






| Các tác phẩm văn xuôi của tác giả Lê Văn Hải 1. Chiếc Ghế Trống Bên Hồ Lake Cunningham!Lê Văn Hải 2. “Hè Về! Hè Về!” Cũng Là Mùa Tốt Nghiệp! LÊ VĂN HẢI 3. CHIẾC LỒNG ĐÈN NGÔI SAO CŨ (3 ĐỜI) CỦA BÀ! Lê Văn Hải |
| Vài Nét Về Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại – Và Ngày Ra Mắt Sách Phạm Đoan Trang -LÊ VĂN HẢI March 19, 2022 ![]() Vài Nét Về Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. (Mà rất nhiều Quý Anh Chị trong VTLV đã hoạt động, có mặt trong tổ chức này) Văn Bút Việt Nam, là tổ chức quy mô, quy tụ những Nhà Văn Thi Sĩ VN, hoạt động, dựa trên tinh thần “hiệp sĩ” của Văn Bút Quốc Tế. Một hiệp hội người cầm bút cấp lớn toàn cầu. Hội được thành hình năm 1926, gồm các tác giả, của 104 Cây Bút Quốc Tế. Được thành lập năm 1921 do Bà Catherine Dawson Scott sáng lập. Vị Chủ Tịch đầu tiên là John Galsworthy. Mục đích chính của Văn Bút Quốc Tế là: “Quảng bá văn hóa, Văn Bút Quốc tế hô hào dùng văn chương chữ nghĩa, để cách mạng nâng cao đời sống xã hội và văn hóa trong cộng đồng thế giới. Mà văn thi sĩ đóng vai trò quyết định then chốt trong vấn đề này.” Đi xa hơn, nữa Văn Bút Quốc Tế đã đưa ra đường hướng: “Bảo vệ quyền tự do tư tưởng, tiếng nói của những nhà văn phải được tôn trọng. Văn Bút Quốc Tế, chống đối lại hành động đàn áp, kiểm duyệt, tù đày hay đánh đập, hành hạ những văn nghệ sĩ…” Trên thế giới, không có tổ chức hoạt động văn hóa nào, lớn hơn tổ chức này cả. Trên hàng trăm quốc gia tham dự. Diễn đàn Quốc tế mạnh nhất, uy tín nhất! Tiếng nói mạnh mẽ tranh đấu cho lẽ phải của người cầm bút. Sau nhiều năm hoạt động được công nhận là tiếng nói, tượng trưng cho Trái tim của lương tâm nhân loại. Văn Bút Việt Nam, là thành viên lâu đời của Văn Bút Quốc Tế. Miền Nam trước 75, Văn Bút Việt Nam được thành lập từ năm 1957 và kéo dài cho đến Tháng Tư đau thương mất nước. Và sau đó duy nhất chỉ có “Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại” là còn tồn tại, (VC không có tên) tiếp tục sinh hoạt và được Văn Bút Quốc Tế công nhận, từ đó cho đến nay. Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, được Văn Thi Sĩ Minh Đức Hoài Trinh gầy dựng lại năm 1979, tại Paris, Pháp. Để tiếp tục hoạt động lại cho đến ngày hôm nay. Rất nhiều các cây bút đấu tranh cho một Việt Nam dân chủ tự do, bị nhà cầm quyền CSVN bịt miệng! tù đày, đánh đập, đã được Văn Bút Quốc Tế can thiệp, lên tiếng vì lẽ phải. Gần đây nhất là Phạm Thị Đoan Trang. Văn Bút VNHN đã gửi Kháng Thư Ngày 14 tháng 12 năm 2021 Lên án hành động vi phạm nhân quyền của Hà Nội trong việc khởi tố và kết án Tác giả Phạm Đoan Trang 9 năm tù. Link ở đây: PROTECTING WRITERS AT RISK in Vietnam Lê Văn Hải Chủ Nhật, Lúc 