LÝ BỬU LỘC

Lý Bửu Lộc: Tên thật cũng là bút hiệu
Sinh quán: Bạc Liêu, Việt Nam.
Trú quán:  Boston, MA

Cựu Học Sinh Trường Trung Học Công Lập Bạc Liêu.
Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Bộ Binh Thủ Đức Khoá 9/72..
Tốt nghiệp khóa Căn Bản Sĩ Quan Pháo Binh, Khoá 9/72 Dục Mỹ.

Cựu Thiếu Uý Tiền Sát / Tiểu Đoàn 11 Pháo Binh/ Sư Đoàn 1.
Tham dự nhiều chiến trận vùng Tây Nam & Vùng Đông Nam Huế.

Tù binh bị giam ở các trại Sơn La, Nghĩa Lộ, Yên Bái từ tháng 12,1974 – tháng 02, 1977

Vượt biên tháng 08, 1981.
Được chiến hạm Southern Cross, Hải quân Mỹ vớt trên hải phận Philippine  & đã ở trại tạm cư Singapore, Indonesia (Galang 2).

Định Cư Mỹ 1982.

Tốt Nghiệp Kỹ Sư Điện 1992
(Wentworth Institute Technology).

Làm việc cho hảng: Extech – Flir từ 1987-2020.

Đam mê thơ văn, bóng đá, bóng bàn. Yêu đời, yêu người. Yêu quê hương, yêu đời lính. Yêu gia đình, bạn bè.

Sáng tác truyện ngắn, thơ văn cho đặc san trường, đặc san quân trường, đặc san & nguyệt san trong giáo xứ đạo & phong trào Cursillo với Phêrô Lý Bửu Lộc.

Hiện là hội viên của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại trực thuộc Miền Đông Nam Hoa Kỳ từ tháng tư năm 2018.
 
ĐƯỜNG  EM  VỀ !


Đường em về:… Trà kha” hay “Cầu sập”,
Lộ vẫn lắm  sình,  nước ngập ngày mưa ?
Bót  “Đồng Điều” với chiếc  cổng thuở xưa,
Như chào đón mỗi trưa em đi học.



Đường em về:… “Xóm làng” hay “Lò gạch”,
Có hàng me già trút lá dưới cơn giông.
Đại lộ chiều nghe nhung nhớ trong lòng,
Giờ tan học, áo bay theo gió lộng .



Đường em về:… “Trà văn” hay “Xóm đạo”,
Hay em về ngang qua “Miếu Tiên Sư” ?
Đếm dùm anh… có bao nhiêu cây cầu nhỏ,
Bắt qua kênh dòng nước đỏ hiền từ.



Đường em về có ghé qua “Tu muối”,
Hay lại về “Rạch Ông Bổn”, “Vỉnh Châu”?
Con đường quê lộ đá trãi “nhựa màu”!
Màu “bùn đất”!…mưa lấm lem quần áo.



Đường em về chạy dài ra “Biển nhản”,
Ruộng muối còn ướp mặn chí dân Nam ?
Vườn chim còn rộn rịp mỗi chiều tàn,
Chim về tổ,…xếp hàng như đi học.


Đường em về,… nơi nao và mãi mãi,
Có tình quê nhẹ trãi áng tơ hồng.
Có mẹ già mãi tựa cửa đợi trông!
Đã tan học, sao em chưa về tới ?


Đường em về:…là quê huơng tôi đó,
Có ruộng vườn, có rừng, biển thân thương.
Có trăng thanh soi sáng vạn nẻo đường,
MÙI CỎ RẠ VẤN VƯƠNG THEO CUỘC SỐNG!


LÝ BỬU LỘC
Suy Nim Mùa Chay

Cuộc sống bắt nguồn từ tro bụi,
Bá tước, công hầu cũng bụi tro.
Giữ mình nhẹ sạch âu lo,
Lối về sẽ bớt quanh co gập ghềnh.
Đường danh lợi bao người say đắm,
Nẻo công danh lắm kẻ miệt mài.
Dù danh với lợi nặng vai,
Cũng nên suy niệm: trắng tay lúc về.
Trần gian có lắm thứ đam mê,
Che khuất tình Cha, lạc lối về.
Lễ tro nhắc nhở: đời không thật,
Xác tợ con thuyền trong bến mê.
Qua sông, khách bỏ lại thuyền,
Của trần phải trả lại miền trần ai.
Lợi danh thoáng đó trắng tay,
Có chăng là chỉ tình Ngài mang theo.
Ra đi không luận nghèo, giàu…
Không luận đẹp, xấu… chỉ theo phước phần.
Cuộc đời là chuỗi phù vân,
Ai ai cũng phải một lần ra đi.
Dặn lòng chẳng luyến tiếc chi,
Dầu, đèn sẵn đó đốt đi theo Ngài.
Tình Ngài rực sáng trời mai,
Đường về rộn rã trong bài Tình Cha.

Lý Bửu Lộc
Người đã đi ri

Người đã đi rồi… tôi ở lại,
Viết thêm trang cuối của bài thơ.
Cho dù: “mực đã khô thương nhớ”,
Tình đã phủ trong lớp bụi mờ.
Người đã đi rồi,… tôi ở lại,
Nghe: “mưa rơi nhẹ…phủ trời mơ”.
Ngắm trăng ngã bóng…mà: nhung nhớ,
Nghe gió xóay cao…nổi đợi chờ.
Người đã đi rồi,… tôi ở lại,
Đã học được thêm tiếng thở dài.
Đã quen cuộc sống đầy ngang trái,
Đã hiểu cuộc đời lắm đổi thay.
Người đã đi rồi,…xa tôi rồi,
Tôi còn ở lại,… một mình thôi.
Mưa khuya, ngỏ vắng …tìm: “nhung nhớ,”
Đếm bước đường đêm,… dạ: “rối bời.”
Người đã đi rồi!…thiệt xa rồi,
Tôi còn ở lại…mãi buồn thôi!.
Mãi yêu: tình lở,…không: bờ-đổ,
Mãi để lòng mơ “cái hững hờ!”
Người đã đi rồi,… tôi ở lại,
Viết thêm trang cuối của bài thơ.
Cho dù:”mực đã khô thương nhớ,”
Tôi vẫn làm thơ với chữ: “Chờ”!


Lý Bửu Lộc
HAI HÌNH ẢNH MỘT MẸ HIỀN

Mẹ tôi khổ cực quê mùa,
Thơ văn chẳng tỏ, nắng mưa sõi sành.
Đôi tay lam lũ đã đành,
Miếng ngon, vật lạ… cũng dành cho con.

Trong ngoài mọi sự lo toan,
Giãi dầu mưa nắng vì con mọi bề.
Việc mọn, việc khó chẳng nề,
Miễn sao no ấm mang về cho con.

Thuở xưa khi mẹ còn son,
Nghe đâu đài các, lầu son khuê phòng.
Và ngày xuất giá theo chồng,
Gia đình hộ đối, môn đăng thật giàu.

Nhưng rồi vạn sự đổi mau,
Hưng thịnh xoay chiều, giàu có trắng tay.
Thời gian ngày lại qua ngày,
Khổ cực thân xác miệt mài vì con.

Thế mà chẳng tiếng oán hờn,
Cũng chẳng sầu nhớ vàng son thuở nào.
Vì con chịu đựng gian lao,
Thâm tình mẫu tử thanh cao khôn lường.

Nhìn hai hình ảnh xót thương,
Tiểu thơ thuở trẻ, nắng sương xế chiều!
Đời người vui được bao nhiêu?
Khổ cực trăm chiều trong cuộc bể dâu.

Dí dầu đời hỏi một câu,
Đổi lấy sang giàu… quên mẹ gian lao?
Chẳng phải vướng bận chút nào,
Con chọn: mẹ!… bởi gian lao vì mình.

Hôm nay gởi chút tâm tình,
Nhân ngày Lễ Mẹ hiển vinh lên trời.
Mẹ Maria, Mẹ Maria ơi
Khẩn cầu Mẹ nhận đôi lời nguyện xin,
Trong ngày Lễ Mẹ Hiển Vinh,
Kính xin Mẹ nhớ thương tình mẹ con.”
“Kính xin Mẹ nhớ thương tình mẹ con”.

LÝ BỬU LỘC

LÍNH NGHĨ GÌ ?


Từ ấy!…tôi thành “anh lính trẻ!”,
Quên nghề tài xế “lái vỏng-xe!”.
Còn cô bạn nhỏ! nhà bên cạnh,
Quên mất vụ tiền “bông trái me”.
*
*. *

Mỗi dạo.tôi về dăm hôm phép,
Em hay nũng nịu bảo:ghé nhà.
Cô bé dỗi hờn nên duyên lạ,
Mềm lòng “chú lính trận” phương xa.

Nhà em, tôi đến…vui như tết,
Mẹ đã bày cơm: đãi lính rừng.
Em thì giả bộ…”Y như hệt!”,
“Chú lính” đến thăm chẳng chút mừng.

Lúc ấy:…môi cười xinh như mộng!
Bước sáo tung tăng giữa cuộc đời.
Năm, ba ngày phép trôi nhanh quá,
Ngậm ngùi em tiển dấu lệ rơi.

Tôi trở lại rừng…bên chiến trận,
Em mài kinh sử đợi khoa thi.
Hậu phương, tiền tuyến… xa xôi quá!
Thư đến, thư đi phải hạn kỳ.

Rồi lại vui vầy khi có phép,
Rồi buồn man mác lúc chia ly.
Quê hương ngày ấy mây bàng-bạc,
Chẳng biết lúc nào khóc biệt ly.

Tình em!…tôi gói trong tình lính,
Nợ nước chửa xong lính nghỉ gì ?
Bây giờ vận nước buồn ly biệt,
Nửa quả địa cầu một chuyến đi.

Hơn nửa cuộc đời còn lang bạt,
Tóc đã điểm sương, lính nghỉ gì ?
Nợ nước, tình nhà chưa trọn vẹn,
Lòng sầu!…mơ lại áo “Trây-di”.

LÝ BỬU LỘC
CHUYỆN TẾT XỨ NGƯỜI !

Còn vài hôm nữa là tháng hai rồi nhỉ!
Tiết lạnh mùa Đông của xứ Mỹ nặng nề.
Năm nay lại gặp chuyện “Đại Dich” thật ghê,
“CÔ – 19” đã giết người vô số kể.

Tết gần kề, không khí im lìm như thế,
Như buộc tay, trói chân… tù túng mọi bề.
Cô “Vũ Hán – 19” nầy thiệt là ghê,
Nam nữ, trẻ già cô ta đều không nể.
Gần tết  xứ người năm nay… là như thế!

                         *
                  *             *

Còn vài hôm nữa là tháng hai rồi nhỉ,
Tiết lạnh của mùa đông xứ Mỹ đã về.
Ngày vắn, đêm dài rét lạnh thích ghê,
Đời người sao lắm cái say mê kỳ lạ.

Tết ta sắp đến rồi… vui lên cái đã,
Gát chuyện âu lo đón “Tân Sữu” bước vào.
Con “trâu mới’ vào nhà,… mọi sự đổi mau,
Năm châu, bốn bể sẽ đón chào hạnh phúc!

Xuân Tân Sửu!… với vạn lời ta xin chúc,
Chúc hết sầu lo, đuổi dịch “Vũ Hán” rời xa.
Chúc An- Vui, chúc Hạnh – Phúc đến mọi nhà,
Chúc vui vẻ, nâng ly  xuân này xin chúc !

                          *
                   *            *

Còn vài hôm nữa là tháng hai rồi nhỉ,
Tiết lạnh mùa Đông của xứ Mỹ đã về,
Mùa lạnh xứ người đón tết ta đẹp ghê,
Lấy “bông tuyết” thế cho mai vàng luôn thể.

Ly rượu mừng,uống một mình ta đâu dễ,
Tự rót, tự mời…. tự uống hết mình ta.
Nợ tang bồng ta bốn bể chính là nhà,
Thêm năm nữa: ĐÓN TẾT TA…. TRỜI LẠNH QUÁ!



LÝ BỬU LỘC

CHUYỆN TẾT XỨ NGƯỜI
Còn vài hôm nữa là tháng hai rồi nhỉ!
Tiết lạnh mùa Đông của xứ Mỹ nặng nề.
Năm nay lại gặp chuyện “Đại Dich” thật ghê,
“CÔ – 19” đã giết người vô số kể.

