LÊ TÂM ANH

Lê Tâm Anh( Tên thật Lê Anh Dũng)

HOANG MANG!
letamanh
Không biết Việt Nam
Những thế hệ sau này
Dùng chữ gì diễn tả văn chương?
Giao tiếp đời thường
Toàn tiếng lóng, tiếng Tàu thô lỗ!
Viết tắt, nói ngang những câu bỉ ổi
Nghe chướng tai sao là tiếng Việt ta!
X
Có một thời Văn Hóa nước nhà
Văn chương thi phú họa ca
Âm nhạc hưng thịnh văn minh…
Một Việt Nam sáng danh vùng Đông Nam Á!
X
Bổng phong ba bảo tố thình lình
Hùa nhau đốt hết kho tàng sách vở!
Hùa nhau xô sập tượng đài văn học
Hùa nhau tự nguyện trở về
Thời nguyên thủy chân tay!
X
Mai này con cháu Lạc Hồng
Sẽ nói tiếng gì thay tiếng Việt?
Sẽ viết chữ thế nào diễn tả tấm lòng…
Thương tiếc!
Đất Tổ rồi đây sẽ biến đổi kinh hoàng!
Ta hoang mang phẩn uất!
letamanh
tháng 7 năm 2021

 VẾT HƯƠNG ĐỜI quá nửa thế kỷ!
letamanh
Những ngày gần với tháng Tư, sao trong ta cứ như người đi trên sóng, với con thuyền nhỏ tròng trành muốn lật úp giữa cơn phong ba! Cái cảm giác bất ngờ khó chịu ấy hình như đến với con tim nhãy không đều nhịp khi ta nhớ quê hương xa thật xa. Nhớ tuổi thơ, nhớ những kỷ niệm chan hoà ánh nắng, nhớ Tam Quan, nhớ Tăng Bạt Hổ, nhớ bãi cát trắng Nha Trang những năm Trung Học Võ Tánh, nhớ Petrus Ký, nhớ sân trường MPC – Văn Khoa…Nhưng nhất là bải biển mang nhiều kỷ niệm Nha Trang. Nhớ Tháp Bà, nhớ nem Ninh Hoà, nhớ chè hạt đát, phở Hợp Lợi, Bánh Patéchaud sửa đậu nành, xôi gà bên hông rạp hát Thành Xương…
Em Nha Trang với làn sóng mát lịm
Buổi chiều xuân tắm biển Hòn Chồng
Ngất ngây nhìn giọt nắng trong mắt em
Hòn Yến ngoài xa mĩm cười hang động!
Phải rồi, trong hồi ức chỉ còn nhớ những con đường cũ, những ngỏ ngách không tên; nhớ Hoàng Tử Cảnh, Phan Bội Châu, Tân Tân, Minh Châu, Tân Quang, Bá Đa Lộc, Chợ Đầm, Nhà thờ Đá, Chùa Long Sơn, Yersin, Cầu Đá, Hải Học Viện, Hòn Tre, Hòn Thị, Tháp Bà, Xóm Bóng, Đồng Đế, nhớ Phú Vinh, nhớ Thành, nhớ mả Yersin, nhớ cầu Hà Ra, Cầu Xóm Bóng, nhớ những cây bàng trước Viện Pasteur, nhớ những hàng dương liểu bên bờ cát trắng và tiếng sóng biển rì rào khi ta cùng em ngồi bên nhau ngắm trăng lên, mái tóc em thơm mùi nước biển …
Những địa danh nhãy lộn mèo trong óc
Quân Trường Đồng Đế em nằm xoã tóc
Thao Diễn một thời an giấc ngủ chưa?
Anh đứng đợi nhìn thời gian vụt khóc!
Có một thời ta đã từng vào ra cổng trường Võ Tánh, nhớ đường Bá Đa Lộc, nhớ những em học trường Pháp kề bên, nhớ Thầy Hiệu Trưởng Lê Nguyên Diệm, nhớ tiếng trống trường, nhớ các bạn cùng lớp Huỳnh Thọ Huyên, Lâm Đạo Đụng, Hoàng Kim Dũng… Nhớ Ban Văn Nghệ tập tành phát thanh trên đài “Nha Trang là miền quê hương cát trắng...”, Nhớ đội bóng đá, nhớ anh bạn Vĩnh Thắng làm thủ môn ho ra máu vì chụp những trái banh biểu diễn… Nhớ đạp xe qua trường Nữ ngắm em…!
Ôi!
Chập chùng kỷ niệm xa xăm!
Nửa vòng thế kỷ con tằm sợi tơ
Anh Võ Tánh mối tình hờ
Ngắm em Trường Nữ bây giờ nơi nao!
Hồi đó, không hiểu tại sao những thằng học trò Đệ Nhị Cấp, kể cũng ở tuổi biết yêu, thế sao chỉ nhìn em thôi mà không dám tỏ lời! Có những đêm, 11 giờ khuya đạp xe qua phố nhà em ở, chỉ cần thấy em ngồi bên cửa sổ học bài là đã vui rồi, về ngủ yên giấc! Giờ ngồi ôn lại chuyện xưa, có lúc gặp em trong các Hội Ngộ VT- NTH, em bây giờ với em ngầy ấy ra sao, giống như bài hát: “…Đôi khi trộm nhìn em, xem dung nhan đó bây giờ ra sao, em có còn đôi má đào, như ngày nào…kể từ khi vắng nhau, em như tấm vải lụa nhàu…”. Đã hơn nửa thế kỷ gặp lại, chưa bao giờ dám hỏi: :…Em có bề nào ai đón ai đưa? cuộc đời là vách núi là tường mây, quê hương nắng cháy đêm ngày….” Từng năm tháng ấy, cả một cuộc bể dâu nghiệt ngã xô sập những ước vọng tuổi trẻ của chúng ta. Thời gian thoát đã hơn sáu mươi năm xa mái trường Võ Tánh thân yêu, mỗi cuộc đời là một số phận.
Cuộc chiến tranh đã thổi những chiếc lá đời hai hướng. Có những thằng bạn cùng lớp Võ Tánh, sau ngày 30 tháng tư năm 75 làm đến chức Phó Tỉnh Trưởng Khánh Hoà, có thằng làm Bí Thư các công ty hay các quận đường rất ư là hách! Nghe nói những con đường xưa lối cũ giờ đã thay tên đổi hướng. Mà cũng phải thôi! Bốn mươi bốn năm rồi phải thay da đổi thịt chứ! Nhưng Nha Trang thay màu quá nhiều với chữ nghĩa, tiếng nói và cách cư xử. Người ta có cảm giác Nha Trang bây giờ là thành phố của Tàu. Bảng hiệu chữ Tàu rất to và nhiều hơn chữ Việt! Tiếng xí xô xí xà giọng Quang Thoại, Quảng Đông, Triều Châu… át cả tiếng người Việt rao hàng. Có những nhà hàng chỉ tiếp người Tàu và từ chối cho người Việt vào ăn… Có những con đường biệt lập không cho người Việt Nam rão bước!
Vùng trời mơ xưa đâu bóng dáng em
Khuất nẽo trời xa tìm mái tóc mềm
Ta ngục tù chất ngất đời trai trẻ
Nhớ em! nhớ em ánh sáng sao đêm!
Thời tuổi trẻ vụt tắt như làn chớp và tiếng sấm cơn giông! Khi ta ngồi trong tù từ Nam ra Bắc với chính trên giang sơn Việt và con dân Việt… Ta mới nhận ra rằng em là hiện hữu, là hy vọng mong manh của những đêm thao thức ngục tù… Vì có em dõi theo bước chân cuộc chiến và bên nhau những lúc khốn cùng mới thấy đời còn hương sắc:
Theo chân anh cả đời cùng khắp chốn
Nét thời gian in đậm nẽo thiên đường
Có những lúc gối chăn bùng tơi tã
Sóng vồ gió lốc quyện xoáy vết thương
Ta đã mài mòn gót chân, ta đã bao lần hai tay đầy những vết thương rừng thiêng nước độc; nhớ những tình yêu thân ái dạt dào, nuôi dưỡng hy vọng mong manh từ trong tù ngục về em.
Em tự nguyện như tín đồ dâng hiến
Mắt lim dim khấn vái cỏi huyền vi
Cùng quấn quít nổi đau thời chinh thiến
Nghiệt ngả xa nhau giữa tuổi xuân thì
Có phải chúng ta sinh ra nhầm lúc, để cùng nhau rơi xuống vực sâu hoang mê nghiệt ngã những tư tưởng tà thuyết hận thù:
Câu ca dao con cò một thời lặn lội
Đi ăn đêm lỡ vướng phải cành mềm
Rớt xuống ao không tài nào bay nỗi
Quê hương chiến trường nợ máu nặng thêm!
Đã qua rồi thời chiến trường Pleiku, Đức Cơ, Kuntum, Phú Nhơn, Thanh An, đã qua rồi Trại tù Trảng Lớn, Long Khánh, Long Giao, Hoàng Liên Sơn, Yên Báy, Vĩnh Phú. Đã qua rồi vùng kính tế Long Điền Đồng Nai… Có những ngôi mồ chưa bao giờ khói hương mấy mươi năm trời sau chính chiến:
Hết binh đao hơn bốn mươi bốn năm
Cỏ trên mồ anh cháy khô màu tủi hận
Giọt máu không hòa ướt âm rĩ sủi tăm
Giãi khăn tang em mang đời lận đận!
Tấm thân ta giờ tàn theo năm tháng, ngó lại vùng trời xưa như một thoáng chiêm bao. Nơi xứ người đôi khi ngạt thở vì những đêm chập chờn ác mộng, ta tưởng như đời ngưng bảo tố cho tổ quốc vươn lên. Ta những mơ những tưởng sẽ trở về Nha Trang ngắm lại vầng trăng thấp thoáng vờn mây ngoài biển cát, với  bóng những hòn đảo quen thuộc xa xa. Ta vẫn mơ một ngày về!
letamanh
tháng tư một ngày mưa
N hay Duyên!
Lê Anh Dũng
Lấy được vợ người Ninh Hòa cũng là một chuyện kỳ tích! Nói như vậy không phải con gái xứ Ninh có cái gì đặc biệt, khác với những cô nàng xứ khác. Nhưng vô tình mình bị mắc bẫy, chui vào rồi không ra được nữa. Mà cái bẫy làm ta dính với xứ Ninh không phải là do các cô giăng ra, dụ ta vào rồi cho sập cổng, mà là vì trời xui đất khiến, một ngày đẹp trời đi lạc vào “xứ nem”. Có lẽ mùi nem nướng, nem chua, chỉ một vài lần dính vào, nó đã biến ta thành con ruồi bị nạn. Kể từ đó, thân phận của ta gắn bó với xứ nem bởi lưới tình, mà chị nhện khéo nấu ăn nầy đã bó chân ta đến suốt cả cuộc đời!
Chuyện là như thế nầy, có một ngày đẹp trời nọ, sau khi thi đổ bằng “thành chung”, anh chàng con nhà “địa chủ” xứ dừa Tam Quan làm một chuyến “du lịch” miền cát trắng Nha Thành. Trước vẽ đẹp thiên nhiên và thành phố biển mộng mơ đầy hấp dẫn; anh chàng thư sinh mê mệt không thể nào muốn rời xa. Sau đó anh ta tìm cách xin vào học, chỉ cốt thỏa tính lảng mạn, yêu thiên nhiên và cái đẹp độc đáo của thành phố biển. Xứ Tam quan cũng có một bờ cát trắng phau, rừng dương mát rợi… Nhưng thường là “bụt trong nhà không thiên” nên mới có chuyện người xứ “Nẫu” bợ cô vợ xứ nổi tiếng “Cọp Khánh Hòa”!
Nếu dài dòng văn tự về Nha Trang, thì ta chỉ quẩn quanh một thành phố biển có sức thu hút chàng trai mang trong mình con vi trùng lảng tử. Nhưng vì muốn nêu bật cái dị biệt, quả thật rất dị biệt, ở một mảnh đất nhỏ cách xa Nha Trang hơn ba chục cây số về hướng Bắc; vừa trầm lắng, vừa thu hút: Đó là thành phố Ninh Hòa.
Lần đầu tiên tôi đến Ninh Hòa vào một trưa nắng nóng kinh người. Lúc đó, tôi đang vừa học vừa làm thầy dạy kèm cho ba nhóc tì. Nhà ở khoảng góc đường Hoàng Tử Cảnh và Hai Chùa. Dạy kèm ba nhóc lớp ba,  lớp nhì và nhất – Sau nầy đổi là lớp ba, bốn và năm – ăn ở luôn nhà người ta, khỏi tốn tiền là khoái lắm rồi.  Vì lần đầu vào học  Nha Trang, nên lòng bồn chồn không yên. Tôi bèn từ giả quê, vào sớm hơn nửa tháng, mục đích làm quen với người mới, đất mới, lòng vòng từ Xóm Cồn đến Cầu Đá, Chùa Tỉnh Hội đến Thành… Một ngày đẹp trời,  ông chủ nhà nhờ tôi ra Vạn Giả mướn một người giúp việc. Trước khi lên xe, ông vẽ một bản đồ và cách thức đi xe gì, đến nơi nào thì xuống, chổ nào quẹo…
Mang tiếng sẽ là học trò trường Vỏ Tánh mà chưa biết mô tê những vùng lân cận chung quanh Nha Trang, măc dầu một vài lần tự đạp xe vòng hết chổ này đến nơi khác; giống như kẻ “cởi ngựa xem hoa”. Thế cho nên khi đến bến xe, cạnh trường Văn Hóa, gần cầu Hà Ra, tôi ngồi lộn xe lambretta lên Thành. Khi gần đến chùa Tỉnh Hội, chổ đường Phương Sài, tôi mới phát giác là mình lộn xe, lộn đường… lộn hướng! Vội năn nĩ bác tài, xuống xe, trở ngược về bến củ, lần nầy tôi cẩn thận xem bảng chữ trên thành xe. Xe đi ra Vạn Giả không có, chỉ có xe đến Ninh Hòa. Từ Ninh Hòa lại phải lên xe lambretta ra Vạn Giả. Thời gian khoảng những năm 1960, hình như những chiếc xe chạy đường Nha Trang Ninh Hòa thời đó là loại xe Bờ rô ( cùng loại xe Phi Long – Tiến Lực chạy đường miền Trung thời 1950-1960) trông cũng dễ coi…