3 Giờ Chiều! RMS Phạm Đoan Trang! Lời Mời Tham Dự: Chiều Ra Mắt Sách: “Cẩm Nang Chống Độc Tài” Của Phạm Đoan Trang!” *Đây là tác phẩm mới nhất! Do Văn Thơ Lạc Việt Xuất Bản. *(Nhà đấu tranh dân chủ nổi tiếng, đang được dư luận chú ý nhất hiện nay, Cô cũng vừa được lãnh giải “Phụ Nữ Can Đảm Quốc Tế Năm 2022”: Phạm Đoan Trang! Với bản án 9 năm tù! Cũng là Thành viên quốc nội của Văn Thơ Lạc Việt gần 10 năm qua, từ năm 2014) *Giới thiệu Tác Giả và Tác Phẩm: Nhà thơ Chinh Nguyên và Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng. *Giá sách:15 đô la. Lúc 3 giờ chiều (ngày mai!) Chủ nhật, ngày 20 tháng 3 năm 2022. Tại Quán cà phê Lover, số 1855 Aborn Rd, San Jose, Ca 95121. *Chiều Ra Mắt Sách còn phụ họa với một chương trình ca nhạc đấu tranh đặc sắc, do những giọng ca hay nhất của miền Thung Lũng Hoa Vàng đảm trách. Phụ trách văn nghệ: Ca sĩ Thúy Nga. Nghi lễ: Hoàng Thưởng. Âm thanh: Văn Khoa. MC Hạnh Thảo. *Với những nhạc phẩm rực lửa Đấu Tranh và những bài ca thắm đậm tình Quê Hương Đất Nước. Vào cửa, cũng như nước giải khát, hoàn hoàn miễn phí! Trân trọng kính mời. Thay mặt BTC: Lê Văn Hải |
| Truyện Ngắn: TẤM CHI PHIẾU KHÔNG CÓ TÊN NGƯỜI CHO! Tôi tên là Thiên Nga, một thiện nguyện viên của Hội Tương Trợ Thương Binh VNCH. Gần mười năm nay, năm nào tôi cũng có mặt trong chương trình này. Không phải vì trách nhiệm, mà vì một lời hứa với cha. Cha tôi là một sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Trước khi qua đời, ông nắm chặt tay tôi và chậm rãi dặn: — Nga à, ba còn được lành lặn đến ngày hôm nay không phải vì ba may mắn hơn ai. Trên suốt chặng đường binh nghiệp, biết bao chiến hữu và những người lính dưới quyền đã ngã xuống, có người mất một phần thân thể để ba còn được sống. Sau này, nếu có thể, con hãy thay ba giúp đỡ những thương binh ấy. Đó là món nợ ân tình mà ba suốt đời không trả hết. Lời dặn ấy theo tôi suốt bao năm qua. Vì thế, sáng nay, tôi lại có mặt nơi đây. Dù đã tham gia Ban Tổ chức gần mười năm, cứ mỗi khi đại nhạc hội đến gần, chúng tôi lại không khỏi thấp thỏm. Điều khiến mọi người lo lắng không phải là ca sĩ, cũng không phải chuyện bán vé, mà là liệu năm nay có quyên góp đủ tài chánh để tiếp tục giúp đỡ các chú thương phế binh còn kẹt lại quê nhà hay không. Thế nhưng, suốt gần mười năm qua, có một điều kỳ lạ đã trở thành niềm hy vọng của Ban Tổ chức. Mỗi mùa đại nhạc hội, chúng tôi đều nhận được một phong bì màu vàng. Không có tên người gửi, không có địa chỉ, cũng chẳng có một lời nhắn. Bên trong chỉ có một tấm chi phiếu trị giá 50.000 đô la. Năm nào cũng vậy, chưa bao giờ đến trễ và cũng chưa bao giờ vắng mặt. Ở cuối tấm chi phiếu chỉ có một dòng chữ ngắn ngủi: “Một