Tết gần kề, không khí im lìm như thế,
Như buộc tay, trói chân… tù túng mọi bề.
Cô “Vũ Hán – 19” nầy thiệt là ghê,
Nam nữ, trẻ già cô ta đều không nể.
Gần tết  xứ người năm nay… là như thế!

                         *
                  *             *

Còn vài hôm nữa là tháng hai rồi nhỉ,
Tiết lạnh của mùa đông xứ Mỹ đã về.
Ngày vắn, đêm dài rét lạnh thích ghê,
Đời người sao lắm cái say mê kỳ lạ.

Tết ta sắp đến rồi… vui lên cái đã,
Gát chuyện âu lo đón “Tân Sữu” bước vào.
Con “trâu mới’ vào nhà,… mọi sự đổi mau,
Năm châu, bốn bể sẽ đón chào hạnh phúc!

Xuân Tân Sữu!… với vạn lời ta xin chúc,
Chúc hết sầu lo, đuổi dịch “Vũ Hán” rời xa.
Chúc An- Vui, chúc Hạnh – Phúc đến mọi nhà,
Chúc vui vẻ, nâng ly  xuân này xin chúc !

                          *
                   *            *

Còn vài hôm nữa là tháng hai rồi nhỉ,
Tiết lạnh mùa Đông của xứ Mỹ đã về,
Mùa lạnh xứ người đón tết ta đẹp ghê,
Lấy “bông tuyết” thế cho mai vàng luôn thể.

Ly rượu mừng,uống một mình ta đâu dễ,
Tự rót, tự mời…. tự uống hết mình ta.
Nợ tang bồng ta bốn bể chính là nhà,
Thêm năm nữa: ĐÓN TẾT TA…. TRỜI LẠNH QUÁ!

                                                                   LÝ BỬU LỘC
MÙA CHAY TRONG TÌNH CHÚA

Đời người như dòng nước,
Theo năm tháng chảy hoài.
Qua bao nhiêu ghềnh thác,
Nước nhuốm đục nào hay.

Mùa chay xin dừng lại,
Ẩn náu trong tình Ngài.
Cho cõi lòng thanh thản,
Cho nhẹ bớt đôi vai.

Bằng hãm mình cầu nguyện,
Bằng bác ái hằng ngày.
Vui trong tình chay lạt,
Vác thập giá theo Ngài.

Mùa chay trong Tình Chúa,
Là sám hối sửa mình.
Là hy sinh giúp đỡ,
Là thứ tha tội tình.

            *
       *        *

Đời người như dòng nước,
Theo năm tháng chảy hoài.
Qua bao nhiêu ghềnh thác,
Nước nhuốm đục nào hay.

Mùa chay xin dừng lại,
Vui sống trong tình Ngài.
Tạm gác bao gánh nặng,
Dù đời còn khó khăn.

Mùa chay trong Tình Chúa
Là giữ gìn giới răn.
Là cầu nguyện chuyên cần,
Là giúp đỡ tha nhân.

LÝ BỬU LỘC
  BƯỚC ĐẦU VÀO QUÂN NGŨ

Chiến tranh Việt Nam đã thật sự đến cao điểm. Tin tức từ chiến trường đưa về những trận đánh khốc liệt ở địa đầu giới tuyến Quảng Trị, Huế cùng nhiều nơi khác như Bình Long, An Lộc.
Tổ quốc lâm vào tình trạng khẩn trương và lệnh tổng động viên sau mùa hè đỏ lửa năm 1972 đã được ban hành.
Xếp lại bút nghiên, Bửu cùng nhóm bạn đã lên đường nhập ngũ. Hơn hai tuần lễ nằm ở trung tâm 4 chờ bộ tổng tham mưu sắp xếp khoá học, sau cùng thì khóa 9/72 CBSQ/TBBB/TĐ đã có tên Bửu và đoàn xe GMC sáng sớm hôm nay bắt đầu lăn bánh, để đưa nhóm tân khoá sinh của trung tâm này đến Quân Trường Bộ Binh Thủ Đức.

Với bộ đồ nhà binh mới tinh, thùng thình chưa kịp sửa, cùng ngổn ngang quân trang, quân dụng mới được phát. Tất cả đều được nhét đại, nhét càng vào “ba lô” và vào một túi xách nhà binh.

Đây là lần đầu tiên trong đời Bửu phải xa gia đình, tự lo lấy bản thân… thì làm sao gọn gàng ngăn nắp được đây?  Ở nhà, mọi sự đều có ba mẹ thương lo cho hết. Còn bây giờ cái gì lo được thì cứ lo, làm được gì thì cứ làm vậy thôi. Bửu thầm nghĩ :
“Đời lính mà, luộm thuộm một chút chẳng chết thằng Tây nào đâu mà sợ: LÍNH MÀ EM!” .
Thế là Bửu cũng hăm hở như đám bạn mới quen, leo vội lên xe và trước khi đó cũng không quên mua vài chai nước, mấy chiếc bánh dừa bỏ theo để phòng khi đói trên đường đi.

Dọc trên tuyến quốc lộ 4, Bửu thầm nghỉ:
” Chắc có nhiều người đang nhìn và ngưỡng mộ hay thương lo cho các chàng lính trẻ tương lai này?”

Bửu cũng tự dưng thấy mình có nét phong sương ra… khi được khoác vào người bộ đồ “ka ki” màu cứt ngựa, dù chưa một lần nếm mùi gian khổ vượt suối băng ngàn trong những chuyến hành quân. Thậm chí chưa có một ngày  thao dượt ở quân trường. Hừng chí nam nhi, Bửu ca nho nhỏ những bản nhạc lính chính hiệu như: “24 giờ phép”, “Xuân này con không về”… và ánh mắt cũng vui sáng, cũng buồn thiu theo từng câu nhạc. Thiệt là nhập tâm như mình đã thực sự xa nhà mấy cái tết, vì bận chinh chiến nơi tuyến đầu vậy.

Sau cùng thì đoàn xe GMC cũng vào đến Vũ Đình Trường của Quân Trường Bộ Binh Thủ Đức.

Hơn sáu, bảy tiếng đồng hồ dài ngồi trên xe, cát bụi mù mịt, trời nắng chang chang đã khiến nhóm trai trẻ này ai ai cũng mệt đừ và bây giờ thì thật sự đã đến nơi thử lửa. Vì đâu đây Bửu đã đọc được câu:

“THAO TRƯỜNG ĐỔ MỒ HÔI, CHIẾN TRƯỜNG BỚT ĐỔ MÁU !”.
Vũ Đình Trường là một sân cát đẹp, rộng lớn, rất dài được bao phủ bởi hai hàng cổ thụ xanh tươi  , là nơi dùng để cử hành những ngày lễ lớn trong quân trường chẳng hạn như: Ngày lễ gắn alpha cho các “tân khoá sinh” sau khi đã trải qua được 6 tuần lễ huấn nhục, để trở thành “sinh viên sĩ quan”.  Hay là ngày lễ mãn khóa gắn lon chuẩn uý cho các sinh viên sĩ quan đã học xong ba giai đoạn và khảo thí đủ điểm quy định để trở thành sĩ quan trừ bị của QLVNCH.

Và nơi đây cũng từng làm lễ tốt nghiệp cho những chiến sĩ anh hùng đã đi vào quân sử. Như tướng Nguyễn Khoa Nam, tướng Lê Văn Hưng, tướng Ngô Quang Trưởng… và nhiều sĩ quan chiến sĩ vô danh khác.
Còn bên phải của Vũ Đình Trường là Đại Giảng Đường. Đây là một trong những lớp học của sinh viên sĩ quan trong những ngày không đi thực tập ngoài bãi.
Trong sân “Đại Giảng Đường” Bửu tình cờ nhìn thấy một anh bạn ở cùng quê Bạc Liêu , anh Nghĩa.
Nghĩa lớn hơn Bửu khoảng vài tuổi và nghe đâu anh là sinh viên luật mấy năm rồi. Không hiểu vì sao hôm nay lại có mặt trong quân trường này?. Nghĩa đang đứng hút thuốc cùng các bạn cạnh hàng rào của đại giảng đường. Anh nào anh nấy nhìn thật vui khỏe, đẹp trai ra phết trong bộ quân phục ủi hồ láng cón, lại còn làm diện gắn thêm một chiếc nơ màu vàng thật đẹp trên miệng nắp túi áo bên trái nữa chớ.
Bửu thầm nghỉ:
“Đời lính trong quân trường nhìn đã quá ta, vậy mà sao ai ai cũng than van, ngán sợ vậy?”.
Nghĩa đã nhìn thấy Bửu, anh tươi cười, vẫy chào:
“Bửu khỏe không ? anh em, bà con quê nhà thế nào?  À! nếu có bánh trái, nước nôi gì thì nên giải quyết liền để cho nhẹ nhàng một chút nha Bửu!”.
Bửu cũng vẫy tay chào lại:
“Anh vào quân trường lúc nào vậy ?”
Lúc đó trong ba lô của Bửu cũng còn vài chiếc bánh dừa mua dự trữ lúc đi đường. Bửu vội quăng qua hàng rào kẽm gai về hướng Nghĩa  và nói to:
” Nhờ anh xử hộ mấy chiếc bánh dừa mới mua sáng sớm nay đó!”.
Nghĩa với tay chụp lấy một cách gọn gàng, cười cười và nói:
” OK ! Cám ơn Bửu… chúc vui khỏe nha!”
Hình như đã đến lúc phải trở vào lớp học, nên Nghĩa cùng đám bạn của anh giơ tay chào tạm biệt Bửu,trước khi quay lưng đi vào cửa đại giảng đường.
Nhưng rồi sau này Bửu mới biết:… Nghĩa đã là siêu huynh trưởng (khóa 2/72). Và  chiếc nơ vàng là màu của tiểu đoàn 2 trong quân trường.
Khoá này chỉ còn thêm vài hôm nữa là sẽ làm lễ tốt nghiệp và sẽ được móc lon chuẩn úy, cho  nên nhìn các siêu huynh trưởng ai ai cũng thật là thư thả và phong cách ra phết.
Ngoài các anh lính “công tử” quần áo ủi hồ thẳng tắp với những cái nơ màu vàng trên miệng túi đó. Bửu lại còn trông thấy một nhóm khác khoảng chừng vài mươi người, quân phục có vẻ đúng là “lính trận” hơn. Đầu đội nón sắt, trên túi gắn nơ màu xanh dương đậm cùng đi trong một đội hình rất chỉnh tề, vừa đi vừa đếm nhịp thật đều đặn, trông thiệt là oai phong lạ!
Toán SVSQ nơ xanh nầy tiến về hướng đoàn xe GMC chở tân khoá sinh từ trung tâm 4 lên và các anh tự chia đều nhau ra từng xe, như đang tìm kiếm người thân quen vậy.
Khoảng chừng năm ba phút sau, Bửu nhìn thấy có một chiếc xe jeep từ trong khu nhà ngói đỏ ( khu nhà ở của sinh viên sĩ quan thuộc tiểu đoàn 1 của quân trường) chở một vị thiếu tá  đến trước đoàn GMC, ông bước xuống và ra lệnh:
“Các Huynh Trưởng Hãy Bắt Tay Vào Việc !”.
Bửu đang suy nghĩ không biết chuyện gì sắp xảy ra? thì từ dưới đoàn xe đã có những giọng quát rền vang như sấm:
” HUYNH TRƯỞNG CHO ĐÀN EM 30 GIÂY XUỐNG XE !”. 30 GIÂY XUỐNG XE, XUỐNG XE !
Mỗi chiếc GMC đều bị bao vây và hối thúc đồng loạt xuống xe trong vòng 30 giây, bởi các SVSQ đàn anh với dáng vóc to cao, khỏe mạnh, nước da ngâm ngâm sạm nắng tợ những pho tượng đồng đen.
Những tiếng quát hét quá lớn, ra lệnh dứt khoát, cùng với những ánh mắt sáng quắc như muốn ăn thua đủ với những ai dám kháng lại lệnh. Quá bất ngờ, quá bỡ ngỡ giữa ngưỡng cửa: “dân sự và quân đội”. Bửu không biết điều gì bắt đầu từ giây phút này? Mất chủ động và bất ngờ bị tấn công bởi những lệnh lạc vang rền.
Bửu cùng các bạn từ trung tâm 4 và cũng như một nhóm xe GMC khác từ trung tâm 3 vừa mới đến, Tất cả đều chen nhau nhảy vội xuống xe.
Bửu thầm khen mình:
“Mới có hơi quân trường một chút mà đã có phản ứng nhanh nhẹn y như lính vậy!”.
Tưởng như vậy là quá ngon lành rồi, nhưng thật ra cũng chưa làm vừa lòng nhóm SVSQ nơ màu xanh nầy. Họ thi nhau hét to hơn nào là:
“Đàn em còn quá chậm chạp”, “Đàn em rề rề quá… nhanh lên, nhanh lên!”.
Sau khi tất cả đã xuống hết xe, còn chưa kịp thở dốc thì Bửu lại nghe tiếp:
“Huynh trưởng đếm từ 1 đến 30 tất cả đàn em phải xếp xong thành 2 hàng dọc”… “1,2,3, 4,5….  29,30”.
Trong lúc đó thì các SVSQ nơ xanh khác chạy quanh nhóm tân khoá sinh, vừa hét to vào tận bên tai, và đốc thúc:
“ĐÀN EM NHANH LÊN, NHANH LÊN !”
Mới bắt đầu vào cuộc vài phút thôi mà Bửu và nhóm bạn đã thấy hơi ngán nhóm “nơ xanh” này quá rồi.
Thế là tất cả một lần nữa chen nhau xếp thành hai hàng dọc, bụi cát bắt đầu bốc lên mù mịt. Trên vai thì ba lô, trên tay thì một túi xách lớn, Bửu chưa phải khuân mang bề bộn, nặng nề như vậy bao giờ… thế mà nhóm huynh trưởng nơ xanh này chẳng thông cảm cho đàn em.
Lúc này Bửu mới nhớ lại lời nhắc nhở, chỉ dẫn khéo léo của anh Nghĩa (siêu huynh trưởng):
“CÒN BÁNH TRÁI NƯỚC NÔI GÌ … NÊN GIẢI QUYẾT CHO NHẸ NHÀNG MỘT CHÚT NHA BỬU .”

