DIỄM CHÂU- CÁT ĐƠN SA

Tiểu sử Cát Ðơn Sa (Diễm Châu)
 
Tên thật là Nguyễn Thanh Hương, gốc Ðơn Sa, Quảng Bình.
Con gái của một Sĩ Quan Võ Bị Ðà Lạt Khoá 8. Di tản qua Hoa Kỳ tháng Tư /1975.
 
–          Từng học Regina Pacis, Sao Mai ÐN… là giọng ca chính của ca đoàn trẻ em nhà thờ chính toà Ðà Nẵng.
–          Viết văn năm 17 tuổi, trên báo Phụ Nữ Mới, Phụ Nữ Ngày Mai ở Sài Gòn.
–          Sau khi định cư, Cát Đơn Sa đã sinh hoạt ca hát, viết văn lấy tên Diễm Châu TNQG, ra mắt cuốn băng đầu tiên “Ðiệp Khúc Tình Yêu” năm 1984, từng đi show lưu diễn khắp nơi…
–          Nguyên chủ nhiệm các báo Phụ Nữ Mới, Nàng, Phụ Nữ Thời Nay Hải Ngoại…
–          1995 kết hôn với hoạ sĩ, điêu khắc gia ViVi Võ Hùng Kiệt.
–          Năm 2004, khởi nghiệp vẽ theo năng khiếu tự nhiên.
–          Ðã xuất bản 4 tập truyện dài & 2 tập truyện ngắn, qui tụ nhiều văn thi sĩ tên tuổi khắp nơi cộng tác, dưới chủ đề “Tác Giả & Tác Phẩm” từ năm 2001.
–          Thực hiện 15 CD & Cassette Tình Ca, Quê Hương, Thơ Nhạc Giao Duyên…
–          Có trên 500 truyện ngắn, rất nhiều tranh và sưu tầm các tác phẩm mỹ thuật trong đời sống, được sáng tác hàng ngày.
–          Thường xuyên đi triển lãm chung với phu quân, dưới chủ đề: “Sắc Màu Họa Sĩ Việt Nam”, đã triển lãm lần thứ 16 – 2017 tại San Jose, California.
–          Năm 2009 được chính quyền Quận Cam trao bằng khen trong lần tổ chức “Sắc Màu Họa Sĩ VN # 9” thành công, qui tụ đông đảo hoạ  sĩ & khách thưởng lãm nhất hải ngoại (39 họa sĩ) trong 34 năm qua.
–          Đang cộng tác với tuần báo VietAmerica tại miền Nam California, và nhiều báo chí cũng như các trang Web trên toàn thế giới.
–          Đã thực hiện trang Web bất vụ lợi chuyên về nghệ thuật, hội họa kể từ năm 2006 đến 2018, mang tên: www.hoasivietnam.com.
–          Mong ước được liên lạc với các bạn Họa Sĩ & Thân Hữu quen biết… email: catdonsa@yahoo.com   Facebook: Diễm Châu Nguyễn (Cát Đơn Sa)

Kính mời quý vị thưởng thức một số tác phẩm của tác giả Diễm Châu(Cát Đơn Sa)

Các tác phẩm Văn Xuôi của Diễm Châu(Cát Đơn Sa)
1. Chuyện Họa Sĩ
2. Bất Ngờ
3. Con Không Cha
4. Trôi Dạt Về Đâu

Bất Ngờ
Diễm Châu (CátÐơnSa)
 
