KHÁNH GIAO- BÁC SĨ PHÙNG VĂN HẠNH




Tiểu sử:

Bác sĩ Phùng văn Hạnh  Bút hiệu: Khánh Giao
Sinh năm 1931 tại làng Túy La, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam
Tú Tài Pháp bán phần ( Huế 1953)
Tú Tài Pháp ban Toán toàn phần (Lycée Yersin, Dalat 1954)
Y Khoa Sài-gòn (1954-61)
Trưng tập vào Quân Y QLVNCH Năm 1961, cấp bực Trung úy Y sĩ .
Y sĩ trưởng Trung Đoàn 41 DakTo 1961.
Anh dũng bội tinh 1962. Đại uý y sĩ  Sư Đoàn 9 BB Qui Nhơn, Sadec, Vĩnh Bình
 
1962 Đại đội Lựa thương Đà Nẵng 
1963 Thiếu tá y sĩ giải phẫu Tổng Y Viện Duy Tân Đà Nẵng
1964 Trung tá Bác sĩ, biệt phái ngoại ngạch tại Trung Tâm Toàn Khoa Đà Nẵng, trưởng khối Giải Phẫu chỉnh Hình (1964-1975)
Được thưởng  3 Ytế bội tinh trong 12 năm phục vụ tại TTYTTK Đà Nẵng. 
 Bác sĩ lưu dung BVTKĐN(1975-76). 

Vì chỉ trích sai lầm XHCN nên bị đi tù. Học tập cải tạo lao động Tiên Lãnh, Tiên Phước, Quảng Nam (1976-88).
.Xuất trại 1988, vượi biên cùng năm. Được tàu Pháp Médecins sans Frontières vớt (BS Trang Châu Hội YSVNCanada) Trại tạm cư tị nạn CS Palawan, Phi luật Tân 8 tháng (1988-89) Định cư Montréal, Canada tháng 5-1989 cho đến nay.

Tham gia tích cực hoạt động CĐVNQGHN Chủ tịch CĐNVQG Montréal (2002-2005)
 Chủ tịch chủ tịch đoàn các CDNVQG toàn Canada (2002-2005)
Nhật ký một bạn tù!
– Bác sĩ Phùng Văn Hạnh –

 Tôi quen biết cả hai vợ chồng anh Nam. Gia đình chị Nam là nạn nhân của cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn”. Cha chị, anh Khoa, là bạn học của tôi ở trường tiểu học xã. Lúc tôi làm việc ở Bệnh viện Đà-Nẵng, thì anh là xã trưởng xã Giao Hòa, gần quê tôi. Cha anh bị liệt vào hàng phú nông, đã bị du kích VC ở xã chôn sống, thời chống Pháp, chỉ vì ông chỉ trích biện pháp “tiêu thổ kháng chiến” trong đám giỗ gia đình ông. Người chỉ huy vụ thủ tiêu ông, là cháu kêu ông bằng bác, tên Cội. Cái “giỏi” của Cộng sản, là có thể khơi dậy ở người cháu lòng căm thù, để giết bác ruột. Khoa, lúc ấy, cũng là du kích, chứng kiến cái chết thê thảm của cha, mà không làm gì được. Sau đó, anh lẻn ra vùng Quốc Gia, và thề trả thù cho cha. Anh đã dẫn lính Bảo An, trong đêm tối phục kích tiểu đội du kích VC ở xã, và giết chết Cội. Thời Đệ nhị Cộng Hòa, xã Giao Hòa nằm trong vùng tranh chấp. Ban ngày, Khoa cùng Địa Phương Quân về đóng trong làng, ban đêm rút về quận. Con của Cội, lúc ấy, là “chủ tịch xã” (VC) ban đêm thường hay lẻn về đe dọa dân chúng, và thâu lúa gạo của dân.

 Tết Mậu Thân, 1968, con của Cội cùng “bộ đội” miền Bắc đột nhập quận, bắt được Khoa. Chúng dẫn Khoa về làng Giao Hòa, họp dân chúng lại, mở “tòa án nhân dân” xử Khoa, chúng hành hạ Khoa rất tàn nhẫn trước khi giết chết. Chị Khoa, vận đồ tang, về làng xin xác chồng đem về chôn tại quận. Bọn Cộng sản đã không cho, lại giết chết luôn chị Khoa, chỉ vì quá uất hận, chị đã thốt lên những lời mỉa mai trong khi khóc lóc trước mộ chồng.

 Hai vợ chồng Khoa chỉ có một cháu gái tên Thu, lúc ấy mới 10 tuổi. Thu bơ vơ được ông Quận trưởng Đại Lộc, Quảng Nam, nhận về nuôi cho đi học. Nam cùng quê với tôi. Cha chết sớm, vì ăn phải nấm độc, trong nạn đói thời “kháng chiến chống Pháp”. Mẹ Nam ở vậy nuôi con. Khi đồng quê mất an ninh, bà ra Đà-Nẵng giúp việc trong nhà cho tôi. Nam đậu Tú tài, vào học trường Nông Lâm Súc. Ra trường, thì bị động viên vào trường  Võ Bị Thủ Đức. Nam được chọn đi học khóa Tâm Lý Chiến, rồi về phục vị tại sư đoàn 1. Ông quận trưởng, cha nuôi Thu nay là Đại tá Trung đoàn trưởng, cấp trên của Nam. Thấy Nam chăm chỉ, hiền lành, ông đã cố ý tạo cơ hội cho Nam và Thu gần nhau, hiểu nhau. Đám cưới hai người do tôi tổ chức vào cuối năm 1974. Hai vợ chồng ông Đại tá không có con, lại có căn nhà lớn ở Đà-Nẵng, nên đôi tân hôn sống chung với ông bà.

 Cuối năm 1978, Sĩ quan trại tù Kỳ Sơn chuyển lên trại “cải tạo” Tiên Lãnh. Trước đó mấy ngày, tù chính trị và phần lớn các đội lưu động chuyển đi “trại  thôn Năm”, để chỗ cho “trại viên” mới. Một chiều ảm đạm, các trại viên cũ đều bị nhốt lại trong phòng, cửa sổ đóng kín. Nghe tiếng máy nhiều xe cam nhông đổ lại trước cổng trại. Tôi lúc ấy làm y tế trại, được lệnh ra nhận thuốc Tây mà các vị Sĩ quan mang theo, để nhập vào tủ thuốc ký gửi. Các “cán bộ” trại đang ráo riết lục soát “trại viên” mới. Từng đống áo quần treillis, giày da đi trận,  xắc đeo lưng bị tịch thu. Đồng hồ, bút máy, nhẫn đeo tay, tiền giấy phải đem ký gửi. Mỗi người nhận lại hai bộ đồ vải màu xám với một ít đồ dùng cá nhân. Công an đã đánh phủ đầu bằng cách lột sạch  di tích tù binh, và nhắc nhở một kỷ nguyên thường phạm khắc nghiệt bắt đầu. Tôi gặp lại Nam, nhìn nhau mà không dám nói một lời. Vài tháng sau, Nam được ra làm chăn nuôi, nhờ có bằng kỹ sư Nông lâm súc. Lúc đầu chỉ ra chăn nuôi ban ngày. Ban đêm phải trở về ngủ chung trong phòng giam. Nam vốn ít nói và hiền lành, lại cứu được nhiều gia súc trong một nạn dịch, nên được “quản giáo” chăn nuôi dần dần tín nhiệm, đưa ra ở hẳn trong trại chăn nuôi. Thường ngày Nam dẫn một đàn bò độ 30 con, đi ăn trên những đồng cỏ quanh trại. Tuy không có thăm nuôi, song Nam không thiếu thốn nhiều về ăn uống. Nhờ lang thang với bầy bò, Nam có dịp “cải thiện” bằng cách bẫy chim và thú rừng, đào sắn. Anh cũng trồng rau, bầu bí quanh khu chăn nuôi. Mỗi khi bò đẻ, Nam lấy nhau nấu ăn. Nam cũng hay cho tôi đồ “cải thiện” mỗi khi có dịp vào trại khám bệnh.