À! thì ra đây là lời chỉ điểm, nhắc khéo của Nghĩa giúp mình… Chắc là:

“KHỔ CỰC, GIAN NAN CỦA 6 TUẦN LỄ HUẤN NHỤC BẮT ĐẦU MỞ MÀNG RỒI ĐÂY!” 

Vì chỉ cố gắng chạy theo sự đếm nhịp và hướng dẫn của đàn anh SVSQ khoá 3  nơ xanh một đoạn đường ngắn, từ góc tại Đại Giảng Đường đến khán đài  của Vũ Đình Trường…  mà tất cả nhóm Tân Khoá Sinh này đã đổ mồ hôi, thở hổn hển rồi.

Chỉ một khoảng ngắn chưa được 1/6 chu vi của Vũ Đình Trường thôi… huống hồ gì phải chào mừng đến 5 vòng Vũ Đình Trường này như lời ra lệnh của một trong các huynh trưởng hướng dẫn đã hét lớn bên tai khi bắt đầu đếm nhịp chạy đều từ góc Đại Giảng Đường đến khán đài này.

Không biết chuyện dài thế nào trong 6 tuần lễ huấn nhục của Tân Khoá Sinh ở quân trường SQBB/TB/TĐ này, trước khi được gắn “con cá” lên bâu áo để trở thành SVSQ.

LÝ BỬU LỘC

XA QUÊ BẠC LIÊU !
 
Bạn hỡi có về ngang Bạc Liêu,
Chuyển dùm lời nói: “NHỚ THƯƠNG NHIỀU!”.
 
                     *
                *.        *
Quê tôi:… bể cả ôm làng nhỏ,
Sông nước phù sa chở sớm chiều.
Thôn nhỏ bốn mùa xanh lúa mạ,
Thương rừng, nhớ bể,…kẻ đi xa.
 
Nhớ Đước thẳng băng như đũa cắm,
Cá tôm “kẹo nước” mỗi đêm rằm.
Nhớ muối mặn nồng tình dân tộc,
Nhãn thơm, ngọt lịm ủ tình thâm.
 
Nhớ ngày mưa, nắng nuôi vườn ruộng,
Nhớ mảnh trăng thanh rọi nẻo đường.
Nhớ sóng biển đêm ru giấc ngủ,
Nhớ “diều” trổi nhạc mỗi chiều thu.
 
Nơi đây!… tôi lớn theo ngày tháng,
Cơm gạo “Nàng Hương” nở nức nồi.
Cá rô kho tộ, canh cơm mẻ,
Bóng kèo kho lạt mật thắm môi.
Nhớ gió biển khơi mang hơi muối,
Ướp tình dân tộc mãi không phôi.
 
                      *
                *.          *
Bạc Liêu:…nắng bụi, mưa sình,
Mà sao nơi ấy nặng tình QUÊ- HƯƠNG!
 
LÝ BỬU LỘC

 
NGẬM NGÙI

Vành nón anh nghiêng nghiêng,
Dường như che luôn cho trường sơn hùng vĩ.
Đôi “giày-sô” bê bết bùn,
Với chiếc áo trận bạc màu,
Anh đã ủ kỷ cả tình quê.

  *

*        *

Anh ra đi đây là mang trọn một nguyện thề.
Anh vì đất Mẹ !
Vì quê hương,
Vì non sông gấm vóc.

Anh vì Mẹ Việt Nam!
Vì nước Việt mến yêu đã đau khổ quá nhiều,
Bởi bom đạn gây nên nhiều thương đau, tang tóc.

Anh vì non sông,
Vì con kênh,
Vì khúc lạch thân yêu.
Mà ở đây có những buổi chiều,
Có dáng cô thôn nữ buông lỏng mái chèo,
Cho chiếc thuyền nhỏ, nhẹ trôi xuôi theo …dòng nước.

Anh vì trường sơn,
Vì núi rừng,
Mà ở đây,… ôi chao sao nhiều nuối tiếc.
Bởi bóng dáng giặc thù đỏ kéo về,
Đã giết chết  những ngày tháng  yên vui.

                            *

                    *.              *


Thế nên anh luôn chắc với niềm tin,
Gắng hết sức mình, bảo vệ Tự Do chân lý.

Nhưng rồi, ngày 30 tháng 4 nghe tin…

ANH BẬT KHÓC !
LÝ BỬU LỘC
XIN THIÊN CHÚA CHÚC LÀNH

54, 75 !… ông cha ta di tản,
Thương Việt Nam nhỏ nghèo, hoạn nạn triền miên.
Thương con dân Việt chịu gian khổ, muộn phiền,
Bao cánh chim nhỏ đã đôi phen dời tổ.


Đời lang bạt đi tìm: TỰ DO bến đỗ,
Mưa gió xứ người mong có chỗ nương thân.
Như cánh chim kia bị ná đã nhiều lần,
Luôn nơm nớp lo sợ cành cong, nhánh đổ.

Năm nay “Dịch Vũ Hán” gây nhiều cơ khổ,
Gieo tang thương, khó tìm thấy chỗ bình an.
Thiên tai, bão lụt… sạt lở đất kinh hoàng,
Thế giới đối diện cảnh hoang tàn, đổ vỡ.

Nhìn “Đường Tơ Lụa” mộng bá quyền đáng sợ,
Cộng thêm “lưỡi bò” , đang liếm vớ biển Đông.
Thế giới có cùng nỗi lo lắng trong lòng,
Hàng  ngày thời sự luôn luôn là nóng bỏng.

Nhớ 54, 75  hai lần phân ranh Quốc – Cộng,
Luôn  khắc ghi, luôn trĩu nặng ở trong lòng.
Đang phiêu bạt xứ người,… một kiếp lưu vong,
Cầu Thiên Chúa ban ơn lành trong kiếp nạn.

                          *
                  *              *

54, 75  ông cha ta di tản,
Thương nước Việt nhỏ nghèo, kiếp nạn triền miên.
Thương dân Việt Nam luôn gian khổ, muộn phiền.
Bao cánh chim nhỏ đã bao phen dời tổ.

Nhờ Trời thương, xứ người chim đà xây tổ,
Trú gió mưa, bớt vất vả những ngày qua.
Chim ngàn có tổ, chồn cũng có hang nhà,
Nơi ngả lưng tạm trong những buổi chiều tà…
Nên quyết giữ “tổ – hang” Trời cao ban tặng.

Quyết là vậy, nhưng sức người thì có hạn,
Là gì đâu, thân chùm gửi chẳng bám sâu.
Cũng công dân, cũng mang nghĩa vụ đi bầu,
Làm hết sức, còn cái kết quả ước cầu…
Thôi thì: “Tận nhân lực để tri thiên mệnh!”..

                               *
                       *               *

54, 75 ông cha ta di tản,
Hai lần đi,… phải là định số bởi Trời xanh?

Từng sợi tóc rơi là mệnh số Trời dành,
Kính xin Thiên Chúa  luôn thương yêu ban tặng…
Muôn ơn thiết cần trong năm TÂN SỬU này,
Cho quê hương, cho thân nhân, cho bè bạn,.


LÝ BỬU LỘC

LÁ ĐƠN XIN LƯU DỤNG



Lý đếm từng ngày để trông đến lúc được nghỉ hưu, giống y tuổi ấu thơ đếm từng ngày mong tết đến! Lý cứ tưởng tượng ra không phải thức dậy lúc năm giờ sáng mỗi ngày, lái xe một tiếng rưỡi từ Boston đến New Hampshire và chiều lại cũng phải trở về như vậy. Nếu có một ngày nào đó Lý bỏ được cái ràng buộc ngao ngán này thì chắc thoải mái lắm.

Sáng nay, như thường lệ trong khi cùng đứng chờ ly cà phê thơm nóng, từ chiếc máy làm cà phê tự động trong phòng ăn. Lý và mấy người bạn ngoại quốc chào hỏi nhau buổi sáng thật vui vẻ.
Có cô bạn người Mỹ rất dễ mến, đã cùng chung sở làm trên ba mươi năm hỏi Lý:

“Chào ông Lý!… còn bao lâu nữa là đến ngày nghỉ hưu của ông ?”.

Lý cười cười trả lời:
” Cathy,… đúng bốn tháng và 17 ngày nữa !” Thế là cả nhóm cùng cười vui vẻ vì có một anh bạn đồng nghiệp tên Lý này, đang mong ngày về hưu như ruộng đồng ở những ngày nắng hạn đợi mưa.

Vào đến phòng làm việc, nhâm nhi ly cà phê, Lý chợt nghĩ đến chuyện về hưu và xin tái lưu dụng của cha mình thuở xưa. Năm đó Lý vừa lên lớp đệ lục thì cha của Lý đã đến tuổi được về hưu (năm mươi lăm tuổi từ bộ giáo dục gửi giấy về thông báo). Đó là một tin vừa vui, nhưng cũng vừa lo của cha và của gia đình vì lương hưu của một thầy giáo tiểu học rất ít mà phải lo cho gia đình năm miệng ăn, với lại ba đứa con nhỏ còn phải tiếp tục đi học. Lý càng nghỉ thì lại càng thấy thương cha nhiều. Thuở xưa ông nội của Lý là một chủ điền rất giàu có, ruộng đất cò bay mỏi  cánh.
Cha Lý được ông nội cho đi học chương trình Pháp, nên viết và nói tiếng pháp rất thông thạo (parler français giọng mũi… cũng ngon lành như Tây vậy). Sau khi ra trường, rồi lập gia đình cha của Lý chọn ngành thương mại.

Ông là đại diện  và mở một tiệm buôn đặc quyền với nhãn hiệu: nhà thuốc “Ông Tiên” , đồng thời cũng mở thêm một tiệm cầm đồ bên cạnh. Cuộc sống  cha mẹ của Lý lúc đó rất sung túc, hạnh phúc… nên đã có nhiều người quen miệng gọi là ” ông bà Tiên !”.

Rồi tới thời Việt Minh nổi dậy, thành phần điền chủ, giàu có và luôn cả những ai có thể giao thiệp được với quan chức Tây thì bị gán ghép vào thành phần Việt gian, cho nên nhà cửa, nơi làm ăn buôn bán đó của cha mẹ Lý đã tạm bị trưng thu để làm cơ quan gì đó của Việt Minh lúc bấy giờ. Và đã có một ngày nhà nước bảo hộ Tây thấy lá cờ Việt Minh bay phấp phới trên mái ngói đỏ.
Rồi một trận cuồng quét đến, các ông Việt Minh nhà ta bắn nhau được vài ba tiếng súng gì đó với quân đội Pháp rồi bỏ chạy. Thế là tất cả cơ ngơi gầy dựng khổ cực mà cha mẹ của Lý đã bỏ công sức ra, tất cả đã bị thiêu rụi trong biển lửa! Mẹ của Lý vì quá đau buồn nên ngã bệnh rất nặng và đã như người mất trí trong mấy năm trời, còn cha của Lý phải giả vờ rượu chè, ăn chơi trác táng để qua khỏi cặp mắt dòm ngó của Việt Minh mà được đem vợ lên Sài gòn để chữa trị.