Phương xách cái túi đi xuống xe Bus theo những người phía trước. Nàng là người rời xe cuối cùng. Lòng dạ Phương hoang mang, lo sợ trước sự to lớn, tráng lệ của thành phố ngay trước mắt.
Las Vegas, kinh đô cờ bạc, ăn chơi mà biết bao nhiêu tỷ người trên thế giới mơ ước được đặt chân đến 1 lần cho biết! Bây giờ thì Phương có mặt tại đây, trong bơ vơ cô thế.
Loay hoay mãi rồi cuối cùng Phương cũng lôi ra được cái địa chỉ duy nhất để cho nàng bám víu trong lúc ở thành phố nầy.
– Xuống xe Bus, leo lên một chiếc tắc xi, đưa cái địa chỉ cho người tài xế, là họ chở ngay đến nhà chị. Nhớ phải có trong túi những tờ hai chục hay tờ năm, tờ mười cho dễ xử dụng. Từ chỗ bến xe đến nhà chị chắc khoảng dưới hai mươi đô la… hơi mắc nhưng em không biết cách lấy xe Bus đâu, thôi thì cứ chịu tốn kém 1 lần đầu đi, cho chắc ăn không lạc đường.
– Dạ được, cám ơn chị Kim.
Mấy tờ năm đồng Phương đã có sẵn trong túi. Kiếm một chiếc tắc xi, Phương chui vào, đưa cho lão ta tờ giấy ghi địa chỉ.
Ông tắc xi cười nhìn Phương nói cái gì đó mà nàng không hiểu! Đành cười trừ thôi! Nói thêm vài câu thấy Phương cứ cười, ông tài xế cũng đoán ra được là khách không biết nói tiếng Mỹ, nên im lặng lái xe, không hỏi nữa.
Xe chạy không lâu, cuối cùng ngừng lại trước một ngôi nhà bình thường chẳng lớn mà cũng không mới. Tiền xe hết mười tám đô. Phương hơi thoải mái khi nhìn ngôi nhà cũ trước mắt. Có lẽ những gì cũ kỹ hợp với bản chất của Phương hơn là sự hào nhoáng bên ngoài!
Lão tài xế lại hỏi thêm một câu, Phương đoán là lão hỏi nàng đúng cái địa chỉ nầy. Gật đầu đại cho lão lái xe đi, Phương mới chậm chậm tới trước cổng.
Đây là một ngôi nhà không có gì đặc biệt! À có, ngoài sân, trước cửa có treo một cái phong linh lớn bằng gỗ, sơn màu tím than khá đẹp. Làn gió nhẹ tháng qua khiến những tiếng lọc cộc của thanh tre đánh vào nhau, phát ra tiếng kêu nhè nhẹ, vui vui.
Đứng trên thêm nhà, Phương không thấy chị Kim trồng bất cứ cây rau nào trong đám đất dưới kia.
– “Không biết ở đây họ có ăn đồ Việt Nam?”
Phương nhìn thấy cái nút chuông ở gần cửa, nàng đua tay nhấn mạnh. Trong nhà vang lên  tiếng chuông ngân, một lát sau có tiếng mở khóa:
– A, Phương, đến rồi đó hả?
– Dạ… Chào chị Kim, chị khỏe không? Em mới tới sáng nay.
– Vào nhà đi… không ai ở nhà ngoài chị và bé Tony. Em đưa đồ vào đây.
Phương nghĩ chị Kim sẽ chỉ cho nàng một căn phòng nào đó, nhưng không, chị đắt Phương đi xuyên qua bếp, rồi chỉ căn phòng trống chẳng có cửa nẻo cũng như đồ đạc gì ở phía sau:
– Em ở tạm đây… chỗ nầy ít ai vào.
Phương buột miệng:
– Có giường không chị?
– Không có, nhưng chút nữa em phụ chị rinh cái ghế sofa ở phòng ăn vào đây, ban đêm mở ra thành cái giường để ngủ.
– Dạ…
Thôi thế cũng được. Có chỗ ở với một người khố rách áo ôm như Phương là đủ rồi, mơ chi đến tiện nghi, vật chất!
                                                            o o o
Phương không phải là bạn chị Kim, mà chỉ mới quen chị đây. Nghe Phương kể là muốn đi tìm thân nhân, chị Kim ở Las Vegas nhận giúp Phương khi nàng đến đó. Câu chuyện không dài dòng lắm, bắt đầu từ khi Phương lấy chồng Việt Kiều qua Mỹ.
Người Phương lấy là một ông già hơn Phương ba chục tuổi! Lão Tám Ngô năm nay sáu mươi tám, còn Phương ba mươi tám.
Khi lão Tám về Việt Nam để “trả thù dân… mình”, thì gặp Phương và phải lòng người đẹp ngay tức khắc. Lão Tám ăn tiền hưu, nên chi tiêu rất kỹ, tính từng đồng. Nhưng dù lão có tiêu kiểu gì, thì đối với bênViệt Nam, cũng là người Việt Kiều có tiền, hơn những kẻ nghèo khổ khác trong nước!
Phương là con gái tỉnh lẽ, được học hết bậc trung học, đi làm mướn buôn bán không đủ sống! Cũng là một người con gái ao ước có chồng Việt Kiều cho đỡ cực tấm thân và gia đình được nhờ cậy! Nhưng chờ hoài chờ mãi mà chẳng thấy có Việt Kiều nào ngó đến, qua cả tuổi xuân…
May thay, sau cùng Phương gặp được lão Tám. Lão tuy bề ngoài chẳng có gì hấp dẫn, nhìn có thể nói là còn chán chết được! Nhưng lão có cái mác Việt Kiều! Những đồng đô la xanh lá cây lấp ló trong bóp của lão, cũng khá hấp dẫn những người con gái trong tiệm buôn, những khi lão ghé vào mua bao thuốc lá hay các thứ lặt vặt khác.
Lão thấy Phương hay hay, hơn mấy cô “bà chằng” trong tiệm. Lúc nào lão cũng thấy Phương cười hiền, ít nói nên lão thích. Lão nghĩ rằng kiếm cô nào ít nói thì tốt hơn là nói nhiều! Vì thế, sau một thời gian quà cáp cho Phương, những món quà rẻ tiền, Phương đã vui mừng “đồng ý” khi lão ngõ lời muốn lấy nàng làm vợ, đưa về Mỹ!
Ôi, đi Mỹ. Phương có thể kiếm tiền để gởi về giúp cho cha mẹ và các em dễ dàng hơn mọi nơi. Nghe nói qua đó làm “neo”, mỗi tháng có cả năm ngàn đô la. Dù nghĩ như vậy, nhưng Phương cũng không dám bàn trước với lão Tám, sợ lão phật lòng đổi ý không lấy Phương nữa. Nói tóm lại là Phương sợ đủ thứ, không bao giờ đòi hỏi một thứ gì, sợ lão nghĩ lại thì khốn.
Chung quanh Phương, những đứa con gái nheo nhẻo thiếu gì! Chúng không già như Phương, lại đẹp hơn và khiêu gợi đàn ông tài tình! Rủi lão Tám thấy nàng nhiều chuyện quá, đổi ý lấy đứa khác thì vuột mất con mồi mà nàng chờ đợi, tìm kiếm lâu nay!
Vì thế, khi qua Mỹ, được đàng chân lân đàng đầu. Thấy Phương ngơ ngơ ngác ngác, lão được thể làm tới, ra điều ta đây hiểu biết, quyền hành, cấm cản Phương đủ thứ! Thứ nhất là không cho đi đâu, hai nữa là chỉ được ở nhà nấu cơm, dọn đẹp và phục vụ cho lão.
Phương cần tiền, mà lương hưu nghe lão than không được bao nhiêu! Thực ra thì Phương có bao giờ được nhìn thấy cái check lãnh tiền nó như thế nào đâu! Nhưng nhờ kế bên nhà có bác Hoa, nghe bác ấy kể cho biết thứ nầy thứ nọ, Phương mới hiểu ra đôi chút!
Lão Tám thường ngày, vừa mới sáng sớm là lão thức dậy, mặc thêm cái áo đi ngay ra quán cà phê đầu phố ngồi đó, cùng dăm ông bạn già ra sức mà nói tin tức, phóng sự, chuyện dài chuyện ngắn… sau đó , khoảng mười một giờ về nhà, leo lên giường đánh một giấc tới gần giờ cơm thức dậy.
Ăn trưa xong thì vặn phim bộ ra coi cho đến giờ cơm chiều. Lại ăn và sau đó, trong lúc Phương đang lau chùi bếp núc thì lão đi ngủ sớm, như kiểu gà lên chuồng! cho đến năm giờ sáng thức dậy, mò mẫn, sờ soạng phá phách cô vợ mới trong lúc cô đang ngủ say! Điều nầy làm cho Phương rất ghét!
Một tuần Phương được lão dẫn cho đi chợ một lần. Hai vợ chồng đi bằng xe Bus, ì ạch kéo theo chiếc xe đựng đồ… vì lão chưa hề biết lái xe! Điều nầy khi biết được Phương rất chán! Vậy mà ở Việt Nam, có lần Phương ước muốn khi qua tới Mỹ, sẽ đứng đầu chiếc xe mà chụp hình gởi về cho mấy đứa bạn xem!
–           Muốn chụp thì kiếm cái xe nào đẹp đứng vào chụp là được rồi! Có khó gì đâu!
Thì ra là vậy. Thảo nào lúc trước, Phương thấy lão Tám khoe hình lão đứng gần một cái xe bóng lộn, nàng lại tưởng đó là xe của lão ở bên Mỹ!
Mỗi lần ra chợ, lão Tám thường đi bên cạnh Phương hướng dẫn về thức ăn… cố tình khen những món như hũ chao ngon, chai nước tương tuyệt vời, hũ mắm ruốc ăn quên chết! toàn là ba cái món chết tiệt mà Phương rất ghét! Vì ở Việt Nam ăn toàn là mắm muối, nàng đã quá chán rồi!
Khi trả tiền, mua đồ ăn cả tuần cho hai người mà có hai ba chục bạc! Miếng thịt heo mua về được cắt ra nhiều phần, ướp sẵn để xào với đủ thứ rau cho đỡ tốn!
Từ ngày qua Mỹ, Phương không có lấy một đồng lận lưng. Lão Tám tính hết rồi, cho tiền Phương thì hụt tiền lão! Lại nữa, có tiền lão sợ nàng sẽ tiêu bậy bạ, làm chuyện bậy bạ! Tốt hơn hết là không cho cắc nào. Muốn tiêu gì, phải trình cho lão rõ! Mua những thứ cần thiết, lặt vặt của phụ nữ thì đi chung, lão trả tiền.
Một vài lần, Phương xin lão một trăm đô gởi về giúp gia đình, vì đi đã ba tháng mà chưa gởi về nhà đồng nào! Đã xin không được, mà Phương còn bị lão Tám chửi cho nát nước! Từ đó, cứ mỗi lần ăn cơm là lão lại đưa những điều giáo dục ra dạy vợ! Làm như  mình ăn ở nhân đức lắm!
Đời sống túng quẫn như thế, nên mỗi trưa, sau khi ăn cơm xong, hay lão Tám ngủ, là Phương thường ra sau nhà tủi thân ngồi khóc, nhớ cha mẹ anh em, bạn bè bên Việt Nam. Dù sao thì ở bên đó tuy nghèo, nhưng tình cảnh không quá khó khăn như nàng ở với lão bây giờ!
Thời gian trôi đi, một hôm bác Hoa giới thiệu Phương công việc là giữ em cho nhà người ta. Bác phải lý luận dữ lắm thì Phương mới được lão Tám cho nhận việc nầy:
–           Ông cưới vợ mà cứ giữ rịt cô ấy ở trong nhà, không cho đi học Anh Văn, hay đi học nghề là có tội! Vợ ông còn trẻ, lại cần tiền để giúp gia đình, ông có bổn phận phải giúp cổ… nhưng nếu ông không đủ sức, thì cho cổ tự đi làm để kiếm tiền chứ! Cái gì cũng cấm thì đâu còn xứ Mỹ tự do nữa…
Rồi bác Hoa còn dọa thêm:
–           Ông không có quyền bắt giữ người ta như làm nô lệ cho mình. Sẽ có người tố cáo ông, ông sẽ bị pháp luật hỏi đến!
Dĩ nhiên là nghe dọa lão Tám cũng sợ. Vì lão chỉ quen bắt nạt những người mới qua không biết gì. Ngay chính bản thân lão, lão cũng thuộc loại ít kiến thức, thì có đâu mà nhận biết những gì phải hay trái mà người ta nói với mình! Nhờ vậy mà Phương được đi học Anh Văn buổi sáng, chiều về đi làm việc cho người ta để kiếm thêm tiền chi tiêu.
Lúc đầu, lão Tám sợ mấy thằng trẻ ngấm nghé, nên đưa rước Phương thường xuyên, miệng lúc nào cũng “cưng” cho tụi nó nghe ngọt xớt! Về sau, thấy mệt quá, vì phải leo xe Bus đúng giờ, tốn thời gian…, nên từ từ lão thưa dần vụ đưa đón, coi như “thí cô hồn, tới đâu hay tới đó”!
Đi học vài tháng đầu không sao, nhưng lão Tám vậy mà cũng tiên đoán đúng, từ từ Phương bị ông thầy dạy Anh Văn dụ khị! Tình yêu cũng thật là quỷ quái! Không yêu thì thôi, đang cơn lốc tình yêu thì cái gì cũng dám làm, dám liều! Dù mới ở Mỹ có gần 1 năm, mà Phương trở nên liều lĩnh, chẳng sợ gì, luôn cả việc sở Di Trú có thể trục xuất về Việt Nam.
Biết lão Tám có giấu trong nhà một số tiền, người tình của Phương xúi nàng lấy trộm để hai người cùng cao bay xa chạy. Phương được biết hắn có gia đình cha mẹ anh em tại Las Vegas , và có nghề chia bài chuyên nghiệp! Sở dĩ về đây dạy Anh Văn một thời gian, bởi vì hắn nhận dạy thế cho người bạn có việc cần phải đi xa nửa năm.
–           Anh chia bài có tiền nhiều gấp bốn lần lương ở đây. Chúng mình về đó tha hồ sung sướng.
Vì câu nói quả quyết đó mà Phương chấp nhận lao đầu vào bất trắc! Cuối cùng thì nàng đang ở tại miền đất đỏ đen để đi tìm hắn.
Phương nhớ lại những ngày đã qua rất gần đây. Số phôn mà người tình của Phương cho nàng không gọi được. Số tiền nàng ăn cắp của người chồng già nua, thì hắn đã lấy ngay khi mới lấy ra khỏi nhà, hẹn sẽ gặp tại Las Vegas.
Hắn nói sợ hai người đi chung dễ bị theo dõi. Bây giờ thì Phương mới biết chắc không phải như thế! Mảnh giấy ghi địa chỉ của ngôi nhà cũ của hắn đây rồi. Hy vọng có thể tìm ra manh mối.
Bấm chuông xong Phương hồi hộp chờ, trống ngực đập mạnh không biết sẽ gặp ai. Cánh cửa hé mở, một phụ nữ trẻ đẹp xuất hiện:
– Xin lỗi chị hỏi ai?
– Thưa đây có phải là nhà của anh Hân không ạ?
– Lại một con mồi của anh Hân… Ảnh mượn tiền của chị phải không? Mới hai tuần trước vừa có một bà khóc quá trời, vì bị mượn tới hai chục ngàn… nhưng rồi bà ấy cũng bỏ qua vì… “của đi thay người” đó chị! … địa chỉ nầy là nhà tôi, do ba mẹ tôi mua, hồi xưa ảnh có ở đây một thời gian, nhưng xưa rồi, bởi vì chúng tôi đã ly dị…  chị cho ảnh mượn bao nhiêu tiền?
Nghe bà ta nói vậy, Phương thật sự choáng váng, không thể tin nổi trước những điều mà người phụ nữ vừa tố cáo. Tại sao lại bỉ ổi như thế ! không thể được!
– Sao ảnh nói đây là nhà của ba má ảnh…
– Hắn xạo mọi người, mà cũng muốn khoe cho tôi biết là hắn có khả năng cua đào, gạt tiền người khác! Mời chị vào đây nói chuyện một lát. Tên tôi là Duyên.
Theo người phụ nữ vào nhà, căn nhà bên trong sang trọng hơn là nhìn bên ngoài. Phương ngồi xuống ghế thẫn thờ. Thế là mất toi tám ngàn bạc… Dù số tiền không lớn, nhưng Phương đã liều lĩnh ăn cắp của lão Tám rồi bỏ trốn. Nếu giờ nầy mà lão túm được, chắc Phương sẽ ở tù! Hay bị tống cổ về nước! Một hiện thực thật cay đắng, phũ phàng. Bao nhiêu hy vọng, mong gặp lại Hân giờ đã thành tro bụi!
– Anh Hân gạt của chị bao nhiêu?
– Tám ngàn đồng!
Duyên kêu lên:
– Có tám ngàn thôi á? Cũng không nhiều lắm!
– Nhưng tôi không có tiền, đó là tiền người khác!
– Thôi, nhiều khi số xui, năm xui, cứ coi như là “của đi thay người”, hãy vui lên, đừng buồn nữa!
Duyên nói và cười. Nhìn Duyên có vẻ nhanh nhẹn, thông minh, có nhà cửa lớn, chắc là không ít chàng trai say mê…  nhưng từ khi ly dị Hân, Duyên cho biết là vẫn chưa có được người đàn ông cho đời mình.
– Tình của mình với Hân là mối tình đẹp, mình chưa cảm được ai từ khi chia tay anh ấy!
Phương nhìn về nơi cầu thang, ở đó có tấm hình chụp vợ chồng Duyên trong ngày cưới vẫn còn nguyên, chưa dẹp bỏ! Thế là thế nào?
Duyên kể chuyện về Hân với giọng nói ngọt ngào, cũng như khuôn mặt với vẻ đẹp tân thời, sửa chữa thẩm mỹ kỹ càng, chính Duyên khoe với Phương như thế. Duyên nói hồi trước, chẳng mấy ai ngạc nhiên khi thấy hai vợ chồng gây nhau đó rồi lại tái hợp, bởi vì tính của Duyên dễ dàng tha thứ. Tình yêu của hai người tại thành phố nầy cũng là đề tài để mọi người bàn tán. Nghe Duyên kể về người đàn ông bạc tình và lường gạt, Phương chẳng thấy có một chữ nào gọi là trách móc hắn ta cả! Cũng kỳ, bà nầy chắc lậm ông chồng quá rồi!
Không hiểu Duyên nghĩ gì khi người chồng cũ tán tận lương tâm như vậy, nhưng ít khi có ai thấy  Duyên nói một câu nào động chạm đến chồng! Đó là lời của một số người  mà sau nầy khi đi tìm Hân, Phương cũng nghe họ nhận xét như vậy.
Ngồi một lát, Phương cáo từ ra về, không quên cám ơn sự tử tế của người phụ nữ từng có liên hệ với người mình đang tìm kiếm!
Thực khó hiểu, khi Duyên nói về chồng cũ mà nét mặt lại vui vẻ đầy yêu thương! Dù biết Hân làm những chuyện xấu, nhưng Duyên không bình luận gì , chỉ bảo là “của đi thay người”, không biết Hân ở đâu! Thấy không tin tưởng hy vọng gì nơi Duyên, Phương tự mình đi kiếm. Dù sao thì Phương cũng đã đến nơi nầy!
Phương nghĩ có lẽ Hân lừa dối vợ cũng  khá cao tay, cho nên dù gặp những phiền toái từ sự lăng nhăng của ông chồng,  tình cảm Duyên dành cho Hân vẫn còn sâu đậm, chưa phai.
Căn phòng của Phương tạm trú ở nhờ nhà chị Kim cũng ổn.  Chiếc ghế không cần mở ra, cũng đủ làm giường cho Phương hàng đêm. Hai cái thùng cạc tông, một dùng để đựng quần áo, một đựng mấy đồ lặt vặt là xong. Chị Kim còn bảo khi nào Phương kiếm được việc làm, lúc ấy đóng góp tiền điện nước cũng được.
Sợ cảnh sát truy lùng do lão Tám tố cáo, Phương đi làm phụ nhà bếp ở tiệm Việt, kiếm tiền mặt chi dụng. Một mặt, sau 5 giờ chiều làm xong việc, Phương vào các Casino để kiếm Hân. Tìm Hân không phải dễ. Ở thành phố nầy có biết bao nhiêu là Casino, lớn nhỏ đủ cả!
Tìm cả mấy tháng chưa chắc ra!
Nhưng rồi Thiên Bất Dung Gian! Một ngày kia, bước chân đã rã rời vì mệt, mắt thì cay xè bởi khói thuốc, Phương thấy Hân đang ngồi chơi bài ngay trước mặt mình!
Thấy Hân, tim Phương đập bình bịch! Tay chân luống cuống thấy rõ! Phương chưa biết mình sẽ làm gì thằng cha nầy! Nhảy vào cấu xé hắn ư? Hay chỉ đòi lại tiền? Cách nào cũng không phải dễ… Rủi trong lúc dằng co, mấy ông cảnh sát xông vào bắt, thì làm sao nói tiếng Mỹ để mà giải bày?
Lại còn vụ bỏ lão Tám và ăn cắp tiền để theo trai nữa… Chao ôi là rắc rối!
Phương đứng khuất sau một góc theo dõi và suy tính coi làm cách nào để đòi lại tiền từ thằng cha nầy, thì bất chợt nàng trông thấy Duyên cũng đang trờ tới!
Gặp Duyên, Phương cũng mừng lắm, tính gọi chào Duyên để rồi vấn kế, nhưng Phương hơi ngại ngùng, bởi đang mắc theo dõi tên Hân, không thể nói chuyện được lúc nầy.
Phương lùi lại sau cây cột, tránh luôn cả Duyên. Thấy Duyên vui vẻ đi thẳng đến bên Hân và đừng lại sau lưng chồng “cũ”! Phương trố mắt ra nhìn! Lại thấy Duyên để tay lên vai Hân. Thì ra họ vẫn liên hệ mật thiết với nhau!
Lúc đó Hân thắng 1 ván bài lớn, họ reo lên, ôm hôn nhau thắm thiết! Thật là bất ngờ khi cảnh đó diễn ra trước mắt! Phương đứng im suy nghĩ! “Như vậy là thế nào”? Phương cứ suy nghĩ mãi, chẳng dám xông ra mà cũng không biết phải làm gì! Cuối cùng thì nàng theo đuôi hai vợ chồng họ, thấy họ đi ăn, tình tứ bên nhau, sau cùng thì họ ra ngoài bãi đậu, lên xe đi thẳng, chắc là về nhà!
Phương cũng về nhà mình, trằn trọc mãi. Tại sao Duyên lại vẫn thân mật với ông chồng đã chia tay? Còn Phương, Phương sẽ làm gì bây giờ? Bởi không những trốn ông chồng Tám, mà còn phải lẩn tránh cả Cảnh Sát vì sợ!
Sáng hôm sau, Phương đành hỏi chị Kim. Nghe xong, chị Kim ngao ngán:
– Chị cũng chịu em ơi… Nhưng có lẽ là tụi nó toa rập nhau để gạt đàn bà…
Thấy Phương đực mặt ra, chị Kim nói rõ hơn:
– Tức là khi thằng chồng giựt tiền, thì con vợ an ủi và bảo quên đi, “của đi thay người”… vậy đó. Tiền ăn cướp được, thì hai vợ chồng nó chia nhau xài chứ gì nữa!
Rồi chị có ý kiến là bây giờ Phương hãy lo đi làm đã, cũng cố việc làm trước, sau đó thì tính sau.
Phương nghe lời chị, cũng cố việc làm… Nhưng chưa được mấy ngày thì lại bị bịnh cảm, ói mửa tùm lum! Chị Kim lại phải đưa giùm đi bác sĩ! Khám xong ra ngoài chờ kết quả, Phương bủn rủn tay chân khi nghe ông bác sĩ tươi cười nói:
– Xin chúc mừng bà đã có thai ba tháng!
Mẹ ôi! Đã nghèo còn mất cái eo! Phương thấy trời đất xoay vòng, và cảm tưởng như mình đang lún sâu trong mặt đất!
Diễm Châu (Cát Ðơn Sa)