Xe lên đèo Rù Rì với con đường uốn quanh, ngoằn nghèo rất ư là nguy hiểm. Gần đến đỉnh đèo là một cái am nghi ngút khói. Xe dừng lại thắp nhang rồi mới chạy tiếp. Tôi say mê ló đầu ra ngoài, ngó hết cảnh nầy đến cảnh nọ thoắt biến thoắt hiện trước mắt mà không thấy chán! Nhiều chặng bác tài dừng lại cho khách xuống, rước khách lên với tiếng la của anh lơ xe. Khách và hàng hóa chen  với nhau cũng thấy vui vui.
Phía trước hai hàng ghế tôi ngồi có bốn thanh niên, khoảng tuổi với tôi, họ đang say sưa kể chuyện phim. Trong không gian hổn tạp, gió bên ngoài đập vào tai vù vù, tiếng mấy bà buôn cá nói về phiên chợ của họ… thì câu chuyện phim lọt vào tai tôi là hấp dẫn nhất! Mấy thanh niên tranh nhau kể về cuốn phim họ đã xem ở rạp Tân Tân trên đường Độc Lập Nha Trang. Họ hăng say tranh nhau kể lại quang cảnh hùng tráng và bi thương trong phim Samson-Dalila:
–       Tao khoái anh chàng Samson với sức mạnh vô địch làm cho toàn thể thành quách và kẻ thù bị chôn vùi. Tao mà được như vậy thì tao sẽ…
–       Tao thì khác, thương cho nàng Dalila, vì bị mê hoặc, bị mua chuộc hại người mình yêu, để rồi cuối cùng là một thảm họa…
–       Không! Nàng không yêu, nàng là con đĩ ngựa!
–       Mầy nói quá đáng, đây là một thương tâm lịch sử, thời xưa cũng như thời bây giờ và mãi mãi về sau nầy, đàn ông chúng ta lúc nào cũng lụy vì tình và kẻ thù lúc nào cũng lợi dụng vào chổ yếu đó mà đánh thắng. Trong bài giảng của thầy Đức về lời khuyên của nàng Kiều, nàng bị Hồ Tôn Hiến dụ dổ, vẽ ra cho nàng tương lai tốt đẹp nếu khuyên được Từ Hải ra hàng. Từ Hải vì yêu, nghe lời nàng mà chết đứng. Câu chuyện nầy đâu có khác gì với Samson!
–       Mầy phân tích hay lắm. Đây là chuyện thần thoại trong kinh Cựu Ước,nó cũng là bài học quý giá vô cùng thương tâm mà mình phải suy nghĩ… Samson hai lần yêu là hai lần lầm lở, để cuối cùng phải chết vì đôi mắt giai nhân và những lời ngon ngọt…
–       Thôi mày ơi! Cái giọng thầy đời của mầy coi chừng tự mình cột mình. Mầy mê con Phương Nga kiểu đó có ngày nó cho mầy leo cây chết còn thảm hơn Samson…
Câu chuyện của bốn gả thanh niên cứ thế lọt vào tai tôi, khiến tôi tò mò. À! Thì ra mình chưa xem phim nầy, thế nào cuối tuần cũng sẽ xem cho biết!   Xe bò lên đèo Rọ Tượng. Tôi thôi chú ý câu chuyện phim, đảo mắt nhìn cảnh đẹp thiên nhiên. Hồi đó, Đèo Rọ Tượng cũng rất nguy hiểm, cũng cong queo, xe chạy chậm và khó tránh nhau nếu gặp xe ngược chiều. Buổi trưa hè nắng gắt nóng như lửa.Nhưng một quang cảnh thật đẹp, thật hấp dẫn phía dưới chân đèo Rọ Tượng. Đó là một làng chài lưới dọc theo bờ biển, phía xa,  ghe mành và lưới rớ không khác gì ở quê Tam Quan của tôi. Tôi nghe một bà bán cá ngồi bên, dặn bác tài cho xuống ngã ba Tam Ích…
Quốc Lộ Số 1 hồi đó còn rất nhỏ hẹp, ngoằn nghoèo, cánh đồng lúa đứt khoảng giữa những thôn làng ven hai bên đường. Hàng dừa, hàng cau in đậm nét giữa màu xanh của những triền núi thấp xen với mái nhà tranh lụp xụp và lủy tre làng…Họa hoằng lắm mới thấy xuất hiện vài căn nhà ngói đỏ xa xa!  Xe chạy chậm qua một ngôi trường, trông bề thế và khang trang, trên cổng trường mang tên “Trung Học Trần Bình Trọng”. Tôi nhướn người, thò đầu ra xem những tà áo dài trắng tung tăng, xen với áo trắng quần xanh trong giờ tan học. Tôi nhớ ngôi trường Tăng Bạt Hổ ở thành phố nhỏ Bồng Sơn. Sao nó giống quá ngôi trường Trần Bình Trọng ở Ninh Hòa! Có thể cách kiến trúc giống nhau, học trò bận đồng phục như nhau… hay vì những tàng dương xỉ xanh, những mái ngói màu đỏ làm tôi xao xuyến nhớ về ngôi trường mình mới vừa từ giả để tìm tương lai nơi quê người…
Mãi nhìn cảnh tan trường, mãi mơ mộng thì xe dừng lại, anh lơ la to: Ninh Hòa bà con ơi…” Thế là tôi cũng lật đật xuống xe. Lớ ngớ nhìn người ta lũ lượt gọi xích lô, lên xe lam đi Dục Mỹ… mà không thấy xe nào đi Vạn Giá! Ngó quanh thấy có một bà to béo ngồi bán bánh căn dưới gốc cây cổ thụ. Chung quanh bà là những ghế thấp sát đất kèm theo mấy cái bàn cũng thấp lè tè, khách ngồi chờ những dĩa bánh nóng, bà mập  từ tốn giở  vung bằng đất, lấy xĩa xúc bánh căn màu vàng ngậy vào dĩa trao cho từng khách đợi!
Tôi lò dò đến hỏi thăm:
–       Thưa bà cho con hỏi thăm xe nào đi Vạn Giã!.
Không những chỉ có bà chủ bán bánh căn, mà hầu hết khách ngồi ăn cũng cùng loạt ngước nhìn tôi. Hóa ra là câu hỏi của tôi đã làm mọi người có mặt ngac nhiên. Có lẽ họ thấy một tên học trò khờ ở đâu xuất hiện hỏi một địa danh mà ở đây ai cũng biết đường đi nẽo về. Tôi ngó tôi và nhìn quanh xem mình có làm gì lạ hay ăn nói vô lễ với mọi người không; sao người ta nhìn mình giống như hiện tượng gì rất lạ, ở đâu hiện ra…
Thay vì bà bán bánh trả lời thì có một ông già ngồi bàn kế bên nhìn tôi lên tiếng:  
–       Chú em ở đâu đến phải không?
–       Dạ! Cháu từ Nha Trang ra. Xin Bác cho cháu hỏi đường đến bến xe ra Vạn Giã!
–       Sao chú em không ngồi xe đi luôn tới bến. Ở đó có xe Lam chở chú ra Vạn Giã mà xuống chỗ nầy?
–       Dạ! Lần đầu con đến đây nên không biết đường.
–       Thôi, lỡ rồi, hãy theo con đường nầy, qua khỏi cầu Dinh, đi một lúc là đến bến xe! ( Vừa nói ông vừa chỉ con đường tráng nhựa trước mặt và hướng qua ngã ba có cái bùng binh… ).
–       Cảm ơn ông…
Trời trưa nóng quá, tôi nhìn những người qua đường và nhìn chính mình, mồ hôi ướt cả lưng. Vừa đói vừa khát nước, tôi đi theo hướng ông già chỉ vừa kiếm xem có quán nước hay tiệm ăn để tránh nóng và ăn trưa. Chổ bà bán bánh căn, dưới tàng cây cổ thụ, tuy không nắng nhưng không thể ngồi ở đó vừa hanh nắng vừa bụi xe mù trời.
Băng qua đường, dọc theo con phố có dáng giống như phố Bồng Sơn hay Tam Quan thời trước chiến tranh. Quang cảnh quen thuộc gần như ta không thể nào phân biệt trừ cái tên Ninh Hòa mới toanh trong đầu. Băng qua ngã ba, chính giữa có vòng tròn bùng binh, giữa vòng bùng binh  là trụ đèn. Bên góc là loạt công thự, trên cổng là tấm biển lớn: Quận Ninh Hòa. Nơi đây, bắt dầu quốc lộ nối liền miền đồng bằng vời xứ cao nguyên Ban mê Thuột mang tên là QL21.
 Dọc theo hàng cây dông đồng tàng lá sum sê, là dãy phố có vẻ khang trang sầm uất kẻ qua người lại, kẻ mua người bán. Tôi bước vào quán ăn mang cái tên cũng ngộ, gây cho trí tưởng tượng tò mò của tôi. Cái tên Hương Giang nằm giữa thành phố nhỏ Ninh Hòa có đông người Hoa, làm tôi nghĩ đến món bún bò Huế!
Nhưng cái không gian và con người – thoáng ý nghĩ của tôi – trong tiệm ăn mang tên rất Việt Nam, tiếng Tàu và tiếng Việt xen nhau! Bên phải, kể từ bên ngoài vào là một nhóm người đang ngồi bàn luận về tình hình xe cộ tuyến đường Ninh Hòa Ban Mê Thuột! Tôi hiểu lơ mơ vì tiếng Việt đôi khi xen vào trong đối thoại bằng tiếng Trung Hoa.
Trong lúc ngồi chờ thức ăn ở một bàn nhỏ trong góc, tôi giật mình thấy bóng một cô gái áo dài trắng thướt tha, mái tóc ngang vai, tay ôm cặp học trò tung tăng chạy thẳng vào trong tiệm. Có thể cô ta học trường Trần Bình Trọng. Không biết cô ta Tàu hay Việt đây, chắc là con chủ tiệm …Tôi đang lơ tơ mơ suy nghĩ thì chính cô ta, trong bộ quần áo ngắn gọn gàng, bưng thức ăn ra để trước mặt tôi. Cô bé độ tuổi mười lăm, em còn rất hồn nhiên, rất… học trò, nói chuyện với những người chung quanh bằng tiếng Việt chứ không phải Tàu như tôi nghĩ!
Ăn xong đĩa cơm sườn, uống ly chanh đá, tôi vội vàng thả bộ dọc theo đường Trần Quý Cáp – Hồi đó cũng là QL1 – để tìm đến bến xe! Tôi có cảm giác lạ khi đi trong lòng phố Ninh Hòa, dọc theo hai bên đường không khác phố Bồng Sơn hay Tam Quan; giống nhau một cách lạ lùng. Tiệm thuốc Bắc, tiệm chạp phô, tiệm ăn, tiệm sửa xe… Tất cả bản hiệu đều mang hai hàng chữ Tàu và Việt. Nhưng ở Ninh Hòa bảng hiệu tiếng Tàu nhiều hơn, cách sinh hoạt Tàu hơn. Ở Tam Quan cũng có chùa Ông, chùa Bà… màu sắc và kiến trúc giống y không khác gì cảnh tôi đang thấy! Cầu bắt qua sông Dinh cũng rất giống cầu Nghị Trân ở phố Tam Quan! Nó chỉ khác nhau là nước ở đây ngọt, nước dưới cầu phố Tam Quan thì mặn.
Lần đầu tiên biết Ninh Hòa chỉ có thế, những hình ảnh lướt qua giống như mình trở về với xứ quê hương của mình. Trong tiềm thức về những lúc đứng trên cầu Nghị Trân nhãy xuống làn nước trong veo hay những khi chèo thuyền đầy những trái dừa, chui qua cầu,  đem về sản xuất dầu dừa thời chiến tranh chống Pháp! Nhìn làn nước xanh phía dưới cầu Dinh tôi tưởng như mình đang đứng ở phố Tam Quan…
 oOo
Bốn tháng sau, lần thứ hai tôi đến Ninh Hòa là một buổi chiều thứ bảy với thằng bạn học cùng lớp. Bạn cùng lớp Đệ Tam B3 Vỏ Tánh, người Ninh Hòa rất nhiều, nhưng tôi chơi với thằng H, vì nó ngồi bên cạnh và cùng thích đàn hát. Nó còn có sở trường môn thể thao và rất xuất sắc vũ cầu. H có thân hình to cao, ăn mặc chải chuốt. Thời đó mà nó đã biết làm điệu bằng cách uốn tóc quăn, xịt dầu thơm,  đi học bằng chiếc xe đạp thứ xịn…! H là một tay vợt có hạng, từng đoạt giải nhiều cuộc thi cấp tỉnh, cấp vùng về môn Vũ cầu thời bấy giờ!
Nhà H ở ngay phía Nam Cầu Dinh, Nhà Sách Trung Thành. Đến Ninh Hòa, xuống xe, hai đứa đi bộ dọc theo con phố có cái tên rất ư là Việt Nam. Đó là đường Trần Quý Cáp. Nhưng hai bên đường, nhà lầu, nhà trệt, cửa hiệu san sát, đa số là người Hoa, bảng hiệu chữ Hoa. Tôi có cảm giác mình đang lạc vào một thành phố đâu đó bên Tàu hay là đang đứng trong lòng phố Chợ Lớn. Thằng bạn tôi chào hết người nầy đến người khác bằng tiếng Hoa. Tôi nghe người ta gọi nó là A Dzìn rồi xí xô xì xà giới thiệu tôi… Trong thời gian tôi ở chơi Ninh Hòa, được có cái tên là A Dzũng!
Buổi trưa tôi được ăn cơm với đại gia đình A Dzìn. Sở dĩ tôi nói là đại gia đình vì nhà đông anh chị em. Bửa cơm mạnh ai nấy đến nồi bới! Đây là tập tục của người Tàu mà tôi có dịp được học hỏi. Tục người Việt là người ngồi gần nồi cơm, phải bới cơm cho những người ngồi xa…Gia đình A Dzìn hiếu khách nên tôi cũng chóng hòa nhập.