Thế là từ đó “Ông Bà Tiên” không còn nữa, cha của Lý phải xin vào làm thơ ký trong bến cảng tàu ở Sài gòn mà lay lắt sống qua ngày. Tiền của mất, vợ con bệnh hoạn, không còn đất đai nhà cửa. Biến đổi quá lớn này đã khiến cha của Lý không còn muốn phấn đấu nữa và để khuây khoải nỗi lòng, ông lại thường trốn gia đình vào chơi bạc bài trong “Kim Chung Đại Thế Giới”. (Đây là sòng bạc lớn nhất ở tại Sài gòn vào những năm tháng đó do Bình Xuyên chỉ huy).
Mẹ của Lý cũng dần dà bớt bệnh và đã biết giận chuyện cờ bạc của chồng, nên bà đã bỏ về quê sinh sống và cất một chòi lá nhỏ trên mảnh đất còn lại ở bên ngoại trong lúc đang mang thai Lý trong bụng. Gia đình gian nan tứ tán, tưởng chừng không còn có thể nào hàn gắn lại. Có một hôm nơi bến cảng tàu bị đình công nên cha của Lý về Bạc Liêu thăm mẹ của Lý, mai mắn sao trong những ngày đó thì Lý cũng đã “khóc chào đời”!.

Thế là cha không trở lại Sài gòn nữa mà ở lại Bạc Liêu và nộp đơn xin làm giáo viên tiểu học của tỉnh và từ ấy người đã trở thành ông thầy giáo làng… Ngày ngày hai buổi còng lưng trên chiếc xe đạp, không quản gió mưa trên đường lộ đá gồ ghề, trơn trợt để đi dạy tại trường tiểu học Trà Kha B của tỉnh Bạc Liêu… cho đến ngày Lý vào đến trung học đệ nhất cấp của tỉnh này, thì lại cũng là lúc ông giáo già lại phải lo lắng viết vội lá đơn xin được “lưu dụng” vì hoàn cảnh gia đình. Nghỉ đến đây Lý không thể nào cầm được nước mắt.

Cha của Lý mất đã lâu, trước ngày Lý đi vượt biên thế mà mọi chuyện như mới đó… Như cha đang còn sống  và đang vui mừng, tay cha run run vì: ” lá đơn xin LƯU DỤNG đã được bộ giáo dục CHẤP THUẬN” trong mấy tuần sau  khi gửi đơn xin đó vậy !

LÝ BỬU LỘC
PHỤC SINH CHÚA ĐẾN VỚI LÒNG

Bức tường cong, nhác lòng nên không sửa,
Cố trét tô, cố bào chữa hộ cho lòng.
“Chẳng đến đổi nào, xí xóa chút là xong,”
Rồi để vậy nhưng ra vào lòng không ổn.

Đến một hôm lôi hết: bào, cưa, đục đốm,
Quyết chữa cho xong cái thấp thỏm ở lòng.
Gỡ hết vách ra gọt đẻo lại bên trong,
Thật vất vả, nhưng được căn phòng xinh đẹp.

Nhờ vậy nghĩ đến lòng: “Những nơi chật hẹp”,
Quyết mở toang để sửa chữa cho đẹp bên trong.
Mặc dù khó khăn nhưng an ổn ở lòng,
Phục sinh đến!… là phải sống vui đời mới.

Thoát đam mê, lòng tìm bình an mà tới,
Biết sẻ chia và không thủ lợi riêng mình.
Sống với tình yêu, lớn mạnh với niềm tin,
Vì thấy rõ Chúa Phục Sinh trong mình đó.

                      *
                *          *

Phục Sinh đến! vui thử làm vài việc nhỏ,
Thương giúp kẻ khổ đau để tỏ tấm lòng.
An ủi, khuyên răn, chia sẻ với cảm thông,
Những khốn khó cảnh đời đang trong giông bão.

Chúa Phục Sinh!… Đổi hoang đàng nên hiếu thảo,
Vứt bỏ nhỏ nhen, tạo bác ái tràn đầy.
Nhìn cuộc đời luôn có Tình Chúa dựng xây,
Mắt đã sáng và tim yêu đang mở cửa.

Chúa Phục Sinh!… Khơi niềm tin thêm rực lửa,
Bằng chứng rõ ràng: “Đã mở cửa tâm hồn.”
Các Thánh Tông Đồ chẳng lo sợ thiệt hơn,
Đã mạnh dạn làm chứng nhân cho Tình Chúa.

Phục Sinh đến!…xin mở rộng lòng hơn nữa,
Quyết mời Ngài vào để ngự giữa tâm hồn
Để mọi việc làm thêm tốt đẹp thêm hơn,
Sống có Chúa sẽ tốt hơn trên mọi sự.

Năm nay Phục Sinh, kính xin Ngài đến ngự
Ở trong con và tâm sự mãi với con.
Để luôn luôn Tình Yêu Chúa được vuông tròn,
Dù gánh nặng hồng trần vẫn còn vương nặng.

LÝ BỬU LỘC

TÂM TÌNH NGƯỜI ĐẾN MUỘN


Anh là người làm vườn nho từ buổi sáng,
Tôi cũng làm vườn nhưng đến muộn chiều nay.
Chúa trả công cho anh và tôi cũng chỉ một ngày,
Đừng so sánh tị hiềm, mất đi hạnh phúc.

Anh là người làm vườn nho từ buổi sáng,
Tuy nhọc nhằn nhưng diễm phúc cạnh Cha.
Tuy nhọc nhằn nhưng nơi đó chính la nhà,
Là hạnh phúc trong vòng tay Cha mở rộng.

Còn phần tôi, người làm vườn nho đến trễ,
Được trả công như người đến tự sớm mai.
Rõ ràng đời tôi đã được đặc ân Ngài,
Vì Ngài hiểu nỗi khổ sầu người đến trễ.

Anh sáng sớm đã trong cảnh vườn tươi mát,
Được ngắm nhìn bao cây trái đẹp xinh tươi.
Được chở che trong tình nhân ái của Người,
Được yêu mến, dạy răn nghìn điều cao quý.

Tôi lúc ấy giữa chợ đời… trong lối bí,
Chưa tìm ra được chân lý sống ở đời.
Trên nẻo về nghe như lạc lõng chơi vơi,
Như thiếu vắng sự bình yên trong cuộc sống.

Đời lúc ấy: trên dầu sôi, trên lửa bỏng,
Dễ đốt thiêu hạnh phúc của gia đình.
Dễ làm mờ đi ánh sáng của tâm linh,
Dễ bán rẻ linh hồn này cho quỷ dữ.

Đường ngã rẽ không phân nẻo lành, lối dữ,
Không ai dắt dìu khi đường ấy gai chông.
Còn phần anh thì đã có Chúa ẵm bồng,
Nấn tay Chúa là anh an bình mọi sự.

Sung sướng, hạnh phúc đã bên anh thật sự,
Khi xác trần vừa mở mắt khóc chào đời.
Đã được nhận vào vườn nho đẹp thắm tươi,
Hưởng bóng mát của tình yêu Kitô hữu.

Tôi chúc mừng anh đã vào từ sáng sớm,
Tôi chúc mừng người đến trễ giống như tôi.
Bây giờ chúng ta như anh em cả rồi,
Hãy tô điểm vườn nho ngày thêm màu mỡ.

LÝ BỬU LỘC

NHỮNG CHUYẾN HÀNH QUÂN KHÔNG NGƠI NGHỈ !



Mới từ trên đỉnh Thượng Điền về đến căn cứ “BOY”, bộ chỉ huy tiền phương của trung đoàn 1 bộ binh và cũng là bộ chỉ huy nhẹ của tiểu đoàn 11 pháo, đóng tại Nam Hòa ngang lăng vua Minh Mạng. Bửu chưa kịp tán gẫu cùng đám bạn đề – lô, chưa kịp đấu vài ván đô- mi -nô ăn thua bằng mấy tô mì gói, vài gói thuốc quân tiếp vụ. Ai  thua thì ký sổ chịu ở câu lạc bộ dã chiến của thượng sĩ Phú tiểu đoàn 11/PB… thì trung tá tiểu đoàn trưởng pháo binh đã đến khều nhẹ:

“Bửu!,…”moa” biết “toa” mới vừa về tới, còn thời gian nghỉ ngơi vài hôm cùng tiểu đoàn bộ binh trước khi trở lại chuyến hành quân. Nhưng bên Đông Nam Huế tiểu đoàn 38 BĐQ từ Đà Nẵng ra tăng viện cho sư đoàn 1, họ cần một tiền sát viên từ tiểu đoàn 11 pháo gấp… bây giờ “toa” tính sao”?

Căn cứ “BOY” là bộ chỉ huy nhẹ của bộ binh lẫn pháo binh đang phối hợp điều động cho chiến trường Tây -Nam Huế, nơi đã từng xảy ra nhiều cuộc chiến khốc liệt ở các đỉnh Chúc Mao, Thượng Điền, Suối máu, đường 547 xuyên Lào… v.v. Nhưng toàn bộ cấp chỉ huy trưởng của đơn vị như: đại tá Toàn trung đoàn trưởng Trung đoàn 1/ bộ binh, trung tá Hiệp tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 11/PB… tất cả đều có mặt nơi này.

Bửu, sĩ quan tiền sát trẻ nhất tiểu đoàn, quậy nhậu cũng có hạng nhưng rất tôn trọng kỷ luật nhà bình, chưa lần dù, chưa lần trễ phép nên được ngài trung tá tiểu đoàn trưởng tín dùng mỗi khi hành quân cần hay đột xuất.  Dĩ nhiên là Bửu không từ chối được lời vừa hỏi cũng như vừa ra lệnh của cấp chỉ huy trực tiếp nơi tuyến đầu. Kỷ Luật Quân Đội chỉ có hai chữ TUÂN LỆNH !

Anh Hiệp là trung tá tiểu đoàn trưởng 11/PB, rất hiền hoà và thương đàn em tiền sát pháo binh lắm. Bửu nói một câu cho vui và đồng thời cũng muốn nhắc nhở “ông thầy”  là sau chuyến hành quân này, nếu còn mạng trở về là đúng ngày được đi phép về Sài gòn của mình.

“Vâng,… Đại Bàng ra lệnh đi đâu thì đàn em đi đó : XIN TUÂN LỆNH !… nhưng miễn sao đúng ba tháng là “Đại Bàng” nhớ ký cho mười ngày phép để em về thăm nhà là quý rồi”.
Trung tá Hiệp nhìn Bửu vừa cười, vừa nói: “Toa” đừng lo, ” moa” nhớ mà”.

Thế là Bửu ba lô, súng đạn lên đường. Chuyển vùng từ Tây-Nam-Huế đến chiến trận Đông – Nam- Huế.
Từ bộ “trây – di” màu cứt ngựa đổi thành bộ đồ rằng BĐQ ( bộ đồ “rằn ri” ngụy trang này là do ý kiến sau này của đại uý Phúc tiểu đoàn phó của tiểu đoàn BĐQ tặng, cốt để tránh bị bắn tỉa hay pháo kích bởi địch quân, “vì mục tiêu xuất hiện thêm màu lạ”).

Chuyển đổi đến địa bàn mới nên đặc lệnh truyền tin và bản đồ hành quân cũng đổi mới. Tất cả đều được cấp phát từ bộ tư lệnh sư đoàn 1.
Chuyến hành quân vội vàng và đặc biệt, nên bộ chỉ huy tiền phương của tiểu đoàn 11 PB đã đưa Bửu bằng chiếc xe jeep do tài xế của thiếu tá Dậu tiểu đoàn phó lái. Đến điểm hẹn trên quốc lộ 1 giữa làng Truồi và Đá Bạc. Bửu được một liên lạc viên của BĐQ là hạ sĩ Nam dẫn đường vào gặp đại uý Phúc dưới triền đồi cạnh khe suối nhỏ. Nơi đây là  bộ chỉ huy nhẹ, cánh tiền tiêu của tiểu đoàn 38 BĐQ này.