Trôi Dạt Về Đâu
Diễm Châu (Cát Đơn Sa)
*Viết theo tâm sự của 1 người nữ bất hạnh
 
Nếu bây giờ có ai hỏi tôi: “Có phải bạn là một thuyền nhân Việt Nam tị nạn vượt biển không?”, chắc chắn tôi sẽ trả lời người đó là: “Không! Tôi không phải!!!”.
Cái quá khứ hãi hùng năm xưa dù nhiều lần tôi chối bỏ, muốn quên đi, vẫn thỉnh thoảng trở lại trong tôi, qua những cơn ác mộng mà khi tỉnh dậy, đã làm cho tôi ú ớ kinh sợ, với mồ hôi toát ra ướt đẫm cả thân người.
Không bao giờ tôi có thể quên được ngày thứ ba hôm đó, trời âm u với những cơn mưa như trút nước. Tôi cùng Duy tay trong tay với niềm chan chứa hy vọng sẽ được con tầu bé nhỏ mong manh, do cha mẹ chúng tôi gửi gấm, mang hai đứa con thân yêu đi tìm tự do, đến được một bến bờ nào đó, an toàn gửi một bức điện thư về báo tin mừng.
Duy hơn tôi ba tuổi, năm đó Duy hai mươi, tôi mười bảy “tuổi bẻ gãy sừng trâu”. Không biết ai đã nói câu đó, nhưng với tôi thì tôi chỉ là một cô bé yếu đuối.
Duy chăm sóc cho tôi từng ly từng tí. Chúng tôi là bạn cùng xóm, ba mẹ chúng tôi đã có lời đính ước cho hai đứa khi mẹ tôi sinh ra tôi. Chúng tôi lại hợp nhau, chơi với nhau từ nhỏ.
Khi tôi gần xong trung học thì Duy đã đi dậy học thêm ở một trường Trung Học, và đang là sinh viên năm thứ hai của Đại Học Luật Khoa.
Vì tương lai của hai đứa, ba mẹ chúng tôi đành phải gạt nước mắt cho chúng tôi ra nước ngoài, sau khi tổ chức lễ đính ước thật vội vàng cho chúng tôi.
Chuyến đi lúc đầu thì trót lọt, nhưng càng lúc càng thấy rối rắm, khó khăn. Trước hết là máy tầu bị quấn lưới không quay cánh quạt được. Phải sửa hết gần nửa ngày với hai người thi nhau lặn xuống dưới nước để tháo gỡ những sợi dây chằng chịt dính trong đó.
Đi thêm ba ngày nữa, khám phá ra mấy thùng nước ngọt dự trữ không hiểu sao ai đó vặn lỏng nút đậy, nước chảy hết ra ngoài. Thế là người ta không còn nước uống! Khỏi nói thì ai cũng lo âu, chỉ biết chắp tay cầu Trời khấn Phật ra tay tế độ.
Trên tầu có hơn bốn mươi người, khủng hoảng đã xảy ra khi ba ngày sau có đứa con gái của bà kia rú lên những tiếng kinh dị vì khát quá.
Tinh thần mọi người lúc đó bất an, bị tiếng hét của cô gái đó càng làm cho bấn loạn thêm. Duy ôm tôi thật chặt trong tay.
Dù sao tụi tôi cũng còn vài trái chanh trong túi xách có thể cầm cự được vài ngày, nhưng đây là một điều nguy hiểm, vì nếu có ai thấy, họ dám giết chúng tôi để cướp mấy trái chanh như chơi!
Chắc cũng có một số người trên tầu có giấu đồ ăn riêng như chúng tôi, nhưng ai dại gì chia sẻ lúc này. Biết tình hình ngày mai sẽ ra sao?
Không ai dám ăn nhiều, vì ăn vào thì khát nước. Thức ăn thì cũng sắp cạn vì chỉ chuẩn bị chuyến đi có hai tuần. Người ta cầm cự bằng cách ăn cam, ăn chanh, ăn bưởi.
Thuyền của chúng tôi gặp rất nhiều tầu lớn nhưng những tầu đó, cuối cùng đều chạy rất xa.
Vài ngày sau nữa, ai nấy đều lừ đừ. Bây giờ thì vừa đói vừa khát. Mẹ của cô gái hét ngày hôm qua đã phải cắt tay nhỏ máu vào miệng cho cô đỡ khát.
Một vài người cũng bắt chước cắt máu nhỏ vào miệng cho con mình.
Người ta cầu trời cho mưa xuống. Mưa mà xuống lúc này thì đỡ lắm vì chủ tầu đã chuẩn bị mấy tấm ván hứng nước mưa dự trữ. Nhưng mưa chưa xuống dù bầu trời đen nghịt!
Ngồi cạnh tôi, một ông bố ôm đứa con gái nhỏ lên bảy với khuôn mặt hốt hoảng thống khổ. Con bé đã nhắm nghiền hai con mắt mệt lả vì thiếu nước uống, nói mê sảng: “Bố ơi con chết bố đừng ăn thịt con nghe bố.” Không biết cô bé đã nghe những điều này từ đâu, có thể từ những chiếc thuyền vượt biên khác đã xảy ra thảm trạng đau lòng này.
Tôi run lên từng cơn, không phải vì lạnh mà vì đói! Đói mà chỉ có vài giọt chanh vào miệng càng xót ruột hơn!
Duy thì chịu đói giỏi hơn tôi. Duy ôm tôi thật chặt trong hai tay, cố xốc cho tôi ngồi tựa vào người Duy để tỉnh táo hơn.
Duy sợ tôi ngủ. Ngủ rồi không thức dậy là điều mà Duy sợ lắm!
Người đàn ông nấc lên từng hồi. Ông xoay qua Duy rồi bất chợt chấp tay vái Duy mấy cái:
– Tôi lạy cậu. Cậu làm ơn cho tôi xin một ít nước tiểu tôi cho con tôi uống không cháu chết mất.
Duy lúng túng nhìn ông… mấy ngày rồi, có được giọt nước nào vào bụng đâu rồi làm sao mà đái! Tôi thều thào: “Ráng thử đi Duy”. Duy xoay qua một bên, cầm cái ly cúi xuống, một lát Duy quay ra, lắc đầu: “Anh không thể làm được” người đàn ông thất vọng. Ông nói to hơn, xin những cậu con trai trên thuyền. Chẳng có nước đái mà cho. Ông khóc mà khuôn mặt mếu máo, không một giọt nước mắt nào chảy ra.
Tôi chỉ còn một nửa trái chanh cuối cùng, nửa trái chanh đã vắt nước gần hết. Nếu tôi cho cô bé vài giọt thì cũng tốt, dù không biết có cứu sống được cô bé không! Rất mệt nhọc, tôi bỏ tay vào túi thì chiếc thuyền lắc nhẹ, càng lúc càng mạnh hơn. Một người ở trên lái la to:
– Có tầu.
Mọi người vui mừng như muốn đứng hết dậy để nhìn, dù sức khoẻ họ không cho phép. Lát sau, một ca-nô chạy lại gần thuyền chúng tôi. Đó là một chiếc tầu của nước Nga. Khi biết chúng tôi cần thức ăn, nước uống, họ tiếp tế cho những thứ chúng tôi cần sau đó họ đi thẳng, mặc cho lời van xin cầu cứu của những người trên thuyền.
Ngày hôm sau, ai nấy đều có vẻ khoẻ hơn vì được ăn cháo, uống nước từ tối hôm qua cho đến sáng. Tôi cũng đỡ hơn nhưng còn rất mệt, dù vậy tôi cũng cố ngồi lên để đón những ngọn gió biển mát mẻ giữa đại dương xanh thẳm không biết đâu là bến bờ.
Chủ ghe cho biết:” Còn vài ngày nữa là đến Mã Lai, tương lai của chúng ta có mòi tươi sáng rồi bà con ơi.”
Ai nấy đều phấn khởi trong lòng. Hai bố con ngồi cạnh tôi thì da mặt cô bé đã có vẻ tươi hơn một chút. Cô gái có tiếng hét lanh lảnh ở góc kia bây giờ ngu ngơ cười một mình. Hình như có cái gì không ổn trong đầu cô rồi!
Còn bao nhiêu người trong kia mà tôi không biết mặt. Cả tôi và Duy nữa. Tội nghiệp cho Duy, cái gì cũng nhịn cho tôi mà không than thở một lời nào.
Nhìn Duy đang ngủ ngon lành tôi chợt thấy thương Duy hết sức. Mới có hơn hai tuần mà Duy ốm hẳn đi. Không chỉ mình Duy, tất cả mọi người trên thuyền hình như ai nấy đều hốc hác thấy rõ.
Qua một đêm bình yên, giờ thì mọi người gần như lại sức. Nắng rực rỡ lên cao. Tôi ngước mắt tìm cho ra một cánh chim. Không có. Bầu trời xanh ở phía trên, ở dưới nước cũng xanh. Người ta nói có thấy chim thì mới mong tới gần đất bằng…. Chừng nào chúng tôi mới đến được đất bằng thì chủ ghe lại reo lên:
– Có tầu.
Mọi người vui mừng sắp được cứu rồi. Duy ôm tôi:
– Mình sắp đến bờ tự do rồi Hoàng ơi.
Chúng tôi ngóng về chiếc tầu. Nhưng tôi thấy ông chủ ghe biến sắc, ông xua vợ con xuống hầm:
– Thuyền hải tặc, tụi nó có súng…. Đi xuống mau. Trét đồ dơ lên người.
Rồi ông xoay qua chúng tôi:
– Coi chừng thuyền hải tặc đó bà con ơi !!!
Người ta nhốn nháo lên. Ai nấy mặt mũi tái nhợt, người thì lo cất giấu nữ trang vàng bạc, kẻ thì la lối phải đối phó làm sao.
Duy kéo tôi đến bên nồi cơm trên bếp, lấy lọ nồi trét tùm lum trên tay, lên mặt tôi rồi chà lan trên da một cách vội vã, Duy thì thầm:
– Hoàng làm bộ bịnh nặng nghe không… nằm úp mặt xuống đừng cho tụi nó thấy.
Vài cô gái trên tầu cũng được cha mẹ làm y như Duy lo cho tôi. Mọi người run rẩy chờ đợi tai họa tiến đến.
Chiếc tầu lớn cặp sát ghe của chúng tôi. Mấy thằng hải tặc thật kinh dị, khuôn mặt chúng bóng lẫy và đen thui, đứa nào đứa nấy bắp thịt cuồn cuộn rất khoẻ mạnh, như những con trâu nước! Chúng nhẩy sang ghe tị nạn, tay lăm lăm khẩu súng.
Đàn ông bị lùa ra sau, đàn bà con nít một góc, con gái một góc. Mấy cô gái cỡ tôi khóc như ri…
Đợt đầu chúng thu nhặt tất cả tiền bạc vòng vàng, sau khi khám xét thật kỹ trên từng thân thể con người. Có thằng mất dạy vừa khám vừa bóp mông ngực con gái mấy bà rồi cười hô hố khiến ai nấy bất mãn ra mặt mà không dám nói.
Tôi giả bộ đau cũng bị một tên lôi dậy. Tên này có lẽ là Chúa đảng nên thấy hắn hay ra lệnh cho tụi kia. Hắn bắt tôi đứng thẳng trước mặt hắn rồi đưa tay kéo áo tôi xuống. Bộ ngực thanh tân của tôi hiện ra, tôi xấu hổ lấy tay ghì chiếc áo lại thì hắn chĩa súng vào đầu tôi.
Phía sau tôi, mấy cô gái trên tầu cũng bị bắt cởi truồng tồng ngồng đứng đó không mảnh vải che thân.
Gia đình và những bà mẹ các cô khóc lóc van xin, những tên cướp mặt lạnh như tiền!
Mấy tên khốn nạn này nếu tôi đoán không lầm thì chúng bắt chúng tôi thoát y để lựa cô nào ưng ý nhất bắt đem theo đây mà.
Không, tôi không thể để cho hắn làm nhục như thế này được. Tôi cảm thấy tức tối khi bị súc phạm. Tại sao mấy cô kia lại im chịu cho hắn làm nhục chứ.
Khi hắn đưa khẩu súng hạ xuống để hất cái quần tôi đang mặc, thì tôi nhào vô người hắn đánh đấm lung tung, cùng một lúc Duy ở phía cuối ghe cũng chạy xông vào cứu tôi.
Mấy tên trong bọn nhảy vào trận. Duy bị một tên quất một báng súng ngay đầu, Duy gục xuống còn bị bọn chúng đánh đập tàn nhẫn trong lúc tôi hét lên đau đớn “Trời ơi! Duy. Duy..” Sau cùng bọn cướp vất xác Duy xuống biển.
Lần cuối cùng tôi nhìn thấy Duy là thân xác chàng máu me cùng khắp, bồng bềnh trên mặt biển từ từ trôi xa.
Tôi gào lên muốn giết hết bọn chúng. Nhưng tôi không phải là “17 bẻ gãy sừng trâu.” Bọn chúng lại có súng và đông quá! Chúng đè tôi xuống lột quần tôi ra dù tôi phản ứng dữ dội.
Có tên giận quá vung tay tính đánh vào mặt tôi, trả thù khi tôi cắn vào tay hắn thì tên Chúa đảng ngăn lại.
Bọn chúng nói với nhau bằng thứ tiếng gì tôi không hiểu, sau cùng hắn trói tôi lại bằng sợi dây dù mà chúng mang theo từ tầu của chúng qua.
Nước mắt tôi chảy dài khi nghĩ đến Duy, chàng còn sống hay đã chết. Làm sao chàng sống nổi với trận đòn chí tử của bọn khốn nạn này.
Lúc đó bọn cướp vẫn tiếp tục lôi những cô gái trên ghe ra đọa đầy. Có đứa bé mới chỉ 12 cũng bị hành hạ tận tình. Nước mắt tôi biến thành một lòng căm giận và tôi như hóa đá!
Sau đó, mười mấy đứa con gái bị bắt qua tầu bọn cướp. Trước khi rời thuyền tị nạn, bọn chúng còn đục thủng vài lỗ cho nước tràn vào, với những trận cười ha hả trước khi quay thuyền đi.
Những ngày lênh đênh theo bọn cướp trên thuyền, không nói gì thì cũng biết chúng tôi là những người mang lại niềm vui thể xác cho bọn chúng! Riêng tôi, tôi được cái may mắn là: “Người tình của Chúa đảng!”
Tên Chúa đảng dù hắn yêu thích tôi, chiều chuộng tôi, nhưng hắn đâu có biết rằng trong thâm tâm tôi thù hắn tận xương tủy.
Tôi nghĩ đến Duy, tôi nghĩ đến con bé 7 tuổi với khuôn mặt thiên thần của nó, tôi nghĩ đến lúc bọn chúng lột quần áo tôi. Niềm căm thù của tôi dâng cao như ngọn sóng thần.
Tôi phải giết bọn chúng nó mới hả giận. Tôi phải trả thù cho dân tộc tôi. Chúng đã ăn cướp, hãm hiếp, còn giết người không gớm tay. Con bé cạnh tôi không biết giờ ra sao??? Phải mất một tháng tôi mới biết cách bắn như thế nào.
Tôi phải nhìn cách tên Chúa đảng lau súng, bỏ đạn vào, lấy đạn ra, lên nòng… tôi biết giờ ăn giấc ngủ của tụi nó. Tôi biết tôi phải làm gì. Và tôi sẽ hành động một mình.
Tôi được tên Chúa đảng cho lên đất Thái Lan chơi vài lần. Tôi biết cách gọi taxi bằng tiếng Thái, học lõm bõm vài câu Thái Lan, quen biết vài người ngoài chợ nhờ mua thứ mình cần.
Thế rồi một ngày phải đến, khi thuyền vừa cập bến đất Thái, tôi mời chúng buổi chiều ghé lại thuyền ăn cơm do tôi đãi.
Chúng vui vẻ trở lại chiều đó. Những cô gái bị bắt cùng với tôi đã bị chúng đem ra những nhà thổ bán. Tôi là người may mắn nhất trong mười cô.
Chuyện phải đến đã đến. Các tên cướp biển đã bị tôi cho thuốc mê nằm ngủ như chết. Tôi định giết chúng bằng khẩu súng có sẵn trên thuyền, nhưng rồi tôi cảm thấy tôi không nên bạo động như thế hại cho đời tôi. Ba má tôi và ba má chàng đang đợi chúng tôi ở quê nhà.
Tôi ra phố, không quên lấy theo những bằng chứng cướp của giết người của bọn chúng. Tôi đi tìm những người Việt Nam sinh sống tại đây kể đầu đuôi câu chuyện và xin giúp đỡ.
Máu chảy ruột mềm, tình đồng hương thắm thiết. Tôi đã được giúp đỡ tận tình, được cả báo chí ngoại quốc phỏng vấn, được qua Mỹ định cư vì là trường hợp đặc biệt, vì ước muốn của tôi là được đến Mỹ.
Bọn cướp đã bị bắt, chúng sẽ phải đền tội “Thiên dung bất gian” tôi rất tin tưởng điều đó. Trong những ngày còn ở Thái Lan, tôi đã tình nguyện đi tìm những người con gái bị hải tặc đem bán cho các động mãi dâm tại Thái.
Cũng không ít con gái Việt Nam trong những nơi này. Tôi cũng đi vào trại tị nạn Thái để tìm cho ra những người đi cùng tàu của tôi, hỏi thăm về Duy người yêu quí của đời tôi.
Cuối cùng thì tôi không gặp được ai. Những người đó đã đi về đâu, hay họ xuất trại, hoặc trôi giạt đi một trại tị nạn nào khác?
Tôi không biết, tôi hoàn toàn không biết, và không bao giờ tôi muốn nghĩ rằng, con thuyền tị nạn nhỏ nhoi, mong manh đi tìm tự do có hai chúng tôi trên đó, chính mắt tôi thấy đã bị bọn cướp đục lỗ cho nước tràn vô, để tầu chìm giữa đại dương, dễ dàng phi tang những tội ác do chúng gây ra mà không ai biết, không hề có một bằng chứng nào để tố cáo.
Bây giờ chỉ còn mình tôi và chín cô gái bị bắt, số phận lẽ ra ở trong nhà thổ làm nô lệ tình dục suốt đời. May mắn được cứu sống, tương lai có thể sẽ được sáng sủa.
Còn tất cả những đồng bào đi chung trên ghe, mục đích tìm hai chữ tự do, trong đó có Duy và tôi, đã biến mất tăm mất tích như truyện đời xưa, như một cơn ác mộng dữ dằn.
Diễm Châu (Cát Đơn Sa)

Chuyện Họa Sĩ
Diễm Châu (Cát Đơn Sa)
 