 Một lần đi đỡ đẻ cho một sản phụ ở bệnh xá dân, tôi có dịp đi ngang qua gò đất mà Nam hay đem bò ra đó gặm cỏ. Đỉnh gò có một miếu hoang, tường gạch, mái ngói, song mang dấu tàn phá của thời gian. Miếu nằm trọn vẹn dưới bóng mát của một cây đa to lớn, có nhiều rễ phụ. Bên cạnh miếu có một nghĩa địa nhỏ. Nam cho biết là có quen một giáo viên chế độ cũ (VNCH), bị đày lên dạy ở trường tiểu học gần đó. Anh nầy thường gửi thư giúp Nam qua bưu điện, khỏi sự “kiểm duyệt” của trại. Nam dẫn tôi vào miếu và chỉ chỗ kín, để khi nào có dịp ghé qua, mà không có Nam, thì giấu thư vào đấy, và Nam sẽ gửi đi giúp. Tôi đã dùng lối nầy gửi thư về nhà vài lần cho đến khi Nam được phóng thích.
 
Nam ra trại được hai năm, thì bỗng một hôm, nghe nói có một “trại viên” cũ, treo cổ chết ở một cây đa ngoài trai. Lúc ấy, tôi không còn làm y tế nữa, không có dịp để kiểm chứng người chết là ai, song tôi vẫn ngờ ngợ người ấy là Nam. Cho đến khi tôi được phóng thích. Tôi trở lại chỗ miếu hoang; vào chỗ kín mà trước kia tôi giấu thơ cho Nam gửi về nhà, xem thử. Nếu quả thật Nam đã trở lại đây tự tử, chắc Nam sẽ để lại cho tôi một lá thư tuyệt mệnh. Nam để  lại cho tôi không những một lá thư, mà cả một tập nhật ký, viết trên những tờ giấy rời. Kể từ lúc Nam chết cho đến giờ đã năm năm rồi. Tập nhật ký bị mối mọt đục nhiều chỗ, phải dồn vào một bao nylon. Tôi trở ra, đứng dưới gốc cây đa, xem thử Nam đã treo cổ ở cành nào. Lá đa xanh nghít, xào xạc. Dưới chân đồi con sông lượn khúc, khói lam quyện vào mái tranh một căn nhà ven sông, vươn lên bầu trời xanh thẳm. Nam đã chọn chỗ để an giấc nghìn thu. Mộ Nam là một nấm đất nhỏ, cỏ mọc lưa thưa, trong nghĩa địa cạnh miếu. Một tấm bảng gỗ mang tên họ Nam cùng với ngày tháng chết cắm ở chân mộ. tôi quỳ xuống cầu nguyện cho Nam, mặc dù lúc sống, Nam là một Phật tử. Đang lúc suy tư, tôi nghe tiếng chân đạp trên lá sau lưng. Tôi quay lại, thì một trung niên bước tới giới thiệu. Hóa ra là ông giáo viên tiểu học, thường chuyển thư cho Nam ngày xưa. Ông với Nam đã thành bạn thân. Chính ông đã nhận là bà con với nam và xin với xã được chôn cất Nam trong nghĩa địa bên miếu. Ông kể là Nam đã ở lại nhà ông một đêm. Sáng ra Nam lên đồi và không trở lại nữa. Nam còn cẩn thận gửi cho ông giữ một số tiền vừa đủ để chôn cất Nam, trước khi ra đi. Ông cũng chôn theo Nam lon gô mà Nam đeo trên vai, bên ngoài có ghi: “tro của em yêu dấu”. Tôi cám ơn tấm thịnh tình của ông. Về Saigon, tôi giở nhật ký Nam ra xem:

 “02-09-79. Hôm nay “quốc khánh XHCN”. Trước kia, miền Nam không có ngày lễ nầy, vì phe Quốc Gia mặc nhiên xem ngày đó là trò hề, khởi đầu cho “cách mạng vô sản quốc tế”, loại bỏ dần dần mọi tham gia của người yêu nước Quốc Gia. Dù chỉ là “trại viên” đều được nghỉ lao động. Riêng chăn nuôi, thì phải dẫn bò đi ăn. Nằm dưới gốc cây đa, thấy những lá non gió đẩy đung đưa trên nền trời xanh, lại nhớ bài thơ:

Nằm im dưới gốc cây to,
Nhìn Xuân trải nhựa muôn tờ lá non:
Giữa trời hình lá con con,
Trời xa sắc biển lá thon mình thuyền.
Gió qua là gió triều lên,
Hây hây gió đẩy thuyền lên biển trời.
Chở hồn lên tận chơi vơi,
Muôn chèo của nhạc, muôn lời của thơ.
Bâng khuâng như thể bao giờ,
Lênh đênh nào biết  bến bờ là đâu!”

 “Cuộc đời có lắm buồn phiền, là bể khổ. Có những phút phiêu diêu như thế này, để quên thân phận tù đày. Vẫn nhớ Thu không nguôi.  Lời bài hát “Nắng chiều” làm anh nhớ đến lúc chúng mình mới quen nhau: “Anh nhớ trước đây, dáng em gầy gầy, dịu dàng nhìn anh đôi mắt long lanh”. Mẹ đã trở về làng cũ Túy La, sống với gia đình chú Chín, giúp chú làm tằm. mỗi năm mẹ thăm nuôi hai lần, cũng đơn sơ, đạm bạc. Mẹ cũng không có tin tức gì về Thu.

 07-10-79. Gửi thư về cho Thu nhiều lần với địa chỉ nhà cũ ở Đà-nẵng, nhưng không có hồi âm. Không biết bây giờ, em trôi dạt về đâu. Chúng mình lạc nhau ngay ở bờ biển Sơn Chà (Sơn Trà) khi nhóm binh sĩ và sĩ quan Biệt động quân đứng thành vòng tròn, mỗi người trên tay một quả lựu đạn đã mở chốt. Khi họ la lên là “đồng bào hãy tránh xa”, anh và em mạnh ai nấy chạy. Nghe một loạt nổ chát chúa và hơi gió tạt từ sau đến. Họ tự tử tập thể, chắc là vì quá tuyệt vọng. Khi anh trở lại hiện trường, thấy cảnh người chết banh thây, mùi máu tanh tưởi, anh vội rời xa, vì nghĩ chắc là em đã thoát. Rất tiếc, là trong lúc hốt hoảng, anh quên không nắm tay em cùng chạy. Mặc dù lúc đó Việt cộng đang ở đèo Hải Vân bắt đầu pháo kích vào Sơn Chà, anh vẫn vừa chạy vừa ẩn núp, để tìm em. Tìm mãi em không được, anh trở về nhà cha nuôi em, song nhà vắng tanh. Anh ở lại đó, chờ em về. Song vẫn biệt tăm. Nghe lịnh “ủy ban quân quản” thành phố, anh ra trình diện, và bị tập trung  vào Vĩnh Điện, rồi Kỳ Sơn…” (nhật ký bị rách nát nhiều trang không đọc được).