Người Mang Ơn.” Không ai trong Ban Tổ chức biết ân nhân ấy là ai. Nhưng chính những tấm chi phiếu vô danh đó đã giúp duy trì biết bao chương trình, trong những năm tưởng chừng phải hủy bỏ vì thiếu ngân quỹ. Đối với chúng tôi, người ân nhân ấy đã trao tặng nhiều hơn cả tiền bạc. Ông còn tiếp thêm niềm tin để chúng tôi tiếp tục con đường tri ân những người lính đã hy sinh một phần thân thể vì miền Nam Việt Nam. Năm nay, điều mà Ban Tổ chức đã chờ đợi suốt bao năm cuối cùng cũng đã xảy ra. Người ký những tấm chi phiếu vô danh đã đồng ý gặp chúng tôi. Đúng giờ hẹn, một người đàn ông khoảng ngoài năm mươi tuổi bước vào cùng một cụ ông chừng bảy mươi tuổi. Cả hai đều ăn mặc rất giản dị. Sau vài câu chào hỏi, người đàn ông lớn tuổi mỉm cười giới thiệu: — Đây là con trai tôi. Chính nó là người đã ký những tấm chi phiếu với dòng chữ: “Một Người Mang Ơn”. Cả Ban Tổ Chức đều sững sờ. Cuối cùng, người phụ trách chương trình không giấu được sự xúc động, nhẹ nhàng hỏi: — Thưa bác, vậy chắc ngày trước bác là một quân nhân của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa? Cụ ông mỉm cười. — Là lính thì đúng… Ông khẽ lắc đầu rồi nói tiếp: — Nhưng nó không phải con ruột của tôi. Nó là con nuôi. Mọi người bỗng im phăng phắc. Không ai hỏi thêm một lời nào. Cụ ông chậm rãi quay nhìn lên sân khấu, nơi treo bức ảnh người lính Việt Nam Cộng Hòa. Đôi mắt ông đỏ hoe. Sau một hồi im lặng, ông cất giọng kể… “Sau khi rời trại cải tạo được năm năm, tôi trở về với hai bàn tay trắng. Thân thể gầy gò vì những năm tháng tù đày, tôi mưu sinh bằng nghề chạy xe ôm. Mỗi buổi sáng, số tiền kiếm được chỉ đủ cho một ly cà phê đen, rồi lại bắt đầu một ngày dài len lỏi khắp phố phường tìm khách. Tôi thường ghé một quán cơm bình dân ở đầu xóm để nghỉ chân. Chính nơi đó, ngày nào tôi cũng gặp một cậu bé chừng mười tuổi, gầy gò như que củi, lặng lẽ đứng nép ở một góc với chiếc lon sữa bò cũ trên tay. Nó không xin tiền, cũng chẳng xin ăn. Nó chỉ kiên nhẫn chờ khách dùng cơm xong. Ai còn thừa chút cơm hay miếng cá, nó mới rụt rè xin bỏ vào chiếc lon mang theo. Cảnh ấy lặp đi lặp lại suốt hơn một năm, ngày nào cũng như ngày nào. Một buổi chiều mưa, nhìn thằng bé đứng co ro trước hiên quán, tôi không cầm lòng được. Tôi gọi nó lại ngồi cùng bàn rồi hỏi: — Con tên gì? Nó lí nhí đáp: — Dạ… Tuấn. Tôi nhìn chiếc lon trên tay nó rồi hỏi tiếp: — Con xin thức ăn về cho ai vậy? Thằng bé trả lời ngay, như thể đã chuẩn bị sẵn câu trả lời ấy từ lâu: — Dạ… nuôi heo. Nói xong, nó cúi gằm mặt xuống đất. Không dám nhìn tôi. Chỉ cần nhìn vào mắt nó, tôi biết ngay nó đang nói dối. Chiều hôm ấy, tôi lặng lẽ đi theo nó về nhà. Thật ra, đó chỉ là một căn chòi tồi