Bản đồ tác chiến vẫn còn chưa xếp kịp (đúng kỷ thuật, đúng tọa độ tung – hoành của vùng tác chiến)… thì địch đã phát giác “xuất hiện màu lạ” trong vùng kiểm soát của “rằn- ri cọp rừng”. (Tuy rằng Bửu cũng đã ngụy trang cẩn thận bằng những nhánh sim rừng như mọi người)… nên đã có nhiều quả đạn cối 82 gởi đến.

Anh Phúc la to :
” Pháo kích !” và kéo mạnh tay Bửu cùng nhảy xuống bờ suối bên cạnh sườn đồi.

Anh phúc bảo:
“ Gọi bắn phản pháo, Bửu !”

Rồi thì bắn phản pháo. phỏng theo tầm xa, hướng tiếng súng nổ lúc “đề ba” và  theo địa hình, nơi địch quân có thể đặt cối để pháo được. Pháo binh ta trả đũa cho ấm lòng chiến sĩ thế thôi, vì trước mắt toàn một màu xanh của núi rừng trùng trùng ngút ngàn chẳng quan sát thấy được mục tiêu ở đâu cả. Sau mấy quả 105 bắn chụp, bắn chạm nổ và sau mười mấy quả đạn cối 82 ly của địch rãi chụp toàn đỉnh đồi,  rồi thì tất cả trở lại im lặng hoàn toàn, may mắn không một ai bị thương- vong. Từ ấy đại uý Phúc nghỉ:

“Mấy bửa qua rất yên tĩnh, chợt nhiên hôm nay chúng lại tập trung pháo ngay đỉnh đồi này! Chắc chắn là bọn nó đã thấy “màu áo lạ” xuất hiện ở đây. Thôi  tôi thấy “cậu” nên bận bộ đồ “rằn ri” nầy liền đi”. Thế là từ hôm đầu tiên đến chiến trường Đông -Nam Huế đó, Bửu đã thay hình đổi dạng thành “tiền sát viên/ PB cọp !”.

Trận chiến rất sôi động, ngày nghỉ đêm tấn công liên tục, trên các đỉnh “Bạch Mã”, đỉnh “Núi Nghệ”. Phối hợp hỏa lực pháo binh để dọn đường, để đè bẹp tàn phá mục tiêu trước khi bộ binh xung phong và tuyên liệu hỏa lực rào cản dự phòng địch phản công các điểm đã chiếm lĩnh được. Chiến trận Đông Nam Huế, đồi Bạch Mã thế đất chạy dài như yên ngựa, núi Nghệ đối diện Bạch Mã… địa thế rất quan trọng cho trận chiến giữa sư đoàn 1/BB với sư đoàn thép Sao Vàng của Bắc Việt. Vùng này được biệt danh là “Tam giác sắt”!… là nơi tập trung pháo của cả hai bên. Thây người  trộn lẫn đất đá, mùi hôi thối và ruồi nhặng không thể nói nổi.

Ngày này qua ngày nọ Bửu và đại uý Phúc sát vai bên nhau chiến đấu, chia sẻ niềm vui cùng nỗi lo lắng … có lúc xung phong, có khi tháo lui, chia nhau từng nắp bình ton rượu “Đông Hiên”, “Thiên Tường” sau mỗi chuyến tiếp tế lương thực. Một hôm đại uý Phúc nói: “đêm nay bọn mình không tấn công nữa… dưỡng quân vì hừng sáng mai có đoàn quân khác vào đổi !”
Nhưng anh cũng bỏ nhẹ một câu:… “Nhưng để ngũ yên giấc một chút, “cậu” chịu khó bắn “rào cản” tụi nó nha, cho tụi đặc công bớt cọ quậy. Đêm hôm đó trời tối đen như mực, sau khi chia nhau một ca trà nóng anh Phúc rủ: “Bửu theo anh lên kiểm soát mấy “chốt” đầu xem tụi nó có canh gác kỹ càng không ?”…
Thế là hai anh em cùng bò lên để quan sát các hố cá nhân trước mặt… có nơi cũng ngon cơm lắm:  súng đạn luôn sẵn sàng, còn có nơi không thấy bóng dáng ai cả!… Thiệt lạnh cả người.
Đại uý Phúc phải bò trở lại tìm kiếm bọn này và ra lệnh phải trở về lại vị trí củ. Anh Phúc đã nổi nóng, lẩm bẩm nói: ” bà mẹ nó! mới nghe phong phanh là ngày mai sẽ đổi quân thì tối nay đã tụ tập bỏ gát … sáng nay tao sẽ cho tụi mày biết tay “.

Một buổi tối hơi lo!  Đại uý Phúc nói:
“Đêm nay bọn này làm mình hơi lạnh giò đó “câu”.Thôi thì tùy cậu” tính làm sao cho ấm áp chút chút đi nha !”.

Bửu hiểu ý và gọi bắn những điểm tuyên liệu mà trên thế đất địch quân có khả năng di chuyển dễ dàng để tấn công. Bầu trời vẫn tối đen như mực, cơn gió núi rừng đêm nay lạnh hơn mọi đêm và sao trời cũng ẩn khuất trong những áng mây lang thang từ đâu đó đã rủ nhau về đây tối đêm nay!… tạo thêm cái lạnh “toát mồ hôi” này.

Vài quả pháo 105 ly đã nổ theo lệnh gọi bắn của Bửu… bất thình lình từ trong những đám rừng xanh um cây lá đó, đã phát lên ánh lửa cháy rực sáng cả một góc trời!.
Anh Phúc bật đứng thẳng dậy la to:
 “Cháy căn cứ địch rồi, cháy căn cứ địch rồi… Thằng Bửu là con gà có cựa chém!… Pháo binh đã bắn trúng cứ rồi!”.Thiệt tình không niềm vui và ấm áp nào hơn. Thế là khoảng năm mười phút sau L19 ( máy bay quan sát) xuất hiện trên bầu trời. Rồi lệnh của sư đoàn 1 đã cho tác xạ T.O.T cả một góc rừng phát cháy đó.

Từ đó đại uý Phúc đã thường nhắc tên Bửu tiến sát PB…. “CON GÀ NON có CỰA CHÉM !” với tiểu đoàn 38 BĐQ  ( nhân chuyến tăng viện cho Sư Đoàn 1 ở chiến trường Đông Nam Huế năm đó).


LÝ BỬU LỘC
 NHỚ NGÀY ĐẦU TIÊN ĐẾN HUẾ !

 Vừa ra tết độ vài ngày, khi làn gió lành lạnh của tiết xuân còn mơn man trên da thịt và lác đác trong vài sân nhà quanh xóm còn màu đỏ của xác pháo, của hạt dưa chưa quét dọn… thế mà Bửu đã phải sẵn sàng “ba- lô” và sự vụ lệnh để ra trình diện đơn vị.

 Bửu lang thang Sài-Gòn vài hôm, quanh căn cứ chuyển vận đợi chuyến bay, cuối cùng thì đã có phương tiện. Chuyến C130 từ phi trường Tân Sơn Nhất đã đưa Bửu đến sân bay Phú Bài của Thừa Thiên, Huế.

 Trận mưa phùn đầu tiên trong đời, chào đón chân anh chàng lính trẻ nầy thật lạnh và dễ thương lạ. Mưa phùn giăng kín bầu trời như màn bụi nước.  Mưa bụi gần như không nhìn thấy hạt. Cơn mưa nhẹ nhàng và thơ mộng, ngắm nhìn tợ trời sương mù của mỗi buổi sớm lập đông ở quê nhà. Thế mà cũng đủ thắm ướt hết áo “sô” và chiếc mũ “bê rê” đen của anh chàng “sĩ quan tiền sát sữa” từ quân trường mới ra trình diện đơn vị nầy.

  Bửu nhớ lời căn dặn của một người chị họ:

“Cậu Sáu nó à, trước khi trình diện đơn vị, cậu nên ghé thăm trường Quốc Học, trường Đồng Khánh và nhớ viết thơ nói cho chị biết Huế thơ mộng, đẹp như thế nào nha em!”

 Bửu thầm nghỉ:
 
 “Vâng, chế  Ba,… em cũng đang háo hức trong lòng đây, em phải thả bộ qua cầu Tràng Tiền và hát nho nhỏ “Chuyện một chiếc cầu đã gãy” của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng. Có như vậy mới thiệt là người đã đặt chân đến cố đô Huế phải không chế ? Và còn một điểm mà em cũng thiệt đồng ý với chế Ba là: “phải ghé qua trường Đồng Khánh”!

  Anh chàng lính sữa nầy tự nói nhỏ một mình: 


“Em biết chế thì thích hình ảnh đẹp của một ngôi trường Đồng Khánh, Quốc Học cổ xưa, nổi tiếng cả nước.  Còn phần em thì lại ao ước làm quen được “O” nữ sinh nào đó, để xứ thần kinh mộng mơ nầy.có được những tình thư sưởi ấm anh lính trận xa nhà .”

 Đồng Khánh đây rồi,  với màu hồng- tím nhạt, ngôi trường trở nên thơ mộng, đẹp lạ. Trước sân trường râm bóng mát bởi nhiều hàng cây cổ thụ, xa xa cũng có đặt vài chiếc ghế đá như sẵn lòng mời gọi khách hãy tạm dừng chân. Thôi thì dừng chân lại giây phút để lắng nghe hai cô “chim vành khuyên” đang líu lo chuyện gì chưa rõ? Hai tà áo tím với mái tóc dài óng ả phủ bờ vai, trông thật là dễ thương đang huyên thuyên, rôn rã quá! Bửu không tài nào hiểu được dù cố lắng tai nghe. Bửu, dân Bạc Liêu rặt, giờ là lần đầu tiên được nghe giọng nói của các cô gái Huế… ôi chao sao mà dễ thương quá vậy ta!

 Tò mò xem  hai cô bé nầy đang bàn nhau chuyện gì đây, vì Bửu nhìn thấy họ đang chăm chú vào một quyển vở học trò đặt giữa hai người. Bửu liền rời ghế ngồi và tiến về hướng hai chiếc áo dài tím dễ thương đó để thỏa cái tính tò mò trong lòng. À, thì ra những con số chằng chịt trên trang giấy học trò, có luôn hình vẽ của trục hoành, trục tung và cộng biểu đồ của phương trình chứa ẩn số.. Thì ra hai nàng chim đang hót líu lo với nhau về bài toán lượng giác.

 Thôi thì đúng tủ với anh chàng “tiền sát viên” pháo binh từ quân trường CBSQ/PB/DỤC MỸ mới vừa ra lò nầy rồi. Bửu thích chí, tằng hắng giọng rồi gạ lời chào hỏi để mong được làm quen và sẵn trổ chút ít nghề toán cho hai cô em nữ sinh Đồng Khánh nầy ” lé mắt” chơi. Nào ngờ! … chẳng một lời đáp trả, hai cô bé vội vàng xếp tập vở lại đứng lên, tỏ ra rất e thẹn và nắm tay nhau đi nhanh về lớp học.

 Gần mấy chiếc ghế nơi sân trường đó, có một người đàn ông đứng tuổi đang quét rác trên đường. Chắc ông ta cũng đã để ý trông thấy mọi việc xãy ra và thương cảm cho anh chàng lính sữa người “nam bộ” nầy, nên đã ngoắc Bửu lại.  Ông ta cười cười và mách chỉ:
“Cậu có thấy thích và muốn làm quen với cô gái Huế nào, thì hãy tìm đến nhà làm thân với gia đình họ trước cho dễ hơn.”

 Bửu ngượng ngùng và lí nhí trả lời: “Dạ! cháu cám ơn bác… cháu, sẽ làm theo lời bác dạy.”

HUẾ RẤT LÀ DỄ THƯƠNG NHẤT LÀ CÁC CÔ NỮ SINH ĐỒNG KHÁNH,… 
 NHƯNG MUỐN ĐƯỢC THƯƠNG THÌ KHÔNG PHẢI DỄ… đó chế Ba ơi!

 LÝ BỬU LỘC
CHUYẾN GHE ĐỊNH MỆNH!