 “… Xa em đã gần bốn năm. Chúng mình sống bên nhau chưa đầy sáu tháng. Những kỷ niệm thân thương không hề phai nhạt:

Bốn năm trời xa em,
Chúng ta mất biết bao ân ái mặn nồng.
Nhớ đến lúc bên nhau hai đứa…
Khắng khít uyên ương, thiên đường nguyên thủy…
Anh quỳ bên em ngất ngây thờ lạy,
Vẻ mỹ miều của thân thể trinh nguyên,
Anh hôn lên vầng trán bình yên,
Lên đôi má hây hây say tình e thẹn.
Lên đôi môi nở hoa dâng hiến,
Ôi ngọt ngào là miệng lưỡi của em.


Hơi thở thơm tho, anh mãi mãi thèm…” (bài thơ lại bị mối đục thủng đoạn kế tiếp). Một mảnh giấy rời, có câu thơ còn đọc được. Bài thơ chắc dài, chỉ còn chục câu, gợi nhớ thương, lo lắng cho vợ lúc đi chăn bò.:

 “Gió sớm mai mát rượi, như bàn tay yêu thương,
Biết bao giờ trở lại bên em, ôi cả một thiên đường!
Tiên Lãnh vào Thu, núi rừng đẹp lắm:
Trời lộng xanh cao, cỏ đồi dệt thảm,
Lấp lánh, lao xao, chạy theo nắng ấm,
Vẳng bên tai, chim gió, hát lưng trời.
Cảnh vật an bình, xao xuyến lòng người,

Ngồi dưới gốc cây đa, bên ngôi miếu cổ,
Nhìn đàn bò thong dong gặm cỏ,
Mà tâm hồn bay bổng, hướng về em.
Em ở nơi mô, cuộc sống có êm đềm!
Mà chẳng đến thăm anh tù đày khốn khó?

Lo cho em, chắc nhiều trắc trở,
Xin cầu Trời phù hộ cho em.


 20-09-80. Được phóng thích ngày 28-08-80, nhân dịp “quốc khánh”. Trong giấy ra trại cho về nguyên quán làng Túy La. Hai mẹ con dựng một nhà tranh nhỏ, trên miếng đất ngày xưa, sớm chiều có nhau. Kỷ niệm thơ ấu, những ngày hồi cư đói khát, cha chết, không có vải làm khăn tang, trở lại trong giấc ngủ đầy ác mộng. Việc đầu tiên là tìm tông tích của Thu. Lên Giao Hòa hỏi thăm, chẳng có đầu mối gì, chỉ biết thêm là người giết cha mẹ Thu, đã vào tù vì tham nhũng, khi hắn ta làm “chủ tịch Hợp tác xã nông nghiệp quận”. Nghe nói, là hắn “có thể bị xử tử”.

 09-10-80. Lo làm ăn, đầu tắt, mặt tối, mà chỉ đủ hai mẹ con, ngày hai bữa, ăn bắp, ghế cơm. Mẹ nhắc hồi nhỏ, mình nói ngọng, kêu bắp là bú, kêu gạo là gụ, và năn nỉ nấu “nửa bú, nửa gụ” cho dễ ăn. Nay hai mẹ con ăn “nửa bú, nửa gụ” thế là tốt rồi. Ra Đà-nẵng nhiều chuyến dò la tin tức Thu. Lúc nào cũng khấn thầm Trời Phật phù hộ tìm ra tông tích nàng. Mộng mị thấy nàng trong giấc ngủ thường xuyên. Tình cờ một hôm vào quán mì Quảng gần chợ Cồn, gặp lại Thúy, bạn học Thu, nay là giáo viên tiểu học. Thúy nói là rất mừng, gặp lại tôi, để thông báo là có thể Thu đã chết trong ngày chạy loạn ở Sơn Chà. Tôi bàng hoàng chết điếng. Em Thu! Em ra đi không một lời từ biệt! Thúy cho biết là cùng Thu chạy về mũi Sơn Chà, giữa rừng người hoảng hốt. Một quả đại bác rơi gần đó. Khi Thúy chổi dậy, thấy chung quanh người chết nằm la liệt. Thu nằm bất động, rên khe khẽ, máu rỉ ra từ một vết thương trên trán. Thu thều thào nhờ Thúy báo tin cho Nam. Sau đó Thúy may mắn xuống một thuyền nhỏ ra tàu Mỹ đậu ngoài khơi, vào được Saigon. Lúc trở về Đà nẵng, thì chẳng biết tôi ở đâu để nhắn tin.


 12-10-80. Có người mách là có thể đến bệnh viện Đà-nẵng xem danh sách những người bị thương và chết được xe cứu thương mang về đó trong những ngày cuối tháng 03-75. Tôi đến nhà xác bệnh viện. trong quyển sổ cũ, giấy đã vàng, tôi tìm được tên em. Phải lên nghĩa địa Hòa Khánh để tìm mộ. Song mộ lại dời đi Gò Cà trong đợt dời mộ  năm 1976 do “lệnh chung của tỉnh”. Nghĩa địa Gò Cà mênh mông, bao trùm nhiều đồi trọc cát sỏi. Cũng may, là anh ra tù sớm. Mộ bia của em, một tấm gỗ nhỏ, đã ngã nằm ra đất, chữ viết bằng loại sơn xấu đã nhòe nhoẹt dưới nắng mưa. Anh bới mộ em lên. Không nhầm lẫn được: hàm răng dưới em có em có chiếc răng cời bên trái. Trán còn mang lỗ thủng mà chị Thúy có nhắc đến. Chiếc áo lụa em bận ngày chạy loạn chưa hư nát hết. Lượm từng cái xương của em, mà nước mắt tuôn ra không ngớt. Em nhìn anh bằng cặp mắt của hư vô. Bỏ xương vào một hũ sành, anh mang về Túy La.

 11-11-80. Cái thằng thôn trưởng thật hắc ám. Mỗi tuần hắn bắt trình diện một lần và khai báo, mặc dù chẳng có gì lạ. Những tạp dịch trong thôn, hắn bắt mình “xung phong” làm. Ngay chuyện gỡ mìn quanh đồn bót cũ, cũng là mình. Lúc nào cũng coi mình là “thù địch”. Trồng dâu, hái dâu, làm cỏ, nuôi tằm, công việc xoay như chong chóng. Những ngày giữ bò còn “sướng” hơn bây giờ.

 Đã đốt xương em, cho vào một lon gô, để ở đầu giường, để được gần gụi em. Tối tối, lại trò chuyện cùng em. Trong lòng anh chẳng ai thay thế được em. Có nhiều cô gái trong thôn tỏ tình, nhưng anh dửng dưng, nguội lạnh. Tâm hồn giống như một ông già. Những lúc cô đơn, hay làm việc một mình, tự nhiên lại thốt lên: “đời sao buồn quá” hoặc ngâm se sẽ: “buồn ơi xa vắng, mênh mông là buồn”. Bái hát của Từ Công Phụng nói về nỗi cô đơn, khi người yêu đã mất nghe thấm thía quá: “kể từ khi em đem cô đơn mọc lên phố vắng, khi em đem nụ cười khỏi đời, từng chiều rơi, ta nghe như cõi lòng tê tái. Nghe giữa đời còn gọi tên nhau”. Đoạn giữa của bài hát đúng như lúc chúng mình đứng ở bãi biển Sơn Chà, một đêm sao sáng đầy trời, em ngước mắt nhìn anh, chờ đón nụ hôn, trong khi bài tình ca du dương, từ một quán xa vọng tới: “ngày ấy cho nhau một lần, một lần tiếng hát đồng lõa, đưa anh vào vùng trời lấp lánh, bằng những ánh sao trời vào đôi mắt ngước trìu mến”. Anh muốn tìm lại ánh mắt của em ở thế giới bên kia!