Cơ dừng tay vẽ nhìn ngắm bức tranh của mình đã thành hình. Từ lâu rồi, mộng ước vẽ tranh, có chút tên tuổi, được đi vào thế giới hội họa… luôn luôn bừng sáng trong đầu óc. 
Làm gì thì làm, Cơ cũng dành chút ít thì giờ trong những ngày cuối tuần, leo lên trên tầng lầu cao nhứt trong nhà, đó là căn gác xép nho nhỏ, ở cũng được nhưng không ai chịu sống trong căn phòng cao nầy, vì hơi hẹp hơn những phòng ở dưới, nên dùng để chứa những vật dụng cũ không còn dùng tới.
Tách cà phê sữa nóng bốc khói, điếu thuốc lá cháy dở trên tay, trước mặt là vải bố trắng, sẵn sàng để cho “họa sĩ thực tập” vẽ… Bên cạnh đó, chiếc cửa sổ huyền thoại… Ở đây, kéo ghế tới gần bên một chút, Cơ có thể nhìn thấy cảnh vật bên ngoài, từ phía trên cao cho đến dưới mặt đường. Một khung cảnh dễ gây cảm hứng cho người họa sĩ.
Nhưng phải nói là trong một tháng đầu, Cơ chẳng vẽ được gì cho ra hồn. Cứ ngồi trầm ngâm ngắm cảnh cũng ra dáng họa sĩ, nhưng chỉ có ăn và uống, leo lên leo xuống cầu thang để kiếm đồ ăn phát mệt! Chỉ vì ngồi nghĩ hoài mà Cơ chưa biết phải vẽ cái gì? Vẽ làm sao! Chẳng lẽ cứ xịt màu trên bố, quẹt lung tung rồi bảo đó là tác phẩm nghệ thuật của mình! Ai dám phê bình thì cho rằng người đó không có đầu óc mỹ thuật! Hội họa hay vậy đó.
Sau đó, từ từ những bức tranh cũng được ra đời. Cơ chọn vẽ tranh theo lối Siêu Thực (Surrealiste). Vẽ lối nầy hay nhất, muốn quẹt sao thì quẹt, không cần ai hiểu, có khi mình không không hiểu luôn! cho nên những người bạn không mấy ai “cảm” nhận được tranh của chàng! Thêm nữa, màu sắc Cơ dùng, có vẻ không bắt mắt cho lắm… nên nếu nói tranh của Cơ được ưa thích, cho dù đó là bạn  hay thân nhân, thì không! Đến con bé Út trong nhà, mỗi lần nói đến tranh của anh Cơ, thì nó hay rùng mình:
–           Thôi, anh ấy vẽ bé thấy kỳ! Sợ lắm!
Con bé 7 tuổi không thích đã đành, vì Cơ cho là nó còn bé đâu biết gì!… Nhưng bực nhất là cô Hà, người mà Cơ cũng hơi ưng thầm trong bụng, nhưng chưa dám tỏ tình, thì lại lớn tiếng tuyên bố, khi anh Căn chọn mang một bức có vẽ ít đen tối nhất, xuống treo ở phòng ăn, mà cô nhìn thấy:
–           Eo ơi, tranh của ai mà “loạn” thế nầy?
Cơ đang phân vân, không hiểu ý của Hà đó là câu phê bình khen hay chê, thì anh Căn hỏi:
–           Loạn là sao hở Hà?
–           Tức là vẽ táo bạo! Vẽ mà không biết mình vẽ gì? khách coi càng bù trất! Màu mè lại u tối như đêm ba mươi! Tương lai của ông họa sĩ nầy coi bộ cũng có màu đen!
Thấy hai anh em nét mặt hơn tẽn tò, cũng như con bé Út ngồi gần đó bụm miệng cười, Hà hơi nghi:
–           Mà tranh ai vẽ vậy? Ở đâu anh có?
Anh Căn trốn tránh:
–           Hỏi thằng Cơ đó!
Cơ chẳng nói chẳng rằng, tháo bức tranh xuống úp mặt vào vách! Hà giật mình… “Chết rồi, không chừng tranh của Cơ vẽ… hình như Hà có nghe anh Căn nhắc một vài lần là Cơ rất thích làm họa sĩ!” Nhưng cô không nói thêm… từ từ … “biến là thượng sách”!
Vì câu phê bình vô tư đó, mà Cơ và Hà xa nhau luôn! Bởi Hà không dám trở lại nhà Cơ, mà Cơ cũng chẳng điện thoại hỏi han hay mời mọc! Thôi thì đành bái bai cuộc tình chưa bắt đầu đã chết yểu! chứ biết sao bây giờ!
Người thứ hai Cơ quen là Hồng. Để tránh cảnh ngộ có thể xảy ra như lần trước, thì Cơ nói toạc ra là Cơ vẽ. Lại còn dẫn Hồng lên gác cho coi những tác phẩm của Cơ.
Cuộc tình nầy bền lâu hơn lần trước, vì sau đó Cơ và Hồng vẫn gặp nhau, có điều Cơ hơi bất mãn trong lòng, là khi chỉ cho Hồng coi những bức tranh mình vẽ, đang hứng khởi dẫn giải cho nàng hiểu thêm về bức tranh, thì Cơ chẳng nghe Hồng ừ hử gì, thì ra cô nàng đang nghểnh cổ nhìn đôi chim rỉa cánh cho nhau trên cành cây ở bên ngoài cửa sổ, coi bộ thú vị hơn là nghe một đề tài lạt nhách, mà người nói lại không đẹp trai gì cho lắm!
–           Hai con chim nó dễ thương quá… Hôm nào vẽ cảnh nầy cho tươi đời hơn đi anh!
Chỉ câu nói đó, làm cho Cơ hiểu ra là chẳng ai thích tranh của mình! Nhưng… trên đời nầy “Bá Nha” chỉ cần một “Tử Kỳ” thôi! Cơ nhất quyết tìm cho được một người yêu mình, yêu tranh mình mới nghe! Hồng bây giờ thì dẹp qua một bên, coi như bạn!
Ở trong nhà, mẹ Cơ là dễ thương nhất. Biết Cơ thích vẽ, bà hay khuyến khích Cơ, bà nói những câu chuyện cho Cơ nghe về những họa sĩ có khi còn sống vẽ chẳng ai ưng, vậy mà khi chết tranh mắc mỏ cả triệu đô la! Cơ dư biết điều đó, vì Cơ là người có ăn học đàng hoàng, hay đọc báo chí tin tức… nhưng ai mà chẳng thích tranh mình được ngưỡng mộ!
–           Tại con chưa gặp trúng người đó thôi.
Mẹ thương con, nên an ủi cho Cơ vui. Những lúc thấy người ta triển lãm hay bán tranh, Cơ cũng nôn nao, muốn góp mặt với đời, nhưng chưa có đủ can đảm.
Số tranh Cơ vẽ ngày càng thấy rậm rạp trong căn phòng hơn. Bạn của anh Căn, của bố mẹ đến nhà chơi, ai nấy nhìn và khen lấy lệ khi nghe giới thiệu là do Cơ vẽ… nhưng cũng làm Cơ sung sướng hơn nhiều, vì nghĩ tranh của mình cũng có người thích!
Một lần Phát, bạn của anh Căn đến chơi. Nhìn tranh Cơ thật lâu, anh Phát kể cho Cơ nghe câu chuyện người họa sĩ phải đặt cái hồn vào bức vẽ… Hay anh thấy tranh của Cơ không có hồn? Cơ ngồi im nghe anh kể:
“ Có một ông họa sĩ từ lâu ôm ấp ước mơ để lại cho hậu thế một tuyệt tác. Và rồi một ngày kia ông ta bắt tay vào việc. Để tránh sự ồn ào náo nhiệt của cuộc sống thường nhật, ông dựng một khung vẽ rộng 30 mét vuông trên sân thượng một tòa nhà cao tầng lộng gió. Người họa sĩ làm việc miệt mài suốt hơn 1 năm. Ông ta say mê bức họa tới mức quên ăn quên ngủ. Khi bức tranh hoàn thành, nó sẽ đưa tên tuổi của ông sống mãi với thời gian.
Một buổi sáng nọ, như thường lệ, ông họa sĩ tiếp tục hoàn chỉnh những nét cọ trước sự trầm trồ của hàng chục du khách tham quan. Tuy nhiên sự có mặt của đám đông không hề ảnh hưởng tới họa sĩ. Chìm đắm trong cơn say mê điên dại, ông ngây người nhìn ngắm thành quả lao động sáng tạo của mình… Cứ thế, ông ta từ từ lùi ra xa để chiêm ngưỡng bức tranh mà không biết rằng mình đang tiến tới mép sân thượng.
Trong số hàng chục người khách tham quan đang bị bức tranh hút hồn, chỉ có vài người phát hiện ra mối nguy hiểm đang chờ đón người họa sĩ… chỉ lùi một bước nữa là ông sẽ rơi tõm xuống khoảng trống mênh mông cao cả trăm mét.
Tuy nhiên, không ai có can đảm lên tiếng vì biết rằng một lời cảnh báo có thể sẽ khiến người họa sĩ giật mình ngã xuống vực thẳm. Một sự im lặng khủng khiếp ngự trị trong không gian.
Bất chợt một người đàn ông tiến tới giá vẽ. Anh ta chộp lấy một cây cọ nhúng nó vào hộp màu và bôi nguệch ngoạc lên bức tranh. Một sự hoàn mỹ tuyệt vời đã bị phá hủy. Người họa sĩ nổi giận, ông ta gầm lên đùng đùng lao tới bức vẽ, giật cây cọ từ tay người đàn ông nọ.
Chưa hả giận, ông họa sĩ vung tay định đập cho người đàn ông một trận. Tuy nhiên, hàng chục người xung quanh cũng đã kịp lao tới, giữ lấy ông hoạ sĩ và giải thích cho ông ta hiểu tình thế.
Rồi có một vị khách đến bên ông họa sĩ và nhẹ nhàng nói: “Trong cuộc đời, chúng ta thường mải mê phác ra những bức tranh vẽ tương lai. Tuy rằng bức tranh đó có thể rất đẹp, rất quyến rũ nhưng chính sự quyến rũ, mê hoặc về những điều sắp tới đó thường khiến chúng ta không để ý tới những mối hiểm họa gần kề, thậm chí là ngay dưới chân mình”.
Vậy nên, nếu như có ai đó bôi bẩn, làm hỏng bức tranh về tương lai mà bạn đã dày công tô vẽ, xin bạn chớ nóng vội mà oán giận. Trước tiên hãy xem lại hoàn cảnh thực tại của chính mình. Biết đâu một vực thẳm đang há miệng chờ đón ngay dưới chân bạn. (*)
Câu chuyện của anh Phát kể đã lâu mà Cơ như vẫn đắm chìm vào trong cốt truyện! Thật đúng là như vậy! Lâu nay, vì lòng hờn giận, vì muốn người ta khen tranh mình mà Cơ đã coi như mất nhiều người bạn, nhất là cô Hà, người mà Cơ thích nhất!
Cô Hà mới lấy một anh kỹ sư giàu xụ lại đẹp trai hơn Cơ nhiều! Thôi, chắc số cô thuộc loại sướng, không dám nhắc đến nữa! Cơ có phần hơi quá đáng trong vấn đề không dự tiệc cưới, cũng không thèm điện thoại chúc mừng!
Hình như nghe nói mấy ông họa sĩ thì tâm hồn phải phóng khoáng? Không biết chuyện đó có thật sự xảy ra như vậy không? Hay tại Cơ chưa phải là họa sĩ thực thụ cho nên tâm hồn chưa phóng khoáng! Anh Căn nghe Cơ  thắc mắc chuyện nầy, cũng góp ý:
–           Nói chung, người nghệ sĩ thì nên sống cho rộng rãi, bất cần mọi thứ, khen chê mặc ai! Thế mới là nghệ sĩ!
–           Anh làm như mấy ông bà họa sĩ là tiên không bằng! Cũng không hẳn như thế đâu!
–           Họ cũng có đấm nhau, nhưng không phải lúc nào cũng đấm!
–           Em chưa biết đấy thôi… Có nhiều người sống bất cần đời, bất cần vật chất, họ chỉ biết say mê trong vẽ và vẽ…
–           Vì thế nên nhiều khi cần tiền, họ phải bán tác phẩm để sống… mà người ta lại không mua mới đau!
–           Em thấy họa sĩ nghèo quá à! Cuộc sống của họ làm khổ gia đình! Anh đừng làm họa sĩ nghe anh Cơ, chỉ vẽ cho vui thôi!