tàn, dựng bằng những tấm tôn chắp vá; chung quanh hoàn toàn không có chuồng heo nào cả. Khi bước vào bên trong căn chòi, tôi thấy một người đàn ông mặc chiếc áo lính trận đã bạc màu, trên ngực vẫn còn huy hiệu hình con cọp mờ theo năm tháng, lặng lẽ ngồi trên chiếc xe lăn cũ kỹ. Nhìn kỹ mới thấy, ông chỉ còn một cánh tay, còn cả hai chân đều đã mất sau chiến tranh. Dưới chân ông, một người phụ nữ gầy gò, xanh xao vì bệnh tật, đang nằm co quắp trên chiếc giường xếp cũ. Thấy thằng bé mang cơm về, bà cố gượng ngồi dậy. Hai vợ chồng lặng lẽ ăn những phần cơm thừa mà nó mang về. Tôi đứng chết lặng. Người đàn ông ngẩng đầu nhìn tôi rồi khẽ mỉm cười. Ông nói nhỏ: — Xin lỗi anh. Vợ chồng tôi đều bị liệt, không thể đi lại được. Nhà nghèo quá, nên thằng nhỏ phải vất vả mưu sinh từng ngày. Tôi quay mặt đi. Là một người đàn ông, vậy mà tôi không sao cầm được nước mắt. Từ hôm đó, tôi mới hiểu rằng thằng bé không hề đi xin ăn. Nó lặng lẽ nhặt nhạnh từng hạt cơm, từng miếng bánh người ta bỏ lại để nuôi người cha thương phế binh và người mẹ bệnh tật. Mới mười tuổi đầu, nó đã phải gánh trên vai cả một gia đình. Ít lâu sau, tôi được sang Mỹ theo diện HO. Ngày bước lên máy bay, lòng tôi vẫn day dứt và áy náy vì phải bỏ lại thằng bé cùng gia đình nó phía sau. Cuối cùng, tôi quyết định làm hồ sơ nhận Tuấn làm con nuôi. Phải mất nhiều năm chờ đợi, Tuấn mới được sang Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ. Dù đã bỏ học từ lâu, nó học rất giỏi. Ban ngày đi học, ban đêm đi làm, dành dụm được đồng nào, nó đều gửi về Việt Nam phụng dưỡng cha mẹ. Ra trường, Tuấn trở thành kỹ sư. Vài năm sau, nó thành lập công ty riêng. Công việc phát triển nhanh đến mức ngay cả tôi cũng không ngờ tới. Nhưng giữa bao thành công ấy, điều đầu tiên Tuấn nghĩ đến vẫn là người cha thương phế binh và người mẹ bệnh tật ở quê nhà. Nó đều đặn gửi tiền về chăm lo cho cha mẹ cho đến ngày cả hai ông bà lần lượt qua đời.” Ông lão quay sang nhìn người đàn ông trung niên, nở một nụ cười hiền. — Điều làm tôi vui nhất là… đến bây giờ nó vẫn chưa bao giờ quên chiếc lon sữa bò cũ năm nào. Người đàn ông trung niên cúi đầu. Giọng anh nghẹn lại. — Thưa cô Nga… nếu ngày ấy cha nuôi tôi không lặng lẽ đi theo tôi về căn chòi nhỏ ấy… có lẽ cuộc đời tôi đã rẽ sang một hướng khác, vẫn chìm trong những tháng ngày tăm tối. Anh dừng lại một lúc rồi nói tiếp: — Tôi biết những tấm chi phiếu của mình không thể giúp được tất cả các chú thương phế binh. Nhưng ít ra, tôi còn có cơ hội thay cha nuôi trả lại món nợ ân tình mà ông luôn mang trong lòng. Anh nhìn về phía những chiếc thùng quyên góp đặt trước sân khấu. — Hôm nay, nếu cô cho phép… tôi muốn được cầm một chiếc thùng để