 06-12-80. Những bài học về tư tưởng yếm thế hay quanh quẩn trong đầu. Có một thi sĩ Tầu không nhớ tên, đã viết:

Tích ngã vị sinh thì,
Minh minh vô khả tri.
Thiên công hốt sinh ngã.
Sinh ngã lục hà vi?
Vô y sử ngã hàn,
Vô phạn sử ngã cơ,
Hoàn nhỉ thiên sanh ngã,
Hoàn ngã vị sinh thì
”.

 Tạm dịch:

 “Khi tôi chưa sinh ra,
Hỗn mang nào có biết.
Trời bỏ tôi ra đời,
Ôi số phận cay nghiệt,
Không áo để che thân
Không cơm đói muốn chết,
Trả lại Trời công sinh
Trả lại tôi thời chẳng biết”
.

 Cuộc đời bi thảm quá. Chỉ muốn trở về với hư vô, (nhật ký rách vụn nhiều trang). Mấy trang chót còn đọc được:

15-07-82. Mẹ đã ra đi một cách êm thấm. Thường ngày mẹ dậy rất sớm. Song hôm nay mặt trời đã lên cao mà mẹ vẫn chưa thấy dậy. Lại giường mẹ xem sao, thấy sắc mặt hơi tái, sờ tay thấy lạnh ngắt. Thì ra, mẹ đã ra đi trong giấc ngủ. Mẹ lúc nào cũng sống âm thầm như chiếc bóng. Lúc giã từ vĩnh viễn, mẹ cũng không muốn quấy rầy con. Thương mẹ, thương em quá chừng. Ma tang đơn giản. Chôn mẹ cạnh mộ cha sau vườn:

Bởi con nghèo, nên mẹ chết âm thầm,

Kẻ giàu có, thì linh đình ngày xuống huyệt.

 Mẹ chết rồi, con không còn gì để ràng buộc với thế gian này nữa. Con muốn trở về gốc cây đa, mà con đã trải qua nhiều giờ phút suy tư về kiếp sống con người, và yên nghỉ cùng Thu. Ở một nghĩa địa cổ Hy Lạp, người ta phát giác một bia mộ ghi những lời sau đây: “hỡi những người qua đường, hãy nhẹ chân, vì đêm nay là đêm cuối cùng ta ngủ được ngon giấc”. Ông ta lúc sống chắc trải qua những khổ đau cùng cực, nên mất ngủ triền miên. Tôi thì không đến nỗi như ông, song giấc ngủ dài yên lặng của nấm mồ, tôi thầm mong ước được như thế”.

 Thì ra, nhật ký không viết cho tôi. Mà chỉ là những gửi gắm riêng tư. Nam cũng không ngờ là tôi trở lại miếu hoang nầy. Chiến tranh, chết chóc, chia ly, thời thơ ấu thiếu thốn, đau buồn đã hằn lên tâm hồn Nam nhiều đau thương!

Cha chết sớm, chưa kịp dạy Nam yêu đời. Nếu Thu còn sống, chắc Nam cũng yêu đời như ai.

Bác sĩ Phùng Văn Hạnh

(Trích trong: Tình Yêu Hiện Sinh Một Kiếp Người)
Nhng Bài Hc Trên Mng 

  Bác sĩ Phùng Văn Hạnh
Mùa đông lại đến. Tuổi già sợ lạnh, ít ra ngoài. Quanh quẩn trong phòng, có được thú vui là đọc điện thư hàng giờ. Rất may  phần lớn là những truyện ngắn, hồi ký, các bài khảo luận về văn học, nghệ thuật, triết lý, luân lý, khôn ngoan, tôn giáo v.v. Tuổi già mà vẫn học thêm được nhiều điều bổ ích. Nghĩ rằng con cháu cũng cần được hướng dẫn trong lối sống, nên ghi chép lại, và cũng như ngọn đèn thắp lên cần đặt vào nơi cao để rọi sáng chung quanh, bài viết ra mong được phổ biến qua báo chí.

Nhân đọc bài của một văn sĩ Gia nã Đại  tôi phổ thơ để dễ nhớ.  Câu chuyện thật cảm động thời Québec cận đại, Ảnh hưởng tốt của một người bạn ấu thời in sâu tâm hồn tác giả, đã giúp ông sống với tâm linh hưóng chân thiện mỹ. Tôi đặt tên cho bài thơ: ẤU THỜI

ẤU THỜI
Thuở tôi còn bé, điện thoại hiếm,
nhưng cha tôi không kém người ta
có điện thoại ở trong nhà:
Đó là hộp gỗ bóng lòa vẹc-ni
trên bờ tuờng lối đi vào bếp
có ống nghe, treo nép bên hông.
Tôi thấp quá chỉ đứng trông,
say sưa nghe mẹ nói dông nói dài,
như chuyện trò với ai trong máy.
Lâu ngày tôi nghiệm thấy rõ ràng :
Trong máy có người ẩn tàng
tên là ‘’dịch vụ  hỏi han, xin mời ‘’, 
 giống thần linh ẩn nơi bình cổ.
Thần và tôi gặp gỡ đầu tiên:
Trong dịp mẹ thăm láng giềng ,
tôi chơi lủi thủi, thói quen thường ngày,
ở tầng hầm loay hoay đục đóng,
vô ý búa đập trúng ngón tay. 
Đau thấu trời làm sao đây?
Máu tụ giần giật ngón tay sưng dần
Mút ngón đau, khổ thân muốn khóc.
Đi loanh quanh rồi bước lên lầu.
Đi ngang điện thoại ngẫng đầu,
nhớ ra mình phải kêu cầu thần linh
Tìm cái ghế tôi rinh gần máy
vội leo lên cầm lấy ống nghe,
bấm nút dịch vụ, rè rè:
-“Bạn cần gì, tôi đang nghe đây nầy »
-“Bị búa dập ngón tay đau lắm,
 ‘’phải làm gì để  giảm cơn đau?”
Đầu giây giọng nói lo âu:
-“Máu có chảy? người nhà đâu?một mình?”
-“Mẹ cháu sang láng giềng, nhà trống
Máu không ra, đau đớn quá chừng”.
-“Có biết mở tủ lạnh không?
“Lấy cục nước đá rồi dùng ấp lên
“ngón tay đau liền liền em nhé!”
Tôi làm theo thấy nhẹ cơn đau.
Nước đá lạnh thật nhiệm mầu
tê ngón tay, giảm cơn đau dần dần.
Từ đó tôi kết thân với máy
Hàng ngày nhờ giảng dạy đủ điều:
Hỏi bài sử ký, địa dư,
Mộng lệ An thành phố to, nơi nao?.
Cả chuyện nhỏ nhặt tầm phào:
Sóc con tôi mới lượm vào để nuôi
-“Sóc con ăn gi?”, tôi van vĩ
Bà trong máy tỉ mỉ giải bày:
-“Ăn hạt dẽ và trái cây
Nếu sóc còn yếu, uống ngay sửa bò.”
Lần đầu tiên tuổi thơ mất mát:
Chim họa mi thường hát trong lồng,
nổi vui gia đình nức lòng,
bỗng chết tức tưởi, đống lông lù xù.
Quá buồn thảm, tâm tư chùng xuống,
tôi giải bày đau đớn với bà.
Cảm thông thất vọng sâu xa
bà tìm mọi cách để mà ủi an:
Cuối cùng bà nói rằng: “Paul nhớ
“rằng bên kia thế giới chúng ta
“Ở đó chỉ có tiếng ca
“Chim hát không dứt, chan hòa niềm vui”.
Nghe lời đó, lòng tôi bớt tủi
Đau thương được an ủi vỗ về:
Họa mi tôi hát say mê
Bên kia thế giới tràn trề niềm vui.
 Lần chót bà giúp tôi viết đúng
chữ réparation lủng củng khó khăn,
 kiên nhẫn dạy tôi đánh vần:
Bà đúng là  bạn thiết thân không rời.
Năm 9 tuổi gia đình dời chỗ khác,
lên Baie Comeau, vì công tác ba tôi.
Thói quen cũ phải bỏ thôi,
vì điện thoại mới sáng ngời tối tân,
không có nút hỏi han dịch vụ,
vắng bà tiên ngày cũ thân thương.
Tuy bằng i-nốc sáng choang
để trên bàn thấp dễ dàng với tay
máy mới ấy không gây hứng thú
Tôi  chỉ mơ máy cũ thân quen
 