Câu chuyện được bắt đầu như vầy:…

BƯỚC KHỞI ĐẦU của CHUYẾN ĐI ĐỊNH MỆNH !
Sau hơn sáu tháng ròng rã mua dấu xăng dầu để tính chuyện vượt biên, bằng chiếc ghe  nhỏ khoảng chừng một trăm giạ, chuyên chở muối đường sông của một thằng bạn trong xóm.

Nhóm quyết tử  bọn tôi, có tổng số là 12 người. Đúng y danh số của một tiểu đội cảm tử quân, quyết vượt thoát vòng vây ngục tù cộng sản, để mong tìm gặp bến bờ tự do cho cuộc sống… (tính luôn cả vợ chồng tôi cùng đứa con gái đầu lòng Lý Tú Anh (02 tuổi) và chị Ken cùng con trai nhỏ tên Cảo- Kía (01 tuổi) là vợ con của Huỳnh Long cũng là chủ của chiếc ghe định mệnh này).

Kế hoạch mọi sự tuần tự xảy ra:  Sửa chửa “con cá đồng” trở thành “con cá biển”, và chờ đợi ngày giờ đặc biệt để có thể cho ghe ra cửa khẩu cũng trên dưới 6 tháng.
Cuối cùng thì đêm rằm tháng 8 năm 1981, tôi nhớ rất rõ vì tối hôm đó là ngày vui tết trung thu của bọn trẻ. Tối đêm đó mặt trăng tròn to, bầu trời trong vắt không một áng mây là lúc chiếc ghe định mệnh của bọn tôi đã rời được khỏi cửa khẩu của sông Ông Đốc… với điều kiện phải cho đồn công an biên phòng này gửi đi 10 người khách vượt biên, trong số đó có một tài công và một thợ máy chuyên nghiệp.

Kế hoạch giao kết một đằng, nhưng mọi chuyện xảy ra khi làm thì lại là một nẻo. Tài công không có, thợ máy cũng không.
Gần hai ngàn cây mía ngụy trang chở trên ghe để giả vờ mua bán trên sông và cũng là nguồn nước, thực phẩm dự trữ cho đoàn người vượt biên trong những ngày dài lênh đênh trên biển cả. Tất cả đều phải thảy hết lên bìa rừng, để sau đó đổ lên ghe không biết bao nhiêu  là khách của nhóm công an biên phòng này. 
Chiếc ghe đã quá trọng tải, mặt nước chỉ còn cách be ghe khoảng chừng non một tất. Mọi người phải chen chút ngồi bó gối san sát vào nhau.

Mọi chuyện, toàn bộ đều bị khống chế của nhóm công an giữ cửa khẩu.

Một câu của người trong nhóm điều động chuyến đi này, vừa như hỏi, cũng như vừa ra lệnh với tôi : “Bây giờ không có tài công, không có thợ máy… anh tính sao hả anh Lộc?”.

Lúc ấy thực sự trong lòng tôi chỉ nghỉ một điều là “LÀM SAO ĐỂ THOÁT ĐƯỢC RA KHỎI CỬA KHẨU LÀ ĐỦ RỒI !”.. Bầu trời  và không khí TỰ DO đang  đợi chờ ta đó! 

Thế là Tôi đã không ngần ngại trả lời : ” không sao, tôi đem chiếc ghe này từ Bạc Liêu xuống đây được … thì trên biển cũng sẽ đi được!”. Anh bạn lạ có lẽ thích chí câu trả lời này nên khuyến khích tôi: “Đúng đó anh!… đường sông cong queo anh còn lái được, huống hồ chi trên biển thì mênh mông tha hồ khỏi lo”.
Vâng, tôi thầm nghỉ đúng vậy! 
Tôi chỉ cần vượt ra khỏi ngục tù cộng sản thì ngoài kia là bầu trời TỰ DO, Chỉ cần được hít vào đầy buồng phổi cái không khí của tự do thì dù có chết, có phải làm mồi cho cá dữ giữa đại dương tôi cũng mãn nguyện.

Thế là: một cựu sĩ quan pháo binh của QLVNCH, nay tôi đã bất đắc dĩ trở thành Tài công lái tàu vượt biển!  Còn thằng bạn tôi:…Huỳnh Long, (ông thầy giáo làng) trở thành anh thợ máy châm dầu nhớt cho máy tàu (TS150) này.
Hiểm nguy như vậy, thế mà sao vui lạ khi chiếc ghe đã thực sự vừa ra khỏi cửa sông Ông Đốc và ánh bình minh cũng vừa chớm xuất hiện từ mí giáp của nước với trời… ai ai cũng hân hoan và hớn hở ra mặt.

Không chỉ
 tưởng bọn 12, tiểu đội cảm tử chúng tôi có cảm giác đó thôi, nhưng thật sự ra thì tất cả mọi người trên tàu ai ai cũng đều như vậy.
Có người nói: “Đây là lần thứ tư đi vượt biên và đã bị tù một lần… đến hôm nay mới ra được biển”. Và thêm một người khác cũng nói: “Chuyến này hên quá, khi đến nơi bến bờ bình an rồi tôi nguyện ăn chay một tháng để đáp lễ”.
Tôi chẳng hiểu họ nói “khi đến bến bờ, … tên là gì và ở đâu vậy? mà sao chính tôi cũng chưa biết!  Mặc dù là vậy, mênh mông như đại dương là vậy … vì con tàu đi tìm tự do với “ông tài công bất đắc dĩ” như tôi đây chẳng biết đâu là phương hướng. Lúc đó lòng tôi chỉ biết ước ao rời khỏi Việt Nam, thoát xa địa ngục trần gian, khỏi sự kìm kẹp, gông cùn của cộng sản thế thôi.
Nhưng những lời chia sẻ chân thành của các bạn đồng hành làm lòng tôi cũng vui lây. Đã khiến tôi quên đi bao hiểm nguy trước mặt. Tháng 7, tháng 8 nầy ngư dân họ thường gọi là tháng “Lòng Trung” thì mặt biển im- động bất chừng, chứ không giống như tháng 3, tháng 4 là tháng của ” bà già đi biển”.
Thế là chiếc ghe định mệnh đã thật sự ra khơi, khi rặng rừng đước của bãi biển ở cửa Ông Đốc còn lờ mờ nhìn thấy như hàng tăm, thì biển bắt đầu dậy sóng!

Thế là mới vui vẻ đó, mặt nước mới yên lặng như tờ đó. Bây giờ bắt đầu gầm thét lên dử dội. 
Từng ngọn sóng trắng xoá, cao vút bỏ vòi như muốn nuốt chửng chiếc ghe vượt biên bé nhỏ của chúng tôi.
Mọi người trong ghe bắt đầu hốt hoảng lo sợ. Tiếng ồn ào là hét trong ghe vọng lên,. Có nhiều người đang cố tranh giành nhau đổ bỏ những can đựng dầu, để lấy làm phao mà lội vào bờ mông tự cứu lấy mạng mình. Không một ai lo tát nước từ trong ghe ra, sau những đợt sóng ập tràn vào.
Tôi thật sự sợ chiếc ghe nhỏ bé này sẽ bị đắm chìm, nên đã thét vọng vào trong: “Đừng sợ, hãy bình tĩnh!…hãy lo tát nước ra, đừng dành nhau những can xăng dầu nữa! 
Các anh liệu có thể bơi nổi vào bờ không?”.
Từ xa lộng theo gió như tiếng gầm gừ, thịnh nộ của biển cả… Tôi đã nghe giọng quát thật lớn của một vị khổng lồ, đầy uy quyền hỏi tôi: “Mày là ai ? mà dám bảo tụi kia đừng sợ!”.
Khắp thân thể tôi đã nổi da gà vì quá kinh hãi!.(Có lẽ đây là một sự mầu nhiệm, không thể hiểu nổi của ” bà cậu” trên biển cả). Quá sợ!… tôi liền hỏi vọng vào trong ghe: “Ai là người lớn tuổi trong ghe? Đạo gì?. Xin đọc kinh dùm !”
Thế là mọi người trong ghe:  kẻ thì lo giúp tát nước ra, người đạo phật thì niệm “Quan Thế Âm Cứu nạn !”, kẻ trông cậy Thiên Chúa thì cũng đọc kinh mân côi cầu xin Đức Maria trợ giúp!

Thế là “ông tài công bất đắc dĩ”  như được một sức mạnh vô hình, lái đưa con tàu định mệnh nhỏ bé này lướt giữa phong ba bão tố để mong tìm cho ra được bến bờ Tự Do!


PHẦN THỨ NHẤT của 15 NGÀY GIAN KHỔ TRÊN NẺO TÌM TỰ DO 


 Chiếc ghe gần như muốn bị nhận chìm trong cơn biển động. Nhiều tiếng la lối vì lo sợ… họ yêu cầu tôi phải cho chiếc ghe quay đầu trở vào bờ… vì rặng cây xanh xanh trong đất liền vẫn còn lờ mờ trông thấy. Tôi giữ im lặng như không nghe thấy gì hết và quyết nương theo sóng để chiếc ghe tiếp tục ra khơi. 
Theo hướng Đông- Nam của chiếc hải bàn, phải quyết tâm ra khơi cho đến hải phận quốc tế… mong chờ lòng nhân đạo của quốc tế ( tàu vớt tàu vượt biên !). Rồi thì rặng cây xanh xa xa trong bờ đã không còn nhìn thấy nữa. Trời nước mênh mông, cơn giận của biển từ từ dịu lại dần, những tiếng la thét trong ghe không còn nữa. Nỗi im lặng lạ lùng, kinh sợ bao trùm mọi người. Đói, mệt sau một ngày dài vật lộn với những cơn sóng dữ. Giờ thì trời đã tối, bắt đầu ẩn hiện nhiều ánh sao đêm… tôi vẫn ngồi giữ tay lái và quyết hết suốt đêm nay chiếc ghe này mong được chạm đến đường ranh của hải phận quốc tế. 
Thế là đã hơn trọn ngày đêm rời khỏi sự dòm ngó của anh công an khu vực, đã không sợ ông láng giềng tổ trưởng gọi đi công tác thủy lợi ( vì tên tuổi của tôi luôn được chiếu cố hàng đầu với nét mực đỏ ghi chú: “sĩ quan ngụy”)… tuy đang lênh đênh trên biển khơi nhưng lòng vẫn thấp thỏm chưa an, vì còn sợ bị tàu – ghe của bọn công an biên phòng bắt gặp. Chiếc ghe nhỏ khoảng độ 100 giạ, đặt một máy TS150 dưới lường, chở khẩm lừ người thì làm cách nào chạy nhanh cho được, nếu lỡ bị bọn công an biên phòng Việt cộng phát giác… bị bắt là cái chắc! Vài anh bạn lạ (nghe đâu từ Sài gòn được người môi giới để đi chuyến vượt biên nầy) thức giấc, thân thiện bắt chuyện hỏi tên tôi, mồi đưa tôi một điếu thuốc. Vừa lạnh, vừa đói và thần kinh thì luôn luôn căng thẳng vì lo nghỉ đủ mọi chuyện… hút một hơi thuốc , hít thật sâu đã khiến tôi thấy sảng khoái, người như lâng lâng bay bổng đến chín tầng mây…Thiệt tình giống y như những ngao thuốc lào được kéo trong những năm tháng ở các trại tù binh Sơn La, Nghĩa Lộ, Yên Bái vậy!
Cũng có vài câu hỏi vu vơ từ những anh chị nào đó trong ghe vọng ra: “mình đã đi xa bờ lắm phải không anh… đến hải phận quốc tế thấy tàu nước ngoài chưa?”. “Nhớ ngày hôm qua biển động sợ quá!… chết như chơi, nhưng công nhận sao anh gan thiệt… đã trấn an anh em trong ghe: đừng sợ !”. . Cũng có vài cô bác mời tôi ăn một ít bánh cho có thêm sức khỏe, để tiếp tục lèo lái chiếc ghe định mệnh chung này. Một buổi ban mai mới, mặt nước biển tàm tạm êm dịu. Tôi tính toán trong bụng chắc phải mất hết thêm một ngày nay nữa, với vận tốc lề rề như rùa của chiếc máy TS150 này thì chắc mới đến được vùng nước của hải phận quốc tế. Rồi sau đó mới vững tâm hơn,  tôi định lại hải bàn để cho ghe quay đầu về hướng Tây… là cốt ý,  mong sao đưa được chiếc ghe này đến vùng biển Thái lan, hoặc Indonesia hay là Malaysia gì đó cũng được… miễn sao xa khỏi cộng sản tìm thấy tự do là được. Tất cả chỉ biết hy vọng vào số mạng thôi vậy ! Thật vậy nhớ câu: ” Tận nhân lực- tri thiên mệnh”… không chút nào sai. 
Đang mơ màng vẻ hướng đi sắp tới thì từ nơi chân trời xa xa mây đen ùn ùn kéo đến, gió lại bắt đầu thổi mạnh để báo hiệu cho một cơn mưa giông và biển động khác!.
 