đi xin tình thương cho các chú. Tôi khẽ gật đầu rồi hỏi: — Nhưng… sao anh biết tên tôi? Anh mỉm cười. — Vì suốt bao năm qua, tôi vẫn âm thầm đến dự hầu như tất cả những kỳ đại nhạc hội có cô tham gia. Tôi chợt thấy mặt mình nóng bừng. Dù trong lòng đã có câu trả lời, tôi vẫn khẽ hỏi: — Vậy… những tấm chi phiếu năm mươi ngàn đô-la suốt bao năm qua… đều là của anh sao? Anh lắc đầu. — Không… Anh mỉm cười, ánh mắt xa xăm. — Đó là của… một thằng bé từng đi xin cơm thừa để nuôi người cha thương phế binh và người mẹ bệnh tật. Rồi anh nhìn sang người cha nuôi đang ngồi bên cạnh. — Hôm nay, nó chỉ thay cha mình tiếp tục trả món nợ ân tình ấy mà thôi. Đại nhạc hội bắt đầu. Khán phòng chật kín người. Tiếng hát cất lên: “… Cám ơn anh, người thương binh năm cũ…” Cả khán phòng đồng loạt đứng dậy vỗ tay. Không ai biết… Ở hàng ghế cuối, có một ông lão tóc bạc đang lặng lẽ lau nước mắt. Ngồi bên cạnh là người con nuôi năm nào. Hai cha con nắm chặt tay nhau. Không ai nói một lời. Trên sân khấu, ánh đèn vẫn rực sáng. Dưới khán phòng, biết bao trái tim lặng lẽ rung lên. Có người đã hy sinh một phần thân thể cho Tổ quốc. Có người đã hy sinh cả tuổi thơ để cứu gia đình mình. Và cũng có những người âm thầm trả món nợ ân tình bằng cả cuộc đời, chẳng cần ai biết đến. Cuối chương trình, Ban Tổ Chức mở phong bì quyên góp đặc biệt. Bên trong là tấm chi phiếu trị giá 100.000 đô-la. Kèm theo chỉ một mảnh giấy nhỏ: “Em một nửa, anh một nửa.” Ở phía dưới vẫn là dòng chữ quen thuộc: “Một Người Mang Ơn.” Thiên Nga mỉm cười. Cô hiểu rằng, từ hôm nay, người mang ơn không còn chỉ có một. Món nợ ân tình ấy… đang được tiếp nối. Bởi có những nghĩa tình không bao giờ trả hết. Chúng chỉ được truyền từ trái tim này sang trái tim khác. Như một ngọn lửa. Tiếp tục trao yêu thương cho người khác nhé, người bạn quý mến của tôi! Hận thù chỉ mang đến chia ly và tàn phá. Chỉ có tình thương mới có thể biến thế giới này thành một thiên đàng mà thôi. San Jose, ngày 20 tháng 7 năm 2026 (LVH) |
| Truyện ngắn: CHIẾC GHẾ TRỐNG BÊN HỒ LAKE CUNNINGHAM Tháng Bảy, giữa mùa hè, San Jose rực nắng. Mặt hồ Lake Cunningham lấp lánh như dát vàng dưới ánh nắng mặt trời. Những cơn gió nhẹ khẽ lay hàng liễu, để từng cành cây mềm mại nghiêng mình soi bóng xuống mặt nước. Tiếng trẻ con cười đùa vang lên khắp công viên, hòa cùng tiếng nhạc và hương thơm từ những bếp thịt nướng, tạo nên bầu không khí ấm áp của Ngày Hè Của Lính. Những người lính năm xưa lại gặp nhau. Có người chống gậy. Có người mái tóc đã bạc trắng. Có người bước đi chậm chạp vì đôi chân vẫn còn mang dấu tích của những mảnh đạn năm xưa. Thế nhưng, khi nhìn thấy nhau, ai cũng nở một nụ cười. Bởi họ đều hiểu