Tôi cũng có dịp nhãy xuống dòng sông, bơi lội phía dưới cầu xi măng mang tên Cầu Dinh. A Dzìn vừa bơi bên cạnh tôi, vừa kể cho tôi nghe những chuyện ma trong khu vực… thế nhưng tôi chỉ nghĩ là cậu ta dọa nhát thử sức tôi mà thôi! Chẳng là tôi đang rũ rê H vào sinh hoạt Tráng Đoàn; Trước khi gia nhập, hắn cố tình thử xem Hướng Đạo có can đảm không! Khung cảnh bờ sông, bụi cây, lòng chảo… phía dưới cầu cũng có vẻ sầm uất ma quái lắm…
Chúng tôi đi loanh quanh khu phố chợ đầy hàng quán. Những con dường nhỏ, có  chiếc cầu gổ. cảnh chợ tấp nập không kém gì những nơi phồn hoa ở Sai Gòn –Chợ Lớn. Tiếng Hoa, tiếng Việt hòa nhau thành những âm thanh đặc biệt.. phố Tàu!
A Dzìn dắt tôi vào lồng chợ, kéo tôi ngồi xuống hàng nem. Mùi thơm thịt nướng, mùi khói với những tiếng líu lo xung quanh. Lần đầu tiên tôi được thưởng thức món nem đặc biệt Ninh Hòa. Trước hết là những gói nem chua rất đep. Bên trong lá chuối, một lớp lá chùm ruột, bọc kín viên nem lớn hơn ngón tay cái, cuộn tròn  giống như con tằm nằm trong kén. Ăn cả lá chùm ruột với nem, nhai dòn rụm những sợi da heo xắt nhỏ, cắn một chút tỏi…cay quá, khà một cái! Có lẽ là lần đầu thưởng thức món lạ miệng nên tôi cảm thấy hạnh phúc vô cùng.
 Bà Tửu, người ngồi bên bếp than hồng, nướng những que thịt gọi là nem nướng; Mùi thơm bốc lên của thịt và mở cháy, mùi nước xốt sền sệt màu gạch cua… làm nước miếng ứa ra. Hai tay bà thoăn thoắt, trước mặt hai đứa tôi là một đĩa toàn những cuốn nem vừa ra lò đầy nghệ thuật.  Bánh tráng, rau thơm, khế, chuối chát, dưa leo, chả ram, mấy cục nem nướng… cuốn lại thật tròn. Cầm lên một cuốn, chấm với  nước xốt pha ớt tương… rồi hã to miệng, ngoạm một miếng. Ôi! Lúc đó Thiên Lôi cầm búa đứng bên cũng chẳng thấy!…
oOo
Tưởng chỉ có như vậy là chấm hết! Nhưng số phận không cho câu chuyện chấm hết, nên tôi lại phải kể thêm về Ninh Hòa! Thằng bạn tôi, năm học Đệ Nhị, quen với một nữ sinh lớp Đệ Tam, nhà ở Xóm Bóng, trước Tháp Bà Nha Trang. Thời bấy giờ, con đường từ khu Phước Hải, đạp xe qua Xóm Bóng; phải vượt qua cầu Hà Ra và một đoạn đường đến cầu Bóng không người ở, toàn rừng cây bần cây đước. Anh chàng sợ bất trắc nên muốn rủ tôi đi cùng. Nhưng nếu không có gì hấp dẫn thì có lẽ tôi đã từ chối. Đàng nầy sau  lời yêu cầu, tôi lại thích thú theo hắn… qua sông!
Ngày đầu tiên hai đứa tôi đạp xe từ phố Nha Trang qua Xóm Bóng là một tối thứ năm. Nhà cô bạn gái của H nằm trong con hẻm ngay trước Tháp Bà. Buổi tối vừa bắt đầu, cảnh Tháp bà dưới ánh trăng mười ba thật nên thơ… Tôi hào hứng theo chân H dắt xe vào con hẻm. Căn nhà ngói bề thế, có vườn và hàng dừa trỉu trái, có lan can ngồi ngắm trăng  bên giếng nước… rất tình!
H giới thiệu tôi với cô bạn gái và một nữ sinh Ninh Hòa ở trọ. Cô bạn gái của H có mái tóc xỏa dài ngang lưng, đứng bên là cô bé có đôi mắt to tròn nhìn tôi mĩm cười! Thoạt gặp nàng, tôi giật mình lục tìm trí nhớ, hình như tôi đã gặp ở đâu đó một lần. Cái dáng nho nhỏ, xinh xinh, mái tóc xõa bờ vai… À! Chính là cô nữ sinh đã đem thức ăn cho tôi trong tiệm Hương Giang ngày nào! A Dzìn đem tôi theo, cố tình giới thiệu tôi với cô bé mới mười lăm tuổi, vào trọ học Đệ Tam. Năm đầu tiên xa mẹ trông cô giống như con nai vàng ngơ ngác giữa… rừng thu!
Rồi ngày tháng dần trôi, cô bé thành phố “Tàu” Ninh Hòa” ngày nào trở thành cô “vợ yêu dấu”, theo tôi suốt những chiến trường xa sau năm năm quen biết. Nàng đã trải bao thử thách cuộc đời khi tôi ngồi tù từ Nam ra Bắc với ba đứa con thơ! H và cô gái Xóm Bóng rồi cũng dắt nhau lên đỉnh tình yêu. H – a Dzìn – và tôi cùng vào khóa 26 SQTB Thủ Đức, cùng đóng quân ở Pleiku, cùng ở tù… sau cùng hai cặp bài trùng cùng định cư ở xứ Cờ Hoa và cũng dung giăng dung dẻ với nhau như thuở còn là học trò!
Bây giờ trong các diễn đàn của Ninh-hòa.com, songdinh.com, Binhhoa.com… và Hội Ninh Hòa Dục Mỹ… Bốn chúng tôi đều có mặt! Xứ Ninh quả thật là một địa danh thần kỳ đầy kỷ niệm của tôi. Nơi ấy cũng  đã cho tôi một người bạn đời và những đứa con trong tình yêu toàn mỹ. Cảm ơn Ninh Hòa!
Lê Anh Dũng
VẾT HƯƠNG ĐỜI quá nửa thế kỷ!
letamanh
Những ngày gần với tháng Tư, sao trong ta cứ như người đi trên sóng, với con thuyền nhỏ tròng trành muốn lật úp giữa cơn phong ba! Cái cảm giác bất ngờ khó chịu ấy hình như đến với con tim nhãy không đều nhịp khi ta nhớ quê hương xa thật xa. Nhớ tuổi thơ, nhớ những kỷ niệm chan hoà ánh nắng, nhớ Tam Quan, nhớ Tăng Bạt Hổ, nhớ bãi cát trắng Nha Trang những năm Trung Học Võ Tánh, nhớ Petrus Ký, nhớ sân trường MPC – Văn Khoa…Nhưng nhất là bải biển mang nhiều kỷ niệm Nha Trang. Nhớ Tháp Bà, nhớ nem Ninh Hoà, nhớ chè hạt đát, phở Hợp Lợi, Bánh Patéchaud sửa đậu nành, xôi gà bên hông rạp hát Thành Xương…
Em Nha Trang với làn sóng mát lịm
Buổi chiều xuân tắm biển Hòn Chồng
Ngất ngây nhìn giọt nắng trong mắt em
Hòn Yến ngoài xa mĩm cười hang động!
Phải rồi, trong hồi ức chỉ còn nhớ những con đường cũ, những ngỏ ngách không tên; nhớ Hoàng Tử Cảnh, Phan Bội Châu, Tân Tân, Minh Châu, Tân Quang, Bá Đa Lộc, Chợ Đầm, Nhà thờ Đá, Chùa Long Sơn, Yersin, Cầu Đá, Hải Học Viện, Hòn Tre, Hòn Thị, Tháp Bà, Xóm Bóng, Đồng Đế, nhớ Phú Vinh, nhớ Thành, nhớ mả Yersin, nhớ cầu Hà Ra, Cầu Xóm Bóng, nhớ những cây bàng trước Viện Pasteur, nhớ những hàng dương liểu bên bờ cát trắng và tiếng sóng biển rì rào khi ta cùng em ngồi bên nhau ngắm trăng lên, mái tóc em thơm mùi nước biển …
Những địa danh nhãy lộn mèo trong óc
Quân Trường Đồng Đế em nằm xoã tóc
Thao Diễn một thời an giấc ngủ chưa?
Anh đứng đợi nhìn thời gian vụt khóc!
Có một thời ta đã từng vào ra cổng trường Võ Tánh, nhớ đường Bá Đa Lộc, nhớ những em học trường Pháp kề bên, nhớ Thầy Hiệu Trưởng Lê Nguyên Diệm, nhớ tiếng trống trường, nhớ các bạn cùng lớp Huỳnh Thọ Huyên, Lâm Đạo Đụng, Hoàng Kim Dũng… Nhớ Ban Văn Nghệ tập tành phát thanh trên đài “Nha Trang là miền quê hương cát trắng...”, Nhớ đội bóng đá, nhớ anh bạn Vĩnh Thắng làm thủ môn ho ra máu vì chụp những trái banh biểu diễn… Nhớ đạp xe qua trường Nữ ngắm em…!
Ôi!
Chập chùng kỷ niệm xa xăm!
Nửa vòng thế kỷ con tằm sợi tơ
Anh Võ Tánh mối tình hờ
Ngắm em Trường Nữ bây giờ nơi nao!
Hồi đó, không hiểu tại sao những thằng học trò Đệ Nhị Cấp, kể cũng ở tuổi biết yêu, thế sao chỉ nhìn em thôi mà không dám tỏ lời! Có những đêm, 11 giờ khuya đạp xe qua phố nhà em ở, chỉ cần thấy em ngồi bên cửa sổ học bài là đã vui rồi, về ngủ yên giấc! Giờ ngồi ôn lại chuyện xưa, có lúc gặp em trong các Hội Ngộ VT- NTH, em bây giờ với em ngầy ấy ra sao, giống như bài hát: “…Đôi khi trộm nhìn em, xem dung nhan đó bây giờ ra sao, em có còn đôi má đào, như ngày nào…kể từ khi vắng nhau, em như tấm vải lụa nhàu…”. Đã hơn nửa thế kỷ gặp lại, chưa bao giờ dám hỏi: :…Em có bề nào ai đón ai đưa? cuộc đời là vách núi là tường mây, quê hương nắng cháy đêm ngày….” Từng năm tháng ấy, cả một cuộc bể dâu nghiệt ngã xô sập những ước vọng tuổi trẻ của chúng ta. Thời gian thoát đã hơn sáu mươi năm xa mái trường Võ Tánh thân yêu, mỗi cuộc đời là một số phận.
Cuộc chiến tranh đã thổi những chiếc lá đời hai hướng. Có những thằng bạn cùng lớp Võ Tánh, sau ngày 30 tháng tư năm 75 làm đến chức Phó Tỉnh Trưởng Khánh Hoà, có thằng làm Bí Thư các công ty hay các quận đường rất ư là hách! Nghe nói những con đường xưa lối cũ giờ đã thay tên đổi hướng. Mà cũng phải thôi! Bốn mươi bốn năm rồi phải thay da đổi thịt chứ! Nhưng Nha Trang thay màu quá nhiều với chữ nghĩa, tiếng nói và cách cư xử. Người ta có cảm giác Nha Trang bây giờ là thành phố của Tàu. Bảng hiệu chữ Tàu rất to và nhiều hơn chữ Việt! Tiếng xí xô xí xà giọng Quang Thoại, Quảng Đông, Triều Châu… át cả tiếng người Việt rao hàng. Có những nhà hàng chỉ tiếp người Tàu và từ chối cho người Việt vào ăn… Có những con đường biệt lập không cho người Việt Nam rão bước!
Vùng trời mơ xưa đâu bóng dáng em
Khuất nẽo trời xa tìm mái tóc mềm
Ta ngục tù chất ngất đời trai trẻ
Nhớ em! nhớ em ánh sáng sao đêm!
Thời tuổi trẻ vụt tắt như làn chớp và tiếng sấm cơn giông! Khi ta ngồi trong tù từ Nam ra Bắc với chính trên giang sơn Việt và con dân Việt… Ta mới nhận ra rằng em là hiện hữu, là hy vọng mong manh của những đêm thao thức ngục tù… Vì có em dõi theo bước chân cuộc chiến và bên nhau những lúc khốn cùng mới thấy đời còn hương sắc:
Theo chân anh cả đời cùng khắp chốn
Nét thời gian in đậm nẽo thiên đường
Có những lúc gối chăn bùng tơi tã
Sóng vồ gió lốc quyện xoáy vết thương
Ta đã mài mòn gót chân, ta đã bao lần hai tay đầy những vết thương rừng thiêng nước độc; nhớ những tình yêu thân ái dạt dào, nuôi dưỡng hy vọng mong manh từ trong tù ngục về em.
Em tự nguyện như tín đồ dâng hiến
Mắt lim dim khấn vái cỏi huyền vi
Cùng quấn quít nổi đau thời chinh thiến
Nghiệt ngả xa nhau giữa tuổi xuân thì
Có phải chúng ta sinh ra nhầm lúc, để cùng nhau rơi xuống vực sâu hoang mê nghiệt ngã những tư tưởng tà thuyết hận thù:
Câu ca dao con cò một thời lặn lội
Đi ăn đêm lỡ vướng phải cành mềm
Rớt xuống ao không tài nào bay nỗi
Quê hương chiến trường nợ máu nặng thêm!
Đã qua rồi thời chiến trường Pleiku, Đức Cơ, Kuntum, Phú Nhơn, Thanh An, đã qua rồi Trại tù Trảng Lớn, Long Khánh, Long Giao, Hoàng Liên Sơn, Yên Báy, Vĩnh Phú. Đã qua rồi vùng kính tế Long Điền Đồng Nai… Có những ngôi mồ chưa bao giờ khói hương mấy mươi năm trời sau chính chiến:
Hết binh đao hơn bốn mươi bốn năm
Cỏ trên mồ anh cháy khô màu tủi hận
Giọt máu không hòa ướt âm rĩ sủi tăm
Giãi khăn tang em mang đời lận đận!
Tấm thân ta giờ tàn theo năm tháng, ngó lại vùng trời xưa như một thoáng chiêm bao. Nơi xứ người đôi khi ngạt thở vì những đêm chập chờn ác mộng, ta tưởng như đời ngưng bảo tố cho tổ quốc vươn lên. Ta những mơ những tưởng sẽ trở về Nha Trang ngắm lại vầng trăng thấp thoáng vờn mây ngoài biển cát, với  bóng những hòn đảo quen thuộc xa xa. Ta vẫn mơ một ngày về!
letamanh
tháng tư một ngày mưa
 