Con bé Út tí tẹo cũng lý luận hay đáo để! Anh Căn tiếp:
–           Có người đổi tranh chỉ lấy một cái bánh mì mà cũng không được!
Cơ chủ quan:
–           Nhưng cũng có người tranh bán được cả mấy chục ngàn một bức…
Mẹ chen vào:
–           Tại số thôi… theo mẹ thấy thì thích cứ làm. Nếu vẽ cho ta sự vui vẻ, sảng khoái trong đời sống thì cứ vẽ… có sao đâu!
Anh Căn:
–           Tranh của Cơ bây giờ chất đầy gác rồi đấy…
Hồng xúi:
–           Làm triễn lãm đi Cơ.
Cơ lắc đầu, nhớ đến lời phê bình của Hà, tim chợt nhói lên:
–           Thôi! Cơ chưa có ý định đó.
Để cho căn gác thoáng bớt, Cơ đem những tấm tranh ít màu sắc của mình xuống kho nhà xe bỏ vào đấy. Rồi mỗi cuối tuần lại vẽ.
Thời gian trôi qua cũng nhanh. Dù biết ít người cảm tranh của mình, nhưng Cơ vẫn chịu khó đi vận động coi có ai mua hay thích coi tranh của mình không, vẫn chịu khó nhắc nhở đến những bức tranh “tội nghiệp” đang nằm một góc, chưa lần ra mắt ai hết.
Sau nhiều thử nghiệm với bạn bè thân thuộc, cứ cho coi vài tấm tranh là hầu như bọn họ lãng ra, hay lại tụ vào nói chuyện khác, để mặc Cơ đứng chơ vơ với những bức tranh nằm bẻn lẽn một góc, chưa có cơ hội nhấc lên cho người ta coi. Cơ đã quen với cảnh nầy, nên cũng tảng lờ để nhập bọn nói dóc với các bạn, dù trong lòng cũng thương cho số phận mấy bức tranh, nhất là “phận mình”!
Biết là người đồng hương không thích tranh “lập dị” của đồng hương, nên Cơ tính nước cờ khác, giới thiệu tranh với tụi bạn Mỹ trong sở, hy vọng tụi Mỹ thích những cái khác thường, có thể có người khoái tranh của chàng.
Cho dù biết là thiên hạ không khoái lối vẽ của mình, dù biết rằng màu sắc mình dùng không ai thích, nhất là mấy cô… nhưng Cơ vẫn tự tin với những tấm tranh đã vẽ ra. Họa sĩ ai không cho tranh mình là nhất! Cơ dứt khoát không thể đổi tông màu những khi cầm cọ vẽ! Cứ cái màu u u tối tối mà quẹt! khiến con bé Út lâu lâu có chạy lên căn phòng trên gác, là lại rùng mình trông rất là “cute”!
–           Con bé nầy cù lần, cóc biết gì là nghệ thuật cả!
Ở sở làm, Cơ chỉ huy năm thằng kỹ sư khác, nên dù sao tụi nó cũng nể nang “xếp nhỏ”. Lần đầu treo tranh của mình trong phòng mình, tụi nó nhìn thấy đều khen. Cả năm thằng khen, nhưng đứa khen nhiều, kẻ khen ít.
Thằng Kenan mới vào làm vài tháng nay là có vẻ nhiệt tình nhất, hắn còn gạ Cơ mang thêm vài bức cùng đề tài vào sở làm cho hắn coi. “Không biết có phải hắn lấy lòng mình không?” Cơ tự hỏi, và nhủ thầm: “Thôi, mai cứ mang vào cho hắn coi, có mất mát gì đâu! Chỉ mất công một chút cũng không sao”.
Cơ không mất công chạy lên chạy xuống cầu thang, vì mấy tấm tranh để dưới ga ra, loạt tranh mà Cơ vẽ đợt đầu. Cơ nghĩ mấy tấm nầy tuy Việt Nam không thích, nhưng Mỹ thì chắc là hợp hơn.
Thằng Kenan khi thấy thêm tranh của Cơ thì sáng mắt lên, hắn nói:
– Ông anh của tôi là một đạo diễn, ổng đang làm phim cho mấy trường dạy điện ảnh, nghe nói cần một số tranh để trang trí cho một phim sinh viên đóng… để tôi hỏi ảnh coi có chịu mấy tấm nầy không?
Rồi hắn lấy của Cơ ba tấm mang về nhà cho anh hắn xem, hẹn trong vòng 1 tuần sẽ trả lời.
Thêm một tuần chờ đợi, nhưng chỉ vài ngày sau đó, thì Kenan đã cho Cơ hay tin mừng là anh của hắn đã coi qua tranh, và rất chịu mấy tấm tranh đó, coi như cầm chắc 99% trong tay. Tuy nhiên, anh hắn chưa trả lời vội vì còn vài việc khác phải làm trước. Chuẩn bị đãi tiệc ăn mừng là vừa…
Cơ vội báo tin cho mẹ biết để sửa soạn nhà cửa, mời vài người bạn thân, mở tiệc bất ngờ đãi cả nhà, và sẽ tuyên bố tin vui! Dễ gì mà được Mỹ mua tranh như vậy! Cơ “order” đồ ăn chiến ở nhà hàng đem về cho mẹ khỏi vất vả nấu, và thức ăn nhà hàng ngon hơn.
Rồi ngày trọng đại mà Cơ chờ đợi cũng đến…  Kenan cho hay với loại tranh như vậy rất “ma quái”, hợp với đề tài mà anh hắn đang cần…
–           Khi giới thiệu về anh, tôi nói với ảnh anh là họa sĩ nổi tiếng của Việt Nam, chuyên vẽ những bức tranh có vẽ “dã thú – fauviste”, xen lẫn nét ma quái, nhất là về màu sắc… ảnh xem rồi thích lắm, muốn coi vì ảnh đang quay một phim ma, nên cần khoảng ba mươi bức như vậy.
–           Cần ba mưới bức?
–           Đúng, anh có đủ số không?
–           Dư sức, mà sao họ cần nhiều vậy?
–           Vì chuyện phim nói về một xưỡng vẽ có ma hay sao đó… Tôi không rõ lắm. Hôm nào anh gặp anh tôi rồi hỏi ảnh xem.
–           Tôi có đủ số cho anh của anh. Mà anh biết họ trả bao nhiêu cho một bức không?
–           Mỗi bức nghe nói họ trả một ngàn đồng, anh thấy sao!
Cơ há hốc miệng tưởng mình nghe lầm! Cơ cứ nghĩ chắc là mỗi bức tranh sẽ bán được cao lắm là hai trăm đô! Ba chục ngàn đô la cho 30 bức tranh! Số tiền nầy đối với Cơ dù không lớn lao gì, vì lương Cơ làm cũng cao… nhưng đó là số tiền bán tranh! Những tấm tranh đầu đời bị chê bỏ lăn lóc trong nhà kho của mình!
Thấy Cơ im lặng , Kenan tưởng Cơ chê it, nên nói thêm:
–           Tùy anh thôi, anh cứ suy nghĩ rồi gọi. Đây là số phôn để liên lạc với ảnh.
Trước khi về, Kenan còn dặn:
– Nhớ nghe, gọi cho ảnh càng sớm càng tốt, vì số tiền mua tranh họ mới nhận được ủng hộ, cho nên cần có tranh gấp để cuối tuần bắt đầu quay cho sớm! Nói đúng ra là anh hên, vì có thằng họa sĩ Mỹ vẽ cũng khá, nhưng tranh hắn đòi giá ba ngàn 1 bức, lại dùng màu tươi hơn màu của anh, nên không được chấp thuận!
Buổi chiều, mẹ thấy Cơ bước vào nhà, tay xách nách mang. Con bé Út cũng phụ ôm hộp bánh lớn, ra chiều thích thú:
–           Anh Cơ hôm nay cho cả nhà ăn sang quá!
Mẹ cũng cười tươi:
–           Có việc gì mà con đãi tiệc xôm tụ vậy? Chắc là mới quen cô nào, sắp lấy vợ rồi phải không?
Cơ ra vẻ bí mật:
–           Mẹ đợi một tí con tuyên bố ngay, con biết là mẹ sẽ vui lắm!
Nghe Cơ nói, bà cũng vui lòng chờ. Chắc nó quen con nào thật! Dọn thức ăn, bánh trái  ra đĩa, bày lên bàn vừa xong thì cả nhà đã về đầy đủ, và người khách thứ nhất là Hồng cũng vừa bước vào:
–           Chào hai bác, chào cả nhà… hôm nay đãi tiệc gì vậy anh Cơ?
–           Anh Cơ sắp lấy vợ!
Con bé Út vọt miệng. Hồng tròn mắt:
–           Lấy ai?
Bé Út ấp úng, nó nghe mẹ hỏi anh lúc nãy, lại tưởng lầm ra như thế. Lần nầy nó trả lời càng sai hơn:
–           Lấy chị!
Hồng sửng sốt! Nhưng mẹ Cơ vội nói:
–           Nói tầm bậy… Không biết hôm nay Cơ có gì vui mà nó đãi tiệc, chút nữa sẽ tuyên bố lý do.
–           Chắc được lên lương. Bé Út nói tầm bậy làm chị hết hồn!
Hồng nói câu đó là sự thật! Bởi nàng vừa nghĩ ai mà làm vợ Cơ, suốt ngày chắc sẽ bị nhìn thấy mấy bức tranh ma quái ghê gớm… ám ảnh suốt đời!
Khi bàn ăn sẵn sàng, và vài người bạn tới đã đầy đủ, Cơ trịnh trọng đứng lên, hãnh diện mở lời:
–           Thưa cả nhà, thưa các bạn… từ lâu rồi, tôi cũng có vẽ vời cho vui…
Cơ cố tìm những chữ thật nhũn nhặn để gây thêm cảm tình với tất cả, dù những người có mặt trong bàn tiệc hôm nay đều thương và thông cảm với Cơ từ lâu.
–           Tôi biết cả nhà và các bạn chắc không thích tranh của tôi mấy… vì thế nên tôi phải đưa tranh của mình vào xã hội Mỹ… cho nên hôm nay, tôi xin báo tin mừng cho quí vị biết là tôi được một công ty điện ảnh của Mỹ mua 30 bức tranh một lúc…
Cả nhà xôn xao náo nhiệt hẳn lên, mỗi người hỏi một câu… nói chung ai cũng mừng cho Cơ có số hên! Đợi cho các câu hỏi lắng xuống, Cơ nói tiếp:
–           Những bức tranh bán được lại là những bức tôi thấy vẽ không đạt mấy… tôi đã quên lãng chúng cả gần hai năm nay…
Mẹ thắc mắc:
–           Những bức nào vậy Cơ?
–           Mấy bức mà con bỏ trong ga ra đó mẹ…
Mẹ thoảng thốt kêu lên:
–           Hả! Thôi chết tôi rồi!
–           Sao vậy mẹ? Chết cái gì?
Giọng mẹ mếu máo, lạc hẳn đi:
–           Cơ ơi… thì cách đây hơn 1 tuần, mẹ thấy tranh và đồ đạc nhiều quá trong ga ra, mẹ gọi thằng Mễ hay đổ rác đi ngang đây cho nó, ba ngày trước nó dọn sạch chở đi hết rồi con ơi!!!
–           Trời đất! Sao mẹ lại cho tranh của con!
Cơ thẫn thờ ngồi xuống ghế! Thấy trời đất như quay cuồng trước mặt… Cả nhà cũng cùng chung tâm trạng như Cơ!
 (* truyện sưu tầm)
Diễm Châu (Cát Đơn Sa)
Con Không Cha… 
Nguyện ngồi cầm tờ báo có tiếng mẹ đẻ, đọc say sưa chăm chú một bản tin đăng trên đó, lòng đầy hứng khởi và hồ hỡi khi lấy cây bút, cẩn thận ghi số điện thoại từ bản tin đăng vừa đọc được trong báo, và nghĩ rằng mình sẽ đến địa điểm đó ngay sau khi gọi phôn, để tích cực ghi tên tham gia, đóng góp công và sức, cộng thêm thì giờ cho buổi hoạt động văn nghệ cứu trợ… Sau đó, sẽ tình nguyện ôm thùng tiền đi xin các nhà hảo tâm trong cộng đồng, bởi nàng quen biết khá đông các người chủ những cơ sở thương mại vùng nầy… để giúp cho nạn động đất xảy ra ở thành phố Mễ mới một tuần trước đây, khiến cho nhiều người lâm vào cảnh màn trời chiếu đất.

