trường cấp quốc tế, là ký giả hoạt động ở mọi lãnh vực. 
Chị đã hiện diện ở châu Âu, châu Phi, và sau cùng ở châu Á, trong đó có chiến trường Việt Nam trước 30-4-1975. 
Sau đó chị lại rời quê hương trước thời điểm trên, lại vẫn vừa học, vừa hành…
Khi hay tin miền Nam rơi vào tay cộng sản, Minh Đức Hoài Trinh đành trở qua Pháp, bước tiếp hành trình cuộc đời chị, sinh hoạt văn hoá xã hội và đấu tranh cho lý tưởng Tự Do mà từ thủa nào chị hằng theo đuổi. 

Kể từ 1975 và những năm cuối thập niên 70, những cơn sốt di tản xuất phát từ các ngả đông, nam VN, dân chúng bất kể thuộc thành phần nào ở các tỉnh bên này sông Bến Hải, đã phải tìm đường vượt biên vì sợ hãi, chán ghét, thù hận chế độ vô thần, vô sản, vô nhân đạo, họ quyết kiếm sự sống trên nỗi chết, hằng ngày sóng biển đông vật vã tàu, đò, thân xác người lênh đênh. 
Để nói lên tiếng nói chung, một cách điệu duy nhất  có thể biểu lộ được sự phản bác cho 5 châu, thế giới  biết được , hiểu ngay vì sao dân miền Nam phải rời bỏ quê hương ra đi, là phải có một sinh hoạt cấp quốc tế. 
Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh đã nung nấu ý chí thành lập 
VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI, với hoài bão dựa vào diễn đàn này, nói lên nguyện vọng của từng lớp người di tản, vượt biển, lưu vong, tị nạn và lớp người bị tù đày ở trong nước : Sĩ quan chế độ VNCH bị tập trung cải tạo, lớp người tranh đấu cho tự do nhân quyền sau này . 

Do đó, năm 1977, Minh Đức Hoài Trinh đã từng bước vận động, từng bước xây dựng được TRUNG TÂM VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI.
Chính thức sinh hoạt cùng VĂN BÚT THẾ GIỚI năm 1978. Nữ sĩ MINH ĐỨC HOÀI TRINH là Chủ Tịch Văn Bút VNHN nhiệm kỳ tiên phong. 
Thành quả bên cạnh Văn Nghiệp, Minh Đức Hoài Trinh với 30 tác phẩm đủ thể loại, từ thơ, văn, tiểu luận, ký mục vv…
Nữ sĩ có một sự nghiệp song song, đó là đã hiện diện sau lớp văn thi sĩ tên tuổi khởi xướng tiền nhiệm, lão làng thiết lập nhóm BÚT VIỆT, tiền thân của TRUNG TÂM VĂN BÚT VIỆT NAM CỘNG HOÀ,  trách nhiệm tổ chức, điều hành : Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, Đỗ Đức Thu, Vũ Hoàng Chương, Đông Hồ, trẻ hơn có Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo, Duy Lam. 
Trong số hội viên, có các nữ sĩ sinh hoạt rất đều đặn, đi họp Văn Bút Thế Giới như Mộng Tuyết, Quỳ Hương, Tôn nữ Hỷ Khương, Hoàng Hương Trang vv…

Nhiệm Kỳ VĂN BÚT VNHN do Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh giữ chức Chủ Tịch đã đấu tranh tích cực cho những văn nghệ sĩ bị nguỵ quyền cộng sản cầm tù như Nhà Văn Duy Lam, nhà thơ Cung Trầm Tưởng, nhà thơ Tô Thuỳ Yên, nhà thơ Mai Trung Tĩnh, nhà thơ Vương Đức Lệ . 
Đồng thời quý vị văn thi sĩ vừa nêu, cũng được các Trung Tâm Văn Bút các nước bạn như Pháp, Thuỵ Sĩ can thiệp. 

Điểm khó trình bầy với tôi hôm nay là giai đoạn 2 của Văn Bút VNHN sau năm 1995, đã vô tình bị phân hoá đáng tiếc . Sự kiện đã khiến Văn Bút Thế Giới phải đặt VB/ VNHN trong tình trạng dừng lại. 
Một lần nữa, Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh lại phải đi vận động Văn Bút Thế Giới nghiên cứu và chấp thuận việc tái sinh hoạt để danh xưng TRUNG TÂM VĂN BÚT VNHN tồn tại đến hiện thời . 
Nếu không vì yêu mến, xót thương danh nghĩa Văn Bút Việt Nam xưa, gọi là Bút Việt, nay là VĂN BÚT VNHN, thì Nữ sĩ MINH ĐỨC HOÀI TRINH đã chẳng bận tâm. 
Tuổi trẻ và sức khoẻ không cho phép chị làm việc, suy nghĩ nhiều nữa. 
60 năm văn chương, nghệ thuật của Minh Đức Hoài Trinh đã quá tải với những ưu tư, viết lách, hội thoại vv… 
Nhưng bù lại Nữ sĩ có những sinh hoạt tươi mát, hồn nhiên khác như hướng dẫn và biểu diễn đàn tranh, hướng dẫn và trình bầy nghệ thuật cắm hoa. 
Ngày anh chị cư ngụ ở Vườn Trúc ( vườn trồng toàn trúc vàng ), chị còn hướng dẫn một lớp chữ Hán. 
Với riêng tôi, đứng trước Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, một người trọng nguyên tắc, tôi vẫn tìm ra được những nét thoải mái khi nghe 2 bài thơ chị được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc : 
” Kiếp nào có yêu nhau
Đừng bỏ em một mình ” . 
Nhiều bài thơ khác của Minh Đức Hoài Trinh cũng được các nhạc sĩ khác phổ nhạc. 
Sự nghiệp Văn Hoá Xã Hội đồ sộ vậy, mà nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh không viết hồi ký. 
Song, chị được phu quân chị, Nhà văn NGUYỄN QUANG đã thu thập 253 tấm hình, thuyết minh đầy đủ cuộc hành trình phức tạp nhưng đầy ý nghĩa  của Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, tôi đã mạn phép anh chị đặt tên cho cuốn hồi ký tưởng tượng là : ” HÀNH TRÌNH CỦA MỘT NỮ SĨ ” vậy .

            CAO MỴ NHÂN