Tết Quý Sữu & Hiệp Định Paris 1973
Letamanh
Ông Duy vừa thắp nhang vừa nhìn vào hình trên bàn thờ. Trong lòng thoáng buồn – Mới ngày nào – ông nghĩ, bây giờ những bậc sinh thành đã lần lượt ra đi. Vợ ông bưng hai đĩa trái cây, mấy hộp mức, bánh tét, bình trà pha sẳn … Bà  trân trọng sắp từng món  lên bàn thờ. Từ ngày về căn nhà nầy, ngoài trang thờ Phật Thích Ca, ông Duy còn thiết lập thêm hai bàn thờ,  ngăn thờ cha vợ, ngăn tiếp theo thờ cha mẹ. Bà mẹ vợ của ông năm nay đã chín mươi chín tuổi, trí nhớ đã kém, nhưng sức khỏe vẫn tốt. Bà đang được con gái út chăm sóc ở quê nhà…

Những năm đầu định cư ở Mỹ, vợ chồng ông liên tiếp phải dời hết chung cư nầy đến chung cư khác vì rất nhiều lý do. Một gia đình qua Hoa Kỳ theo diện HO, ty nạn Cộng Sản, những năm đầu tiên phải chật vật lắm mới có thể lo được cho ba đứa con theo học tại các Đại Học. Vợ ông, vừa học ESL ở một trường Cộng Đồng, vừa nhận làm trong  xưởng may áo quần do một người Việt làm chủ. Phần ông thì theo học hết một năm computer về ngành Autocad . ra trường năm 1992, nhằm lúc kinh tế Mỹ khủng hoảng, xin việc hảng nào cũng làm mấy tháng là bị cho nghĩ việc.

 Nhưng có lẽ trời còn thương gia đình ông, nên xui khiến ông đến Disneyland xin việc. Hôm phỏng vấn, người Mỹ già hỏi ông ở Việt Nam làm gì. Ông trả lời là Sĩ Quan VNCH, sau năm 1975 bị đi tù ngoài Bắc Việt. Ông Mỹ già chăm chú nghe và hỏi, trong tù ông ăn những gì hàng ngày. Vốn liếng Anh ngữ của ông Duy không đủ diễn tả,  vì bất ngờ ông không biết dịch từ “củ mì” là gì! Ông nói vòng vo là hàng ngày ông và đồng đội ăn rễ cây. Ông ta hỏi có phải là “under ground potato”. Ông Duy trả lời không phải. Thế là ông ta diện thoại cho một người Việt ở đâu đó, bảo ông Duy trực tiếp cầm phôn, Bên đầu giây dịch lại cho ông Mỹ phỏng vấn, nhưng anh ta cũng dịch là under ground potato! Ông Mỹ mĩm cười nhìn Duy, cất resumer vào cặp, bắt tay Duy và nói, ông ta là cựu quân nhân Hoa Kỳ, có thời gian phục vụ tại Cam Ranh, ông ta rất có cảm tình với người lính Việt Nam. Buổi phỏng vấn tìm việc của ông Duy chỉ có thế. Ba ngày sau ông được gọi vào làm việc.…Thế mà thấm thoát đã mười tám năm phục vụ cho khu vui chơi nhất thế giới, ông về hưu ở tuổi sáu mươi sáu, con cái đứa nào cũng tốt nghiệp Đại Học và có gia đình, công ăn việc làm ổn định. Vợ chồng ông Duy, giờ đây an hưởng tuổi già.

Đã hai mươi mấy mùa xuân trên quê hương thứ hai, gia đình ông Duy theo tục lệ ông cha, đêm Giao Thừa, các con đều tề tựu, sau khi lạy bàn thờ đón Tết, tất cả con cháu chúc thọ vợ chồng ông và nhận bao lì xì. Trong lúc ăn bánh uống trà, ông Duy thường kể cho con cháu nghe những kỷ niệm khó quên, một thời khổ đau của gia đình  phải gánh chịu theo vận nước. Năm nay, ông kể cho cả nhà nghe kỷ niệm những ngày Tết  sau khi Hiệp định Paris, ngày 27 tháng 1 năm 1973.

                                                            oOo
 
Ngoài phố Westminster, những tràng pháo nổ lách tách đã rời rạc sau Giao Thừa. Năm nay Cộng Đồng Người Việt tại Mỹ ăn Tết linh đình. Bây giờ có lẽ rất đông Phật Tử về các chùa trong khu vực lễ Phật. Gia Đình ông Duy thì quây quần trước bàn thờ Phật và Gia Tiên. Trên bàn thờ khói hương ấm cúng, con cháu vui vầy đông đủ, lòng ông Duy hạnh phúc. Ông nhìn bà vợ đang lăn xăn vui vẻ sửa lại mấy cành đào. Lòng ông cũng rộn ràng. Thằng Út vừa bồng con gái lên bốn, vừa dắt tay đứa con trai lên sáu, vợ nó ăn mặc chỉnh tề theo sau, từ trên lầu tung tăng đi xuống. Hai đứa nhỏ vòng tay chúc Tết ông Bà Nội. Năm nay vợ chồng thằng Cả và gia đình đứa con gái ở San Jose  không về được.
 
–         Mời Ba Má dùng trà, Chúng con chúc thọ Ba Má!
–         Ngồi xuống đi, năm nay không biết con gì ra đời
Bà Duy ngồi xuống bên hai cháu, nhìn ông Duy đang cầm ly trà nhâm nhi, bà  trả lời:
–         Ở xứ Mỹ nầy ồn ào quá, biết con gì kêu hay gáy trước mà đoán biết được. – Rồi quay sang nhìn ông Duy –  Năm nay đón Tết vui như thế này, hạnh phúc như vầy, ông có còn gì mong ước không?
–         Tôi chẳng có gì để thắc mắc khiếu nại! Bà có nhớ lời tôi nói lúc mình được lên máy bay qua vùng đất hứa không?
–         Ông nhắc lại đi! Lâu quá tôi quên.
Ông Duy ứ một cái, làm ra vẻ trách vợ, rồi cầm ly trà mời bà:
–         Mừng sức khỏe của bà! Hồi đó, sau khi phỏng vấn, được định cư Mỹ là gia đình mình trúng số độc đắc cho một cuộc đổi đời. Nếu không có ngày đó thì bây giờ mấy đứa con mình giỏi lắm cũng làm công nhân quét đường là ngon lắm! Bây giờ, nếu ai hỏi tôi còn muốn gì nữa, tôi sẽ trả lời là: Nếu cho tôi có điều ước, tôi sẽ nhường cho người khác. Gia đình mình như thế là quá đủ rồi! Không ước điều gì thêm nữa.
–         Còn chứ! Ước được luôn khỏe mạnh.
–         Hơn bảy chục rồi là ông trời cho mình bonus, còn đòi hỏi quá làm chi! Sức khỏe là do mình tự phải lo. Không ai có thể lo cho mình được. Không tập thể dục, không kiêng cử thì trời cũng thua…!
Nhâm nhi miếng mức gừng, uống hớp trà, ông Duy vỗ vai vợ cười:
–         Bà còn nhớ Pleiku không?
–         Vợ chồng con cái mình đã ở đó từ 1970 đến 1975 mà sao không nhớ! Cái xứ gió núi mưa mùa, đất đỏ, bùn đỏ đầy trơn trợt… Làm sao tôi quên.
Ông Duy trìu mến nhìn bà, quay qua thằng Út:
–         Ba còn nhớ cái Tết đầy kỷ niệm năm 1973, lúc đó chị Vy của con sanh được mấy tháng. Thằng Cả mới lên ba. Tết ta nhằm vào ngày  thứ Bảy, 3 tháng 2. Nhưng ngày 27 tháng 1 năm 1973 là ngày Hiệp Định Paris ký kết, rơi vào ngày 24 tháng Chạp; trước Tết Nguyên Đán Quý Sữu chỉ có chín ngày. Trước đó, Bộ Tổng Tham Mưu và Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đã hối hã lập kế hoạch cho một trận chiến về chính trị chống lại kế hoạch “giành dân lấn đất” của Cộng Sản…
Bà Duy cướp lời ông:
–         À! Ông muốn nhắc đến những ngày Tết “Giành dân lấn đất” chứ gì! Ăn miếng bánh tét đi rồi kể cho thằng Út nó nghe. Nó sanh năm 1974 thì không thể nào hình dung được những gì xãy ra trước đó.
Ông Duy phì cười nhìn cả nhà:
–         Dầu cho thằng Cả hay con Vy,  cũng chẳng  hình dung được thời gian vào những ngày chúng nó  sống ở Pleiku chứ nói gì đến câu chuyện tôi sắp kể  về trận chiến sau Hiệp Định Paris.
Thằng cháu nội cầm bao lì xì chạy đến ôm chân ông nội nũng nịu:
–         Ông nội không hát cho con nghe mà nói cái gì lung tung không hiểu gì hết.
 