Nhiều năm sau tôi phải lên
Mộng lệ An tiếp tục luyện rèn tương lai.
Chuyến máy bay ghé qua Québec,
hai gìờ sau mới tiếp hành trình.
Lang thang dãy phố một mình,
bổng đâu tìm lại bóng hình ngày xưa:
Tiệm đồ cổ vẫn xài đồ cổ
có điện thoại hộp gỗ thô sơ.
Lại gần không chút đắn đo
bấm nút “chỉ dẫn”; bất ngờ đầu kia
giọng quen thuộc ngày xưa đáp lại:
“chỉ dẫn đây”. Tôi trả lời ngay:
-“Đánh vần giùm cháu chữ nầy
Réparation, cháu thấy vừa gay, vừa dài »
Một thoáng yên lặng trôi qua
rồi giọng trong trẻo thiết tha hỏi rằng:
“ngón tay em chắc lành rồi hẳn?”
Tôi vui mừng: -“Bà vẫn như xưa
“Bà ơi những năm ấu thơ,
“bà rất quan trọng với tôi nhường nào.
“Mỗi ngày cùng với bà trò chuyện
“hết cô đơn yêu mến cuộc đời,
“tự tin, tâm trí thảnh thơi
“tuổi thơ dệt mộng  nhẹ trôi êm đềm.
Bà trả lời:”rằng em có biết
“mỗi ngày tôi tha thiết trông chờ
“em gọi để được chuyện trò.
“Tôi không con cái bơ vơ giũa đời
“Điện đàm giữa em và tôi
“đem lại những phút vui tươi ấm lòng.
“Tôi xem em như con ruôt thịt
“Bấy lâu nay  tha thiết trông chờ
“khắc khoải tiếng em trong mơ
“Hôm nay nghe lại: trời cho ơn lành.
Tôi trả lời:” Cháu hằng nghĩ đến
“Bà là Tiên thân mến tuổi thơ
“Khi nào có dịp bà cho
“Cháu gọi  bà để chuyện  trò thân thương”
Bà nói:-“Tôi  ước mong em gọi
“Hỏi gặp ai, em nói Sally”
 
Ba tháng sau trở về Québec
Nhấn điện thoại giọng khác trả lời:
– “Bà Sally đâu rồi” tôi hỏi
-“Tôi lấy làm buồn mà nói  ông rằng
“Sally làm bán thời gian
“Vì hay đau yếu những năm cuối đời
“Bà chết ba tuần rồi, tội nghiệp
 « chỉ bạn bè thu xếp ma tang
  « vì bà không có thân nhân.
Nghe tin dữ, tôi bần thần ngất ngây
định gác máy, đầu giây tiếp nối:
« Ông là Paul, xin lỗi, phải không?
buồn bã tôi trả lời : »Vâng »
-« Thế thì tôi đã trông ông lâu rồi.
« Sally trước khi qua đời gửi lại
« Một lá thư dặn phải mở ra
« Đọc cho ông nghe lời bà :
« Đây nầy : Paul nhớ lời ta tâm tình
« Bên kia thế giới mình đang ở
« Có thiên đường, không đau khổ chia ly
« Ở đó tiếng chim họa mi
“hát không dứt, sống sướng vui vĩnh hằng”
 
Tôi cám ơn lời trối trăn đằm thắm
mà Sally gửi gắm cho tôi
Để tôi ghi nhớ trọn đời
Ảnh hưởng giao tiếp giữa người với nhau
Lời Sally khắc sâu tâm khảm
từ ấu thơ dấu ấn tâm linh
hướng tôi theo một hành trình
chân, thiện, mỹ Sally dành riêng tôi.
                                         Khánh Giao
 
Trong một điện thư khác, ca tụng bài chúc thư  của ông Tôn vận Tuyển (viện trưởng trường Quốc gia hành chánh Đài Loan), mà tôi phổ thơ sau đây
 
DI CHÚC ÔNG TÔN VẬN TUYỂN
  Khánh Giao phổ thơ
Dù thương hay không, thì kiếp sau
cũng không còn dịp gặp nhau nửa rồi.
Các con thân mến đây lời
của cha căn dặn khi rời thế gian.
Lời cha dựa trên ba nguyên tắc”:
đời vô thường nào chắc trường tồn
nói sớm để hiểu hay hơn
Nếu cha không nói, chẳng còn có ai
dặn các con dông dài nhiều chuyện
dựa theo bao kinh nghiệm máu xương
cha đã thất bại, đau thương
ghi nhận lại, sáng soi đường quang minh,
giúp các con trưởng thành, chín chắn
Tránh hoang phí nhầm lẫn trong đời
Thứ nhất đối xử với người
nếu ai không tốt, ta thời lánh xa
đừng bận tâm, ôn hòa, nhã nhặn
Vì trên đời nầy chẳng có ai
Có bổn phận tốt với ta
Ngoài cha mẹ ,ruột rà tình thâm
Nếu có ai đã làm chuyện tốt
Thì biết ơn, mực thước giao tình
thận trọng đừng quá cả tin
vì người đời nghĩ đến mình phần đông
làm việc tốt để hòng thủ lợi
Chớ vội vàng xem họ bạn thân
Thư hai, mọi người trên trần
có thể thay thế, dù rằng khác nhau
Cũng không có vật nào nhất thiết
phải sở hữu, bám riết không rời
Hiểu nguyên lý đó để rồi
Sau nầy nếu mất bạn đời trăm năm
hay những gì vô vàn trân quý
thì con cũng nên hiểu cho là
không phải trời sập đâu mà
không nên bi lụy, xót xa, chán đời
Thứ ba nhớ đời người ngắn ngũi
Nếu hôm nay lãng phí thì giờ
Mai đây mới hiểu, thôi rồi
vĩnh viễn đã mất quảng đời quí trân
nếu sớm biết thời gian quá quí
thì tận hưởng dương thế nhiều hơn
Trông mong cho được sống trường
Chi bằng hiện tại sống trong đủ đầy
Thứ tư:trên đời nầy nhất thiết
Không có chuyện:bất diệt yêu thương
Ái tình chẳng qua bình thường
nhất thời cảm xúc môi trường gây ra
tuyệt đối đổi thay qua hoàn cảnh
biến thiên theo hướng dẫn thời gian
Nếu người yêu con sang ngang
thì con nhẫn nại, dần dần sẽ quên
để tâm tư bình yên lắng đọng
đau khổ cùng thất vọng nhạt nhòa
Đừng ôm ấp những ngày qua
chỉ là ảo ảnh, gọi là yêu thương
Tội gì phải đau buồn bi lụy
Thất tình để uổng phí ngày xanh
Thứ năm có người công thành
nổi tiếng mà chẳng học hành bao nhiêu
chẳng có bằng cấp cao, chuyên biệt
không có nghĩa, hiểu biết không cần
Kiến thức đạt do học hành
Giáo dục vũ khí ta cầm trong tay
Có thể ta dựng xây sự nghiệp
với tay trắng, nhưng tiếp theo là
nên nhớ kỷ một điều nầy
phải có tấc sắt trong tay mới thành
Thứ sáu cha không cần phụng dưỡng
của các con trong quảng đời nầy
Ngược lại, cha cũng cho hay
không bao bọc nữa cả bầy các con
các con đã lớn khôn, độc lập
cha đã tròn thiên chức của mình
Các con nay đã thành danh
Xe nhà, xe buýt, hành trình tùy nghi
Xúp vi cá, bánh mì, ăn tiệm
đều phải lấy trách nhiệm làm đầu
Thứ bảy cha có  yêu cầu
con giữ chữ Tín, làm sao vẹn tòan
nhưng không bắt tha nhân giữ tín
Đối xử tốt thể hiện với người
Nhưng không kỳ vọng ở nơi
tha nhân xử tốt cười vui với mình
Đừng nghĩ là công bình họ phải
Làm điều tốt trả lại cho ta
Phải hiểu rõ, khỏi xót xa
cho người vô cảm hay là vô ân
Thứ tám, xem thấy tha nhân
trong mười  mấy, hai chục năm kiên trì
mỗi tuần mua đúng kỳ, vé số
nhưng vẫn nghèo, chứng tỏ ra rằng :
Muốn phát đạt, phải siêng năng
Cho không vật dụng, thế gian chối từ
Thứ chín gia đình sum họp được
là duyên phận, phúc đức từ đâu
Kiếp nầy chung sống với nhau
Như thế nào, được bao lâu, phúc phần
Hãy trân quý, quảng thời gian gần gũi
Dù có thương hay đổi không thương
Kiếp sau chắc gì cùng đường
chắc gì gặp lại, tiếc thương muộn rồi
 