Bây giờ, thì rất nhiều người Việt tha hương có “tấm lòng vàng”, muốn làm một cái gì đó để chia sẻ, giúp đời, sau khi thời gian tất bật kiếm sống của ba mươi năm về trước, hoặc thuở ban đầu bước chân đến xứ sở lạ đã trôi vào dĩ vãng… Và con cái họ khi lớn khôn, thành tài, không còn thích ở chung cùng mái nhà với cha mẹ nữa, bởi chúng có một mái gia đình riêng… Hoặc cho dù vẫn còn độc thân, chúng vẫn không muốn sống gần bên cha mẹ, lý do dễ hiểu là với xứ sở tự do, chúng không muốn bị kiểm soát từng cử chỉ, việc làm…. Nhưng số đông nhất, vẫn là những người đa số gặp thất bại trong tình duyên, gia đạo…

Căn nhà rộng thênh thang ngày nào đầy ắp tiếng người, nay chỉ còn hai ông bà… chưa già mà cũng chẳng còn trẻ, ra vào thui thủi… nhất là khi người đàn ông tuổi tác mà giới trẻ đã gọi là “Cụ”, nghe bạn bè kháo chuyện, hay có Cụ đã về thăm quê hương, bị cơn lốc “gái trẻ” giăng bủa dính vào màng lưới, làm cho họ bị “ảo lốc” ám ảnh, lúc nào cũng muốn bỏ vợ để ra đi, xây dựng gia đình lại với 1 cô gái son trẻ nhưng yếu địa bên Việt Nam, sẵn sàng chiều chuộng và tâng bốc “anh già gân” lên mây xanh, mà cụ không bao giờ có được những cử chỉ đó từ bà vợ lâu năm của mình…

Họ thường ví von với nhau câu chuyện : “Một chiếc xe cũ (ý chỉ bà vợ) xài đã hai ba chục năm, làm sao mà bằng 1 chiếc xe mới toanh (gái trẻ thời đại) ai cũng muốn đổi…”

Những điều nầy càng làm cho người bị phản bội, đa số là phụ nữ tuổi sồn sồn hụt hẫng, nỗi buồn cô đơn đó ngày càng lớn hơn… Họ chỉ còn biết cầu nguyện, chờ đợi và suy nghĩ những việc làm sai trái của họ ngày xưa, thuở còn bồng bột v.v… rồi kết luận : “có lẽ đây là lúc Trời phạt họ”!