rằng, sau hơn nửa thế kỷ, mỗi lần còn có thể gặp lại nhau đều là một ân phước của cuộc đời. Ông Hùng đến rất sớm. Như suốt hơn mười năm qua, ông lặng lẽ mang theo hai chiếc ghế xếp cũ kỹ. Một chiếc dành cho mình. Chiếc còn lại được đặt ngay bên cạnh, vẫn để trống. Không ai được ngồi vào chiếc ghế ấy. Một cựu quân nhân trẻ hơn ông vài tuổi mỉm cười hỏi: — Niên trưởng Hùng, hôm nay cũng chừa ghế cho ai vậy? Ông nhìn chiếc ghế trống một lúc rồi khẽ đáp: — Cho một người bạn… tên Dũng. Cả nhóm bỗng im lặng. Ai cũng biết cái tên ấy. Đó là người bạn đã cứu mạng ông hơn nửa thế kỷ trước. Mùa xuân năm ấy. Giữa chiến trường miền Trung, mùa hè đỏ lửa phủ kín núi rừng. Đơn vị của hai người bị bao vây. Đạn từ bốn phía trút xuống như mưa. Một mảnh pháo xé ngang vai khiến ông Hùng ngã gục. Máu nhanh chóng thấm đỏ cả vạt áo. Trong cơn choáng váng, ông chỉ còn nghe tiếng Dũng gọi thật lớn: — Cố lên, Hùng! Đừng bỏ cuộc! Tao đưa mày ra! Ông cố mở mắt, thều thào: — Mày chạy đi… Dũng lắc đầu. — Không! Người lính Việt Nam Cộng Hòa không bỏ anh em. Không bỏ đồng đội. Nói rồi, anh lao tới, cúi xuống cõng Hùng trên lưng. Từng bước… Từng bước… Anh gắng gượng tiến lên giữa làn đạn dày đặc. Chỉ còn vài chục mét nữa là tới được giao thông hào. Bất ngờ, một loạt đạn nổ chát chúa. Dũng khựng lại. Máu từ sau lưng anh loang đỏ cả chiếc áo trận. Dồn chút sức lực cuối cùng, anh vẫn cố đẩy Hùng xuống giao thông hào an toàn. Trên môi thoáng hiện một nụ cười, anh thì thầm: — Ráng sống… nghe mày… Đó là những lời cuối cùng. Dũng ngã xuống. Anh không bao giờ đứng dậy nữa. Ông Hùng được cứu. Còn người đã cứu ông thì vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường. Không tìm thấy thi thể. Không một nấm mồ. Cũng không một tấm bia ghi tên. Ngày đất nước đổi thay. Ông Hùng trải qua nhiều năm trong lao tù. Đến khi được sang Hoa Kỳ theo diện HO, trước lúc rời Việt Nam, việc đầu tiên ông làm là tìm đến căn nhà nhỏ của Dũng. Người vợ trẻ ra mở cửa. Một cậu bé khoảng sáu tuổi lặng lẽ nép sau lưng mẹ. Đôi mắt của cậu giống hệt cha mình. Ông Hùng đứng lặng. Ông lấy tất cả số tiền ít ỏi còn trong túi, nhẹ nhàng đặt lên bàn. — Đây không phải là tiền đền đáp. Ông ngừng lại một lúc rồi nói tiếp: — Đây là món nợ ân tình mà suốt đời tôi không bao giờ trả hết. Nếu ngày ấy Dũng không đẩy tôi xuống giao thông hào… thì người nằm lại chiến trường đã là tôi. Người vợ đưa hai tay ôm mặt, bật khóc. Cậu bé Vinh vẫn chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra. Đôi mắt trong veo của cậu chỉ lặng lẽ nhìn người cựu quân nhân đứng trước mặt. Trước khi rời đi, ông Hùng cúi xuống xoa đầu Vinh. — Con hãy lớn lên, sống cho thật tử tế. Đó cũng là điều ba con hằng