Người tính không qua trời tính !


 Biển động lớn, sóng vươn cao vòi như sẵn sàng nuốt trọn chiếc ghe nhỏ bé nầy. Làm cách nào dám chuyển hướng để quay đầu ghe như dự định ? Chỉ còn một cách sống là kê mũi ghe nương sóng gió mà đi! 
Giông tố chưa thuyên giảm thì Huỳnh Long bạn tôi lại báo: ” Lộc ơi hệ thống bơm nước giải nhiệt máy tàu đã hư rồi !”… thế thì lại cần nhiều bàn tay thay phiên nhau múc nước phụ cho hệ thống giải nhiệt máy. Rồi bão giông tiếp tục đến…. tôi thì đã gần như kiệt lực, tinh thần khi mơ lúc tỉnh…đã hơn 3-4 ngày chiến đấu với sóng gió đại dương, vì mỗi lần nhờ bất cứ một ai cầm lái hộ, thì chiếc ghe định mệnh này chòng chành như muốn lật úp. Thế là mọi người trong ghe lại khiêng tôi trở về tay lái. Họ sợ tôi không đứng vững,  sóng sẽ hất văng tôi xuống biển … thì ai sẽ giữ vững chiếc ghe nhỏ bé trên biển cả mỗi khi có sóng to gió lớn đây? Có người bảo tôi là một tài công giỏi ,  xin cứu mạng sống mọi người đừng bỏ tay lái,… chiếc ghe này sẽ chìm!. Cũng có nhóm lại ép buộc và hăm he sẽ quăng tôi xuống biển vì đã lấy tiền, lấy vàng làm nhiệm vụ tài công…. mà không tiếp tục giữ lái tàu. Cuối cùng thì thân tôi được cột vào mui ghe, để đề phòng bị sóng to gió lớn làm văng xuống biển. Còn cần để bẻ lái ghe họ cũng buộc bàn chân của tôi dính chặt vào để điều khiển qua trái qua phải. Và khi bão giông đến thì có vài ba người tiếp kè đỡ cho tôi được đứng vững hơn. Tôi chỉ ở tay lái đằng sau chiếc ghe ấy, nhắm mắt và lúc lắc bàn chân một chút là chiếc ghe định mệnh này vững vàng chẻ sóng mà tiến tới… chỉ có vậy thôi. 
 Mấy hôm rày trên ghe mọi người nhờ năm, ba cây mía còn sót lại nằm dưới đáy ghe, bẻ ra và chia cho nhau chút nước mía ngọt này mà cầm cự để sống, hay là nhờ những trận mưa giông mà có được ít nước mưa hứng để uống. 
 Mấy hổm rày cũng thấy nhiều tàu lớn của nhiều quốc gia khác trên thế giới qua lại. Chúng tôi cũng đã đốt quần áo lên để ra dấu hiệu cầu cứu nhưng chẳng có kết quả gì hết. Tôi không nản… máy ghe còn nổ, người người còn cùng nhau tát nước trong ghe ra mỗi khi có giông bão… thế là còn phải TẬN NHÂN LỰC ĐỂ TRI THIÊN MẠNG trong những ngày tới. 
 
ĐOẠN GIAN KHỔ CUỐI TRÊN NẺO TÌM TỰ DO
Liên tục 5 ngày 4 đêm chiếc ghe con luôn bị dập vùi trong bão táp.

Từng đợt sóng cuồn cuộn đẩy đưa chiếc ghe định mệnh đi không tài nào điều khiển, và cho đến bây giờ thì không ai có thể xác định tọa độ điểm đứng của chiếc ghe này được nữa.
Chỉ chắc chắn một điều là chúng tôi đang lênh đênh ngoài biển khơi, trên tuyến đường tàu của hải phận quốc tế.

Áo quần, vật dụng gì còn khô, có thể đốt lên để tạo lửa, tạo khói cho tính hiệu cầu cứu thì cứ đem ra đốt hết.

Biết bao nhiêu tàu bè lớn nhỏ của nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới đã đi ngang qua. Họ thấy đó, chụp hình hay là quay phim ảnh gì đó một lát rồi tất cả đều bỏ đi mất hút.

Tàu đến, rồi tàu cũng lại rời đi. Biển tạm im sóng gió đó, rồi biển lại giận dữ, ầm vang gào thét. Vui mừng đó, rồi tuyệt vọng đó, cứ liên tục đến đến, đi đi !

Cho đến buổi trưa của ngày thứ 5 thì đã thật sự xảy ra biến cố trên chiếc ghe nhỏ, trên chuyến vượt biên định mệnh này rồi! Ống quần jean của một anh bạn trong nhóm khách Sài Gòn, bị láp máy tàu cuốn vào và đã làm dập
gảy xương ống quyển của anh, máu tuôn chảy đỏ cả khoan ghe. Anh rên khóc thật thê thảm, một cảnh đau lòng, hãi hùng bao phủ mọi người.

Có vài ba anh bạn trẻ bắt đầu văng tục, chửi nhóm tổ chức vượt biên.
Họ bảo là: “khi móc nối bắt khách thì vẽ rồng, vẽ rắn”.
“Đúng tầm cỡ tàu biển vượt biên… bảo đảm, đáng tin cậy. Bây giờ thì té ra là một chiếc ghe con, máy móc “lô – can”, chưa gì mà hệ thống bơm nước đã bị hư. Người đi thì ngồi chen nhau như ép mắm, còn thằng tài công lấy vàng và đưa hết vợ con đi mà còn không cố gắng giữ tay lái”.

“Đ.M liệng mẹ bọn này xuống biển vì tụi nó là một lũ bất lương, lường gạt, hại chết tụi mình !”.

Lại còn thêm một anh bạn trong xóm, lúc xa xưa tự xưng cùng sống chết với anh em trên biển thì hôm nay cũng nói hùa theo đám đông trên ghe.

” Mẹ nó!… thằng mù dắt thằng đui đi vượt biên, chuyến này chắc chết hết.”

Đời đôi lúc là vậy! Tình người đôi lúc cũng bạc bẽo là vậy!… đến đường cùng rồi mới thấu hiểu vậy thôi.

Bên cạnh cái xấu cũng có cái tốt.
Bên cạnh kẻ ghét cũng được người cảm thông. Tôi nhớ lại mà thương chị Ken (vợ của Huỳnh Long bạn tôi), mấy hôm nay vì thấy tôi đã quá mỏi mệt, sống chết với chiếc ghe định mệnh này, đã bỏ tiền, bỏ công… không một cắc bạc lợi lộc nào vào túi, mà còn bị người ta chửi rủa thậm tệ và còn bị hăm he xô xuống biển.

Chị Ken tuy sức đã kiệt lắm rồi, vì bốn năm bữa nay không một hạt cơm, hột cháo gì vào bụng, vậy mà đứa con trai nhỏ của chị , vì quá đói nên cứ đòi bú luôn. Chị Ken tuy sức lực đã kiệt nhưng cũng cố thì thào đính chính cho mọi người hiểu:

“Anh Lộc không nhận vàng, tiền của ai để làm tài công lái chiếc ghe này hết đâu, đến phút cuối trước khi ra biển, vì nhóm chỉ huy bắt khách của tụi công an biên phòng gởi theo mười người, trong đó phải có một tài công, một thợ máy… nhưng rốt cuộc lại thì không, bởi thế nên buộc anh Lộc và chồng tôi phải đứng ra chịu. Thế là một người thì phải lái ghe và một người thì phải lo dầu nhớt máy đó, cũng vì  bọn tôi chỉ muốn VƯỢT BIÊN. Các anh chị hãy hiểu cho chúng tôi nhất là anh Lộc đã chịu gian khổ, chịu oan ức lắm. Nếu có muốn hỏi tội, có muốn đòi tiền vàng gì đó… hãy tìm bọn bắt mối vượt biên của các anh chị đi !”.

Lời chị Ken đã làm dịu lại sự tức bực của nhóm khách trẻ này phần nào… quanh đâu đó có tiếng thở dài và cũng đã có nhiều ánh mắt cảm thông.

Rồi qua ngày kế tiếp thì  anh bạn bị thương đó đã chết… vì mất quá nhiều máu, không thuốc men và còn nằm dầm mình, dầm luôn cả vết thương trong một chiếc ghe đầy nước dầu và máu dơ bẩn đó.

Kế tiếp là chị Ken cũng qua đời!

Tôi nghe tiếng khóc than khe khẻ của Huỳnh Long ( bạn tôi).
“Em ơi ! Em ơi, em bỏ đi rồi anh và con biết làm sao đây?.. trời ơi!
em ơi!”.

Thế là thêm một mạng người ra đi vĩnh viễn nữa, chị Ken chết rồi thì kiếm đâu ra nguồn sữa cho “Cảo Kía” đây?… rồi thì chẳng lâu cháu nhỏ cũng đã đi theo mẹ của nó luôn.

Đau thương quá lớn!
Bây giờ thì Huỳnh Long như người mất hồn, không khóc không than nữa… mà chỉ ngồi lặng im ôm xác vợ và con.

Xác những người chết thân nhân không nỡ rời xa, họ luôn muốn giữ hoài bên mình.
Nhưng vì mùi hôi, vì sức khỏe của những người còn đang sống trên ghe… nên không thể và tất cả phải “Thuỷ Tán”.
Thật nát lòng khi phải nhìn những thi thể nầy trôi lềnh bềnh theo sóng, bám đằng sau đuôi ghe… một đoạn, rồi từ từ mất hút.

Giờ thì trên ghe đã mất dần tiếng cười, tiếng nói, tiếng cải cự nhau như những ngày trước đây.
Giờ thì mọi người chỉ lo đâm đâm để ý nhìn xa xăm, cốt mong tìm thấy những chấm đen xuất hiện trên biển… để báo động liền cho tôi quay hướng ghe chạy về phương ấy.
Tất cả là cũng chỉ cầu mong có một phép lạ, được tàu vớt, được sống và trở lại đất liền.

Rồi thêm một ngày mới, một cơn mưa giông mới kéo đến. Mọi người lo tìm cách hứng chút nước để uống.

Quang, vợ của tôi cũng vậy! Nàng cũng tìm cách để hứng nước cho nàng và cho đứa con gái nhỏ, tuy bụng đang có mang độ 8, 9 tháng.

(Xin kể thêm chút về lý do tại sao mà ngày giờ dự tính bị đình trễ cho chuyến ra khơi của bọn cảm tử 12 chúng tôi… Chúng tôi đã dự định là trong khoảng trung tuần tháng 3 năm 1981 khi xăng dầu mua dự trữ đủ là sẽ vượt trạm công an biên phòng tại cửa sông Gành Hào,… bằng cách là nữa đêm cho ghe tắt máy và thả trôi theo dòng nước ròng để ra cửa khẩu. Lúc đó Quang, vợ của tôi đã mang bầu khoảng 2,3 tháng gì đó thôi. Cách thức thả ghe trôi theo con nước ròng để ra biển này thì đã có nhiều chiếc may mắn đi lọt  và cũng có nhiều chiếc bị phát giác, bị bắt. Đúng là: “năm ăn, năm thua !”.
Bởi không hoàn toàn chắc ăn nên mới có một ngày,… chúng tôi tình cờ gặp được một người bạn xưa chung xóm. Anh ta đã từng giúp được cho nhiều chuyến ghe qua trạm kiểm soát của công an biên phòng rất tốt đẹp, nên đã nhờ anh này giúp đỡ làm môi giới cho ra cửa khẩu. Sau khi được sự ưng thuận rồi thì bọn tôi phải chờ đợi lệnh lạc, giờ giấc của họ, nên đã phải kéo dài thời gian hơn sáu tháng sau. Thế nên khi được ra ghe thì Quang vợ của tôi cũng sắp đến ngày giờ sinh nở).

Hôm nay là ngày thứ 7 lênh đênh trên biển và mưa giông cũng lại kéo đến. Quang cố đứng lên hứng lấy một ít nước từ mui ghe đổ xuống, một cơn lắc mạnh của ghe bởi sóng dữ đập tới đã làm nàng té ngã, thai bị chấn động khiến nàng đau bụng và sinh con.