Nói rồi nó nhãy vào lòng, ôm chặc lấy  ông. Ông Duy hạnh phúc ôm hôn thằng bé,  âu yếm nhìn đứa cháu gái  đang đứng giương tròn đôi mắt cười với bà nội, ông tiếp:
–         Trước ngày ký hiệp định khoảng tuần lễ, Quân đội được đặt trong tình trạng thiết quân luật, họp hành liên miên và theo dỏi diễn tiến từ các công điện, công văn liên quan đến các hoạt động phía Cộng Quân và phía “Đồng Minh” Hoa Kỳ. Riêng ngành CTCT thì chuẫn bị nhân sự, các Sĩ quan thống thuộc sẽ dẫn đầu những toán Sinh Viên Sĩ Quan từ các quân trường đến tận thôn xóm xa xôi công tác. Toàn thể SVSQ đang học tại Quân Trường Đồng Đế ở Nha Trang đều ba lô nón sắt về các Tiểu Khu thuộc Quân Đoàn II thi hành nhiệm vụ. Thế là những anh “lính sữa”,  chưa  kịp mang lon Chuẫn Úy, vì nhu cầu chiến thuật, đã phải lên đường…
Bà Duy nhìn ông âu yếm xen vào, mắt bà hướng về vợ chồng thằng Út:
–         Vì thế mà ba của con, sau khi các bên ký kết Hiệp Định Paris, đã dẫn hai chục anh Sinh Viên Sĩ Quan công tác ở một số buôn làng tận quận Thanh An…và nhà mình năm ấy không ăn Tết!
Thằng Út thắc mắc:
–         Ba giải thích, trong thời gian đó, bản Hiệp Định đã ký, có nghĩa là không còn đánh nhau nữa; sao phải làm cái việc điều động quân?
 
Ông Duy nhìn thằng con, 1975, nó mới tròn một tuổi. Lúc ông ở tù từ miền Bắc về thì nó cũng vừa lên bảy, đang học lớp hai trường làng. Khi qua Mỹ, nó được mười sáu. Câu hỏi của nó làm ông nhớ lại một kỷ niệm khó quên. Có lần ông nghe nó học bài thuộc lòng: “Ông Lenin ở nước Nga – mà em những tưởng như là Việt Nam…” Ông gọi nó vào và viết lại một bài thơ theo vận Tố Hữu: “ Ông Lê Nin ở nước Nga – mà sao em tưởng ông cha của mình…”. Ông bảo nó đưa bài thơ đó cho cô giáo. Ngày hôm sau nó nói với ông là nó không dám đưa bài thơ. Lý do nó sợ ông lại vô tù, mẹ con nó phải thăm nuôi như những lần bồng bế nhau ra bắc thăm ông… Ông Duy nhìn nó thong thả trả lời:
–         Như con biết, trong hiệp định Paris, quân đội miền Bắc được quyền ở tại chỗ, còn gọi là Hiệp Định Da Beo. Nếu sơn màu vàng và màu đỏ trên bản đồ, những nơi Cộng Quân có mặt và những nơi quân ta trú đóng,  nhìn giống như tấm da beo trải dài từ Vỹ Tuyến 17 vào tận miền Nam. Cho nên sau khi các bên ký kết thì một trận chiến khác tàn độc hơn, đó là cuộc chiến “giành dân lấn đất”, ban ngày dân và đất thuộc về ta, ban đêm lại thuộc về địch. Trên nguyên tắc hai bên không được đánh nhau, thi hành những điều khoản được ký… Nhưng trên thực tế thì Cộng Quân luôn xảo trá, dùng đủ phương sách để lấn từng tất đất giành từng làng dân cư… Ba dẫn hai mươi Sinh Viên Sĩ Quan khóa 3/72 Quân trường Đồng Đế, nhận sự vụ lệnh, trực chỉ quận Thanh An, thuộc tỉnh Pleiku. Trước kia, thời Đệ Nhất Cộng Hòa là những khu trù mật Dinh Điền mang tên quận Lệ Thanh.  Đức Cơ trở thành địa danh lịch sử, thuộc quận Thanh An, biên giới với Cam Bốt, nơi từng xảy ra cuộc chiến khốc liệt thương vong hai bên khá nặng. Ba và hai mươi “chuẫn sĩ quan” vát súng đóng chốt  gọi là đi chiến dịch. Một bài hát của Phạm Duy : “ …Hay Đức Cơ Đồng Xoài Bình Giả…anh trở về hàng cây nghiêng ngã…” nói lên cái nguy hiểm nơi Ba và đồng đội ngày đệm cô đơn với những người dân kinh cũng như thượng ở đó. Con đường 19Bis nối dài từ Hàm Rồng  đến Đức Cơ gập gềnh đá và đất đỏ. Những ngày đầu tiên toán của Ba trình diện ông quận Trưởng kiêm Chi Khu Trưởng Thanh An. Hoạt động và đóng quân ban đêm tại một ấp Chiến Lược củ, cách quận đường khoảng ba cây số. Toán của Ba chịu trách nhiệm công tác “Dân Sự Vụ” suốt từ ấp chiến lược đó lên đến khu nhà thờ Thanh An do Cha Thành, quản nhiệm.
 
Phải nói đến cái Ấp Diên Thùy, nơi Ba và hai mươi lính tò te “tạm trú” ban đêm, ban ngày đi “công tác” dọc con đường 19Bis. Sau năm 1963, khi Chính Phủ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị đảo chánh, toàn bộ Ấp Chiến Lược bị phá hủy. Nhưng riêng Ấp Diên Thùy được bà con tự nguyện giữ lại. Người dân sống trong ấp nầy, từ Bình Định, Quảng Ngải, Quãng Nam… Đến trong những năm có kế hoạch Dinh Điền. Họ quần tụ và bảo vệ nhau trước mọi hiểm họa. Ban ngày họ đi làm từng tóan trong rừng,trên các cánh đồng trồng ngủ cốc. Ban đêm các cánh cổng vào ấp được đóng kín, chia nhau canh gác, hổ trợ cho một trung đội Nghĩa Quân. Dân số trong ấp chừng hai trăm nóc nhà, xây dựng bằng những vật liệu tại chổ như tranh, tre, đất sét, nhưng ấm cúng và đẹp mắt. trong ấp có một trường tiểu học do một cô giáo tốt nghiệp trường Sư Phạm Qui Nhơn làm Hiệu Trưởng. Ngoài ra cũng có một bệnh xá, một nữ y tá từ tỉnh bổ nhiệm khá đẹp.
 
Tóan công tác gồm có hai chục SVSQ tò te xử dụng súng còn lạng quạng. Tóan chỉ huy gồm một Trung Sĩ già, một binh nhì hộ tống cho Ba làm trưởng toán. Tất cả là hai mươi ba người.
 
Đêm đầu tiên, Ba ra lệnh toàn thể không được vào nhà dân, dùng lều nhà binh, cứ hai người một lều, chia nhau canh gác. Để làm gương, Ba xung phong gác ca đầu, kế đến, chia đều! Đó là ngày 29 tháng 1 năm 1973, Hiệp Định ký được hai ngày. Trên tòan dất nước không biết bao nhiêu tin tức vi phạm đình chiến của dịch. Dân làng còn lạ lẫm với tóan công tác, có mấy bô lảo cầm rựa đi rẫy về ghé qua khu lều đóng quân tìm Ba hỏi lý do. Sau cuộc gặp gở thăm dò, họ rất vui khi trong ấp có “các cháu” về công tác!
 
Trời vừa rạng sáng ngày 30 – 1, tức là ngày 27 tháng chạp, chỉ còn ba ngày nữa là Tết Quý Sữu. Ông Trưởng Ấp Nguyễn Thi Long cầm máy liên lạc C6 – còn gọi là lá lúa – chạy vào lều Ba. Ông ta thông báo là có cờ Mặt Trận Giải Phóng xanh đỏ, sao vàng treo phía ngoài cổng Ấp. Ba bảo ông bình tỉnh và cầm máy gọi về quận Thanh An. Hồi đó máy móc liên lạc trong quân đội không giống như bây giờ. Máy PRC25 là lọai tòan thể QĐ xữ dụng mà cũng chỉ liên lạc được khoảng hai mươi lăm cây số chứ đâu giống như ngày nay mỗi người bọc túi một máy di động liên lạc khắp hòan vũ!

Khoảng tám giờ sáng, một trung đội Địa Phương Quân mở đường, theo sau là xe của Đại Úy Chi Khu Trưởng. Lá cờ VC treo trên một cành cây ở bìa rừng, lính đi trên đừơng 19Bis, bắn xối xả vào lá cờ. Ai cũng nghĩ phía dưới gốc cây có là cờ là mìn hay lựu đạn gài bẫy. Nhưng riêng Ba thì nghĩ khác. Ba đến bên Đ/Úy Chi Khu Trưởng nói to: “ Trình Đại Bàng, có lẽ mình không nên bắn nhiều tốn đạn vô ích!” Vị chỉ huy quay qua nhìn Ba: “Trung Úy nghĩ sao, có kế hoạch gì hạ cờ địch, để lâu dân chúng bàn tán kỳ lắm!”. . “Theo Em, mục tiêu của ta là bảo vệ dân trong thời gian nầy, mà dân thì họ biết rất rỏ Cộng Sản. Xin Đại Bàng tập trung các vị bô lảo trong ấp nầy hỏi ý kiến và biện pháp…Làm như vậy dân họ nghĩ là mình tin họ, họ sẽ có kế giúp ta!”. Thế là một cuộc gặp chóp nhoáng giữa ông Quận với dân làng. Cụ Lê Văn An, người già nhất trong Ấp nói: “ Thưa ông Quận, chổ treo cờ bên lối mòn vào rừng, có hai cục đá lớn. Chúng tôi thường ngồi ăn trưa nên biết rỏ địa hình. Thôi để dân Ấp xung phong hạ cờ, đừng dùng súng cối hay M79 bắn tốn đạn mà cờ vẫn không hạ được…” Thế là công việc hạ cờ thành công do lòng dân vẫn luôn hướng về ta.
 
Ông Quận mừng quá, bắt tay từng người dân trong làng tụ tập xem hạ cờ địch. Chiều hôm đó dân làng được ông Quận thưởng tiền mua một con bê ăn mừng. Sân trường Tiểu Học trong ấp được trang trí sơ sài với mấy cái bàn khiêng từ trong các lớp học. Vì an ninh, ông Quận cáo lổi không có mặt, cử Ba thừa ủy nhiệm. Thế là đêm hôm đó, Ba nói với các bô lảo đải tiệc cho tóan Nhân Dân Tự Vệ ăn trước, sau sáu giờ chiều là họ phải có mặt tại các diểm kích chung quanh rào ấp chiến lược. Ba chỉ thị Trưởng Toán SVSQ Trương Tấn Bình làm Họat Náo Viên cho đêm văn nghệ. Cô Giáo Hà Thu Linh, cô y tá Bùi thị Hà cũng có mặt.
 
Sau  khi ăn tiêc, lai rai rượu cần là đến văn nghệ. Ba vốn là HT Hướng Đạo, nên xung phong hát những bài yêu nước thời đó qua tiếng vổ tay đánh nhịp của tất cả mọi người. Kế là những bài hát về tình yêu, tình lính…Mấy bô lảo đang ngồi gần Ba, bổng đứng lên, nói nhỏ với nhau điều gì đó rồi cùng ra về. Ba hoảng hốt kéo anh Trung Sĩ Quá hỏi lý do, anh ta cười trả lời là bô lảo về nhà lấy nhạc cụ. Ba vui quá, công tác dân sự vụ thành công như thế nầy ngoài dự tính! KéoTrung Sĩ Quá ngồi bên, hỏi anh ta có biết hát Bộ không, anh ta mừng vui như cá gặp nước, nhãy ra giương cằm, vuốt râu xướng: “ Ái! Ái! Như ta đây….” Vừa hát, Trung sĩ Quá còn nhãy múa đúng theo tuồng tích Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê. Bổng tiếng trống chầu, tiếng đàn cò, tiếng kèn tò te thổi lên. Toàn thể mọi người có mặt củng vỗ tay reo khi bốn bô lảo, mỗi người một nhạc khí hòa theo tiếng hát của Trung Sĩ Quá! Chẳng ai ngờ được bổng nhiên một vở hát bộ tuồng tích, không ai tập dợt trước, lại nổi lên trong không khí đầy “khói súng” như hôm đó. Tiết Đinh San đang hát, thiếu vai Phàn Lê Huê. Từ trong hàng khán giả ngồi quanh dưới đất, một bà lảo khoảng bảy mươi, óm nhom, da mặt nhăm nheo, đứng lên, tiến ra sân cất tiếng hát trong trẻo, đúng vào tuồng tích. Tiếng trống, tiếng kèn, tiếng đờn nhị hòa theo… cả làng từ nam phụ lảo ấu đều tròn mắt ngạc nhiên thích thú. Thế là mấy SVSQ nhà ta thất nghiệp, chỉ ngồi vỗ tay thích quá, vì từ trước đến giờ họ chưa biết Hát Bộ là gì! Bà lảo đóng vai Lê Huê, sau nầy Ba mới biết, trước kia bà là đào hát chính trong một đoàn hát bội của tình Bình Định đi lập nghiệp Dinh điền. Bà ngồi xem anh Trung Sĩ đóng vai Đinh San hay quá nên nhãy ra nhập vai cho trọn vỡ tuồng. Anh Trung Sĩ Quá trước khi vào lính, cũng là một kép hát…
 