mong. Sang Hoa Kỳ. Cuộc sống của một người mới định cư chưa bao giờ dễ dàng. Ban ngày, ông rửa chén. Ban đêm, ông đi lau hãng. Cuối tuần, ông giao báo. Có những ngày, ông chỉ ngủ ba, bốn tiếng. Đồng lương kiếm được chẳng bao nhiêu. Ông chỉ giữ lại vừa đủ để gia đình trang trải cuộc sống. Phần còn lại… Tháng nào ông cũng lặng lẽ gửi về Việt Nam cho vợ con của Dũng. Không thiếu một tháng. Có người hỏi: — Sao ông phải cực khổ như vậy? Ông chỉ mỉm cười. — Tôi đang trả một món nợ sinh mạng. Năm tháng lặng lẽ trôi qua. Vinh lớn lên, ngoan ngoãn và chăm chỉ học hành. Suốt những năm ấy, ông Hùng vẫn âm thầm gửi tiền về giúp mẹ con anh. Đến ngày nhận được học bổng sang Hoa Kỳ du học, người đầu tiên Vinh muốn tìm để nói lời cảm ơn chính là ông Hùng. Thế nhưng… Ông đã dọn đi nơi khác. Mọi liên lạc đều bặt vô âm tín. Sau khi tốt nghiệp đại học, Vinh được một tập đoàn công nghệ lớn tuyển dụng và ở lại Hoa Kỳ làm việc. Ít năm sau, mẹ anh cũng qua đời. Trước lúc nhắm mắt, bà trao cho con trai chiếc ví cũ của chồng. Bên trong là một tấm ảnh đã ngả màu theo năm tháng. Trong ảnh, hai người lính trẻ đứng sát bên nhau, tay cầm súng, ánh mắt rạng ngời. Một người là cha anh. Người còn lại… là ông Hùng. Bà nắm chặt tay con trai, giọng yếu dần: — Con hãy tìm cho được bác Hùng. Bà khẽ dừng lại, rồi nói tiếp: — Đối với gia đình mình… bác ấy chính là người thân cuối cùng của ba con. Suốt gần bốn năm, Vinh miệt mài dò hỏi tin tức về ông Hùng. Anh tìm đến các hội đoàn cựu quân nhân, từ Không Quân, Thủy Quân Lục Chiến đến Nhảy Dù. Anh có mặt trong những buổi chào cờ, những ngày tưởng niệm và hầu như không bỏ lỡ một dịp hội ngộ nào của cộng đồng cựu quân nhân. Nhưng tất cả đều vô vọng. Cho đến một ngày… Một người mỉm cười hỏi: — Cậu muốn tìm ông Hùng phải không? Vinh gật đầu. Người ấy chậm rãi đáp: — Chủ nhật tới, cứ ra Ngày Hè Của Lính bên hồ Lake Cunningham. Hơn mười năm nay, năm nào ông ấy cũng có mặt. Sáng hôm ấy, ông Hùng vẫn lặng lẽ ngồi bên hai chiếc ghế quen thuộc. Chiếc bên cạnh vẫn để trống. Một người thanh niên chậm rãi bước đến. Giọng anh run lên: — Bác… có phải bác Hùng không? Ông ngẩng đầu nhìn. — Phải… Người thanh niên nghẹn ngào: — Cháu là Vinh… con trai của ba Dũng. Chiếc ly cà phê trên tay ông Hùng tuột khỏi tay, rơi xuống đất. Ông đứng sững. Đôi mắt như không tin vào người đang đứng trước mặt. Rồi bất chợt, ông bước tới ôm chầm lấy Vinh. Một người tóc đã bạc. Một người vừa bước vào tuổi trưởng thành. Hai người ôm nhau thật chặt. Không ai nói thêm một lời. Chỉ có những giọt nước mắt lặng lẽ rơi. Sau hơn nửa thế kỷ, người ở lại và người con của người đã khuất cuối cùng cũng tìm được nhau. Vinh khẽ lấy từ túi áo ra một