Qua hai bài thơ trên. phản ảnh cả một nền văn hóa của hai xứ sở Đài Loan và Gia nã Đại. Văn hóa chịu ảnh hưởng địa lý, lịch sử, tôn giáo, cùng nhiều yếu tố khác nữa  Xuyên qua hai câu chuyện trên đây (“ấu thời” và “ chúc thư của một người cha” ) chúng ta thấy những sự khác biệt giữa Đông và Tây mà các nhà văn Lin Yu Tang, Rudyard Kipling, đã từng nói đến. Chuyện “ấu thời” của một nhà văn Québec cận đại mà tôi phổ thơ trên đây, chịu ảnh hưởng Thiên Chúa Giáo sâu đậm. Tuy câu chuyện mang nặng dấu ấn bi thảm của cuộc đời, nhưng vẫn có một niềm lạc quan của một thiên đường vĩnh hằng mai sau, một niềm tin vào lòng tốt vô vị lợi của con người, chấp nhận những thiệt thòi cho mình để đem lại hạnh phúc cho kẻ khác. Bà Sally cô đơn, không con cái gia đình, thân nhân luôn đem lại an ủi, giúp đỡ cho người khác và đặc biệt đã dem lại cho một em bé một ấu thời ấm cúng, tự tin, vui vẻ.
Trái lại di chúc của viện trưởng trường Quốc gia hành chánh Đài Loan mang nặng ảnh hưỏng luân lý Khổng Mạnh, và Phật Giáo. Ông tin ở luân hồi và không hi vọng ông và con cái gặp nhau ở kiếp sau. Còn kiếp nầy ông nhắn nhũ những điều thực tế, đôi khi ích kỷ , như phải cẩn thận đối với người làm điều tốt cho ta. Tình cảm lúc nào cũng mực thước, xem chuyện mất người thân yêu nhất không phải là trời sập, vv..Nói chung quan niệm ông về cuộc sống rất thực tế, không nặng về tâm linh có một đời sau, mà chỉ làm sao cho đời nầy được thoải mái, có lợi cho cá nhân mà không phương hại đến người khác  Không trông mong ở tha nhân một sự hi sinh thiệt thòi gì cho mình. Và ngay chính mình cũng không làm điều tốt cho tha nhân, chỉ trừ giữa cha con ruột thịt  Ông không đặt nặng tình yêu thương vô vị lợi như phương Tây, Nói chung, tình cảm nghèo nàn, mực thước, thực tế  Giữa cha con có thể thương hay không thương. Tình yêu chỉ nhất thời, thay đổi với hoàn cảnh và thời gian.:



“Ái tình chẳng qua bình thường
“ nhất thời cảm xúc môi trường gây ra
“tuyệt đối đổi thay qua hoàn cảnh
“ biến thiên theo hướng dẫn thời gian
Vì chỉ tin tưởng vào đời nầy, nên đời sống tâm linh, hóa ra nghèo nàn :
“Thứ  hai, mọi người trên trần
“có thể thay thế, dù rằng khác nhau




Theo thuyết Nhân Vị (personnalisme), Tây Phương tin rằng “cá nhân không thể thay thế được (l’individu est irremplacable). Mỗi người được Thượng Đế sinh ra là một nhân vị riêng biệt, có một đời sống riêng biệt, và một tâm linh vĩnh cữu riêng biệt  Mọi cá nhân đều bình đẳng. Linh hồn một người vô danh, ít kiến thức cũng là một đơn vị không thể thay thế, giống như một danh nhân thông thái
Tâm trạng ấy cho ta hiểu được phần nào vì sao thế giới tân tiến văn minh sợ Trung Quốc, vì họ sống cho chính họ nhiều hơn là cho tha nhân  Sự ích kỷ đó đưa đến thị trường cướp giật, giả mạo, lấy sức mạnh áp bức xâm chiếm láng giềng và các dân  tộc khác.
Thiên Chúa Giáo dạy rằng: “ yêu người như minh ta vậy” nhắc nhũ ta yêu tha nhân, chứ không được dững dưng, không tình cảm, cho nhiều hơn nhận, hạnh phúc ở chỗ đem hạnh phúc đến cho người khác như linh mục Pierre đã nói:


Có vui sướng nào sánh bằng
khi tạo hạnh phúc tha nhân chan hòa


Vả lại khi tin tưởng có một đời sau vĩnh cửu. tình cảm chúng ta sẽ phong phú bội phần.  Tình cha con, vợ chồng, bạn hữu v.v. sẽ trường tồn mãi mãi, không chấm dút ở ngưỡng của sự chét. Chúng ta sẽ đoàn tụ nơi thiên đuờng vĩnh cửu Và thực hiện ở đó những mộng ước mà đời nầy không đem lại được. Muốn đoàn tụ như thế chúng ta càng ra sức sống đạo đức, nhân từ, yêu người, để bảo đảm được vào thiên đuờng hưởng phước chung với nhau.
 