Do dó, sự cố xảy ra  khiến cho tấm lòng của họ mềm dịu lại, thương cho thân phận và dễ cảm thông, bắt đầu biết nghĩ đến những hoàn cảnh không may chung quanh mình, nhất là những cảnh khổ nghe và thấy trước mắt…., tâm trạng nầy không bao giờ có trước đây… Nguyện cũng là một trong số những người đó.

Nguyện đã trải qua thời gian bôn ba cực khổ trong cuộc sống. Từ lúc bước chân đến Mỹ, với số tuổi mười một còn quá nhỏ, nhưng Nguyện đã phải thức khuya dậy sớm để vừa đi học, vừa đi giao báo cho khu phố gần nhà, để cha mẹ có thêm lợi tức hàng tháng mà chi tiêu trong gia đình.
Người Sponsor cho gia đình ba má Nguyện không có lòng tốt như những người Mỹ khác. Họ bảo lãnh người Việt tỵ nạn mục đích là được giảm thuế hàng năm cho gia đình họ. Ba má Nguyện không hề biết có cơ quan chính phủ giúp đỡ người nghèo đông con, lợi tức thấp sẽ được chu cấp thêm tiền sinh sống cho hàng tháng.

Người bảo lãnh dĩ nhiên là không hề muốn những kẻ tỵ nạn đi xin những dịch vụ nầy, sẽ phiền toái đến họ. Thế cho nên trong hai năm đầu ở Mỹ, cày cực như trâu mới đủ ăn. Sau đó, nhờ đi nhà thờ quen biết với một số đồng hương, họ mới chỉ dẫn cho ba má Nguyện những văn phòng giúp đỡ người nghèo…
Rồi từ đó, ba má Nguyện có cuộc sống thoải mái hơn, và ngược lại, thì mối giao hảo sứt mẻ trầm trọng với người bảo trợ đi đến chỗ bị họ bỏ rơi, mặc cho người mới đến muốn làm gì thì làm…. bởi họ cho rằng ba má Nguyện đã bêu xấu, làm cho danh dự của họ bị tổn thương nặng nề!

Riêng cá nhân Nguyện, là con giữa trong gia đình, vừa mới lớn đã bị hối thúc lấy chồng vì trong nhà nhiều chị em gái. Con chị ế thì con em phải đi… Cô chị Cả thì tính nết dở dở ương ương, nhan sắc cũng không được đẹp… nên Nguyện lúc nào cũng bị mẹ chĩa mũi dùi… tương lai trước mặt thì tối thui, chẳng biết đường mà mà lần!… Quan niệm của ba má Nguyện như thế , nên Nguyện lấy chồng rất sớm do tự nguyện chứ không phải ai ép buộc, chỉ vì không muốn ở trong nhà cha mẹ, cứ luôn nghe những lời chỉ trích và la mắng hàng ngày, khiến cho nàng không vui. Thà lấy chồng rồi có cuộc sống riêng tư, đi cho khuất mắt ba má đỡ bực, hơn là phải nghe bà già “tụng” rền rĩ bên tai những khi vào bếp.

Cũng như bao người con gái khác, vợ chồng Nguyện lao đầu vào công việc một cách chăm chỉ. Họ đi làm cả cuối tuần để mong kiếm thêm tiền chi dụng cho gia đình, và có tí tiền còm để dành về sau…

Cái số của Nguyện của bấp bênh về đường tình duyên. Không phải Nguyện có tính lẳng lơ hay ham chơi… mà trái lại, Nguyện là một phụ nữ biết lo toan cho gia đình. Đi làm về, Nguyện chun đầu vào bếp nấu nướng dọn dẹp, sau đó ăn cơm rồi tắm rửa, coi TV một chút xong là đi ngủ. Cuộc đời cứ thế bình lặng trôi qua.

Rồi cho đến khi Nguyện có bầu, tới ngày sinh phải vô nhà thương nằm ba ngày. Ở nhà Trần, chồng Nguyện mới nghe lời thằng bạn trong sở, đi ra bar rượu để uống bia giải buồn. Trong bar rượu, gặp đám tiếp viên xinh đẹp ăn mặc quá xếch xy, Trần chới với mê mẩn…  rồi sau đó, đã dính líu tình cảm với một con nhỏ Mỹ tiếp viên trong quán. Chuyện còn đang nhì nhằng chưa giải quyết ổn thỏa, thì con bé lại có bầu…

Nguyện nằm nhà vừa coi con vừa lo nghĩ buồn rầu vì ông chồng hảo ngọt của mình. Dù được những người bạn gái có kinh nghiệm về sinh nở khuyên nhủ không nên buồn trong thời gian nầy, nhưng Nguyện vẫn âm thầm khóc hàng ngày. Bởi vì Nguyện thấy rõ ràng cùng là phận đàn bà như nhau, trong lúc Nguyện với đứa con còn đỏ hỏn trên tay, đang cần tình thương và sự săn sóc giúp đỡ của người chồng người cha, thì mỗi khi Trần đi làm về, mặt mày đăm đăm nhăn nhó vì phải giải quyết chuyện cô gái Mỹ, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ bị cao bồi du đảng đánh vì lời đe dọa từ phía gia đình cô gái… cho nên Trần không làm được một thứ gì ra hồn, kể cả việc nấu giùm Nguyện nồi cơm!

Chẳng những thế, Trần còn tỏ ra lo lắng cho cái thai của cô gái quá sức, như thể là chuộc lại lỗi lầm đã làm ra… mặc kệ vợ con cật ruột của mình tự mà lo lấy thân!

Sau đó, vì lời hăm dọa từ phía cha mẹ cô gái, chồng Nguyện năn nỉ nàng xé giấy hôn thú. Thế là chuyện tình của Nguyện gãy đổ ngang xương với người chồng thứ nhất. Tuy vậy, khi chia tay Nguyện cũng có một số tiền kha khá dằn túi để lo cho con.

Một thời gian sau, khi bé Thân được ba tuổi, Nguyện lại chung sống với một người đàn ông thứ hai trong đời. Ông Tú là người li di vợ từ lâu, con cái của ông đã lớn, tất cả vợ con còn ở bên Việt Nam, không gặp gỡ và có gì ràng buộc, ông lớn hơn Nguyện cả gần hai mươi tuổi… Như vậy thì quá tốt rồi… Nhưng ở đời thì thường có những chuyện khó 1ường , không đoán trước được.

Cuộc sống của ông Tú và Nguyện đang êm đềm chưa được đầy năm, thì một ngày ông  nhận được thư từ Việt Nam gởi qua, báo tin con gái ông lấy chồng , mời ông về quê hương để lo việc chủ hôn.

Được tin nầy, ông Tú vui vẻ hẳn lên, hồ hởi rủ Nguyện cùng đi. Ông ngồi hàng giờ bàn đến chuyến đi hội ngộ. Ông đưa ra ý kiến Nguyện nên mặc áo dài mầu gì, rồi hối thúc Nguyện phải đi lựa vải, may chiếc áo dài cho thật đẹp, thật nổi để mặc đi dự đám cưới cho thiên hạ lé mắt…

Ông nói nhiều, rất nhiều… Nguyện và ông sẽ ngồi với nhau trong đám cưới, ông không muốn ngồi chung bàn của cha mẹ cô dâu, vì ông đã có vợ khác v.v…
Nhưng sau đó hai tuần, khi nhận được thư từ Việt Nam gởi qua, đọc xong, ông từ từ phớt lờ, thôi không bàn gì việc đi với Nguyện về Việt Nam nữa, mà đổi qua đề tài chỉ nói mình ông về ăn cưới thôi.

Dĩ nhiên ông không thể nói ra lý do, vì bên phía vợ con cũ của ông ghét Nguyện như kẻ thù, mà ông biết rất rõ qua lời lẽ hằn học họ dành cho người vợ mới của ông, dù họ chưa biết Nguyện là ai. Cứ người đàn bà nào ở với chồng, cha họ là cũng đều là quân đáng ghét. Họ đã ra điều kiện là chỉ muốn một mình ông Tú có mặt ở đám cưới, cấm chỉ bà vợ trẻ của ông léo hánh.

Cô con gái của ông Tú từ bao lâu nay có biết ông là ai, nay bỗng ra chiều rất là thân thiết. Luôn gọi phôn sang cho ông rồi cúp, bắt ông phải gọi lại, ỏng ẹo nhõng nhẽo nhắn gởi đủ điều! Cô muốn ông phải mua cho cô như làm quà cưới thứ nầy, thứ nọ, luôn cả chiếc áo cưới mà cô sưu tầm trong cuốn Catalog mới nhất của hãng Macy’s.

Chưa hết, sau cùng cô còn thòng thêm trong tấm “card cám ơn”, có mấy câu xin tiền hai ngàn đô la, để bù đắp vào cái đám cưới quá tốn kém sắp đến, vì người ta nhìn vào cô có bố là Việt Kiều, không thể tổ chức xập xệ được!

Thế là theo sự nhẩm tính của Nguyện, chương mục của nàng mất đi ít nhất tám ngàn, tính luôn tiền vé máy bay ông Tú đi Việt Nam, chưa kể tiền cho ông tiêu vặt trong những ngày còn ở trong nước, và chiếc áo dài may để lấy le khi đi dự đám cưới tốn hết hai trăm đô, mà Nguyện không bao giờ có dịp mặc biểu diễn lần đó.

Nhìn cu Thân, Nguyện tội nghiệp cho con mình. Nhiều khi đi vào một shopping lớn, thấy con đòi thứ nầy thứ nọ, Nguyện tiếc tiền hay gạt ngang, chỉ mua cho con mấy thứ đồ chơi vớ vẩn bán trong những tiệm chín mươi chín xen. Bây giờ tự nhiên con của ông Tú ở đâu hiện ra, được hưởng một số tiền khá lớn trong gia đình nàng, Nguyện tiếc ngơ ngẩn, như lần bị nhận tấm giấy phạt lái xe chạy quá tốc độ từ tay ông cảnh sát xa lộ.

Lần đó, Nguyện tức mình đắt cu Thân đi shopping, mua cho con quần áo mới và đồ chơi, tính ra hơn bốn trăm đô la, làm cho cu Thân ngạc nhiên và mừng hết sức, thấy mẹ mình như một bà tiên, khắc với những lần “say NO” lúc trước, cu cậu vội ôm mẹ hôn lấy hôn để.

Lần đó hai mẹ con tay xách nách mang những bao giấy, túi lớn túi nhỏ đủ mầu, trông như là một gia đình giàu có dư dả đi sắm đồ…. Nhờ đó mà cu Thân mới có được một bộ xe lửa mầu đỏ với đường rầy rất dài, chạy vòng quanh phòng, đến khúc quẹo kêu bí bo bí bo thật đẹp mắt.

Từ khi ông Tú đi Việt Nam về, thái độ của ông bỗng dưng thay đổi hẳn. Ông như người mất hồn, gương mặt xa vắng đâu đâu, khiến cho Nguyện nghĩ là ông nhớ bà vợ cũ bên Việt Nam, dù thời gian trước đó, ông đã nói cả trăm lần với Nguyện là ông rất ghét bà nầy, chỉ vì tính tình bà ta giống như một con sư tử cái.
Đôi khi Nguyện tức lộn ruột, tự trách mình là đã chiều chồng quá lố, khiến bây giờ sự việc xảy ra như vậy. Lại con cô con gái rượu của ông nữa, thỉnh thoảng gọi điên thoại qua, gặp Nguyện bốc máy trả lời, cô ta làm như không biết nàng là ai, mà nói như sau:

–Tôi muốn nói chuyện với ông Tú.

Nguyện hỏi lại:

–Xin lỗi ai đầu giây?

–Nói tôi là con của ông.