tấm ảnh cũ. Tấm ảnh đã được ép nhựa cẩn thận, như thể ai đó đã gìn giữ nó suốt cả một đời. Anh nhẹ nhàng trao cho ông Hùng. — Cháu tìm thấy tấm hình này trong chiếc ví của ba. Ba luôn mang theo đến những ngày cuối đời. Đôi bàn tay ông Hùng run run đón lấy. Trong tấm ảnh, hai chàng lính trẻ đứng vai kề vai, nở nụ cười rạng rỡ giữa một khoảng trời bình yên hiếm hoi của chiến tranh. Không ai có thể ngờ… Chỉ ít lâu sau, một người sẽ vĩnh viễn nằm lại trên chiến trường. Đôi mắt ông Hùng nhòa đi. Những giọt nước mắt lặng lẽ lăn trên khuôn mặt đã hằn sâu dấu vết của thời gian. Ông đưa bàn tay gầy guộc khẽ vuốt lên gương mặt người bạn trong ảnh. Đôi môi run run. — Dũng ơi… Ông nghẹn lại. — Mày vẫn còn đây. Từ hôm ấy, Vinh thường xuyên đến thăm gia đình ông Hùng. Anh trìu mến gọi ông là Ba Hùng. Ông cũng xem Vinh như con ruột. Ngôi nhà vốn lặng lẽ bỗng rộn rã tiếng cười và hơi ấm của một gia đình. Con gái ông Hùng là Trâm, nhỏ hơn Vinh hai tuổi. Hiền lành, chân thành và giản dị. Họ quen nhau qua những bữa cơm gia đình, những lần cùng đi lễ và những buổi sinh hoạt của cộng đồng. Tình yêu đến nhẹ nhàng, tự lúc nào không hay. Ngày cưới, trên bàn thờ gia tiên, bên cạnh di ảnh của cha mẹ hai bên, có một tấm ảnh được đặt ở vị trí trang trọng nhất. Đó là tấm ảnh của hai người lính trẻ. Đứng cạnh nhau. Vai kề vai. Vẫn nở nụ cười như ngày nào. Chiều hôm ấy. Sau khi khách khứa đã ra về, ông Hùng đứng lặng thật lâu trước di ảnh của Dũng. Ông mỉm cười. Đó có lẽ là nụ cười bình yên nhất trong suốt cuộc đời mình. Ông khẽ nói: — Dũng à… Ông ngừng lại, như để lắng nghe người bạn năm xưa. — Mày đã cứu tao một lần. Hôm nay… Con trai mày đã trở thành con rể tao. Từ nay… Hai gia đình mình đã thật sự là một. Tao tin… Ở một nơi rất xa… Mày đang mỉm cười. … Ngoài sân, gió từ hồ Lake Cunningham lại miên man thổi về. Nhẹ như một cái bắt tay của người chiến hữu sau hơn nửa thế kỷ xa cách. Chiếc ghế trống vẫn còn đó. Nhưng lần đầu tiên sau hơn năm mươi năm, ông Hùng không còn thấy chiếc ghế ấy cô đơn nữa. Ông hiểu rằng Dũng chưa bao giờ rời xa mình. Anh vẫn hiện diện trong lời hứa năm nào, trong nghĩa tình của những người còn sống và trong hạnh phúc của các con hôm nay. Có những người lính tuy đã nằm xuống, nhưng chưa bao giờ rời khỏi hàng ngũ. Họ vẫn tiếp tục bước đi trong ký ức của đồng đội, trong lòng biết ơn của những người ở lại và trong những thế hệ được tiếp nối bằng tình yêu thương. Bởi lời thề của người lính Việt Nam Cộng Hòa chưa bao giờ cũ: “Không bỏ anh em. Không bỏ đồng đội.” Và như lời nguyện của bao người lính năm xưa: “Xin cho tôi một mộ phần, bên ngàn chiến hữu của tôi.” San Jose, ngày 18 tháng 7 năm 2026 Người Lính LVH |