Một đứa cháu trai rất mạnh dạn, cất tiếng khóc chào đời trên biển trong chuyến vượt biên đi tìm tự do của mẹ cha! Nhưng cháu chỉ sống được độ hai ba giờ đồng hồ gì đó thôi thì đã qua đời vì đói lạnh và động kinh. 
Cháu bé không áo quần để mặc, mẹ thì kiệt lực nên không đủ sữa cho con và cháu bị động kinh vì lúc cháu chào đời không có dao kéo để cắt rốn, nên buộc phải dùng một mảnh kiếng bể soi mặt, thay kéo mà cắt rốn cho cháu. Chắc bởi vì thế mà cháu bé đã bị kinh phong giật chết.

Trước khi thả xác cháu xuống biển, cô bác lớn tuổi trên ghe gợi ý vợ chồng tôi nên đặt tên cho đứa con trai mới sanh nầy, và xin cháu phù hộ cho chiếc ghe này.

Quang lúc ấy sức khỏe rất yếu, mê man vì nhao còn nằm trong bụng chưa ra… nên tôi đã đặt tên cho đứa con trai nầy là LÝ BỬU LONG và cũng đã nguyện cầu vong linh con trẻ hãy giúp cho chuyến ghe này sớm đến bến bờ TỰ DO!… trước khi tự tay mình thủy táng thi hài cháu trên biển. Xác cháu LÝ BỬU LONG cũng trôi theo sau đuôi ghe, đưa tiễn tôi một khúc đường trên biển.

Rồi khoảng 1 giờ sau đó đứa con gái của tôi (Lý Tú Anh) cũng qua đời vì đói khát và kiệt sức. Sau đó thì chiếc máy TS150 cũng không còn hoạt động nữa.
Rồi thì tay lái ghe được buộc chặt lại… mặc tình cho những cơn sóng bão sắp tới muốn đưa đẩy về đâu cũng được! Tôi đã tận hết sức mình rồi, được mọi người thương cảm cho vào trong ghe nằm bên cạnh vợ, nằm bên cạnh thằng bạn thân đã quyết sống chết cho chuyến vượt biên ( Huỳnh Long). Để thỉnh thoảng nghe thêm một vài người trong ghe mới vừa chết. Lại cũng đã nghe có một vài người mê sảng nhảy xuống biển và cũng không quên la lớn lời từ biệt anh chị em trên ghe.

Mọi người trên ghe giờ thì chỉ còn một bộ đồ dính da, không còn gì để đốt làm tính hiệu cầu cứu nữa!

Tính tổng cộng có trên 30 chiếc tàu đủ các nước qua lại trên hải phận quốc tế, đã nhìn thấy ghe vượt biên của chúng tôi và đã bỏ đi. Bây giờ thì tàu bè không còn thấy bóng’… sóng biển đã xô dạt chiếc ghe định mệnh này đến một vùng nước biển có một màu tím ngắt, không còn là màu xanh của nước biển bình thường như mấy ngày trước đây nữa rồi. Vợ tôi thỉnh thoảng mê sảng đòi uống nước, tôi cố gắng lắm mới có được chút nước tiểu cho nàng uống. Huỳnh Long thỉnh thoảng cũng nài nỉ xin tôi chút nước (tiểu)… tôi cũng cố gắng vậy thôi. Ai cũng còn xương bọc da, một xác người chết 5, 7 người cố khiêng liệng xuống biển cũng rất khó khăn vì không ai còn sức.

Có một hôm Huỳnh Long đã hỏi tôi “tao, mầy ai chết trước đây Lộc ?”.
Tôi trả lời: “không biết”. Tất cả như bất động !

Thế mà đến ngày thứ 15, tờ mờ sáng có tiếng người trong ghe la to: “Có tàu Mỹ vớt rồi, có tàu Mỹ vớt rồi!”. Thật vậy,… tôi đã thấy một thang dây từ trên một chiếc tàu rất lớn có lá cờ MỸ bay phấp phới… một anh lính hải quân Mỹ leo xuống ghe chúng tôi bằng chiếc thang giây này. Thế là trừ 8 người chết trên biển (3 trẻ em & 5 người lớn), tổng số còn lại được đưa lên tàu Hải Quân Mỹ tên SOUTHERN CROSS là 61 người ( không phải chỉ có 22 người như dự tính trước khi rời VN). Chúng tôi 61 người đã có được chung một ngày SINH NHẬT mới!… Chúng tôi đã được cứu sống bởi Hải Quân Mỹ, bởi lòng nhân đạo của Người Mỹ và hiện nay chúng tôi đã cùng sống trên đất nước Mỹ thân yêu này!
LÝ BỬU LỘC
15 Ngày Gian Kh Trên No Tìm T Do
(Phần I)

Chiếc ghe gần như muốn bị nhận chìm trong cơn biển động. Nhiều tiếng la lối vì lo sợ… họ yêu cầu tôi phải cho chiếc ghe quay đầu trở vào bờ… vì rặng cây xanh xanh trong đất liền vẫn còn lờ mờ trông thấy. Tôi giữ im lặng như không nghe thấy gì hết và quyết nương theo sóng để chiếc ghe tiếp tục ra khơi. 
 
Theo hướng Tây-Đông của chiếc hải bàn, phải quyết tâm ra khơi cho đến hải phận quốc tế… mong chờ lòng nhân đạo của quốc tế ( tàu vớt tàu vượt biên !). Rồi thì rặng cây xanh xa xa trong bờ đã không còn nhìn thấy nữa. Trời nước mênh mông, cơn giận của biển từ từ dịu lại dần, những tiếng la thét trong ghe không còn nữa. Nỗi im lặng lạ lùng, kinh sợ bao trùm mọi người. Đói, mệt sau một ngày dài vật lộn với những cơn sóng dữ. Giờ thì trời đã tối, bắt đầu ẩn hiện nhiều ánh sao đêm… tôi vẫn ngồi giữ tay lái và quyết hết suốt đêm nay chiếc ghe nầy mong được chạm đến đường ranh của hải phận quốc tế. 
 
Thế là đã hơn trọn ngày đêm rời khỏi sự dòm ngó của anh công an khu vực, đã không sợ ông láng giềng tổ trưởng gọi đi công tác thủy lợi ( vì tên tuổi của tôi luôn được chiếu cố hàng đầu với nét mực đỏ ghi chú: “sĩ quan ngụy”)… tuy đang lênh đênh trên biển khơi nhưng lòng vẫn thấp thỏm chưa an, vì còn sợ bị tàu – ghe của bọn công an biên phòng bắt gặp. Chiếc ghe nhỏ khoảng độ 100 giạ, đặt một máy TS150 dưới lường, chở khẩm lừ người thì làm cách nào chạy nhanh cho được, nếu lỡ bị bọn công an biên phòng Việt cộng phát giác… bị bắt là cái chắc! Vài anh bạn lạ (nghe đâu từ Sài gòn được người môi giới để đi chuyến vượt biên nầy) thức giấc, thân thiện bắt chuyện hỏi tên tôi, mồi đưa tôi một điếu thuốc. Vừa lạnh, vừa đói và thần kinh thì luôn luôn căng thẳng vì lo nghỉ đủ mọi chuyện… hút một hơi thuốc , hít thật sâu đã khiến tôi thấy sảng khoái, người như lâng lâng bay bổng đến chín tầng mây…Thiệt tình giống y như những ngao thuốc lào được kéo trong những năm tháng ở các trại tù binh Sơn La, Nghĩa Lộ, Yên Bái vậy!
 
Cũng có vài câu hỏi vu vơ từ những anh chị nào đó trong ghe vọng ra: “mình đã đi xa bờ lắm phải không anh… đến hải phận quốc tế thấy tàu nước ngoài chưa?”. “Nhớ ngày hôm qua biển động sợ quá!… chết như chơi, nhưng công nhận sao anh gan thiệt… đã trấn an anh em trong ghe: đừng sợ !”. . Cũng có vài cô bác mời tôi ăn một ít bánh cho có thêm sức khỏe, để tiếp tục lèo lái chiếc ghe định mệnh chung nầy. Một buổi ban mai mới, mặt nước biển tàm tạm êm dịu. Tôi tính toán trong bụng chắc phải mất hết thêm một ngày nay nữa, với vận tốc lề rề như rùa của chiếc máy TS150 nầy thì chắc mới đến được vùng nước của hải phận quốc tế. Rồi sau đó mới vững tâm hơn,  tôi định lại hải bàn để cho ghe quay đầu về hướng Tây… là cốt ý,  mong sao đưa được chiếc ghe nầy đến vùng biển Thái lan, hoặc Indonesia hay là Malaysia gì đó cũng được… miễn sao xa khỏi cộng sản tìm thấy tự do là được. Tất cả chỉ biết hy vọng vào số mạng thôi vậy ! Thật vậy nhớ câu: ” Tận nhân lực- tri thiên mệnh”… không chút nào sai … 
 
Đang mơ màng vẻ hướng đi sắp tới thì từ nơi chân trời xa xa mây đen ùn ùn kéo đến, gió lại bắt đầu thổi mạnh để báo hiệu cho một cơn mưa giông và biển động khác!. 
 
Người tính không qua trời tính!
 
Biển động lớn, sóng vươn cao vòi như sẵn sàng nuốt trọn chiếc ghe nhỏ bé nầy. Làm cách nào dám chuyển hướng để quay đầu ghe như dự định ? Chỉ còn một cách sống là kê mũi ghe nương sóng gió mà đi! 
 
Giông tố chưa thuyên giảm thì Huỳnh Long bạn tôi lại báo: ” Lộc ơi hệ thống bơm nước giải nhiệt máy tàu đã hư rồi !”… thế thì lại cần nhiều bàn tay thay phiên nhau múc nước phụ cho hệ thống giải nhiệt máy. Rồi bảo giông tiếp tục đến…. tôi thì đã gần như kiệt lực, tinh thần khi mơ lúc tỉnh…đã hơn 3-4 ngày chiến đấu với sóng gió đại dương, vì mỗi lần nhờ bất cứ một ai cầm lái hộ, thì chiếc ghe định mệnh nầy chòng chềnh như muốn lật úp. Thế là mọi người trong ghe lại khiêng tôi trở về tay lái. Họ sợ tôi không đứng vững,  sóng sẽ hất văng tôi xuống biển … thì ai sẽ giữ vững chiếc ghe nhỏ bé nầy trên biển cả mỗi khi có sóng to gió lớn đây? Có người bảo tôi là một tài công giỏi ,  xin cứu mạng sống mọi người đừng bỏ tay lái,… chiếc ghe nầy sẽ chìm!. Cũng có nhóm lại ép buộc và hăm he sẽ quăng tôi xuống biển vì đã lấy tiền, lấy vàng làm nhiệm vụ tài công…. mà không tiếp tục giữ lái tàu. Cuối cùng thì thân tôi được cột vào mui ghe, để đề phòng bị sóng to gió lớn làm văng xuống biển. Còn cần để bẻ lái ghe họ cũng buộc bàn chân của tôi dính chặt vào để điều khiển qua trái qua phải. Và khi bảo giông đến thì có vài ba người tiếp kè đỡ cho tôi được đứng vững hơn. Tôi chỉ ở tay lái đằng sau chiếc ghe ấy, nhắm mắt và lúc lắc bàn chân một chút là chiếc ghe định mệnh nầy vững vàng chẻ sóng mà tiến tới… chỉ có vậy thôi.
 
Mấy hôm rày trên ghe mọi người nhờ năm, ba cây mía còn xót lại nằm dưới đáy ghe, bẻ ra và chia cho nhau chút nước mía ngọt nầy mà cầm cự để sống, hay là nhờ những trận mưa giông mà có được ít nước mưa hứng để uống.
 
Mấy hổm rày cũng thấy nhiều tàu lớn của nhiều quốc gia khác trên thế giới qua lại. Chúng tôi cũng đã đốt quần áo lên để ra dấu hiệu cầu cứu nhưng chẳng có kết quả gì hết. Tôi không nản… máy ghe còn nổ, người người còn cùng nhau tát nước trong ghe ra mỗi khi có giông bão… thế là còn phải TẬN NHÂN LỰC ĐỂ TRI THIÊN MẠNG trong những ngày tới. 
 
Lý Bửu Lộc