Buổi văn nghệ đang hồi hấp dẫn và không ai muốn chấm dứt thì nghe tiếng nổ hàng loạt vào Quận Đường, với những ánh chớp lóe sáng ! Ra lệnh tắt đèn măng sông, toàn thể im lặng chạy vào hệ thống giao thông hào, Ba và ông Trưởng Ấp cùng toán nhân dân tự vệ phân phối nhau chạy ra các lô cốt xung quanh hàng rào ấp. Hai chục SVSQ ngơ ngác một lúc cũng giữ tinh thần và những bài học quân trường bắt đầu vào thực tế! Cộng Quân chỉ pháo kích vào BCH Quận nhưng không có dấu hiệu tấn công, Ba lên máy liên lạc, những hỏa tiển chỉ làm sập một góc hầm phía Nam quận, không có thương vong…
 
Bà Duy chăm chú nghe  chồng kể đến khúc nầy là bà hết kiên nhẫn. Bà đứng dậy, tay bưng ly trà đến bên ông Duy, nhìn các con cháu đang chăm chú nghe chuyện dài chiến tranh; bà ôn tồn:
–         Tại sao câu chuyện nầy đến nay Ba mầy mới nói. Hồi đó, mỗi lần về phép từ Thanh An, chưa bao giờ Ba mầy cho vợ biết những chuyện kinh hòang nầy!
–         Cho Má mầy biết để khóc, để làm cho rối lên hay sao! Chuyện nhà binh, lính tráng thường ngày quen rồi, có gì quan trọng. Hồi tôi còn chỉ huy Đại Đội ở Tam Quan Bồng Sơn, cái chết kề bên, tôi cũng đâu dám nói với Má mầy cho má mầy  bỏ tôi trốn về quê sao! Tết năm đó, má mầy và các con nằm queo ở nhà, năm ấy cũng lạnh khiếp.
–         Cái ông nầy. Nếu hồi đó tôi sợ, tôi đâu có theo ông từ trại gia binh nầy đến cư xá SQ nọ khắp vùng chiến thuật… Vợ lính, ăn Tết “mình ênh” cũng nhiều lần, nên năm đó tôi cũng không sợ gì và đâu biết đứt đường, đến bây giờ …
 
Ông Duy nhìn vợ âu yếm, ông biết, vì yêu ông, bà đã không còn biết sợ súng đạn; theo ông ở bất cứ nơi đóng quân nào, dù nguy hiểm. Có thể vì thế mà giờ nầy, sau bốn mươi ba năm cưới nhau, qua bao gian nan tù tội, quê hương tan tác, vẫn một lòng với nhau… Ông Duy tằng hắng lấy giọng tiếp:
–         Chuyện địch quân pháo kích vào Quận Đường Thanh An là chuyện nhỏ, chuyện lớn là chúng đắp mô cắt đứt đường 19Bis, con đường huyết mạch từ thị xã Pleiku lên Thanh An. Nếu đi trên QL14, qua khỏi núi Hàm Rồng, quẹo phải trên QL19Bis là ta sẽ ngang qua đồn điền trà Bàu Cạn ( Cateka ). Đi khúc nữa, đường quanh co rất nguy hiểm. Chổ đó Cộng Quân  bắt dân đắp đất ngang quốc lộ, cắm bảng có mìm. Thế là toán công tác của Ba mất liên lạc với thành phố, cũng tiêu luôn lương thực tiếp tế!
 
Hai mươi ba miệng ăn ngồi ngó nhau. Cầu cứu ông Quận thì được trả lời: chờ mở đường. Điện về Tiểu khu thì khuyên nên kiên nhẫn… Nhưng cái bao tử đâu có chờ hay kiên nhẫn được. Dân chúng trong ấp thì nghèo, nhìn cách họ sống cần kiệm, chỉ nhờ vào nương rẫy, lấy gì dư giả mà xin họ cứu giúp trong lúc chỉ còn ngày một ngày hai là Tết! Má tụi mầy ở nhà trông ngóng, những tưởng Tết nhất thì ít ra Ba cũng về cúng ông bà hay tạt qua một lúc hôn các con…Nhưng, oan nghiệt là con đường chưa giải tỏa, Tiểu khu và Quân Đòan II đang phối trí hành quân mở lại lưu thông QL19Bis.
 
Trong tóan SVSQ, có người bệnh, nóng sốt. Ba có đem theo một túi cứu thương, trong cũng có nhiều thứ thuốc trị sốt rét, cảm, thuốc đỏ, băng cứu thương v.v… Nhưng việc xin tải thương, là vô phương trừ trường hợp hai bên đánh nhau… Không biết có ai “tiết lộ quân tình” với các bô lảo trong ấp; bất ngờ các cụ kéo nhau đến thăm. Nhìn cảnh “lính đói, lính bệnh” trong lúc giao thông bị cắt, các cụ im lặng ra về. Không biết họ bàn tán thế nào, chiều ba mươi Tết, hai mươi ba mạng được mời vào hai mươi ba nhà dân. Họ tiếp đón bằng cả lòng thành, vui vẻ và hiếu khách. Không những được ăn chung với gia đình mà còn được “Đón Giao Thừa” như người thân trong dòng họ! Sáng ngày mồng một Tết, tuy đường QL vẫn chưa được giải tỏa, khắp nơi đang thiết quân luật; nhưng sân trường tiểu học trong ấp chiến luợc Diên Thùy lại xãy ra một khung cảnh không ai tưởng tượng nổi. Toàn thể mọi người trong làng tụ họp lại, cổng ấp khóa kín, tiếng trống chầu nổi lên, tiếng kèn, tiếng đờn cò réo rắc. Vở tuồng Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê nỗi đình nổi đám như không việc gì xãy ra! Anh Trung Sĩ già vẫn giữ vai Tiết Đinh San, Bà già bảy mươi tuổi vai nàng Phàn Lê Huê và tiếng hô ba quân là tòan thể khán giả vừa cười vui vừa dạ rân…
 
                                                                   oOo
Mùa xuân năm 1973 – xuân Quý Sữu – Hiệp Định Ba Lê đã là tiền đề cho những năm kế tiếp, đưa toàn thể dân tộc du vào khúc quanh lịch sử đầy đau thương, kinh thiên động địa. Chiến dịch “giành dân lấn đất” kéo dài rất lâu sau đó. Ông Duy  và hai mươi ba người vẫn bám vào dân mà sống, người dân nghèo ở đó tuy mộc mạc nhưng đa số có học,  tinh thần chống Cộng Sản rất cao. Ông Duy quên mình là sĩ quan chỉ huy, thành một Huynh Trưởng Hướng Đạo, hai mươi SVSQ trở thành Tráng Sinh trong một Tráng Đoàn không tên. Thời gian sinh hoạt với nhau, đã kết thân, cùng hát, cùng vui, cùng ngủ lều trại cùng lo lắng nhau như anh em ruột thịt. Kết thúc thời gian công tác với nhau bằng một Đặc San mang tên “Bụi Hồng” quay ronio. (Cao nguyên Gia Lai-Pleiku toàn đất đỏ, màu mưa thì bùn lầy, mùa nắng thì bụi đỏ bốc lên mỗi khi có cơn lốc hay xe chạy trên đường. Cho nên Đặc San được mang tên như thế!). Trong đó là cả một trời thơ văn, tâm tình một giai đoạn lịch sử không thể nào quên. Rất tiếc tập Đặc San Bụi Hồng dày 240 trang, có hình chụp chung hai mươi ba người anh em kết nghĩa ấy, bây giờ không thể kiếm đâu ra.
letamanh

QUÊN ĐI
Truyện này dựa trên một chuyện có thật đăng trên báo xảy ra hơn 30 năm trước, tôi không nhớ tên thật của nhân vật chính.  Ông John một ngày bước ra khỏi cửa và không bao giờ trở lại.  Cảnh sát thấy ông ở cách đó cả ngàn dậm, mặc đồ ngủ, trên người không có giấy tờ và ông không nhớ được bất cứ điều gì. Mười mấy năm sau bà vợ xem tv và tình cờ thấy ông đi trong dòng người ở NY, bà nhờ cảnh sát giúp liên hệ lại với ông.
 
VÀO TRUYỆN
Người cảnh sát nói,
“Thưa ông John, nếu ông có thể nhớ được một điều gì thì làm ơn cho chúng tôi biết ngay.  Những tin tức bà Kay kể và hình ảnh bà ta đưa chúng tôi xem rất đáng tin cậy.”
 
John nói câu vâng ngắn gọn rồi cúp điện thoại, đầu óc nặng trĩu ưu tư, ông không để ý đến thái độ bất lịch sự của mình với viên cảnh sát đã tỏ lòng cảm thông với hoàn cảnh khó xử của mình. 
Dù có cố gắng đến đâu John cũng biết sẽ không thể nhớ lại điều gì, ông đã cố gắng mười mấy năm rồi, mọi thứ dường như phát sinh ở thời điểm đó…đời sống của ông phát sinh ở thời điểm đó, dù ông biết không ai có thể khởi đầu sự hiện hữu của mình vào năm hơn bốn mươi tuổi.
 
John nhớ rất rõ, trong cái sở cảnh sát nhỏ tất bật người qua lại và đầy tiếng người.  Ông ngồi trên cái ghế dựa gần cửa kiếng, xoay lưng vào trong.  Viên cảnh sát dường như quá quen thuộc với những trường hợp mất tích, không có một biểu cảm khác lạ trên khuôn mặt, anh ta hỏi John cả chục lần,
“Có phải ông không nhớ gì hết?”
 
John nhớ sự mệt mỏi, xấu hổ, cơn đau đầu và nỗi sợ hãi về tương lai, về quá khứ, và về chính mình.  Hôm đó ông ôm đầu nhìn vào khoảng tối đen trong óc ráng tìm ra bất cứ một hình ảnh nào gợi cho ông biết mình đã là ai…tất cả chỉ là sự thất vọng cho mãi tới bây giờ.
 
Họ cho ông vào ở tạm trong ngôi nhà dành cho những kẻ vô gia cư, và đưa ông đi khám bệnh tâm thần.  Mọi thứ qua đi rất mau, không ai biết thêm một tin tức gì.  Sở cảnh sát cho ông chọn tên mới, số an sinh mới và giới thiệu ông qua sở xã hội để tìm việc làm sinh sống.  Hơn nửa năm, ông mướn được một phòng riêng gần chỗ làm.  Vài năm sau nữa ông lập gia đình với bà Sue.
 
Cách đây vài ngày, sở cảnh sát liên lạc nói có bà thấy ông trên tv, quả quyết ông là chồng cũ của bà và nhờ cảnh sát cho liên hệ.  John nghe xong thấy bần thần, không như ông nghĩ cách đây nhiều năm là sẽ rất tuyệt vời nếu ông có thể biết mình là ai.  Bây giờ ông thấy lo sợ nhiều hơn vui mừng…ông sẽ phải giải quyết chuyện này ra sao.
 
Được vài năm đời sống đã vào nề nếp, dù bà Sue và ông không yêu nhau nồng nhiệt, đậm đà nhưng gia đình vẫn êm ấm, so với sự cô đơn và thất thường làm ông sợ hãi nhiều năm trước thì tốt hơn nhiều.  Bây giờ nhận lời gặp mặt bà Kay thì sẽ được gì ngoài việc thỏa mãn hiếu kỳ.  Ngày xưa, với ông sự hiểu biết đó có thể còn mang lại no ấm và bình an, nhưng bây giờ thì chưa chắc.  Biết đâu ngày xưa ông đã có một đời sóng gió đến mức tổn hại trí óc đến nỗi mất trí đi hoang.  Nhưng cũng biết đâu, đó là đời sống rất tốt đẹp, với người vợ chung thủy, bằng chứng là bà Kay sau mười mấy năm vẫn còn nhận ra ông dù chỉ xuất hiện có vài giây giữa đám đông.  Nghĩ tới đó ông cảm động không cầm được nước mắt.  Nhưng nếu người yêu thương ông như vậy bây giờ có gia đình êm ấm thì sao?  Sự xuất hiện của ông sẽ phá vỡ sự bình yên của họ cũng như sự bình yên của gia đình mình.  Càng nghĩ John càng chìm sâu vào trầm cảm, ông dấu không cho bà Sue biết, và cũng chưa trả lời cho sở cảnh sát biết khi nào sẽ liên lạc với bà Kay.
 
Để khuây khỏa, John đi tìm những chỗ vắng vẻ thư giãn vào cuối tuần.  Ông lơ đãng để chiếc xe đưa mình ra ngoại ô tới một ngọn đồi cao, đưa ông lên gần với trời xanh mây trắng và trải rộng không gian tới vô tận.  Nghỉ chân gần đỉnh đồi nhìn xuống thấy những ngôi nhà nhỏ bé, chiếc xe tí hon và ông liên tưởng tới những người ở trong đó.  Họ sống ra sao?  Họ có những đau khổ như ông không?  Ông không có những câu hỏi đó khi ông gần gũi họ trong đời sống hàng ngày.  Mỗi người đều quá bận rộn với đời sống riêng tư của mình; không ai dư hơi đi sâu vào chuyện người khác.  Ngay cả lúc rảnh rỗi, người ta cũng dùng nó cho riêng mình.  Hôm nay là lần đầu tiên ông thắc mắc về đời sống của họ, và rồi ông tự hỏi không biết có ai đã từng tò mò về đời sống của ông chưa.  Từ trên cao nhìn xuống, trời đất rộng bao la, những thứ ông thấy to lớn như con người, cái xe, cái nhà, bây giờ nhỏ bé như miếng đậu hũ, cái hộp.  Chúng nhỏ bé, dễ thương hơn cả những đồ chơi bày bán ngoài chợ.  Và ông biết những thứ đồ chơi đó chứa đựng những mảnh đời phức tạp.  Tất cả tạo nên sự liên tưởng tới sự liên hệ của ông và tất cả mọi thứ xung quanh, và cuối cùng nó dẫn ông trở lại nỗi buồn của mình.  Bực bội ông không nhìn nữa, để chiếc xe ở đó, ông đi bộ theo con đường nhỏ dắt lên đỉnh đồi.
 