Thế là khi Nguyện trao máy cho chồng, ông Tú lập tức ôm cái phôn đi tuốt ra ngoài sân, đóng cửa lại cẩn thận kẻo sợ Nguyện nghe. Chẳng biết hai cha con tâm sự cái gì mà càng ngày, mặt ông Tú càng đăm đăm hơn, nhìn rất khó ưa.

Một hôm, ông ngồi ở bàn ăn, nhìn Nguyện một lát rồi nói:

–Con gái anh gởi lời thăm em…

Nguyện ngạc nhiên, nghĩ thầm chắc lại có chuyện gì đây… Quả không sai, một lát ông Tú tiếp:

–Con gái anh muốn đi du lịch qua Mỹ chơi để thăm tụi mình… Nó cần người bảo lãnh… em có ông anh giàu, nhờ ổng bảo lãnh được không?

Hừ… đi ăn cưới thì cấm mình bén mảng đến gia đình nó, còn bây giờ muốn đi chơi thì nhờ gia đình mình để đạt mục đích… Dù nghĩ vậy, nhưng Nguyện cũng làm bộ hỏi:

–Em nghe anh nói bên gia đình phía mẹ nó, có nhiều anh em ở Mỹ giàu có, thành công lắm mà, sao không nhờ họ giúp mà lại nhờ bên phía em?
Ông Tú lắc đầu:
–Thì nhiều đó, nhưng cũng đâu có ai thật lòng với mình… Với lại con gái anh nói là hôm đám cưới của nó, em chưa cho quà, bây giờ em có thể “ca đô” cho nó vé máy bay đi Mỹ được không?

Suýt nữa thì Nguyện bị sặc khi nghe câu nầy. Bộ mình là một con ngu sao chứ! Thật là thiên hạ, cha con nhà nầy coi mình như cục cức khô! Muốn đối xử ra sao cũng được!

Không dưng Nguyện nghe cơn sùng nổi lên ứ cổ, nhưng cũng ráng kìm hãm được. Nguyện cố nhỏ giọng, nhẹ nhàng:

–Để em coi… em đang muốn đi thăm anh của em mà chưa đi được vì hơi kẹt tiền… Anh ấy mới bị té gãy xương chân hai tuần trước!

Ông Tú không để ý đến điều Nguyện vừa nói, ông chỉ nghĩ đến gia đình riêng của ông… tiếp tục năn nỉ:

– Em ráng giúp cho vợ chồng con gái anh nó đi Mỹ chơi một chuyến… Tội nghiệp nó thiếu may mắn, bị ở lại chịu nhiều cực khổ!

“Mụ nội nó, con mẹ ngu…” Nguyện lầm bầm tự chửi mình trong cổ họng. Thế là chuyện tình của Nguyện với ông Tú chấm dứt từ đó, dĩ nhiên do Nguyện chủ xướng.

Trong gia đình Nguyện, mấy người hỏi lý do, thì Nguyện tóm tắt: “Ổng đi Việt Nam xài tiền quá, Nguyện không thích…”,

Nguyện trả lời đơn giản chỉ vậy thôi, không muốn dài dòng kể lể những chi tiết nhỏ nhặt khiến bực mình, mà nàng phải gánh chịu lâu nay, cũng không muốn tâm sự thêm nhiều về chuyện nầy… Nghe chẳng hay ho gì, mà thiên hạ còn cho mình là dại! Nên trong nhà, đám anh chị em của Nguyện cho rằng Nguyện quá quắt. Nguyện cũng chẳng phản đối hay phân trần.

Nguyện thấy ông Tú là người đàn ông không có bản lãnh, ai nói sao nghe vậy… Khác với bề ngoài điềm đạm của ông… Hay là vì tình máu thịt nó làm cho ông thành như vậy! Nhưng dù sao, thì Nguyện không thích cảnh cha con ông Tú xài tiền để dành của Nguyện với thái độ không biết ơn, mà như là bổn phận phải làm.

Ông Tú sống với Nguyện chưa đầy năm, hàng tháng cũng đưa cho nàng khoảng một ngàn đô, chẳng thấm thía vào đâu, so với số tiền ông đã tiêu khi đi về Việt Nam. Nghĩ đến đó Nguyện lại buồn. Nỗi buồn len nhẹ vào tim. Ai cũng nghĩ Nguyện cư xử với ông Tú như vậy là tệ… vì coi đồng tiền bằng cái bánh xe bò!
Mặc kệ, Nguyện không cần ai biết đến chuyện nhà mình. Chẳng ai hiểu “ở trong chăn mới biết chăn có rệp”!

Nghĩ đến tương lai nếu còn ở với ông Tú, sẽ phải gặp cảnh chướng mắt hoài, Nguyện đâm chán. Nàng biết mình không thể cấm người ta liên lạc với nhau sẽ bị người đời dè bỉu, họ là cha con cơ mà! Thôi thì mình rút dù vậy! Cuộc tình tốn hết gần mười ngàn trong chương mục tiết kiệm của nàng, nhưng Nguyện bằng lòng chấp nhận… Bởi biết ngừng lại đúng thời điểm. Trễ còn hơn không!

Chuyện Nguyện chia tay ông Tú không náo động trong gia đình anh chị em nàng cho bằng sau đó một tháng, Nguyện mới biết mình bị dính bầu! Ôi trời ơi, cái bụng càng ngày càng thè lè ra, làm chướng mắt tất cả mọi người! Lúc đầu nàng cũng giấu diếm vì không muốn các em đưa  ra làm đề tài tranh cãi, chỉ trích. Nhưng vô phước thay, lại có người trong nhà đi về Việt Nam, và thấy ông Tú cặp tay một cô gái trẻ bằng con ông dạo phố, thì họ đồn rầm lên là Nguyện bị chồng chê chồng bỏ…

Thật là xấu hổ và nhục nhã cho cái mặt ngu! Thế là Nguyện mang tiếng lấy hai ông chồng, (một ông chưa có hôn thú) khi có bầu đều bị các ông cho rơi! Chắc là Nguyện bị “sao đó” nên đàn ông hay chê chán…

Nguyện nghe người đời dị nghị thì ít, mà mấy anh chị em xỏ xiên, coi thường thì nhiều. Họ cho rằng Nguyện là người bê bối, hay thay chồng đổi vợ, sống một đời sống không đàng hoàng, làm mất mặt gia đình…

Lý do đó khiến Nguyện càng thở dài nhiều hơn, cuối cùng đi đến quyết định trốn luôn cả gia đình họ hàng. Sau giờ làm việc về nhà dành thì giờ chơi với con nhiều hơn, nấu nướng dọn dẹp, và cùng lắm là đi shopping với cu Thân, nhưng luôn chọn đi dạo phố ở những nơi xa xôi, ít người Việt cư ngụ.

Ông Tú đâu có biết Nguyện có con với ông. Nguyện cũng dặn dò trong nhà là không nên nói cho ông Tú biết chuyện nầy, dù có tình cờ gặp cũng làm ơn lãng đi chỗ khác giùm, coi như hai bên không quen biết, để khỏi mất công trả lởi những câu hỏi từ đối phương đưa tới.

Đứa con của nàng khi sanh ra không cần một người cha như ông Tú. Nguyện đã tính sẵn là nàng sẽ tìm một người cha đỡ đầu cho con mình, tính tình hòa nhã, đạo đức, có tình thương con nít, và là một người đàn ông ít hoặc không con, để ông ta còn có thì giờ để ý tới thằng con đỡ đầu trong tương lai.

Thật ra thì ông Tú ngoài việc hay bị phiền hà, vòi tiền từ bên Việt Nam, cặp một cô bằng tuổi con gái mình… thì ông chưa hề đối xử tệ với Nguyện lần nào. Những lần đụng chuyện, ông hay chối quanh hay dùng lời xin lỗi cho qua…. Nhưng không hiểu sao Nguyện lại ghét ông nhiều như vậy! Có lẽ Nguyện đã bị in trí xấu về người đàn ông, như ông chồng thứ nhất rồi, khó lòng có mỹ cảm trở lại trong thời gian thật lâu.

Sau thời gian sanh đứa con thứ hai, một đứa con gái có khuôn mặt xinh đẹp như búp bê, hơn những đứa cháu trong nhà rất nhiều. Nguyện rất hãnh diện về con của mình. Con bé được mẹ đặt cho cái tên là bé Thương.
Dĩ nhiên là ngoài giờ lo cho con cái, Nguyện cũng có giao thiệp, đi chơi với một nhóm bạn thân cùng hoàn cảnh như nàng… Thời gian cứ thế trôi qua…
ooo

Mới đó mà con bé Thương đã ra trường. Mẹ nó vui mừng hớn hở đứng bên cạnh con gái với chiếc máy hình nhỏ xíu trong tay.
Thương khoác lên mình chiếc áo màu xanh “blue” đậm, đầu đội chiếc mũ có tua vàng rũ xuống trước trán, dành cho những tân khoa hôm nay. Trên cổ mang hai vòng hoa, một vòng của mẹ tặng là hoa lan mầu trắng, còn vòng hoa hồng tường vi tuyệt đẹp thì của một người ái mộ trong trường.

Thương cao hơn mẹ cả nửa cái đầu. Nàng có vóc dáng xinh đẹp đài các dù trong mái tóc đen xõa bồng bềnh sau lưng. Chả thế mà chàng luật sư trẻ tuổi, con trai ông Viện Trưởng chết mê chết mệt cô gái Á Đông nầy, quên cả những kỳ thị chủng tộc da vàng da đen trước đó…

Trong ngày vui mừng con ra trường hôm nay, Nguyện mời một số ít anh em bà con tham dự, nhưng cho đến giờ nầy, vẫn chưa thấy mặt ai. Nhìn hai đứa con, Nguyện vui mừng hãnh diện, vì qua bao ngày tháng kề cận bên con, lúc nào nàng cũng chăm chút, khuyên bảo con cố gắng học hành đàng hoàng, để cho mẹ được hãnh diện với đời, và tương lai các con tốt đẹp…

Thân đứng phía đầu dãy ghế nhìn mẹ và em mỉm cười. Cách đây ba năm, Thân cũng đã tốt nghiệp đại học ra trường, và đang đi làm ở một hãng điện tử ở thành phố gần đó. Dù cho mẹ có ý hối thúc, Thân vẫn chưa muốn lập gia đình. Lý do bởi Thân còn muốn ở với mẹ trong một thời gian nữa. Nếu bây giờ mà lập gia đình, thì Thân phải ở riêng lo cho vợ, mẹ Thân sẽ cô độc trong căn nhà quạnh vắng.

Bao nhiêu năm Nguyện nuôi con, nàng không tiến tới với một người đàn ông nào, chỉ thỉnh thoảng đi chơi trong nhóm, hội họp đấu láo rồi thôi, ai về nhà nấy. Nguyện sợ những người đàn ông miệng lưỡi tán gái ngọt sớt đầu môi lúc mới gặp. Những gã đàn ông nầy Nguyện gặp vô số ngoài đời, đếm không hết, cũng có cả những người đàn ông đàng hoàng, đáng tin cậy…. nhưng Nguyện sợ… kinh nghiệm từ hai người đàn ông đã chung giường vẫn còn đó, nên nàng mau chóng gạt họ ra khỏi tầm nhìn của mình. Chỉ coi nhau như bạn là đủ.

Xã giao của Nguyện là chơi trong nhóm bạn cùng hoàn cảnh, và gia đình cha mẹ các em… Cho dù biết các anh chị em không trọng mình, chỉ vì Nguyện không có một mái gia đình bình thường, nhưng Nguyện vẫn coi như không, bỏ qua để có sự suy nghĩ bình an.

Chỉ còn ba phút nữa là đến giờ, Nguyện quay đầu ngó ra bãi đậu xe gần đó coi có ai thân của mình đến không… Nhưng hoài công. Giờ khai mạc đã bắt đầu.
Nhìn con gái được gọi tên, được làm một trong 3 đứa  đại diện lên phát biểu cảm tưởng đến thầy cô, Nguyện cảm động sung sướng trào nước mắt… quên cả câu nói của người chị dâu mới tuần trước, làm cho Nguyện buồn lòng không ít: “Mấy đứa trẻ không có cha, thường hay hư hỏng phá làng phá xóm!!!”

Diễm Châu TNQ