10 LỜI KHUYÊN CỦA EINSTEIN
Thứ nhất trí tò mò chân thật
tập trung vào, quan sát nhiều năm
thành công, thất bại, việc làm
Thành công là chính, nguyên nhân chỗ nào
bạn quan tâm vì sao thành đạt
tính tò mò dẫn dắt bạn đi
Thứ hai là luôn kiên trì
Tôi thành công không phải vì thông minh
Mà kết quả quá trình bền bỉ
Không đầu hàng, cố chí thực hành
Chính nhờ kiên trì đinh ninh
Con rùa tới đích hành trình cam go
Kiên trì đầy âu lo, cay đắng
Nhưng trái cây chiến thắng ngọt ngào
Thứ ba cố tập trung vào
hiện tại là chính, khởi đầu thành công
Bố tôi bảo: ta không thể cưởi
hai con ngựa một lượt phải không
Năng lực phải được tập trung
vào việc hiện tại mới hùng mạnh thêm
mới đủ sức vượt lên trở ngại
sau thất bại, là đến thành công
Thứ tư tưởng tượng luôn luôn
dùng để phóng tới, hình dung đoán chừng
những gì trên con đường nghiên cứu
trí tưởng tượng phong phú vô cùng
hơn cả kiến thức mông lung
sẽ cho bạn thấy con đường tương lai
Einstein nói thông minh không phải là kiến thức
Mà tưởng tượng đích thực thông minh
Thứ năm sửa sai chính mình
Không biết sửa chỉ loanh quanh, mù lòa
Không khả năng tạo ra cái mới
Sai lầm thì khác với bại vong
Sai lầm giúp bạn khá hơn
Thông minh, nhanh nhẹn, mở lòng, khai tâm
Phải nhận ra sai lầm chồng chất
muốn thành công, thất bại gấp ba lần
Thứ sáu, hiện tại thiết thân
Tương lai chưa đến, bận tâm làm gì
hướng tương lai, nghĩ suy đúng nhất:
sống hiện tại cho thật đủ đầy
Thứ bảy, hãy sống hàng ngày
Có ý nghĩa, không riêng tây công thành
Mà nặng về thanh danh ý nghĩa
Lo thành công là phí thì giờ
Mà chỉ có  một ước mơ
sống ý nghĩa là cuộc đời thành công
đem tài năng, tấm lòng bộc lộ
xử dụng hết chứng tỏ thông minh
Thứ tám hãy làm mới mình
Kết quả không đạt, vì sinh biếng lười
việc tương tự mà thôi, không đổi
không sáng kiến việc mới khác xưa
Đổi mới mình, đổi suy tư
luôn luôn hoạt bát, nghiệm thu càng nhiều
thứ chin kinh nghiệm điều rất quí
còn thông tin thuần tuý chỉ là
một mớ khái niệm đưa ra
trên sách vở , hoặc xuyên qua vật tài
kinh nghiệm mới thật là kiến thức
muốn hiểu được thực chất vấn đề
phải thực hiện các mục tiêu
mà vấn đề đó đã nêu ra rồi
hoàn thành công việc đồng thời
thu thập kinh nghiệm sáng soi vấn đề
thứ mười là nói về quy luật
ta nắm bắt để phục vụ ta
chiến thắng nầy mới thật là
công trình khoa học, giúp cho nhân loài
 
 
 
VIỆC NÊN LÀM
19 điều nên làm trong cuộc sống:
1-nhắn tin ai, họ trốn lặng yên
Thôi thì đừng có làm phiền
2-Không ai bên cạnh, tự tìm giải khuây
đọc sách, xem phim hay, nhật ký
máy điện toán biết mấy trò chơi
3-Đau lòng cứ khóc tơi bời
ráo nước mắt thì lại cười thong dong
4-Nếu ai cản bước chân thì tránh
Bạn đồng hành muốn lánh mặt ta
tuy rằng mất mát, xót xa
chấp nhận để khỏi đớn đau lâu dài
5-Hút thuốc, nghiện rượu, cai là tốt
6-Nên tìm bạn mà trút đau buồn
7-Ngắm trăng sao, nâng tâm hồn
Đau trong cao ngạo, còn hơn ươn hèn
Yêu lén lút, đâu bằng tin  tưởng
“ta là nhất”ai xứng với ta?
8-Chọn đại người yêu là sai
Công bằng, trách nhiệm cả hai không tròn
chọn tri kỷ tốt hơn, lại dễ
chuyện trò vui, chia xẻ cô đơn
9-Nhớ ngày sinh của người thương 
Tặng quà, nhắc kỷ niệm chung thắm tình
nhất là trong gia đình, phối ngẫu
10-Tránh rỗi, nghe nhạc tấu, ngủ ngon
11-Đừng hỏi ai:thương mình không?
nếu thương, họ đã nói thương, tỏ tình
Nói thương họ,  họ sinh kiêu ngạo
hết quan tâm mình, chu đáo như xưa
12-Ngược đãi bản thân vì ai
nhịn đói, than khóc, thật là ngốc ngu
đôi khi ngốc xem như tạm được
không ai thông minh suốt cuộc đời
13-Không quan trọng hóa, người và việc 
Hãy thuận theo nề nếp tự nhiên
14-Nói xấu tuyệt đối không nên 
nếu bắt buộc thì nói lên lời hiền
thêm bạn điều trước tiên tuân thủ
thêm thù khi nói xấu người ta
15-Xốc xếch ủ rủ tóc tai
là không tự trọng khi ra ngoài đường
chửi vài chữ trong vòng thân thiết
chuyện tục tằn quên hết cho mau
Phim HQ xem thử chớ cầu
để biết cho hết,có màu say mê
16-Phải nên có bạn bè khác phái
chỉ bạn thôi nhưng lại là thầy
quân sư nhiều chuyện thật hay
17-Phải luyện mình biết đổi thay hợp thời
Phai biết có những lời chôn chặt
Có nỗi đau giấu cất quên đi
sẽ trưởng thành theo đổi thay
âm thầm ta biết, người hay, tuyệt rồi
18-Chuyện tranh cải với người hạn chế 
lúc nóng giận rất dễ mất khôn
Hãy nhẫn nhịn, xét ngọn nguồn
vấn đề thu xếp trong vòng ấm êm
19-Mâu thuẩn với ai nên giải quyết
trong một ngày. Lâu hết hiệu năng
Khó mà giải thích, truy căn
nếu mình có lỗi ăn năn thực lòng
xin lỗi trước xung phong tự hạ
không phải là việc quá tệ đâu
 
CHỚ LÀM ĐAU NGƯỜI MÌNH THƯƠNG
Sai lầm nầy chúng ta thường phạm
Với người lạ đình đám lễ nghi
lịch sự, lễ phép, đủ đầy
Với người gần gủi lại hay cằn nhằn
Kẻ qua đường, mười phần cảm kích
khi họ giúp chút ít thôi mà
Người thân cận săn sóc ta
tận tâm, tận lực ta chưa hài lòng.
Tâm trạng chúng ta thường tồi tệ
bộ mặt cau có dễ nổi xung
mỗi khi đối xử người thương.
Còn nhẫn nại lẫn bao dung
Dành đẻ tặng cho người dưng qua đường
Muốn thể hiện trách hờn, tả oán
Thì đừng quên là chốn bình yên
chính là thân cận ước nguyền xẻ chia
chớ không phải đó làn thùng rác
trút tâm trạng bệ rạc, quỷ ma
Phải nhớ rằng không có ai
không duyên cớ, đãi đằng ta ân cần
Nhưng với người thiết thân trái lại
Vì ta mà đón nhận đau thương
để ta hạnh phúc thong dong
Sở dĩ ta gây tổn thương họ nhiều
Vì họ quan tâm, yêu ta lắm 
Cho nên ta cẩn thận nói năng
đừng tổn thương , đừng cằn nhằn
đừng làm đau kẻ thiết thân yêu mình.
 