Con đường nhỏ quanh co, nhiều cỏ dại đủ loại cao thấp mọc đầy hai bên chen lẫn vài cây to đây đó.  Ngọn đồi vắng lặng, ít chim muông hay người đi lại, ngay cả những bông hoa cũng không có nhiều bướm ong đến viếng.  Cảnh vật tĩnh mịch hoang vắng tới mức John có ý nghĩ kỳ lạ về sự hiện diện của chính mình; ông không biết ông thực sự là gì, có chắc chắn hay chỉ là một hư ảo nào đó.  Qua một khúc quanh cảnh vật tự nhiên thay đổi, thay vì những đám cỏ cây thì dọc hai bên đường có trồng nhiều trúc nhỏ, thân đen bóng.  Những chiếc lá xào xạc rung theo gió trộn lẫn vào đó vài tiếng khánh nhẹ ngân dài làm ông tò mò, bước lẹ thêm.  Qua khúc quanh của bụi trúc khác, ông thấy trước mặt là một ngôi chùa nhỏ có sân khá rộng bao quanh, cái cổng rộng bằng chắn song sắt đang mở.  Đang tần ngần không biết có nên vào hay không thì John chú ý tới một đoàn người đang đi tới bên hông chùa.
 
Họ xếp hàng cao thấp không theo thứ tự, cách nhau chừng một thước, đi trong im lặng, nhẹ nhàng và chậm rãi.  Mắt họ nhìn thẳng vào người đi phía trước.  Dù hơi ngờ ngợ nhưng khi thấy rõ những người da trắng cao lớn trong hàng, ông vẫn không tránh được bật lên tiếng ồ nhẹ.  Một vài người đưa mắt liếc nhìn, và người da trắng hơi mỉm cười với ông rồi họ trở lại bước thiền hành. 
 
John thấy hơi ngại định bỏ đi, nhưng những gì chưa từng thấy níu chân ông lại.  Sau thêm hai vòng tuần hành giống nhau mà chẳng ai chú ý đến mình, John đã định bỏ đi thì tiếng khánh liên tục nổi lên và đoàn người tan hàng bước vào chánh điện.  Vị sư đi đầu mặc áo vàng ngồi trước bức tượng phật bỏ chiếc khánh xuống kế bên, và mọi người hình như quen với việc có du khách tới quan sát nên chẳng ai tỏ vẻ ngạc nhiên.  Vài người quay đầu nhìn John rồi theo đám đông vào chỗ ngồi đối diện với vị sư.  John chưa quyết định làm gì thì thấy một người da trắng bước ra chỗ ông đứng.  Ông ta trẻ hơn John, xưng tên Steve, Steve nói ngắn gọn là vị sư sắp giảng bài kinh về luân hồi bằng tiếng Việt và Anh.  Vị sư nhờ Steve gởi lời mời John vào nghe bài giảng  John gật đầu trước sự thân thiện của Steve và vì đề tài hấp dẫn.  John theo vào ngồi kế bên Steve ở gần cửa ra vào; vị sự hơi cúi đầu, mỉm cười với ông.
 
Một người đưa nước và người khác đưa ông cái micro; vị sư bắt đầu với lời chào John, giọng ông ta nói tiếng Anh rõ ràng với ít accent, John cảm thấy thoải mái hơn và quyết định ở lại nghe tới lúc cuối.
 
Bài giảng nói về luân hồi về sự tái sinh và những điều John chỉ nghe sơ qua lúc trước mà chẳng bao giờ để ý tới.  Vị sư cũng đề cập tới những nguyên nhân gây ra sự đau khổ và phương pháp dập tắt sự đau khổ.  John nghĩ về những dằn vặt mình cả tuần nay và tự hỏi không biết vị sư có câu trả lời hay không.
 
Qua một đêm trằn trọc hôm sau John quyết định quay trở lại.  Ông lái xe tới tận chùa thay vì đậu chỗ du khách ở lưng chừng đồi.  Tim đập hồi hộp, ông cương quyết bước qua cổng chùa
và lại ngập ngừng khi thấy vị sư đang quét lá trước sân.  Vị sư không tỏ vẻ ngạc nhiên, ông ta lên tiếng,
“Chào ông John, chúng ta lại gặp nhau nữa rồi.  Ông vẫn mạnh?”
 
John cố dấu sự ngạc nhiên, đáp lời ông ta, và xin lỗi không biết có làm phiền ông không.  Vị sự mỉm cười,
“Không đâu.  Đây là công việc lúc nào làm cũng được.  Thực ra nó là phương pháp để tôi thực hành thiền.  Mời ông vào chơi.”
 
John bước theo ông vào gian nhà nhỏ kế bên chính điện.  Vị sư pha một bình trà nhỏ, họ ngồi đối diện nhau.  Giọng vị sư bình thản như họ đã quen nhau từ lâu,
“Hôm qua Steve có nói cho tôi tên ông nên tôi biết,,,,,,,.  Steve đã học tập chung với chúng tôi được hơn 2 năm rồi, ông ta ở cách đây hơn một giờ xe.”
 
John cảm thấy thoải mái với thái độ của vị sư, ông vào đề luôn,
“Cám ơn ông về bài giảng ngày hôm qua.  Có vài điều tôi chưa từng được nghe, và hồi tối tôi trằn trọc suy nghĩ về chúng.”
 
Vị sư gật đầu tỏ vẻ hiểu biết,
“Tôi cũng phải mất nhiều năm để tìm hiểu và vẫn còn nhiều điều chưa hoàn toàn thấu đáo.  Tuy nhiên cái khó hơn rất nhiều là việc thực hành những điều mình học hỏi.”
 
Ông ta ngưng lại, dường cảm thấy John đang ngập ngừng muốn nói điều gì.  Cuối cùng John mở miệng hỏi,
“Tôi nghĩ có thể hơi bất nhã khi hỏi ông câu này trong lần đầu nói chuyện, nhưng….”
 
Nhà sư khuyến khích,
“Không sao ông cứ hỏi, tôi đã quen với những câu hỏi khó, nếu tôi không biết thì đó cũng là cơ hội cho tôi học hỏi.”
 
John nhìn ông ta với vẻ cám ơn, rồi tiếp,
“…hôm qua ông có nói về luân hồi về sự tái sinh của con người.  Tôi thật sự muốn biết ông có tin vào nó hay không?”
 
Nhà sự mỉm cười gật đầu chờ John nói tiếp,
“Điều gì làm ông tin rằng có sự tái sinh?  Làm sao ông biết được một người hiện nay tới từ kiếp trước?  Có gì chứng minh được điều đó?”
 
Nhà sư lại cười, lần này nụ cười ông có vẻ tán thưởng những câu hỏi của ông John,
“Câu hỏi rất hay, chưa ai từng hỏi tôi những câu như thế, và tôi cũng chưa từng hỏi chính mình những câu như vậy.”
 
Ông ta nhìn ra ngoài cửa sổ, trầm ngâm trong giây lát, rồi chậm rãi trả lời,
“Tôi được sinh ra ở đây và vào chùa tu từ năm lên 28 tuổi.  Từ đó đến nay, tôi học hành, nghiên cứu và khảo nghiệm về nhiều vấn đề nhưng chưa từng tự hỏi có gì chứng minh rằng tái sinh có thật.  Tôi được đọc và nghe rất nhiều lần về chuyện kiếp trước, kiếp sau.  Có chuyện tôi tin, có chuyện tôi nghi ngờ đặt câu hỏi, nhưng về thuyết luân hồi, tái sinh chưa bao giờ thắc mắc.  Từ trước tới giờ tôi nghĩ nó chắc chắn là như vậy.  Tôi nghĩ có thể vì đạo phật xem đó là điều hiển nhiên, giản dị không cần phải chứng minh.”
 
Nhà sư nhìn vào đôi mắt nghi ngờ của John rồi tiếp,
“Tôi không nhớ đọc trong bất cứ kinh sách nào chứng minh một cách có khoa học rằng con người chết đi sẽ đầu thai cho tới khi họ giác ngộ.  Và hầu hết những chuyện tôi nghe đều không có bằng chứng cụ thể.  Có vài bằng chứng đưa ra, nhưng tôi nghĩ khó đứng vững với lý luận và khảo nghiệm của khoa học.  Người kể chuyện dựa trên kinh nghiệm, cảm xúc và trí nhớ của mình; hầu hết họ không nói dối, nhưng chuyện của họ dựa vào cảm xúc nhiều hơn vào lý luận nên rất khó mà nói rằng những chuyện đó minh chứng cho thuyết luân hồi và tái sinh là có thật.”
 
Ông ta ngưng lại nhấp ngụm trà và chờ.  John cảm thấy vừa hài lòng vừa thất vọng, ông chưa biết nói gì nên dục nhà sư nói tiếp.  Nhà sư gật đầu tiếp tục,
“Tuy nhiên chúng tôi tin vào đó để học những vấn đề mà con người quan tâm nhất, về cái khổ và phương pháp cắt đứt nguồn gốc của sự khổ đau để rồi thoát luân hồi…”
 
John ngắt lời ông ta,
“Xin lỗi cho tôi hỏi, nếu ông không thực nghiệm được những điều đó…, nếu ông không tìm được trong kinh sách hay bất cứ ở đâu những bằng chứng đáng tin cậy về tái sinh thì tại sao ông lại dùng nó làm căn bản để học tiếp lên trên, để cắt đứt khổ đau? ……. Rồi còn nữa “Như vậy ông có biết tại sao khi người ta tái sinh họ lại không nhớ gì về kiếp trước không?  Nếu một người không nhớ gì về kiếp trước thì tại sao họ lại biết mình ”………
 
Nhà sư không có vẻ phật lòng về câu hỏi thẳng thắn đó, ông ta giải thích,
“Tôi xin lấy thí dụ, như khi chúng ta còn bé mới học toán cộng và áp dụng nó vào việc đếm những vật dụng chung quanh và thấy nó luôn luôn đúng; từ đó ta thấy kính phục và tin tưởng vào người thầy dậy mình.  Khi thầy bảo khi chúng ta lớn lên, chúng ta sẽ học được  phép tính nhân, chia, toán số,…, chúng sẽ hữu dụng gấp nhiều lần bài toán cộng này; thì dù chưa thấy, chưa được biết về toán nhân, chia,…, chúng ta vẫn tin như thường.  Bởi vì người thầy dậy chúng ta về toán cộng đã hoàn toàn đúng và nó rất hữu dụng.  Trong trường hợp của tôi, tôi còn biết được vị thầy đó rất đáng kính bởi vì những người đệ tử tin và thực hành pháp của ông cũng rất đáng kính.  Từ đó tôi thấy an tâm và quyết định từ bỏ đời sống thường trực bất an.
Vì vậy dù không biết và chưa từng được chứng kiến, tôi vẫn tin vào luân hồi bởi vì đức Phật đã dậy như vậy.”
 
Ông John tần ngần một lát rổi lên tiếng,
“Như vậy ông có nghĩ mình nên tìm hiểu kiếp trước mình là ai, từ đâu đến,,,,,?”
 
Nhà sư nhìn vào mắt ông John trong một lát rồi từ từ lắc đầu,
“Tôi không biết, nhưng theo thuyết nhân quả của đạo phật, tất cả đều có lý do.  Nếu khi tái sinh mình được xếp đặt làm mới mọi chuyện từ đầu, quên hết mọi thứ trong quá khứ, tôi đồng ý với nó.  Tôi tin tưởng đó là sự xếp đặt tốt đẹp.”
 