CHÂM NGÔN DO THÁI
Nếu không chịu trao đổi kiến thức
Cho dù vạn dặm vượt có dư
Cũng chỉ là người đưa thư                 1
Trên đời có 3 thứ kể như an toàn:
không ai cướp: đồ ăn đã nuốt
ý mơ ước, kiến thức trong đầu          2
Giọt nước bẩn làm đục ngầu
ly nước trong, và phải sau một hồi
để lắng , trong vãn hồi không dễ        3
Thời gian tốt nhất để trồng cây
Là 20 năm trước đây
Hay là nhanh nhẹn trồng ngay bây giờ.  4
Bạn thật, không chỉ ngồi nói chuyện
quên thời gian, cả đến khi ngừng
cũng không cảm thấy ngại ngùng            5
Nếu có mất mát thì đừng có lo
thiếu may mắn trong đời sống bạn
ma luôn nhìn mặt sáng cảnh hoàn
nếu không thấy thì sẵn sàng
đánh bóng hoàn cảnh, sáng choang, ngời ngời   6
Đất mềm, ngựa rả rời chân khuỵu.
Lời ngon ngọt, người luỵ ngã sa                          7
Bạn vấp ngã không phải là
lối bạn đi sai trái, hay sai ngã đường                   8
Thiếu tiền, ai cũng than hoàn cảnh
Mà không than mình chẳng tinh khôn                 9
Trứng vịt có thể tốt hơn
Là con vịt. nhưng trứng ung dễ dàng                  10
Người vạch ra bạn làm sơ sót
Chưa chắc là thù, mà tốt tấm lòng
Người ngợi khen bạn luôn luônvội
Chưa chắc là bạn, chớ hòng tin                           11
Cười là mỹ phẩm xem rẻ nhất
vận động là thuốc thật hiệu năng                        
chào hỏi, hàng hoá rẻ tiền
khiến cho giao tiếp chở chuyên thâm tình          12
Không giày đi khóc than hãy nghĩ
kẻ không chân rầu rĩ xiết bao                              13
Trẻ, việc nên làm, xông vào
để già khỏi phải ước ao  muốn làm                     14
Đem hoa tặng tha nhân trước hết
ta hưởng hương thơm yiết từ hoa
Khi ném bùn, vào mặt ai
Thì bùn đã lấm cả hai tay rồi.                            15
 
SUY NGHĨ VỀ CUỘC ĐỜI
Gieo suy nghĩ thì gặt hành động
Gieo hành động vun bón thói quen
Gieo thói quen, nhân cách rèn
Gieo nhân cách, số phận riêng hình thành
Một người có tâm tình như thế
cổ nhân gọi là thể tâm linh.
Người bao dung, lời hiền lành
Xây dựng, hòa ái, dịu dàng, thương yêu
Tâm óan hận, lời nhiều cay nghiệt
Nhười khiêm nhường chừng mực phát ngôn
nhã nhặn, lễ phép, rộng lòng
Người tự cao  lời khoa trương, tự hào
Kiêu ngạo, lối rêu rao, phách lối
họa từ miệng, phúc báo giảm đi
khẩu nghiệp chồng chất từ đây
mỗi ác nghiệp phải trả vay không ngừng
Xưa nay nhân quả không vị nễ
lời ăn, tiếng nói sẽ trình bày
chính cuộc sống của người nầy.
Nếu họ tỏ rõ tự cao, kiêu kỳ
lần sau gặp ta thì xa lánh
Muốn biết tốt xấu, vận mệnh ai
chỉ cần xem cách người ta
nói chuyện thì đóan tương lai thế nào.
Lời nói biểu hiện ra mực thước
người có đức, thất đức rõ ràng
Cần thủ đức ngay tại tâm
Có vậy phúc báo cứ tăng thêm nhiều
Người có vận mệnh chiều hướng tốt
Ăn nói chừng mực, đạo đức cao
họ không dùng từ búa đao
để phê phán hay chê bai người đời
không dài dòng mà kiệm lời
không kể công khi giúp người gian nan.
Lời họ nói chân thành , khích lệ
biết rõ việc, kể lể không cần
không tận ngôn, chừa 3 phần
lưu khẩu đức dành cho mình mai sau
Trách một người, không cầu nhất thiết
phải tận ngôn, mà biết để lưu
3 phần khoảng trống tu từ
để tỏ độ lượng, khoan dung của mình
Tỏ tài năng quá sinh ngạo mạn
Lưu lại 3 phần dạng khiêm nhu
Ngày tháng tích tụ bao nhiêu
Phúc báo, vạ miệng ra đi hết liền
Néu vẫn cứ thường xuyên khẩu nghiệp
lời không đẹp xoá hết hảo giao
Thực tế không ông chồng nào
vợ chì chiết không lao đao buồn phiền
lục đục  trong gia đình thường trực
con cái không có được an bình

hư đốn cũng từ đó phát sinh


   Bác sĩ Phùng Văn Hạnh 
Bn Hu

Thời gian đi, cuộc đời ngắn ngũi

sống xa cách , cư trú mỗi nơi
con cái lớn, phải xa rời
công việc bề bộn, ngược xuôi mõi mòn
Đam mê nếu có còn, giảm thiểu
Gia đình, ngoài tiên liệu bất ưng
Con tim tan vỡ, đau thương
Cha mẹ khuất bóng, đồng hương quên mình
đồng sự cũng phụ tình nghĩa cũ
công danh và nghiệp vụ ngày tàn
Nhưng bạn hữu vẫn cận gần
Dù cho khoảng cách, thời gian kéo dài
Bạn thân không một ai xa vắng
đến giúp ta, sốt sắng ân tình
bể khổ lặn ngụp một mình
bạn hữu tới tấp đến gần giúp ta
nào khuyến khích, nắm tay nâng đỡ
ở cuối đường hớn hở chào mời
Đôi khi bạn phá luật chơi
suốt hành trình vẫn không rời ta ra
Có bạn hữu, món quà dương thế
Không có bạn, đời sẽ khác đi
Hành trình trên quả đất nầy
Không ai đoán trước vui say nhường nào
Hay đau thương dâng trào thử thách
hoặc nhu cầu cấp bách tựa nương
Giữa người đồng hành trên đường
Nhu cầu đòi hỏi thông thường giúp nhau
Thông điệp nầy gửi trao bạn hữu
Là thành phần sinh tử đời người

Phần tôi, tôi đã gửi rồi


Bác sĩ Phùng Văn Hạnh
Tôi tin

Đôi khi người mạnh nhất chúng ta

cười vui trong khổ đau âm thầm
khóc sau cửa đóng then cài
đấu tranh đơn độc không ai biết gì
giúp kẻ khác không hề kể lể
Không ai trở lui, để bắt đầu
Nhưng ai cũng có hôm nay
khởi sự việc mới, ra tay hoàn thành
Hãy nhớ tám điều mang hạnh phúc:
giải phóng tim tức bực ghét ghen
giải phóng não những lo phiền
sống đơn sơ. Cho đi nhiều, từ tâm
Đòi hỏi ít, không cần phép lạ
Tha thiết với con cái, gia đình
Yêu quê hương, dạ trung trinh
Tình tự nòi giống, công dân ngoan hiền
Chớ bỏ bạn cũ, tìm không dễ
người bạn khác thay thế người xưa
Bạn cũ như rượu ủ lâu
thêm ngọt dịu với thời gian kéo dài.
Anh không thể khiến ai thương tưởng
chỉ cần anh mềm mỏng tương thông
tự nhiên họ đem lòng thương
giá trị anh, họ sẽ tường không lâu
Đừng trách người làm ta thất vọng
mà trách mình kỳ vọng quá nhiều
Luôn luôn cám ơn một điều
mỗi sáng thức dậy thấy yêu cuộc đời
còn sống ở dưới Trời hưởng phước

chào gia đình, mến chúc bạn bè


Bs. Phùng Văn Hạnh