                                    HẾT
 
 
The Color of Her Dress
Lê Anh Dũng
Quietly sitting at a table, before a glass of beer that still had one third of the alcohol, with his head leaned forward, he was repeating what everybody could hardly hear. There was only one thing they could notice was his constant smile. Once in a while he looked at the street as if waiting for someone. It was a few days ago, he began to come to this restaurant, looking for a seat at a hidden corner, ordered a bottle of Heineken beer and a pack of cigarettes “three numbers”, and nothing else. He sat there from early morning to late in the afternoon.
He looked at nobody and paid no attention to the other diners who came in and out. Neither did he care to notice the unpleasant face of the waitress who approached him to pick or wipe something off the table near him. The day before, he still gave the owner a smile when she greeted him. It was past noon at that time, she intentionally did some actions to let him know that he was sitting there too long with so many cigarette butts but only an empty bottle of beer. He ignored her and acted like a Hanoi resident, considering nothing happened.
The next day, he showed up again sooner and went right to the table he had chosen at the corner as usual ordering a pack of cigarettes and a bottle of Heineken beer. He occupied the corner table and repeated the same activities. Every time he came in, he attracted everybody’s attention. When he came late, they whispered and discussed about his strange attitude. They guessed that he was sick, kicked by a bull, really injured or involved in an accident etc…” All of a sudden, he had become a phenomenon!
He looked elegant and very manly in a light blue shirt tucked in a pair of chestnut pants, a pair of shining black shoes, with a long chocolate coat, his hair recently cut short, framing the perfectly square shape of his face. He drove a brand new white Lexus. With those nice appearances, the waitress and her boss could not deny his service. He courteously bowed his head to say hello before he went to the same seat at the corner. He also smiled whenever he ordered beer and cigarettes. In addition, he also left tips on the table. He silently sat in his own dream, his head bowed, his lips moved softly, and every now and then he looked out waiting for someone or something. A few days passed, his cell phone laid on the table, next to his cigarettes. He had not made a call and his cell phone had not rung once during his stay there.
Spring has come to our motherland but it is still winter here. Winter starts from October till March. Our Lunar New Year falls on somewhere between February and March. It turns cold for now and I have been sitting here from morning to late afternoon before taking over my shift of duty in order to hear your voice. But you did not call me even once. My phone was on the desk and I was waiting every minute for your lovely phone ring. My darling, I never feel negative about our happiness even without you by my side, without your phone call or you did not come see me… But I still feel happy while waiting. One usually says: “How happy and romantic for someone to wait for the lover”. I knew you misplaced your phone somewhere, so I did not call but waited for your call instead!
     You know dear, I was waiting for you from dawn to dusk so that both of us will place a special order of food you love. At our first acquaintance, you usually asked me to take a long drive under severe weather in Northeast to buy the food you enjoyed. That kind of dish made of fish and vegetable is available and more delicious here in Southern California with warmer climate. I was sitting here slowly drinking a bottle of beer and feeling the happiness running from heart to tongue. The bitter taste of lures me into dream of happiness on our first days of acquaintance. My stomach was growling. My senses of smell and taste were facing toward the flavor of food on nearby tables.  I did not want to order food for myself but waited for your arrival so that we enjoy food together. The music “Letter à Elise” in the restaurant with fingers sweeping on the piano keyboard, the cigarette turning short waiting in lonely happiness and lasting hope…!
Oh, my darling!

     I was told you had gone. I was also warned that all my hopeless waiting will become an illusion…But I never believed that you had gone by yourself without me. Don’t you remember that we were always together like shadows unless I took over my shift of duty? I never believed in gossips that you had died. And I never believed that you were lying in the coffin I was forced to follow during the funeral.
     Everybody told me a lie. Our best friends have mercilessly spread the unreliable rumors to divide our love. I still remembered that day, while I was trying to solve some problems in my company, then the phone rang. I was told by police that you were hit by a truck when you were crossing the street on the way to the market to buy something for our dinner. I hurried to the hospital and saw you there probably sleeping. But you were still talking to me, answering all my questions.
You followed me wherever I went. I went smoking at the balcony. You also followed me there and smiled without saying but giving me a kiss on my cold lips.
     Everybody whispered that I lost my mind and kept talking nonsense. Our schoolmate at UCLA named Bach acted like a counselor. He urged me to think it over, to look at reality, to better understand…But in the end, both friends and relatives are liars, giving no assistance. They do not worry about our happiness. Sometimes they are jealous of our happiness and success. They also talk bad about us so that we no longer love each other. I definitely believe that you never left me. We left our country because of its change. We love each other because of mutual dreams. Our home was result of our sweat. How could you dare leaving me with a lonely large house?
My darling, I must definitely look for you and wait for your return…
He looked at his watch then stood up, not forgetting to leave some tips for the waitress. On the way out he slowly and courteously said goodbye to the owner and slightly bowed his head in front of several customers along the aisle. As the sun died down in late afternoon, he entered the car and started the ignition…
“Madam, who the hell is that so nice looking guy?”
“What?  Why do you say awkward?  The owner replied.
The owner left the register to join some friendly customers who usually spent their weekends at her restaurant to enjoy “sheep meat stewed with herb”. Every Saturday afternoon, all tables were taken, not very noisy, but smell of cigarettes, beer, food together with the noise of bowls and chopsticks touching one another created an attractive and lovely atmosphere. After taking a seat, the owner importantly cleared her throat,
“You guys know, for the past several days, he came here, sitting at the    corner table and quietly stayed there from morning until this time around four o’clock in the afternoon. And the same thing happened every day. He finished one after another pack of cigarettes, but only one bottle of Heineken beer. He looked great with nice clothes and courteous dialogue. But whether or not he was inspired by ghost to become so quiet, paying no attention to anybody and anything…!”
The customer dressed in short sleeve red shirt bounced his glass of beer on the table, interrupting the owner, “That’s enough, I know who he is!”
“What do you know? Asked the customer at the corner table while enjoying his mutton.”
“Is it okay to treat me one bottle of beer Madam, I must be right.”
“I reward you with a whole case not only one bottle of beer.”
“Do not forget…Ok, He fell in love with you so he pretended to be love sick and wanted to be your security guard.”
Not waiting for the owner’s reaction, the other waitress although busy to clear the table still turned around and said, “I don’t believe you. If he fell in love with Madam Owner why he did not say a word and stare at anybody. He just turned his attention to the street, saying something soft in his mouth, ignoring everything.”
“He wanted just to play a role.”
“One day, I approached him and intended to start a story. I am just about sitting down then he opened his mouth, “Please leave me alone!”
From that day on, I dared not come close to him.
The same thing happened to Loan who planned to ask if he wanted something he uneasily replied, “Leave me alone, it’s not late for ordering when another person comes.”
“Madam is right. How weird such a person! He may be inspired by ghost. He physically sat there but his mind may wander somewhere in the world, the clever waitress added.
Someone who looked like you was walking very swiftly on the other side of the street. Is that really you? Oh, it was too late. How could I reach you on time? Why are you in such a hurry? Don’t you know that I am waiting for you on this side of the street? Sure, it was you in a light blue blouse, a pair of jean and long hair! It must be you!
He stood up fast, running out of the restaurant and crossing several car parking lots. He left his own car where he parked, running straight to the other side of the street. He was nervously running along side with the main street with heavy traffic on both sides. The figure of a young girl who looked like his wife, wearing a light blue blouse, appeared and disappeared on the other side of the street. He stumbled and hit some pedestrians. He tried to spot but lost his wife in the crowd. His shirt was soaked with sweat. He was breathing hard, feeling very exhausted. But he was determined to catch his wife. She could not hear his voice. He called her while running, “Suong, wait for me… It’s me here!”
He could not wait until he reached the green light nor could he wait another second, when she changed into narrower lane on the other side of the street. If he was slow, how could he find her? He jumped on the street, trying to cross it despite the speeding cars. He screamed her name while looking at her figure. He paid no attention to his surroundings. He just wanted to reach the girl who had disappeared in an alley. The sound of cars skidding, honking and people howling was heard.
The traffic was suddenly stopped…Then his body was seen on the street, with his mouth still calling his wife’s name. Fresh blood was running out of his nose. People were gathering around him and began chattering. Two of them were women from the restaurant.

Winter 2006
Đêm mưa gió với “Tinh Thần Diên Hồng”!
letamanh



Tình cờ người viết được tham dự một đêm sinh hoạt đặc biệt nhân chuyến đến San Jose. Đó là một tối thứ bảy 8/12/2019 đầy ý nghĩa, với những cơn mưa rào ướt lạnh cuối thu! Lái xe dưới những giọt mưa nặng hạt, theo hướng dẫn của ông Google trên trời, mờ mờ trên những con đường lạ Bắc Cali; cuối cùng chúng tôi cũng đến sau hai ba lần vòng qua vòng lại… Khi đến nơi thì cơn mưa vẫn vẫy chào bằng những vuốt ve qua cơn gió lạnh hít hà tê cóng rượt theo từ chỗ đậu xe chạy vào cửa hội trường!
Trưởng Ban Tổ Chức, Tr Trần Anh Kiệt, Liên Đoàn Hướng Đạo Diên Hồng San Jose đón chúng tôi với nụ cười vui vì cuối cùng chúng tôi cũng đến nơi an toàn. Có thể nói, Hội Trưởng, nơi tổ chức đêm Du Ca hát cho Quê Hương với đề tài “Tinh Thần Diên Hồng” rộng rãi khang trang; sức chứa hàng ngàn người. Nhưng với mưa gió bảo bùng hôm nay, với tiết trời trở lạnh, số quan khách và người tham dự hạn chế rất nhiều. Trong lúc mưa bên ngoài càng lúc càng nặng hat, kẻ viết bài nầy nhớ đến hai câu thơ: “Vũ vô kiềm tõa năng lưu khách, sắc bất ba đào dị dịch nhân!” Mưa gió thì giữ được khách ở lại, nhưng thực tế hôm nay mưa gió ngăn cản khách mộ điệu đến thưởng thức chương trình văn nghệ được tổ chức công phu với một chương trình hấp dẫn! Tuy nhiên, chúng ta có thể quan sát thấy trong hội trường khá đông, phần lớn là các Huynh Trưởng Hướng Đạo các Liên Đoàn và phần lớn Phụ Huynh của HĐS đang vui vẽ trò chuyện, trên tay bưng đĩa thức ăn tối, cà phê hay ly trà…
Lợi dụng lúc chương trình chưa bắt đầu và ban nhạc cùng những “nghệ Sĩ” đang bận rộn chuẫn bị trên sân khấu; người viết bèn làm một cuộc “phỏng vấn” chớp nhoáng với Trưởng Ban Tổ Chức Trần Anh Kiệt:
 Hỏi: Xin Trưởng vui lòng cho biết đêm ca nhạc tối nay như thế nào? Mục đích, đề tài và chương trình!
 Đáp: Buổi ca nhạc do Liên Đoàn Diên Hồng chịu trách nhiệm và mời cọng tác với Ban Du Ca cũ của Tù Ca cùng một số anh em văn nghệ sĩ California. Đêm nay chủ đề hướng về tinh thần Diên Hồng với một chương trình ca nhạc hợp ca, tứ ca, tam ca, song ca, đơn ca, vũ và nhạc cảnh… Đây là sinh hoạt Hướng Đạo hướng về tổ quốc, nêu cao tinh thần hội nghị Diên Hồng xưa!
Đúng 7:30PM, khai mạc với lời mở của Ban Tổ Chức, giới thiệu các quan khách và thành phần ca đoàn…tiếp theo là một họp ca bắt đầu. Bài “Đoàn ta ra đi” của Nguyễn Đức Quang được cả hội trường vỗ tay. Chương trình liên tục không ngừng với 26 tiết mục vô cùng hấp dẫn. Có lúc cả hội trường cùng vỗ tay và cùng hát, không gian “du ca” ngày xưa sống lại trong từng hơi thở của nhau kề vai nhau cùng nhịp tim bằng lời hát và những tiếng vỗ tay đầy hứng khởi!
Tiếng hát và tiếng đàn guita cùng nhịp vỗ tay theo “Mẹ Việt Nam ơi chúng con vẫn còn đây”, “Quê hương ta đó”, “Ngồi quanh đây”, “Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội”, “Tình Hoài Hương”, “Bên kia sông”, “Đến với quê hương tôi”, “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ”… làm sáng dậy lòng tự hào trong từng ánh mắt mọi người. Ngoài trời tuy mưa , nhưng những con người tâm huyết vì quê hương , với tinh thần Diên Hồng bên trong hội trường ấm cúng đã sưởi ấm hồn nhau, đã trao cho nhau thanh thoát qua từng nốt nhạc lời ca!
Có thể nói, đêm Du Ca “Tinh Thần Diên Hồng” do Liên Đoàn Hướng Đạo Diên Hồng mà Tr Trần Anh Kiệt khởi xướng và tổ chức, là một nét son trong các sinh hoạt mang âm hưởng chính luận đáng được trân trọng và phát huy gìn giữ!
Cám ơn Ban Tổ Chức, cám ơn các ca nhạc sĩ trong Liên Đoàn Diên Hồng và các anh chị em Du Ca trong Ban Tù Ca ngày xưa… Trở về Nam Cali sau khi thưởng thức hương trình du ca đầy hấp dẫn và tuyệt bút; lái xe cả đêm, về đến miền Nam lúc 5:00am ngày chúa nhật 8/12/2019.
Chúng tôi xin cám ơn mọi người có mặt đêm “Tinh Thần Diên Hồng” đã đem hơi ấm Việt Nam, xua tan cái lạnh và những cơn mưa nặng hạt cuối Thu miền Bắc Cali! Chúng tôi rất hào hứng và sẽ giữ mãi kỷ niệm không quên đêm thứ bảy đầy tình thân ái nối vòng tay quê hương của Hướng Đạo Bắc Cali!
Sóc Lanh Lợi (Lê Anh Dũng)